Tỉnh Yên Bái :Yên Bái là một tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc VN.. Địa hình Yên Bái có độ dốc lớn, cao dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc, độ cao trung bình khoảng 600m so
Trang 1Tỉnh Yên Bái :
Yên Bái là một tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc VN Nằm ở vùng Tây Bắc, tiếp giáp với Đông Bắc Phía Đông Bắc giáp hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía Đông Nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía Tây Nam giáp tỉnh Sơn La, phía Tây Bắc giáp hai tỉnh Lai Châu và Lào Cai <Tp Lào Cai được thành lập năm 1904, tiếng dân tộc gọi là Lão Nhai, có nghĩa là Phố Cũ>
Yên Bái có tỉnh lỵ là Tp Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ <thành lập năm 1995> và 07 huyện : Lục Yên, Mù Cang Chải, Trấn Yên, Trạm Tấu, Văn Chấn, Văn Yên và Yên Bình
Yên Bái có diện tích tự nhiên 6.882,9km2, nằm trải dọc đôi bờ sông Hồng, dân số khoảng 740.905 người <2009>, gồm 30 dân tộc chung sống Các dân tộc ở Yên Bái sống xen kẽ, quần tụ ở khắp các địa phương trên địa bàn của tỉnh với những bản sắc văn hóa đa dạng
Mã điện thoại : 029 Biển số xe : 21
Địa hình Yên Bái có độ dốc lớn, cao dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc, độ cao trung bình khoảng 600m so với mực nước biển và có thể chia làm 2 vùng : vùng thấp ở tả ngạn sông Hồng và lưu vực sông Chảy, mang nhiều đặc điểm của vùng trung du, vùng cao thuộc hữu ngạn sông Hồng và cao nguyên nằm giữa sông Hồng và sông Đà có nhiều dãy núi
Yên Bái là một điểm sinh tụ của người Việt cổ, có nền văn hóa nhân bản, thể hiện
ở những di vật, di chỉ phát hiện ở hang Hùm <Lục Yên>, công cụ bằng đá ở Thẩm Thoóng <Văn Chấn>, thạp đồng Đào Thịnh, Hợp Minh <Trấn Yên>, trống đồng Minh Xuân <Lục Yên> Nhiều di chỉ khảo cổ được phát hiện như đền, tháp, khu di tích lịch sử
Được thành lập năm 1900, tỉnh Yên Bái được biết đến qua cuộc Khởi nghĩa Yên Bái của VN Quốc Dân Đảng vào thượng tuần tháng 02-1930 Lãnh tụ là Nguyễn Thái Học đã bị thực dân Pháp bắt và đem hành quyết bằng máy chém ở Yên Bái cùng
12 đồng đội <trong đó có Phó Đức Chính> vào ngày 17-06-1930
Phó Đức Chính với khởi nghĩa Yên Bái :
Trang 2Phó Đức Chính <1907-1930> là nhà cách mạng VN, sáng lập viên, một trong những lãnh tụ của VN Quốc Dân Đảng, là cánh tay phải của Đảng trưởng Nguyễn Thái Học
Ông sinh ra trong một gia đình Nho học tại làng Đa Ngưu <nay thuộc xã Tân Tiến> huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên Ông là con út trong gia đình có 4 anh chị em, thân phụ là cụ Duy Chân Cụ còn có tên gọi khác là Đức Chân và Đức Tường Cụ Duy Chân có 4 người con : Phó Đức Chỉ, Phó Đức Ước, Phó Thị Quy và Phó Đức Chính
