1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

...Hoàng Ngọc Vệ.pdf

113 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

...Hoàng Ngọc Vệ.pdf tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả các lĩnh vực kinh tế...

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN XÂM NHẬP MẶN TRONG SÔNG VÙNG VEN BIỂN TỈNH NGHỆ AN

CHUYÊN NGÀNH: THỦY VĂN HỌC

HOÀNG NGỌC VỆ

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN XÂM NHẬP MẶN TRONG SÔNG VÙNG VEN BIỂN TỈNH NGHỆ AN

Trang 3

CÔNG TRÌNH ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Cán bộ hướng dẫn: PGS.TS Trần Hồng Thái

Cán bộ chấm phản biện 1: PGS.TS Trần Thanh Tùng

Cán bộ chấm phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Kiên Dũng

Luận văn thạc sĩ được bảo vệ tại:

HỘI ĐỒNG CHẤM LUẬN VĂN THẠC SĨ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI

Ngày 27 tháng 10 năm 2017

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: Hoàng Ngọc Vệ

Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung nghiên cứu của mình

Hà Nội, ngày 7 tháng 8 năm 2017

Học viên thực hiện

Hoàng Ngọc Vệ

Trang 5

đã đóng góp ý kiến, giúp đỡ, động viên, khuyến khích tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo và các anh, chị công tác tại Trung tâm Tư vấn, Dịch vụ Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu – Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu đã tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình làm luận văn

Mặc dù đã nỗ lực hết mình nhưng trong quá trình nghiên cứu và làm việc tôi không thể không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp từ các thầy cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin kính chúc quý các thầy, cô, anh, chị dồi dào sức khỏe và đạt được nhiều thành công hơn nữa trong những công việc sắp tới

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC VIẾT TẮT v

DANH MỤC BẢNG vi

DANH MỤC HÌNH viii

TÓM TẮT LUẬN VĂN x

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 4

1.1 Các khái niệm liên quan 4

1.1.1 Biến đổi khí hậu 4

1.1.2 Nước biển dâng 4

1.1.3 Kịch bản BĐKH 4

1.1.4 Độ mặn 4

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 4

1.2.1 Tổng quan kết quả nghiên cứu quốc tế 4

1.2.2 Tổng quan kết quả nghiên cứu trong nước 6

1.3 Tổng quan các điều kiện tự nhiên [21] 10

1.3.1 Vị trí địa lý 10

1.3.2 Địa hình 11

1.3.3 Địa chất 12

1.3.4 Thổ nhưỡng 12

1.3.5 Thực vật 13

1.3.6 Đặc điểm chung của khí hậu 13

1.3.7 Hiện trạng tài nguyên nước 18

1.3.8 Hiện trạng xâm nhập mặn khu vực nghiên cứu 26

1.4 Tổng quan các điều kiện kinh tế xã hội 29

Trang 7

1.4.1 Tình hình phát triển kinh tế năm 2016 [21] 29

1.4.2 Định hướng phát triển kinh tế xã hội đến năm 2020 [5] 32

1.4.3 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp 37

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39

2.1 Phương pháp mô hình toán thủy văn, thủy lực 39

2.1.1 Giới thiệu mô hình 39

2.1.2 Thiết lập mô phỏng 44

2.1.3 Kết quả hiệu chỉnh, kiểm định mô hình MIKE 11 49

2.2 Kịch bản BĐKH cho khu vực nghiên cứu 53

2.3 Dữ liệu phục vụ nghiên cứu 54

CHƯƠNG 3 NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA BĐKH VÀ NƯỚC BIỂN DÂNG ĐẾN XÂM NHẬP MẶN VÙNG VEN BIỂN NGHỆ AN 57 3.1 Tác động BĐKH đến chế độ xâm nhập mặn 57

3.2 Tác động BĐKH đến chiều sâu xâm nhập mặn trên các sông 62

3.3 Tác động của xâm nhập mặn đến sử dụng đất nông nghiệp 64

3.4 Giải pháp 82

3.4.1 Các biện pháp ứng phó hiện tượng xâm nhập mặn 82

3.4.2 Các giải pháp ứng phó 83

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 85

TÀI LIỆU THAM KHẢO 88 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1 1 Tổng số giờ nắng trung bình năm (giờ) thời kỳ 1985 - 2015 13

Bảng 1.2 Nhiệt độ không khí trung bình tháng năm (0C) thời kỳ: 1985 - 2015 14

Bảng 1.3 Độ ẩm tương đối trung bình tháng năm (%) thời kỳ: 1985 - 2015 15

Bảng 1.4 Tốc độ gió trung bình tháng năm (m/s) thời kỳ: 1985 - 2015 15

Bảng 1.5 Lượng bốc hơi bình quân tháng trung bình nhiều năm (mm) thời kỳ: 1985 - 2015 16

Bảng 1.6 Mực nước triều lớn nhất trung bình tháng 17

Bảng 1.7 Mực nước triều trung bình tháng 17

Bảng 1.8 Mực nước triều nhỏ nhất trung bình tháng 17

Bảng 1.9 Chênh lệch mực nước lớn nhất của các đặc trưng mực nước triều trong nhiều năm tại Cửa Hội 18

Bảng 1.10 Lượng mưa trung bình tháng, năm tại một số trạm (mm) 19

thời kỳ: 1985 - 2015 19

Bảng 1.11 Tổng lượng dòng chảy năm trên lưu vực sông Cả 24

thời kỳ: 1985 – 2015 24

Bảng 1.12 Lưu lượng trung bình tháng năm trung bình nhiều năm tại một số vị trí trên sông Cả (m3/s) thời kỳ: 1985 - 2015 25

Bảng 1.13 Đặc trưng dòng chảy mùa kiệt trên lưu vức sông Cả 26

Bảng 1.14 Thống kê các trị số đặc trưng của độ mặn mùa kiệt điểm đo mặn Bến Thủy từ năm 1991 - 2017 26

Bảng 1.15 Dự kiến đàn gia súc, gia cầm năm 2020 34

Bảng 1.16 Diện tích nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2020 35

Bảng 1.17 Quy hoạch sử dụng đất đến 2020 36

Bảng 1.18 Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp năm 2014 tỉnh Nghệ An 37

Bảng 2.1 Thống kê tiểu lưu vực gia nhập vào khu giữa 45

Bảng 2.2 Các vị trí lấy nước trên lưu vực 46

Bảng 2.3 Kết quả hiệu chỉnh thủy lực mùa kiệt năm 1989 50

Trang 10

Bảng 2.4 Kết quả hiệu chỉnh xâm nhập mặn năm 1989 50

Bảng 2.5 Kết quả kiểm định thủy lực năm 2001 51

Bảng 2.6 Kết quả kiểm định mặn tại một số trạm năm 2001 51

Bảng 2.7 Biến đổi của nhiệt độ (oC) và lượng mưa (%) so với thời kỳ cơ sở 53

Bảng 2.8 Độ cao mực nước biển dâng theo các thời kỳ tương lai 53

kịch bản RCP4.5 53

Bảng 2.9 Lưu lượng trung bình tháng các thời kỳ tại các trạm thủy văn theo kịch bản RCP 4.5 55

Bảng 2.10: Tỉ lệ thay đổi giá trị lưu lượng trung bình tháng (%) giữa các thời kỳ tương lai với thời kỳ nền tại các trạm thủy văn lưu vực sông Cả kịch bản RCP 4.5 55 Bảng 3.1 Kết quả dự báo mực nước, mặn theo các thời kỳ tương lai sông Cả 57

Bảng 3.2 Chiều sâu xâm nhập mặn trên các sông theo các thời kỳ 59

Bảng 3.3 Chênh lệch khoảng cách xâm nhập mặn các thời kỳ tương lai so với thời kỳ nền 62

Bảng 3.4 diện tích có khả năng bị ảnh hưởng bởi xâm nhập mặn của các huyện qua các thời kỳ tương lai 65

Bảng 3.5 Tỉ lệ diện tích các xã bị ảnh hưởng xâm nhập mặn theo các thời kỳ (%) 66 Bảng 3.6 Tỉ lệ diện tích sử dụng đất nông nghiệp bị ảnh hưởng xâm nhập mặn theo các thời kỳ tương lai dưới tác động của BĐKH (%) 77

Bảng 3.7 Tỉ lệ gia tăng diện tích các loại đất nông nghiệp có thể bị ảnh hưởng xâm nhập mặn theo các giai đoạn tương lai do BĐKH so với thời kỳ nền (%) 78

Trang 11

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Sơ đồ tính toán, đánh giá tác động của của nước biển dâng đến xâm

nhập mặn ở các huyện ven biển 10

Hình 1.2 Bản đồ hành chính tỉnh Nghệ An 11

Hình 1.3 Biểu đồ đường xu thế đỉnh mặn max theo các năm 28

Hình: 1.4 Biểu đồ đường xu thế giá trị trung bình đỉnh mặn lớn nhất của các tháng mùa kiệt trong các năm 28

Hình 2.1 Các ứng dụng trong kết nối tiêu chuẩn 41

Hình 2.2 Một ứng dụng trong kết nối bên 42

Hình 2.3 Một ví dụ trong kết nối công trình 42

Hình 2.4 Mạng thủy lực mùa kiệt trên các sông trong mô hình MIKE 11 48

Hình 2.5 Sơ đồ mô phỏng kết nối mô hình 1-2D 49

Hình 3.1 Ranh giới xâm nhập mặn thời kỳ nền trên tỉnh Nghệ An 61

Hình 3.2 Ranh giới xâm nhập mặn thời kỳ (2016-2035) trên tỉnh Nghệ An 61

Hình 3.3 Ranh giới xâm nhập mặn thời kỳ (2046-2065) trên tỉnh Nghệ An 62

Hình 3.4 Ranh giới xâm nhập mặn thời kỳ (2080-2099) trên tỉnh Nghệ An 62

Hình 3.5 Sự gia tăng tỉ lệ diện tích có khả năng bị ảnh hưởng bởi XNM của các huyện qua các thời kỳ tương lai so với thời kỳ nền 66

Hình 3.6 Tỉ lệ diện tích sử dụng đất nông nghiệp có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi XNM theo ngưỡng 4‰ qua các thời kỳ tương lai tại huyện Diễn Châu 70

Hình 3.7 Tỉ lệ diện tích sử dụng đất nông nghiệp có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi XNM theo ngưỡng 1‰ qua các thời kỳ tương lai tại huyện Diễn Châu 70

Hình 3.8 Tỉ lệ diện tích sử dụng đất nông nghiệp có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi XNM theo ngưỡng 4‰ qua các thời kỳ tương lai tại huyện Nghi Lộc 72

Hình 3.9 Tỉ lệ diện tích sử dụng đất nông nghiệp có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi XNM theo ngưỡng 1‰ qua các thời kỳ tương lai tại huyện Nghi Lộc 72

Hình 3.10 Tỉ lệ diện tích sử dụng đất nông nghiệp có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi XNM theo ngưỡng 4‰ qua các thời kỳ tương lai tại huyện Quỳnh Lưu 73

Trang 12

Hình 3.11 Tỉ lệ diện tích sử dụng đất nông nghiệp có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi XNM theo ngưỡng 1‰ qua các thời kỳ tương lai tại huyện Quỳnh Lưu 73 Hình 3.12 Tỉ lệ diện tích sử dụng đất nông nghiệp có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi XNM theo ngưỡng 4‰ qua các thời kỳ tương lai tại TP.Vinh 75 Hình 3.13 Tỉ lệ diện tích sử dụng đất nông nghiệp có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi XNM theo ngưỡng 1‰ qua các thời kỳ tương lai tại huyện TP.Vinh 75 Hình 3.14 Tỉ lệ diện tích sử dụng đất nông nghiệp có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi XNM theo ngưỡng 4‰ qua các thời kỳ tương lai tại TX.Cửa Lò 76 Hình 3.15 Tỉ lệ diện tích sử dụng đất nông nghiệp có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi XNM theo ngưỡng 1‰ qua các thời kỳ tương lai tại huyện TX.Cửa Lò 76

Trang 13

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đến xâm nhập mặn vùng ven biển tỉnh Nghệ An

- Xác định ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp vùng ven biển tỉnh Nghệ An

- Đề xuất các giải pháp thích ứng và giảm thiểu rủi ro

Nghiên cứu đã sử dụng mô hình MIKE11, MIKE 21, MIKE COUPLE để đánh giá các tác động của xâm nhập mặn và công cụ ArcGIS để phân tích, biểu diễn về mặt không gian Bên cạnh đó, các phương pháp truyền thống cũng được áp dụng linh hoạt để có được kết quả chính xác và khách quan Cụ thể, luận văn đã sử dụng kết hợp phương pháp kế thừa, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, và phương pháp chuyên gia

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Luận văn đã thiết lập mô hình thủy động lực và lan truyền mặn, tính toán xâm nhập mặn cho các sông ven biển tỉnh Nghệ An Qua đó xác định được ranh giới xâm nhập mặn trên các sông, thành lập bản đồ ranh giới xâm nhập mặn và đánh giá được tác động của xâm nhập mặn đến toàn bộ đất nông nghiệp vùng ven biển của tỉnh, đưa ra một cái nhìn tổng thể về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, thực trạng xâm nhập mặn vùng ven biển tỉnh Nghệ An hiện tại và trong tương lai

Trang 14

MỞ ĐẦU

Biến đổi khí hậu (BĐKH) đang diễn ra phức tạp và khó lường Hiện tượng xâm nhập mặn cũng ngày càng nghiêm trọng, đe dọa đến sản xuất và cuộc sống của người dân các huyện ven biển cả nước nói chung và tỉnh Nghệ An nói riêng

Trong khi đó, các nghiên cứu về xâm nhập mặn tại lưu vực sông Cả hiện nay chưa nhiều Các nghiên cứu mới chỉ tập trung vào vấn đề xâm nhập mặn trên dòng chính với mô hình thủy lực một chiều, chưa đưa ra được bức tranh tổng thể về hiện trạng xâm nhập mặn của toàn bộ khu vực ven biển tỉnh Nghệ An

Trước thực trạng đó, luận văn này mở rộng phạm vi nghiên cứu, tập trung nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đến xâm nhập mặn toàn bộ hệ thống sông và vùng đất ven biển Nghệ An trong bối cảnh BĐKH

Mục tiêu nghiên cứu bao gồm:

- Nghiên cứu, đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đến xâm nhập mặn tại vùng ven biển tỉnh Nghệ An

- Xác định được ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến một số loại hình sử dụng đất nông nghiệp tỉnh nghệ An

- Đề xuất các giải pháp thích ứng và giảm thiểu rủi ro

Phạm vi nghiên cứu:

- Phạm vi về không gian: Khu vực nghiên cứu thuộc đồng bằng ven biển tỉnh Nghệ An, bao gồm diện tích của các phường, xã, thị trấn thuộc các huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, thị xã Cửa Lò và thành phố Vinh

- Phạm vi về thời gian: xét đến 2100

Phương pháp nghiên cứu:

- Cách tiếp cận:

+ Tiếp cận định tính và định lượng: Việc phân tích định lượng được thực hiện

sau quá trình phân tích định tính nhằm xác định xu thế của xâm nhập mặn trong quan hệ với các nhân tố ảnh hưởng

+ Tiếp cận lịch sử và logic: Tiếp cận, thực hiện thu thập thông tin, tài liệu lịch

Trang 15

sử về xâm nhập mặn đã xảy ra trên lưu vực sông bằng nhiều phương pháp khác nhau (xem xét số liệu thứ cấp, điều tra/ phiếu câu hỏi,…), từ đó nhận biết quy luật logic tất yếu của quá trình xâm nhập mặn

+ Tiếp cận theo lưu vực sông: Tiến hành nghiên cứu xâm nhập mặn trên phạm

vi lưu vực sông gắn liền với các đặc trưng của lưu vực sông cũng như các hoạt động kinh tế - xã hội trên lưu vực sông