Tháng 12-1927, Phó Đức Chính tham gia thành lập VN Quốc Dân Đảng, phụ trách công tác tổ chức và phát triển Đảng
Sau khi tốt nghiệp trường Công chính, Phó Đức Chính được bổ nhiệm sang Lào làm việc
Từ ngày 09-12-1928, Phó Đức Chính giữ chức phó Chủ tịch VN Quốc Dân Đảng Ngày 09-02-1929, Nguyễn Văn Viên – Đảng viên VN Quốc Dân Đảng xử tử Bazin Ông này chuyên dụ dỗ, bắt cóc dân nghèo tại Bắc Kì và Bắc Trung Kì đi làm phu, xem như nô lệ, cho các đồn điền cao su tại Nam Kì, Miên, Lào, Huế <có tài liệu nói là chợ Hôm>, Hà Nội Sau cuộc ám sát, VN Quốc Dân Đảng bị thực dân Pháp khủng bố ở khắp mọi nơi Phó Đức Chính bị bắt ở Lào, kết án tù treo và bị bãi chức tham tá công chính
Để phản công và tránh nguy cơ bị tan rã, mặc dù không nắm chắc vào thắng lợi, ngày 17-09-1929, Tổng bộ VN Quốc Dân Đảng vẫn ra quyết định tổng khởi nghĩa với một câu nói nổi tiếng của Nguyễn Thái Học : “Không thành công thì thành nhân” <nghĩa là dù không thành công nhưng cuộc khởi nghĩa này sẽ trở thành một nhân tố cho các cuộc khởi nghĩa khác trong tương lai>
Ngày 26-01-1930, Hội nghị VN Quốc Dân Đảng họp tại làng Mỹ Xá, huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương ra quyết định tổng khởi nghĩa vào ngày 10-02-1930 Sau này lịch sử gọi là cuộc tổng khởi nghĩa Yên Bái
Vì trong hàng ngũ Đảng có phản bội, công việc chuẩn bị khởi nghĩa bị bại lộ, thực dân Pháp càn quét khắp nơi khiến nhiều đảng viên bị bắt
Trang 3Do vũ khí thô sơ lại thiếu phương tiện liên lạc trong việc phối hợp và điều binh, nên lực lượng khởi nghĩa bị đánh bại Ngày 15-02-1930, Phó Đức Chính bị bắt tại làng Nam An, tổng Cẩm Thượng, huyện Tùng Thiện, Sơn Tây và bị giam ở ngục thất Hỏa Lò tại Hà Nội Khi bị kết án tử hình, ông từ chối việc chống án với câu nói đầy khí phách :
Đại sự không thành, chết là vinh, còn chống án làm chi vô ích !
Khởi nghĩa Yên Bái có 40 người bị bắt, theo luật lúc đó, phạm nhân có quyền kháng án, 27 người đã kháng án và được ân xá từ án tử hình sang án chung thân, còn lại 13 người nhất quyết không kháng án, vẫn chịu án tử hình
Chiều ngày 16-06-1930, Pháp áp giải ông và Nguyễn Thái Học cùng 11 Đảng viên
VN Quốc Dân Đảng lên Yên Bái bằng xe lửa
Lúc 05h30, ngày 17-06-1930, tại Yên Bái, thực dân Pháp dùng máy chém chặt đầu ông và 12 đồng chí khác, trong số đó có Đảng trưởng Nguyễn Thái Học :
Nguyễn Thái Học – Bùi Tư Đoàn – Bùi Văn Chuẩn – Nguyễn An – Hà Văn Lạo – Đào Văn Nhít – Ngô Văn Du – Nguyễn Đức Thịnh – Nguyễn Văn Tiềm – Đỗ Văn Sứ – Bùi Văn Cửu – Nguyễn Như Liên
Phó Đức Chính là người thứ 12 bước lên máy chém Ông là người duy nhất đã yêu cầu được nằm ngửa để xem lưỡi dao rơi xuống như thế nào