+ Tiếp cận nhân – quả: Phân tích xem xét đối tượng trên cơ sở phân tích

nguyên nhân – kết quả Một nguyên nhân có thể dẫn đến 1 hậu quả duy nhất nhưng cũng có thể dẫn đến một số hậu quả khác nhau Ngược lại, có thể nhiều nguyên nhân mới dẫn đến 1 hậu quả Tiến hành phân tích nguyên nhân khác nhau gây ra xâm nhập mặn trên lưu vực sông

+ Tiếp cận phân tích, tổng hợp: Việc nghiên cứu, đánh giá xâm nhập mặn thông

qua mô hình hóa, vì vậy việc tiếp cận phân tích tổng hợp nhằm đưa ra được các lựa chọn chính xác và phù hợp với điều kiện sẵn có của địa phương

- Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng :

+ Phương pháp kế thừa

Tiếp thu và sử dụng có chọn lọc kết quả nghiên cứu và thành tựu khoa học công nghệ của các tác giả trong và ngoài nước đã nghiên cứu về những vấn đề có liên quan đến mô phỏng xâm nhập mặn

+ Phương pháp thống kê: Thu thập số liệu, Phân tích đánh giá và tổng hợp tài liệu để từ đó rút ra các cơ sở khoa học và khả năng ứng dụng vào thực tiễn Đề tài

đã tiến hành thu thập, xử lý tổng hợp số liệu liên quan đã có tại các cơ quan, ban, ngành của tỉnh Nghệ An và các đơn vị khác (Viện, trường nghiên cứu, Bộ/ngành ở Trung ương) Nguồn số liệu dữ liệu thu thập bao gồm các số liệu định kỳ (quan trắc, thống kê định kỳ )

+ Phương pháp phân tích tổng hợp

Việc nghiên cứu diễn biến quá trình xâm nhập mặn có liên quan đến nhiều yếu

tố như kỹ thuật, kinh tế, xã hội , đặc biệt đối với dân cư khu vực ven biển, vì vậy việc phân tích tổng hợp là cần thiết đối với nghiên cứu này

Trang 16

+ Phương pháp chuyên gia

Chuyên gia là những nhà nghiên cứu, nhà khoa học có nhiều công trình nghiên cứu và kinh nghiệm trong việc tính toán ranh giới xâm nhập mặn, những ý kiến đóng góp của họ rất quý báu trong việc đưa ra các giải pháp, phương án, hướng nghiên cứu… trong vấn đề xâm nhập mặn

+ Phương pháp mô hình toán thủy văn, thủy lực

Ứng dụng mô hình toán vào nghiên cứu mô phỏng diễn biến quá trình xâm nhập mặn là yêu cầu cần thiết bởi mô hình toán có những thế mạnh trong việc giải quyết các bài toán hệ thống

Nghiên cứu đã sử dụng mô hình MIKE11, MIKE 21 để đánh giá các tác động của xâm nhập mặn và công cụ ArcGIS để phân tích, biểu diễn về mặt không gian Bên cạnh đó, các phương pháp truyền thống cũng được áp dụng linh hoạt để có được kết quả chính xác và khách quan Cụ thể, luận văn đã sử dụng kết hợp phương pháp kế thừa, phương pháp thống kê, phương pháp phân tích tổng hợp, và phương pháp chuyên gia

Bố cục của luận văn được chia làm ba chương:

- Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu

- Chương 2: Phương Pháp nghiên cứu

- Chương 3: Nghiên cứu, đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đến xâm nhập mặn vùng ven biển tỉnh Nghệ An

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Các khái niệm liên quan

1.1.1 Biến đổi khí hậu

BĐKH là sự thay đổi của khí hậu trong một khoảng thời gian dài do tác động của điều kiện tự nhiên và hoạt động của con người, biểu hiện bởi sự nóng lên toàn cầu, mực nước biển dâng và gia tăng các hiện tượng khí tượng thủy văn cực đoan [1]

1.1.2 Nước biển dâng

Nước biển dâng là sự dâng lên của mực nước của đại dương trung bình do tác động của BĐKH, trong đó không bao gồm triều cường, nước dâng do bão và các tác động tự nhiên khác [1]

1.1.3 Kịch bản BĐKH

Kịch bản BĐKH là giả định có cơ sở khoa học và có tính tin cậy về xu hướng trong tương lai của khí hậu dựa trên mối quan hệ giữa hoạt động kinh tế - xã hội, phát thải khí nhà kính, BĐKH và nước biển dâng [1]

1.1.4 Độ mặn

Độ mặn là lượng muối Natriclorua (NaCl) tính ra gam có trong một 1000 gam nước ở điều kiện bình thường (‰ hay g/l) [3]

1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tổng quan kết quả nghiên cứu quốc tế

Hầu hết các quốc gia phát triển có biển trên thế giới đã mở rộng kiểm soát xâm nhập mặn với các công cụ phần mềm linh hoạt có mục tiêu hỗ trợ công tác dự báo tình hình xâm nhập mặn vùng ven biển

Tại nhiều nước, rất nhiều các công cụ hỗ trợ nhằm giám sát, kiểm soát độ mặn lồng ghép trong chương trình giám sát chất lượng nước được xây dựng Từ những năm 1990, để kiểm soát mặn trên sông với mục tiêu quản lý tổng hợp tài nguyên nước ở Tây Ban Nha đã sử dụng rộng rãi bộ công cụ hỗ trợ ra quyết định (DSS) ở các cơ quan quản lý lưu vực sông DSS ứng dụng cơ sở dữ liệu GIS và thể hiện sự

Trang 18

xâm nhập nước mặn trên Website nhằm giúp các chính quyền địa phương đưa ra quyết định tốt hơn về sử dụng nước ở các khu vực dễ bị tổn thương do nước mặn

Australia và Hoa Kỳ là hai quốc gia đi đầu trong việc kiểm soát xâm nhập

mặn

Australia kiểm soát khá tốt tình trạng xâm nhập mặn vào hệ thống sông ngòi

một cách có hiệu quả Chính phủ Australia đã triển khai dự án Flowtube Đây là dự

án Dự báo khô hạn và xâm nhập mặn bằng mô hình Flowtube Trên cơ sở dữ liệu đã được hệ thống hóa, mô hình Flowtube dự báo xâm nhập mặn và đề xuất các giải phòng tránh đã được xây dựng trong Kế hoạch hành động cụ thể cho từng khu vực

Mô hình tỏ ra rất hiệu quả trong việc đánh giá nhanh chóng tình trạng xâm nhập mặn và đề xuất các giải pháp ứng phó.Tuy nhiên việc sử dụng mô hình này đòi hỏi chuyên gia kỹ thuật máy tính có trình độ cao Trường Đại học Melbourne (UniMelb) đã phát triển giao diện chương trình Flowtube trên môi trường Windows

dễ khai thác, sử dụng và đã được ứng dụng cho nhiều lưu vực sông khác [24]

Tại Hoa kỳ, việc xây dựng các hệ thống kiểm soát mặn đối với các khu vực

ven biển đã được nước này quan tâm thực hiện từ những năm 70 của thế kỷ 20 như

hệ thống kiểm soát mặn của lưu vực sông Colorado, Kiểm soát mặn Montana Quốc gia này đã xây dựng được một số mô hình và dự án như [25]:

- Hệ thống mô hình mô phỏng độ mặn trong hệ thống sông Colorado với các kịch bản phát triển (được trình bày trên Forum Workgroup) có các tiêu chí phù hợp với điều kiện phát triển bền vững của lưu vực Mô hình CRSs và số liệu quan trắc

độ mặn trực tiếp trên sông được cập nhật trên website http://www.usbr

Gov/lc/region/g4000/NaturalFlow/index.html) cùng với cơ sở dữ liệu GIS có sẵn,

xây dựng được các bản tin dự báo diễn biến xâm nhập mặn trên các sông Bên cạnh các bản tin dự báo (ngắn hạn và dài hạn) về diễn biến độ mặn nước sông, mô hình cũng ước tính định lượng thiệt hại kinh tế do xâm nhập mặn gây ra ở ba địa điểm đại diện cho các khu vực đặc thù ở vùng hạ lưu sông Colorado Để tăng độ tin cậy của các kết quả dự báo, các mô hình này sẽ được định kỳ xem xét đánh giá 3 năm/lần

Trang 19

- Xây dựng các dự án cải thiện chất lượng nước (tập trung vào độ mặn) với tiêu chí được xem xét là độ mặn lịch sử quan trắc được trong thời kỳ 1980-2010 Sử dụng mô hình CRSs để đánh giá hiệu quả kinh tế của các dự án nhằm xác định tính đúng đắn của mô hình

Hiệp hội Kiểm soát mặn Montana (Montana Salinity Control Association - MSCA) là một tổ chức được thành lập từ những năm 1930 nhằm cung cấp hỗ trợ kỹ thuật chuyên gia trong việc kiểm soát mặn với sứ mạng “Trao quyền cho người dân

để nâng cao năng suất dài hạn và chất lượng của tài nguyên đất và nước” [25]

Do sự phát triển rất nhanh của công nghệ tính toán thuỷ văn, thuỷ lực, hiện trên thế giới xuất hiện nhiều mô hình đa chức năng trong đó các mô đun tính sự lan truyền chất ô nhiễm và xâm nhập mặn là thành phần không thể thiếu Trong số đó, nhiều mô hình được mua, chuyển giao dưới nhiều hình thức vào Việt Nam Một số

mô hình tiêu biểu: MIKE 11(Đan Mạch), HEC-RAS QUAL2E, WASPS (Mỹ) đều

có các mô đun tính toán lan truyền xâm nhập mặn nhưng chưa được sử dụng hoặc mới chỉ sử dụng ở mức thử nghiệm

1.2.2 Tổng quan kết quả nghiên cứu trong nước

Tại Việt Nam, nghiên cứu xâm nhập mặn đã được quan tâm từ những năm

60 với việc tiến hành quan trắc độ mặn ở hai vùng Đồng bằng sông Hồng và sông Cửu Long Đối với Đồng bằng sông Cửu Long, do đặc điểm địa hình (không có đê bao) và mức độ ảnh hưởng có tính quyết định đến sản xuất nông nghiệp ở vựa lúa quan trọng nhất toàn quốc nên việc nghiên cứu xâm nhập mặn ở đây được chú ý nhiều hơn, đặc biệt là thời kỳ sau năm 1976

1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu đối với khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Năm 1973: Uỷ hội sông Mê Công đã có những nghiên cứu, tính toán về xác định ranh giới xâm nhập mặn theo phương pháp thống kê trong hệ thống kênh rạch thuộc 9 vùng cửa sông thuộc Đồng bằng sông Cửu Long Các kết quả tính toán từ chuỗi số liệu thực đo đã lập nên bản đồ đẳng trị mặn với hai chỉ tiêu cơ bản 1‰ và

4 ‰ cho toàn khu vực đồng bằng trong các tháng từ tháng XII đến tháng IV

Năm 1980, dưới sự tài trợ của Ban Thư ký Uỷ ban sông Mê Công, chúng ta

Trang 20

bắt đầu triển khai dự án nghiên cứu xâm nhập mặn đồng bằng sông Cửu Long Các

mô hình được thực hiện trong khuôn khổ dự án này đã được ứng dụng vào việc nghiên cứu quy hoạch phát triển châu thổ sông Cửu Long, tính toán hiệu quả các công trình chống xâm nhập mặn ven biển để tăng vụ và mở rộng diện tích nông nghiệp trong mùa khô, dự báo xâm nhập mặn dọc sông Cổ Chiên Kỹ thuật chương trình của mô hình trên đã được phát triển thành một phần mềm hoàn chỉnh để cài đặt trong máy tính như một phần mềm chuyên dụng [17]

Bên cạnh đó, các mô hình thủy lực mạng sông kết hợp tính toán xâm nhập triều mặn như VRSAP, MEKSAL, FWQ87, SAL, SALMOD, HYDROGIS đã được xây dựng thành công bởi các nhà khoa học tiêu biểu như cố giáo sư Nguyễn Như Khuê, Nguyễn Ân Niên, Nguyễn Tất Đắc, Nguyễn Văn Điệp, Nguyễn Minh Sơn, Trần Văn Phúc, Nguyễn Hữu Nhân,…Bước đầu một số mô hình đã được thử nghiệm ứng dụng dự báo xâm nhập mặn

Sử dụng các mô hình: SAL (Nguyễn Tất Đắc), VRSAP (Nguyễn Như Khuê), KOD (Nguyễn Ân Niên) và HydroGis (Nguyễn Hữu Nhân) để dự báo xâm nhập mặn cho một số sông chính theo các thời đoạn dài hạn (6 tháng), ngắn hạn (nửa tháng) và cập nhật (ngày), Lê Sâm đã có các nghiên cứu tương đối toàn diện về tác động ảnh hưởng của xâm nhập mặn đến quy hoạch sử dụng đất cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Kết quả của đề tài góp phần quy hoạch sử dụng đất vùng ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long và các lợi ích khác về kinh tế - xã hội

Như vậy, với những nỗ lực không ngừng, các nhà khoa học trong nước đã tìm tòi và đưa ra các công trình nghiên cứu có đóng góp đáng kể về mặt khoa học, tạo tiền đề cho việc nghiên cứu xâm nhập mặn bằng phương pháp mô hình toán tại Việt Nam

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu đối với khu vực Đồng bằng Bắc Bộ

Trong phạm vi khu vực Đồng bằng Bắc Bộ hiện nay, đã có một số công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của BĐKH đến môi trường nước, môi trường đất và những ảnh hưởng đến nông nghiệp Dưới đây là một số nghiên cứu điển hình về hướng nghiên cứu này

Trang 21

Đề tài “Đánh giá tác động của BĐKH và nước biển dâng đến hệ thống hạ tầng

kỹ thuật đô thị” của Lưu Đức Cường đã đánh giá được những tác động của BĐKH

tới hạ tầng kỹ thuật tại các đô thị - mật độ dân số và hạ tầng cao và các hoạt động phát triển KT-XH, trợ giúp cơ quan quản lý nhà nước trung ương cũng như địa phương có kế hoạch hành động ưu tiên ứng phó với BĐKH và NBD trong xây dựng, quy hoạch hạ tầng kỹ thuật đô thị trước những thách thức ngày càng gia tăng của BĐKH

Vũ Thế Hải và nhóm nghiên cứu (2011) trong nghiên cứu: "Nghiên cứu đề xuất các giải pháp thủy lợi kết hợp nông nghiệp để ứng phó với hạn hán và xâm nhập mặn tại các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Hồng" đã đưa ra được các giải pháp thủy lợi kết hợp nông nghiệp để ứng phó với hạn hán và xâm nhập mặn tại các tỉnh ven biển Đồng bằng sông Hồng Tuy nhiên trong nghiên cứu này chưa đưa yếu tố nước biển dâng ứng với điều kiện BĐKH góp phần làm thúc đẩy và tăng cường quá trình xâm nhập mặn tại khu vực ven biển Đồng bằng sông Hồng [13]

Công trình nghiên cứu của Vũ Hoàng Hoa "Nghiên cứu, dự báo xu thế diễn biến xâm nhập mặn do nước biển dâng cho vùng cửa sông ven biển Bắc Bộ"đã lồng ghép được yếu tố nước biển dâng trong vai trò góp phần vào quá trình xâm nhập mặn đối với các cửa sông ven biển Bắc Bộ, kết quả chưa đưa được các giải pháp để làm giảm quá trình xâm nhập mặn đối với khu vực này khi xét đến ảnh hưởng của BĐKH [14]

Đề tài "Nghiên cứu đánh giá xâm nhập mặn và đề xuất các giải pháp giảm thiểu mặn, cấp nước cho Đồng bằng sông Hồng - sông Thái Bình trong mùa cạn" của Đỗ Thị Bính đã đưa ra các đánh giá về xâm nhập mặn cho vùng Đồng bằng sông Hồng - sông Thái Bình và đề xuất được các giải pháp nhằm giảm thiểu mặn cho khu vực này trong mùa cạn [10] Trong nghiên cứu này tác tác mới chỉ đánh giá được sự xâm nhập mặn điển hình và mạnh trong mùa cạn (do thiếu nước từ thượng nguồn) chưa xét đến ảnh hưởng của yếu tố nước biển dâng trong điều kiện BĐKH