Sau khi hành quyết các nhà cách mạng VN Quốc Dân Đảng tại Yên Bái, Pháp cho chôn chung một mộ Năm 1945, quân đội VN Quốc Dân Đảng chiếm đóng Yên Bái, cho trùng tu mộ phần và lập đền thờ kỉ niệm Ngày nay khu lăng mộ tọa lạc trong công viên An Hòa thuộc tỉnh Yên Bái và được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa
Hồ Thác Bà :
Hồ thuộc 2 huyện Lục Yên và Yên Bình
Đây là một trong 3 hồ nước nhân tạo rộng nhất VN, được hình thành khi xây dựng nhà máy thủy điện Thác Bà Hồ có diện tích là 23.400ha, trong hồ có 1.331 đảo với thảm thực vật và cảnh quan sinh thái đa dạng Nước hồ trong xanh, in bóng những vạt rừng già bao quanh hồ Hàng ngàn đồi đảo trên hồ với các hang động như hang
Trang 4Hùm, hang Cẩu Cuôi, động Bạch Xà,… và đền Thác Bà luôn tạo nên sự cuốn hút đối với du khách Có dãy núi Cao Biền soi bóng ven hồ
Hồ Thác Bà còn là một di tích lịch sử Tại đây, vào năm 1285 đã diễn ra trận Thu Vật do Trần Nhật Duật chỉ huy đánh tan một đạo quân Nguyên Mông Ở vùng thượng hồ còn có một số nơi là cơ sở hoạt động của các cơ quan trung ương thời kì kháng chiến chống Pháp Giữa hồ Thác Bà có động Mông Sơn là nơi Tỉnh ủy Yên Bái làm việc trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ
Ngoài hai con sông lớn là sông Hồng và sông Chảy, còn có khoảng 200 ngòi, suối lớn nhỏ và hồ, đầm Đầu thập niên 1960, Nga giúp thiết kế hồ Thác Bà, hồ có sức
Bà, đây là công trình thủy điện lớn đầu tiên ở VN
Hồ Thác Bà là một thắng cảnh đẹp, nơi đang có kế hoạch phát triển một trung tâm
du lịch sinh thái, kết hợp giữa giải trí trên hồ và leo núi, thám hiểm rừng
Thành cổ Nghị Lang :
Thành cổ Nghị Lang được xây dựng vào những năm 1527-1533, là một trung tâm kinh tế, chính trị lớn của cả vùng sông Chảy vào đầu thế kỉ 16
Thành nằm ở thung lũng Phố Ràng <huyện Bảo Yên> Hiện nay thành còn nhiều dấu tích Phía Đông là sông Chảy – một chiến hào tự nhiên nước chảy xiết cuồn cuộn, từ ngòi Lự đến ngòi Ràng là những đoạn lũy cổ Tre ken dày và bên kia sông Chảy là bãi soi Bầu <từ cổ nghĩa là bề trên, chỉ anh em Vũ Văn Uyên, Vũ Văn Mật> Tương truyền đó là bến thuyền, là căn cứ quân sự của các chúa Bầu, ở đó có đồi khao quân Phía Bắc thành một bên dựa vào núi cao hiểm trở, chân núi là ngòi Ràng – một con suối rộng từ 6 đến 8m làm chiến hào chở che Ngang bờ chiến hào, các chúa Bầu còn cho trồng lũy tre theo hình tam giác ken chặt bờ thành Phía Nam và Tây thành đều dựa vào các dãy núi cao Trong thành có lầu chỉ huy, có xưởng rèn vũ khí, sản xuất gạch ngói, có trại lính và hệ thống chợ búa, trường học Đặc biệt, thành còn có ngôi chùa Phúc Khánh qui mô lớn nhất vùng Chùa nằm trên một ngọn đồi Hiện nay nền ngôi chùa với nhiều tảng đá kê cột chùa vẫn còn
Ở đây còn lưu giữ một bia đá lớn hình chữ nhật khổ 33 x 35mm, có con rùa đội bia, trên bia nổi bật hàng chữ “Phúc Khánh Tự”