Đề tài: "Nghiên cứu, xây dựng quy trình kỹ thuật canh tác và bảo vệ đất cho cây trồng chủ lực tại các vùng Đồng bằng dưới ảnh hưởng của BĐKH" Chủ nhiệm

Trang 22

đề tài: ThS Bùi Thị Phương Loan, Viện Môi trường Nông nghiệp Đề tài đã đạt được một số kết quả đáng chú ý như: Đã tiến hành điều tra, khảo sát 1116 cán bộ

và nông dân tại 12 tỉnh thuộc ĐBSH (Thái Bình, Nam Định, Hải Phòng, Ninh Bình), ĐBDHMT (Nghệ An, Hà Tĩnh, Huế, Bình Định) và ĐBSCL (Cần Thơ, Kiên Giang, Cà Mau, Long An); đánh giá được mức độ tổn thương đối với các cây trồng chính dưới tác động của BĐKH ở ĐBSCL, ĐBDHMT và ĐBSH; nghiên cứu nhu cầu sử dụng nước của các cây trồng chủ lực tại 3 vùng đồng bằng; tác động của nước biển dâng đến sản xuất các cây trồng chủ lực ở 3 vùng Đồng bằng Kết quả nghiên cứu được thể hiện trên các bản đồ xâm nhập mặn trong bối cảnh BĐKH khu vực nghiên cứu [15]

1.2.2.3 Tình hình nghiên cứu xâm nhập mặn lưu vực sông Cả

Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu đề xuất giải pháp giảm thiểu ảnh hưởng dòng chảy kiệt phục vụ sản xuất nông nghiệp, thủy sản vùng hạ du sông Cả và sông Mã”do PGS.TS Nguyễn Quang Trung – Viện Nước, Tưới tiêu và Môi trường làm chủ nhiệm [16] với mục tiêu đánh giá được biến động và tác động dòng chảy kiệt ảnh hưởng tới sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản vùng hạ du sông Cả và sông Mã Đề tài đã đưa ra những đánh giá về hiện trạng và nguyên nhân hạn hán và xâm nhập mặn tại vùng hạ lưu sông Cả và sông Mã Bên cạnh đó, những tác động của hạn hán đến sản xuất nông nghệp, thủy sản và đời sống kinh tế xã hội trong vùng cũng như đánh giá biến động của chế độ dòng chảy mùa kiệt và những tác động của biến động dòng chảy kiệt đến cấp nước, tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn hạ lưu sông Cả

và sông Mã cũng đã được tính toán Thông qua các kết quả trên, nhiều giải pháp thủy lợi đã được đề xuất nhằm hạn chế các tác động bất lợi của chế độ dòng chảy mùa kiệt phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản

Trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp, đề tài đã sử dụng mô hình MIKE 11, MIKE 21 để tập trung nghiên cứu diễn biến ranh giới xâm nhập mặn, hiện trạng khu vực nghiên cứu đồng thời đánh giá tác động BĐKH đến xâm nhập mặn, đến chiều sâu xâm nhập mặn trên các sông và tác động của xâm nhập mặn đến sử dụng đất vùng ven biển tỉnh Nghệ An tương ứng các kịch bản BĐKH và nước biển dâng

Trang 23

mới nhất do Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố Từ những kết quả nghiên cứu, luận văn đưa ra những giải pháp giảm thiểu và thích ứng quá trình xâm nhập mặn tại khu vực nghiên cứu

Hình 1.1 Sơ đồ tính toán, đánh giá tác động của của nước biển dâng đến xâm

nhập mặn ở các huyện ven biển

1.3 Tổng quan các điều kiện tự nhiên [21]

1.3.1 Vị trí địa lý

Nghệ An có tọa độ địa lý: 18°33′ đến 20°01′ vĩ độ bắc, 103°52′ đến 105°48′ kinh độ đông Phía bắc giáp tỉnh Thanh Hóa, phía nam giáp tỉnh Hà Tĩnh, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp CHDCND Lào (Hình 1.2.)

Khu vực nghiên cứu thuộc đồng bằng ven biển của tỉnh Nghệ An, với tổng diện tích hơn 64.382 ha, bao gồm diện tích của các phường, xã, thị trấn thuộc các

Mô hình khí hậu toàn cầu

Kịch bản biến đổi khí hậu nước biển dâng

Trang 24

huyện Quỳnh Lưu, Diễn Châu, Nghi Lộc, thị xã Cửa Lò và Thành phố Vinh

Hình 1.2 Bản đồ hành chính tỉnh Nghệ An 1.3.2 Địa hình

Nằm ở Đông Bắc dãy Trường Sơn, Nghệ An có địa hình đa dạng, phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các dãy đồi núi và hệ thống sông, suối Về tổng thể, địa hình nghiêng theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, với ba vùng sinh thái rõ rệt: miền núi, trung du và đồng bằng ven biển

Vùng ven biển địa hình thấp vừa chịu ảnh hưởng của lũ lại vừa chịu ảnh hưởng thuỷ triều.Về mùa khô, do lượng nước thượng nguồn về ít gặp lúc triều cường đẩy mặn xâm nhập vào khá sâu trong sông, những năm kiệt độ mặn xâm nhập tới trên Chợ Tràng 1  2km Độ mặn đạt tới 2  3‰ tại cống Đức Xá vào những năm kiệt gây trở ngại cho các cống lấy nước và các trạm bơm ở hạ du sông

Cả

Trang 25

Về địa chất công trình: qua nghiên cứu công trình đã xây dựng vùng ven biển, địa chất công trình là cát, cát hạt mịn, cát chảy sâu (7  8) m, do đó các công trình cần được xử lý móng để đảm bảo ổn định

1.3.4 Thổ nhưỡng

Đất đai vùng ven biển có các loại đất như sau:

- Cồn cát và đụn cát: diện tích 5.467 ha, chiếm 18,3% diện tích toàn vùng, phân bố dọc theo bờ biển 4 huyện và thị xã Cửa Lò, chủ yếu là Nghi Lộc, cát rời rạc, không có kết cấu, chủ yếu trồng phi lao ven biển

- Đất cát biển: diện tích 5.396 ha, chiếm 17,4% diện tích toàn vùng, phân bổ

ở cả 4 huyện và thị xã, nhưng tập trung nhiều ở Nghi Lộc, Diễn Châu Thành phần

cơ giới thô, không có kết cấu, độ thẩm thấu cao nên dễ gây hạn, thích hợp cho cây màu và cây công nghiệp ngắn ngày

- Đất phù sa không được bồi: diện tích 4.850 ha, chiếm 15,7% diện tích toàn vùng, phân bổ chủ yếu ở Quỳnh Lưu, đây là loại đất trung bình và đất thịt nhẹ, có chất lượng khá thích hợp cho trồng lúa nước

- Đất mặn, sú vẹt, lầy hoang hóa: diện tích 762 ha, chiếm 2,63% diện tích toàn vùng, phân bổ ở bờ biển Quỳnh Lưu, Diễn Châu và Nghi Lộc

- Đất mặn chua và chua mặn: diện tích có 669 ha, chiếm 2,2% diện tích toàn vùng, phân bổ chủ yếu ở Quỳnh Lưu

- Đất feralits xói mòn trở thành sỏi đá: có diện tích lớn nhất so với các loại trên, loại này có diện tích 7.105 ha chiếm 23% diện tích toàn vùng, phân bổ chủ yếu

ở Bắc Quỳnh Lưu và Bắc Nghi lộc

Trang 26

1.3.5 Thực vật

Thực vật trong lưu vực khá phong phú Trong những năm gần đây, nhờ có phong trào trồng cây gây rừng nên tỷ lệ rừng che phủ đã tăng lên Vào năm 2013, tỷ

lệ rừng che phủ trung bình trên phần lưu vực thuộc lãnh thổ Việt Nam khoảng 40%

1.3.6 Đặc điểm chung của khí hậu

Khí hậu Nghệ An nói chung và vùng ven biển hải đảo nói riêng mang tính chất khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa Song, do là nơi chuyển tiếp từ miền Bắc đến miền Trung, nên khí hậu trong vùng mang đặc điểm khí hậu Bắc Trung Bộ vừa chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió mùa Đông Bắc, Đông Nam vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa Tây Nam (gió Lào) khô cứng

1.3.6.1 Số giờ nắng

Số giờ nắng trung bình năm biến đổi trong phạm vi từ dưới 1500 giờ ở vùng núi cao (Quỳ Châu 1462 giờ) đến trên 1600 giờ ở vùng đồng bằng ven biển (Quỳnh Lưu 1649 giờ, Cửa Rào 1642 giờ) Số giờ nắng tập trung chủ yếu vào mùa hè, cao nhất xuất hiện vào các tháng V - VIII, trong các tháng mùa đông xuân, số giờ nắng

ít, thường dưới 100 giờ trong các tháng I – III (Bảng 1.1)

Bảng 1 1 Tổng số giờ nắng trung bình năm (giờ) thời kỳ 1985 - 2015

Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Con Cuông 80 69 110 134 183 168 172 144 142 124 106 89 1523 CửaRào 83 77 114 139 168 154 145 147 141 124 113 97 1502 ĐôLương 68 59 77 123 194 188 192 170 145 119 108 87 1529 QuỳChâu 77 64 103 123 175 162 164 146 134 126 120 82 1477 QuỳHợp 78 63 80 131 193 175 185 164 151 133 114 96 1565 QuỳnhLưu 80 64 71 133 205 194 202 179 156 151 129 84 1649 TâyHiếu 60 46 57 98 165 151 164 139 104 95 88 67 1232

1.3.6.2 Nhiệt độ không khí

Nhiệt độ không khí trung bình năm biến đổi trong phạm vi từ dưới 220C ở vùng núi cao đến 240C ở vùng đồng bằng ven biển Nhiệt độ không khí trung bình tháng dưới 200C (17 – 190C) trong các tháng XII, I, II, tăng lên 19 – 250C trong các tháng III, IV, X, XI và trên 250C trong các tháng V - IX, cao nhất vào hai tháng VI

Nguồn: Đài KTTV Khu vực Bắc Trung Bộ

Trang 27

– VII (Bảng 1.2)

Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối đã xuất hiện vào khoảng 40 - 42,70C (42,70C tại Tương Dương vào ngày 12 -/V/1966) và thường xảy ra vào các tháng V - VII, là thời kỳ thường xuất hiện gió mùa Tây Nam mạnh - "gió Lào", do tác dụng "phơn" của dãy Trường Sơn Bắc

Nhiệt độ thấp nhất tuyệt đối thường xuất hiện vào tháng XII hay tháng I với giá trị 5 - 70C ở đồng bằng và dưới 30C ở đồi núi (-0,20C tại Tây Hiếu vào ngày 30/XI/1975, 0,30C tại Quỳ Hợp ngày 2/I/1974) Như vậy, biên độ nhiệt độ lớn nhất

có thể tới 30 - 400C

Bảng 1.2 Nhiệt độ không khí trung bình tháng năm (0C) thời kỳ 1985 - 2015

Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Con Cuông 17,9 19,6 21,6 25,4 28,0 29,2 28,9 28,1 26,8 24,7 21,8 18,6 24,2 CửaRào 18,3 19,9 22,5 25,8 27,7 28,6 28,4 27,7 26,6 24,4 21,7 18,7 24,2 ĐôLương 17,8 19,0 21,0 24,7 27,9 29,5 29,2 28,3 27,0 24,9 22,2 18,9 24,2 QuỳChâu 17,5 19,0 21,4 24,9 27,2 28,4 28,3 27,4 26,4 24,1 21,2 18,0 23,6 QuỳHợp 17,5 18,9 21,2 25,1 27,6 28,8 28,7 27,8 26,5 24,3 21,8 18,4 23,9 QuỳnhLưu 17,6 18,6 20,5 24,0 27,5 29,4 29,1 28,3 27,1 25,0 22,2 18,8 24,0 TâyHiếu 17,5 18,7 20,8 24,7 27,7 29,1 28,9 28,0 26,6 24,4 21,6 18,2 23,9 Vinh 17,8 18,7 22,9 24,7 28,1 30,1 29,9 28,9 27,3 24,9 22,2 18,9 24,5

Nguồn: Đài KTTV Khu vực Bắc Trung Bộ 1.3.6.3 Lượng mây tổng quan

Lượng mây tổng quan trung bình năm biến đổi trong phạm vi từ 7,2 tại Kỳ Anh đến 8,4 phần mười tại Hương Khê, phần lớn các nơi vào khoảng trên dưới 8 phần mười Lượng mây tổng quan cao (8-9 phần mười) vào các tháng đầu năm (tháng I - III) do ảnh hưởng của các đợt không khí lạnh tạo nên, bầu trời nhiều mây

và mưa nhỏ Sau đó, lượng mây tổng quan giảm trong hai tháng IV, V, nhưng lại tăng lên trong VI - VIII và từ tháng IX đến tháng XII là thời kỳ mùa mưa Quá trình biến đổi trong năm của lượng mây tổng quan có dạng 2 đỉnh: đỉnh chính thường xuất hiện vào các tháng II và đỉnh phụ xuất hiện vào tháng VIII

1.3.6.4 Độ ẩm không khí

Độ ẩm tương đối không khí dao động khoảng 83 - 86%, có nơi như ở Cửa Rào chỉ đạt 82% Độ ẩm không khí tương đối cao trong các tháng mùa mưa (IX - XII),

Trang 28

tương đối thấp trong các tháng mùa hè thu, thấp nhất thường vào tháng VII và cao nhất vào tháng II (Bảng 1.3)

Bảng 1.3 Độ ẩm tương đối trung bình tháng năm (%) thời kỳ 1985 - 2015

Trạm I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Năm

Bảng 1.4 Tốc độ gió trung bình tháng năm (m/s) thời kỳ 1985 – 2015

Con Cuông 0,5 0,5 0,5 0,6 0,5 0,5 0,6 0,5 0,4 0,4 0,4 0,4 0,5 Cửa Rào 0,6 0,6 0,5 0,5 0,4 0,3 0,3 0,3 0,3 0,3 0,4 0,4

Đô Lương 1,2 1,3 1,2 1,4 1,3 1,4 1,4 1,4 1,4 1,4 1,1 1,2 1,3 Quỳ Châu 0,1 0,1 0,1 0,2 0,1 0,1 0,1 0,1 0,1 0,1 0,1 0,1 0,1 Quỳ Hợp 0,2 0,2 0,2 0,2 0,2 0,2 0,2 0,2 0,1 0,1 0,1 0,1 0,2 Quỳnh Lưu 1,9 2,0 1,8 1,7 1,9 2,2 2,3 1,7 1,8 2,0 1,8 1,7 1,9 Tây Hiếu 1,0 1,0 1,1 1,2 1,1 1,1 1,1 1,0 0,9 1,0 1,0 0,9 1,0 Vinh 0,6 0,6 0,6 0,7 0,9 0,8 0,9 0,7 0,6 0,7 0,7 0,6 0,7

Nguồn: Đài KTTV Khu vực Bắc Trung Bộ

Trang 29

1.3.6.6 Bốc hơi

Lượng bốc hơi trung bình năm biến đổi trong phạm vi từ trên 700 mm ở vùng núi (777 mm tại Quỳ Hợp) đến gần 1000 mm ở vùng đồng bằng ven biển (982 mm tại Vinh), có xu thế giảm theo độ cao địa hình từ đồng bằng lên vùng đồi núi (Bảng ) Lượng bốc hơi thấp, thường dưới 50 mm/tháng trong mùa đông xuân; lượng bốc hơi tương đối cao trong mùa hè, đặc biệt là vào các tháng V - VII với lượng bốc hơi trên 100 mm, cao nhất vào tháng VII do chịu ảnh hưởng của gió tây nam