Trang 5Phía Tây Bắc thành có hệ thống hồ sen du ngoạn của chúa Bầu với phong cảnh
“sơn thủy hữu tình” khá đẹp Cạnh hồ là quần thể các lò gốm, lò gạch cổ Suốt trên vạt đồi rộng hàng ngàn m2 còn ngổn ngang các hiện vật gốm cổ, nhiều nhất là ngói cổ thời Lê Trung Hưng Ở hang Căm Véo – một điểm chốt tiền tiêu phía tây thành tìm thấy một khẩu súng lệnh bằng đồng dài 40cm, đường kính dài 12cm, trên thân khẩu súng còn khắc hàng chữ “Nghị Lang thủ ngự” Đây là khẩu súng lệnh mang số hiệu 29 của vị thủ lĩnh bảo vệ thành Nghị Lang
Sách Đại Nam nhất thống chí mục cổ tích còn ghi : “Chúa Bầu cây cối xanh tốt,
những đêm thanh vắng, người địa phương thường nghe tiếng trống chiêng và ngọn lửa lúc sáng lúc tối”
Lịch sử đã sang trang, nhưng dấu tích oanh liệt hùng cứ một phương chống nhà Mạc, bảo vệ biên cương của các chúa Bầu vẫn luôn in đậm trong truyền thống người dân
Tục gõ sạp đón khách của người Thái :
Gõ sạp đón khách là một nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo của đồng bào Thái vùng phía Tây tỉnh Yên Bái Gõ sạp tạo bầu không khí sôi động, náo nhiệt khi trong bản, trong nhà tổ chức các cuộc vui có đông khách tham dự
Kiến trúc độc đáo của đồng bào Thái mang một nét khá đặc biệt với kiến trúc nhà sàn của một số dân tộc ở chỗ : khi đi lên hết cầu thang, nó không chỉ có cửa rẽ vào lòng nhà, mà nó còn có một lan can – nơi diễn ra cảnh gõ sạp đón khách tới chơi nhà – nằm dọc theo chái nhà dẫn thẳng xuống khu vực bếp
Số người tham gia gõ sạp từ 9 đến 12 người, là nữ trẻ, giỏi văn nghệ Trong số đó, có một người điều khiển trống cái và số còn lại mỗi người cầm một đôi ống tre hoặc nứa cắt bỏ mấu ở hai đầu, đứng thành hàng sát mép ngoài lan can
Khi khách đã đến sân nhà, người điều khiển trống cái nổi một hồi trống thật dài Sau đó đánh trống dặp để những người cầm ống làm động tác chuẩn bị Đến khi tiếng trống dặp chuyển thành những tiếng tùng… cắc… cắc rồi đảo lại cắc… cắc… tùng… tùng liên tiếp, biến hóa thì những người cầm ống cũng trỗ ống xuống sàn nhà, đập hai ống vào nhau, sao cho âm thanh của ống xen kẽ vào âm thanh của trống Tiếng trống, tiếng gõ sạp vừa nhanh vừa liên hoàn tạo cho khách đến chơi
Trang 6Khi khách đã quây quần bên những mâm cỗ, tiếng gõ sạp sẽ dừng lại, các cô gái tỏa đi các mâm rót rượu mời khách, rồi sau đó họ tập trung ở một góc nhà hát khắp, hát ví đối đáp với khách Khi cuộc rượu tàn và chuyển sang màng múa xòe thì những cô gái lẫn trong vòng xòe cùng với khách Khi khách bắt đầu ra về, các cô gái nhanh chóng cầm những chai rượu và những chiếc chén được chuẩn bị sẵn, tiếp tục đứng ra lan can rót rượu mời khách uống chén rượu chúc mừng và chia tay với khách Du khách khi ra về sẽ cảm thấy mình đã có một cuộc vui thật thú vị trong sự mãn nguyện về tấm lòng nhiệt tình và hiếu khách của người dân nới đây