Bảng 1.5 Lượng bốc hơi trung bình nhiều năm (mm) thời kỳ 1985 - 2015

Con Cuông

40,8 41,4 55,0 73,2 101,6 118,9 116,0 82,6 60,7

50,

0 52,5 43,4 836,2 Cửa Rào

45,6 44,1 61,1 77,8 85,6 86,3 82,9 61,8 56,4

53,

0 51,9 46,0 752,5 Quỳ Hợp

Nghệ An chủ yếu chế độ nhật triều không đều Hàng tháng có non nửa số ngày

có hai lần nước lớn và hai lần nước ròng Thời kỳ triều cường và thời kỳ triều kém xảy ra gần cùng thời gian với thủy triều ở Hòn Dấu Các ngày có hai lần nước lớn

và hai lần nước ròng thường xảy ra vào thời kỳ triều kém Thời gian triều dâng thường chỉ dưới 10 giờ, còn thời gian triều rút kéo dài tới 15, 16 giờ [17]

Tại các trạm vùng cửa sông, mực nước triều lớn nhất trung bình hàng năm đạt trị số cao nhất vào tháng X và thấp nhất vào tháng III Đặc trưng mực nước triều

Trang 30

trung bình của các tháng tại Bến Thủy và Cửa Hội phản ánh mực nước triều trung bình từ tháng I đến tháng VIII thấp hơn mực nước bình quân năm

Mực nước triều trung bình của tháng VII đạt trị số thấp nhất Càng đi sâu vào nội địa, ảnh hưởng của nguồn nước mùa cạn càng thể hiện rõ rệt, mực nước triều trung bình tháng nhỏ nhất thường xuất hiện vào tháng IV Mực nước nhỏ nhất trung bình hàng năm thường xảy ra vào tháng VII ở trạm Cửa Hội và Bến Thủy

Mùa kiệt, mực nước thủy triều tại Cửa Hội quan trắc được với Hmax = 2,39m ngày 22/XII/1968 với biên độ triều cao nhất đạt 3,27m Càng vào sâu trong nội địa biên độ triều càng giảm Tại Linh Cảm cách Cửa Hội 48km biên độ về mùa cạn dao động 1m – 1,2m, tại Nam Đàn cách Cửa Hội 58km, biên độ triều về mùa cạn dao động 0,2m – 0,25m

Lưu lượng nước ngọt thượng nguồn có ảnh hưởng đáng kể tới sự xâm nhập thủy triều và mặn Trên sông La tại Linh Cảm ảnh hưởng thủy triều mạnh hơn vì nguồn nước ngọt về trong các tháng mùa cạn nhỏ hơn sông Cả tại Nam Đàn

Bảng 1.6 Mực nước triều lớn nhất (cm) trung bình tháng

Tháng

Cửa Hội 130 112 104 114 123 121 122 130 145 161 153 150 177 Bến Thủy 137 125 115 122 133 135 139 152 223 248 171 157 290

Bảng 1.7 Mực nước triều trung bình tháng (cm)

Tháng

Cửa Hội 9,9 6,1 3,6 1,7 1,4 1,6 0,9 8,6 29,4 40,0 31,6 18,0 13,0 Bến Thủy 19,2 14,8 13,7 11,1 13,1 17,0 21,3 35,0 81,5 95,8 52,5 30,1 33,0

Bảng 1.8 Mực nước triều nhỏ nhất trung bình tháng (cm)

Trang 31

Tháng

Cửa Hội -129 -123 -114 -128 -130 -136 -135 -124 -103 -93 -104 -122 -145

Bến Thủy -110 -107 -104 -111 -112 -113 -115 -102 -64 -54 -78 -103 -127

Tại Cửa Hội chênh lệch mực nước triều cao nhất và thấp nhất là 0,83m Biên

độ biến đổi hàng năm tại các tháng là 0,32m với triều trung bình và biên độ biến đổi với đặc trưng triều nhỏ nhất là 0,65m

Bảng 1.9 Chênh lệch mực nước lớn nhất (cm) của các đặc trưng mực nước triều

trong nhiều năm tại Cửa Hội

1.3.7 Hiện trạng tài nguyên nước

1.3.7.1 Tài nguyên nước mưa

a) Phân bố lượng mưa trên lưu vực

Trên phần lưu vực sông Cả thuộc nước ta, giá trị lượng mưa năm trung bình nhiều năm X0 biến đổi trong phạm vi từ dưới 1400 mm đến trên 3000 mm Nhìn chung, X0 lớn xuất hiện ở vùng núi cao đón gió mùa tây nam hay gió mùa đông bắc, còn giá trị X0 nhỏ xuất hiện ở các thung lũng, sườn núi khuất gió Giá trị X0 nhỏ nhất (1200 – 1400 mm) xuất hiện ở thung lũng sông Nậm Mô và sông Cả (từ Cửa Rào trở lên) Lượng mưa lớn ở đây chủ yếu là do tác dụng chắn gió mùa đông bắc

và bão, áp thấp nhiệt đới gây nên Ngoài ra, thượng nguồn sông Hiếu trên sườn phía đông nam đỉnh núi Pu Hoạt thuộc tây Nghệ An cũng có X0 khá lớn (2400 mm)

b) Chế độ mưa

Tuỳ thuộc vào sự hoạt động của hoàn lưu khí quyển, hàng năm có 2 mùa: mùa mưa và mùa khô (hay mùa mưa ít) Tuy nhiên, mùa mưa/mùa khô hàng năm không xuất hiện đồng thời trên lưu vực Ở thượng lưu và trung lưu, mùa mưa có thể

Trang 32

bắt đầu và kết thúc sớm hơn so với hạ lưu Nhìn chung, trên phần lưu vực sông Cả thuộc lãnh thổ nước ta, do tác động của gió mùa tây nam, từ tháng V lượng mưa đã vượt 100 mm và kéo dài cho đến tháng X, từ tháng XI, XII đến tháng IV được coi là mùa mưa ít (mùa khô) với lượng mưa trung bình tháng nhỏ hơn 100 mm (bảng 1.10)

Mùa mưa thay đổi theo từng vị trí của lưu vực Vùng thượng nguồn sông Cả, sông Hiếu mùa mưa từ tháng V và kết thúc vào tháng X Lượng mưa tháng lớn nhất vào tháng VIII, ba tháng có lượng mưa lớn nhất là tháng VII, VIII, IX Càng về trung, hạ du sông Cả mùa mưa dịch chuyển dần bắt đầu từ tháng VI và kết thúc vào tháng X, XI Tháng XI có lượng mưa lớn nhất là tháng VIII, IX, X

Lượng mưa trong 6, 7 tháng mùa mưa chiếm tới 85 – 90% tổng lượng năm còn trong mùa khô chỉ chiếm có 10 – 15%

Cũng như các nơi khác ở ven biển Trung Bộ, trong các tháng V, VI hàng năm thường có mưa tiểu mãn, nhưng do ảnh hưởng của các dãy núi ở biên giới Việt Lào, nên lượng mưa tháng VII giảm hẳn và là tháng nóng nhất do hiệu ứng “phơn” - gió Lào Từ tháng VIII, lượng mưa lại tăng dần, vượt 200 mm và lớn nhất vào tháng IX (từ bắc Nghệ An trở vào) hay tháng X, sau đó lượng mưa giảm nhanh

Như vậy, dạng phân bố mưa trong năm trên phần lưu vực sông Cả thuộc lãnh thổ nước ta có 2 đỉnh: đỉnh chính xuất hiện vào tháng IX (từ bắc Nghệ An trở ra) hay tháng X, đỉnh phụ xuất hiện vào tháng V hay tháng VI Trong mùa mưa, ba tháng liên tục có lượng mưa lớn nhất thường xuất hiện vào các tháng VIII–X Lượng mưa trong ba tháng này cũng chiếm tới (50–60)% tổng lượng mưa năm, trong đó lượng mưa tháng lớn nhất cũng chiếm tới trên dưới 20%

Ba tháng liên tục có lượng mưa nhỏ nhất thường xuất hiện vào các tháng I–III Lượng mưa trong 3 tháng này chỉ chiếm (4 - 7)% tổng lượng mưa năm, trong đó lượng mưa tháng nhỏ nhất chỉ chiếm dưới 1,5%