Thơ Bút Tre :
Anh đi công tác bản Mường
Tè xong một cái lên đường về quê <Mường Tè – Lai Châu>
Nhớ nhung về thị xã Phan
Thiết tha mơ tưởng cô hàng nước măm <mắm>
Chợ Đồng Xuân có tiếng đồn Có
chị bán trứng vịt … lộn rất to
Bắc Ninh có cậu Nguyễn-Trùng
-Dương, vật khỏe quá cả vùng thất kinh
Chưa đi chưa biết Cửa Lò
Đi về mới biết nó to thế này
Chưa ăn chưa biết Cu Đơ
Ăn rồi mới biết nó đờ cu ra
Qui Nhơn sóng biển dập dồn
Chị em nô nức vác … chăn ra phơi
Chưa đi chưa biết Nha Trang
Đi rồi mới biết họ sang hơn mình
Có tắm biển, có tắm sình <bùn> Có
hồ nho nhỏ cho mình tắm chim
Chưa đi chưa biết Sài Gòn
Trang 7Đi rồi trong túi không còn một xu Ngẫm
lại mới thấy mình ngu
Thằng lớn tiêu ít thằng cu tiêu nhiều
Chưa đi chưa biết Cần Giờ Đi rồi
mới biết họ không cần gì
Chưa đi chưa biết Quảng Ninh
Đi rồi mới biết cửa mình mở ra <*>
Xuất thô thì khỏi kiểm tra
Xuất tinh thì phải xuất qua cửa mình <**>
<*> : Cửa khẩu mở ra cho tàu bè hàng hóa ra vào
<**> : Xuất khẩu hàng hóa Anh đi công tác Cam
Pu
Chia chiến lợi phẩm ở tù ba năm
Chồng người du kích sông Lô
Chồng em ngồi bếp nướng ngô cháy quần
Sông Cầu nước chảy lơ thơ Có
đôi trai gái ngồi hơ quần đùi
Không đi không biết Tam Đao <Tam Đảo>
Đi thì không biết chỗ nào mà ngu <ngủ>
Một giường nó nhét hai cu <cụ>
Thôi thì cố nhịn đến Chu Nhật về,…
Chưa đi chưa biết Đồ Sơn
Đi về mới biết chẳng hơn đồ nhà Đồ
nhà tuy xấu tuy già
Nhưng là đồ thật hơn là Đồ Sơn
Anh kia sống ở trong Bình Định
ra làm rễ ở Hà Nam Ninh
Chưa đi chưa biết Cửa Ông
Trang 8Đi rồi mới thấy toàn mông với giò Chưa
đi chưa biết Cửa Lò
Đi rồi mới thấy toàn giò với mông
Nghệ An nổi tiếng gió Lào
Trẻ già trai gái người nào cũng đen
Thi đua ta quyết thi đua
Thi đua ta quyết thi đua hàng đầu Hàng
đầu không biết đi đâu
Đi đâu không biết hàng đầu cứ đi
Bà con toàn thể xã ta
Quyết tâm phấn khởi trồng cà dái dê
Dái dê to khỏe dài ghê Năm
sau ta cứ dái dê ta trồng
Đá quí :
Đá đỏ là đá quí <Rubi>, là chất khoáng hình thành ở miệng núi lửa Đá phải trong suốt mới quí, còn đục thì người ta làm tranh đá
Huyện Bắc Hà :
Bắc Hà là một huyện phía Đông Bắc của tỉnh Lào Cai Tên gọi Bắc Hà xuất phát từ
cụm từ tiếng Tày : “Pạc ha” có nghĩa là “trăm bó gianh” Thời thuộc Pháp, người
Pháp ghi lại âm “Pạc ha” bằng chữ cái latinh thành “Pakha”, sau người Việt đọc trại thành Bắc Hà rồi trở thành tên gọi chính thức của vùng đất này
Địa giới : phía Bắc giáp huyện Si Ma Cai <Lào Cai>, phía Nam giáp huyện Bảo Yên,
Bảo Thắng, phía Đông giáp huyện Xín Mần <Hà Giang> và phía Tây giáp huyện Mường Khương
Địa lý : huyện Bắc Hà nằm ở độ cao khoảng 1.000 đến 1.500m so với mực nước
biển, có khí hậu ôn hòa, địa hình có nhiều núi đá vôi
Trang 9Bắc Hà có diện tích 686,78km2, có 68 ngàn nhân khẩu của 14 sắc tộc, trong đó dân tộc H’ Mông chiếm khoảng trên 50% dân số trong toàn huyện Các dân tộc
khác còn lại là Kinh, Dao tuyền <Mán đen>, Tày, Nùng, Phù Lá, Hoa,… Lịch sử :
Vùng đất Bắc Hà từ thời vua Hùng thuộc đất Tây Âu của Thục Phán
Thời phong kiến Bắc thuộc là châu Cam Đường, quận Giao Chỉ
Thời Lý thuộc châu Đăng
Thời Trần thuộc lộ Quy Hóa
Từ thời nhà Lê đến thời Pháp chiếm đóng thuộc động Ngọc Uyển, châu Thủy Vĩ, phủ Quy Hóa Ngày 12-07-1907 thành lập tỉnh Lào Cai, Bắc Hà trở thành một châu của tỉnh Lào Cai, với 4 tổng : Bắc Hà, Lùng Phìn, Si Ma Cai, Bảo Nhai
Năm 1967, Bắc Hà tách thành 2 huyện Bắc Hà và Si Ma Cai
Năm 1979, Bắc Hà và Si Mai Cai lại sát nhập thành một huyện gọi là Bắc Hà
Tháng 08-2000 lại tách ra thành 2 huyện Bắc Hà và Si Ma Cai thuộc tỉnh Lào Cai
Hành chính : huyện Bắc Hà gồm thị trấn Bắc Hà <huyện lỵ> và 20 xã : Bản Phố,
Bản Liền, Bản Già, Bảo Nhai, Bản Cái, Cốc Ly, Cốc Lầu, Nậm Mòn, Nậm Khánh, Nậm Đét, Na Hối, Lầu Thí Ngài, Lùng Phìn, Lùng Cải, Tả Củ Tỷ, Tả Van Chư, Thải Giàng Phố, Hoàng Thu Phố, Nậm Lúc
Địa điểm du lịch :
Bắc Hà có nhiều di tích lịch sử, văn hóa và các địa điểm du lịch thú vị, trong đó phải kể đến lễ hội San Sán <xuống đồng> của người Mông và người Tày, dinh Hoàng A Tưởng, đền Bắc Hà, di chỉ thành cổ Trung Đô, các làng nghề thổ cẩm, nấu rượu ngô đặc sản của đồng bào Mông như Bản Phố, Tả Văn Chư, các chợ như chợ trâu Lũng Phìn, chợ văn hóa Bắc Hà, chợ Cốc Ly, chợ Bản Liền,…
Đáng chú ý trong đó là các di tích như dinh thự Hoàng A Tưởng và đền Bắc Hà Dinh thự Hoàng A Tưởng xây dựng từ năm 1919 đến năm 1921 thì hoàn thành Người dân địa phương vẫn quen gọi là nhà “Vua Mèo”, bởi thời Pháp thuộc có một người dân tộc Tày tên là Hoàng Yến Chao <sau đời con lên thay tên là Hoàng A
Trang 10Tưởng> làm châu úy châu Bắc Hà <chính quyền thuộc Pháp>, cai trị vùng Bắc Hà nhưng chủ yếu có 70% dân tộc Mông sinh sống, do vậy nó được gọi là vua của vùng người Mèo <vua Mèo> Ngày nay, chính quyền đang cho tu sửa khôi phục lại dinh thự này cho đúng thiết kế ngày xưa do người Pháp thiết kế theo kiểu lâu đài cổ thường thấy ở Châu Âu, tuy vậy vẫn có một số chi tiết không giữ nguyên bản Đền Bắc Hà được đồng bào địa phương và khách thập phương góp công sức xây dựng từ thế kỉ thứ 19 Đó là đền thờ Gia quốc công Vũ Văn Mật, người có công đánh giặc dẹp loạn, hùng cứ cả một vùng rộng lớn, huy động được các dân tộc thiểu số địa phương trấn giữ vùng núi phía Bắc ngăn giặc xâm lấn biên ải từ thời vua Lê Chiêu Tông <1516> sang thời nhà Mạc <1592> và những năm tiếp theo
Đặc sản :
Rượu Bản Phố : loại rượu nấu bằng hạt ngô ủ với một loại men lá và hạt cây hồng mi
Chè Bản Liền và Mận tam hoa Na Hối