Bảng 1.10 Lượng mưa trung bình tháng, năm tại một số trạm (mm)

thời kỳ 1985 - 2015

Trang 33

Trạm I II III IV V VI VII VIII I X X XI XII Năm

Quỳnh Lưu 17,7 24,0 30,1 54,0 107,0 131,8 117,6 238,5 402,8 342,7 81,6 32,8 1580 Quỳ Châu 16,3 13,6 28,8 85,3 225,3 206,3 196,2 289,5 321,8 226,8 54,0 17,5 1681 Quỳ Hợp 13,5 21 44,9 93,9 220,2 175,8 154,5 277,2 275,8 198,6 49 26,9 1551 Tây Hiếu 22,0 22,1 31,2 68,8 154,7 160,4 174,5 273,3 339,9 282,0 58,1 22,2 1609 Nghĩa Khánh 23,8 27,4 31,0 73,6 135,0 133,1 157,6 241,8 315,3 279,7 65,0 22,6 1506 Cửa Rào 11,1 14,4 33,3 79,6 157,5 156,6 152,7 226,4 226,7 150,3 34,5 10,9 1254 Con Cuông 34,4 35,8 49,5 86,0 183,3 145,7 163,6 262,7 337,3 293,8 76,9 31,3 1700 Dừa 29,0 35,8 48,1 85,0 185,6 136,7 151,5 264,1 377,2 322,7 90,0 34,0 1760

Đô Lương 31,9 32,2 41,7 83,6 160,9 133,2 149,0 261,9 390,5 370,9 99,8 36,0 1792 Nam Đàn 25,6 27,1 37,8 66,4 139,7 126,2 115,5 245,9 411,1 428,4 110,4 40,1 1774 Chợ Tràng 41 33,2 41,2 61,5 125,1 122 97 216,1 464,3 552,3 179,2 69,6 2003 Chu Lễ 47,2 42,1 55,1 90,1 204,1 134,9 139,1 284,1 466,8 594,7 199,9 67,0 2325 Linh Cảm 36,1 29,5 46,1 66,5 154,1 117,3 122,9 243,5 441,1 476,8 135,0 52,6 1922 Vinh 25,6 27,1 37,8 66,4 139,7 126,2 115,5 245,9 411,1 428,4 110,4 40,1 1774 Nghi Xuân 77,9 60,8 53,1 66,4 145,2 120,6 111,2 222,5 541,7 578,1 240,4 82,1 2300

Nguồn: Đài KTTV Khu vực Bắc Trung Bộ 1.3.7.2 Tài nguyên nước mặt

a) Mạng lưới sông suối

Dòng chính sông Cả bắt nguồn từ vùng núi cao trên 1800 - 2000 mm ở Sầm Nưa trên lãnh thổ Lào Từ Cửa Rào, dòng chính sông Cả tiếp tục chảy theo hướng tây bắc - đông nam và chảy đến Nam Cường do có núi Hồng Lĩnh án ngữ, nên dòng sông đổi hướng tây nam - đông bắc chảy qua thành phố Vinh (ở phía đông nam) rồi

đổ ra biển tại Cửa Hội Trước khi đổ ra biển tại Cửa Hội, có phân lưu sông Nghèn

đổ ra biển tại Cửa Sót ở Hà Tĩnh và một phân lưu đổ ra biển tại Cửa Lò

Do địa hình đồi núi chiếm phần lớn diện tích lưu vực, chia cắt mạnh, lượng mưa tương đối dồi dào, nên mạng lưới sông suối khá phát triển với mật độ lưới sông

từ dưới 0,50 km/km2 đến 1,30 km/km2, tương đối dày (trên1 km/km2) ở những nơi địa hình dốc, mưa lớn và tương đối thưa (dưới 0,5 km/km2) ở những nơi mưa ít, địa hình ít bị chia cắt

Hệ thống sông Cả có mật độ lưới sông 0,6km/km2 Những vùng mưa lớn như sông Hiếu, sông La, sông Giăng mật độ lưới sông cao hơn đạt từ 0,7  0,9 km/km2

Trang 34

Các sông suối ngắn và dốc đổ vào dòng chính sông Cả, có tổng số 44 sông nhánh cấp I, diện tích nhỏ nhất như Khe Trò là 20km2 và diện tích lớn nhất là sông Hiếu đạt tới 5.340km2

Vùng ven biển và hải đảo bao gồm các sông chảy qua khu vực:

- Sông Hoàng Mai: Lưu vực 370 km2, chiều dài 35,5 km, trên sông Hoàng Mai

đã xây dựng hồ Vực Mấu có diện tích lưu vực 215 km2, chiều dài sông còn lại từ Cửa Cờn đến hồ Vực Mấu 22 km, sông bị ảnh hưởng mặn lên đến chân hồ Vực Mấu

- Sông Mơ: Còn gọi là sông Mai Giang hay sông Độ Ông, từ Cửa Cờn đến Cửa

Quèn dài 25 km, sông có chiều rộng trung bình từ (15 - 50) m, sông nước mặn quanh năm, ruộng đất hai bên có cao độ từ (0,5 - 2,0) nên dùng để sản xuất muối và nuôi tôm

cá mặn lợ

- Sông Thái: Lưu vực 120 km2, chiều dài 26 km, sông xuất phát từ dãy núi cao ở Ngọc Sơn (Quỳnh Lưu) Vùng đầu nguồn đã xây dựng 11 hồ chứa nhỏ, chặn lưu vực 25 km2, dung tích trữ 4,8x106 m3 nước, đảm bảo tưới 250 ha Đoạn từ Cầu

Giát ra Cửa Thơi dài 12 km, sông bị nhiễm mặn đến Cầu Giát

- Sông Bùng: Có lưu vực 739 km2, chiều dài lòng sông 57 km, sau năm 1978 đào kênh tiêu Vách Bắc tách được 297 km2 đồi núi, nước theo kênh Vách Bắc ra Cửa Vạn Đào kênh tiêu Diễn Hoa chắn lưu vực 60,8 km2, kênh Diễn Hoa dài 18,5

km đổ nước ra Diễn Vạn, kênh Diễn Hoa và Vách Bắc tách nhau bởi đập tràn Diễn

Kỷ, sông Bùng còn lại tiêu cho lưu vực 381,2 km2, chiều dài lòng sông từ cống Vũng Bùn về cống Diễn Thành về Cửa Vạn

- Sông Cấm: Có lưu vực 319 km2, sông xuất phát từ các dãy núi xã Nghi Kiều (Nghi Lộc), tiếp giáp với xã Trù Sơn (Đô Lương), sông dài 39 km, trước kia sông bị mặn lên đến cầu Phương Tích, nay được ngọt nhờ có cống Nghi Quang

- Sông Lam: Là sông lớn nhất chảy qua phía Nam khu vực từ Bến Thủy về

Cửa Hội, sông Lam có diện tích 27.890 km2, dài 351 km, bắt nguồn từ vùng núi Xiêng Khoảng (Lào), chảy theo hướng tây Bắc - Đông - Nam vào Việt Nam tại Kỳ Sơn, chảy ra biển tại Cửa Hội Sông Lam hàng năm chảy ra biển (18 - 20) tỷ m3nước, nhưng nước sông bị ảnh hưởng của quá trình xâm nhập mặn, không khai thác

Trang 35

được

b) Dòng chảy năm

Dòng chảy năm trên lưu vực sông Cả khá dồi dào với lượng mưa trung bình năm toàn lưu vực là 1800mm, tổng lượng nước trung bình nhiều năm trên toàn lưu vực là 23,3.109m3, tương ứng với lưu lượng trung bình nhiều năm là 738 m3/s, mô đun dòng chảy 27,1 l/s.km2 Hệ số dòng chảy α= 0,48 Trên dòng chính sông Cả tại Yên Thượng có Flv = 23.000km2, dòng chảy năm trung bình đạt 16,659m3, Qo=

528 m3/s, Mo= 23 l/s.km2 Phần dòng chảy phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam là 17,5.109m3, phần dòng chảy thuộc địa phận Lào (F= 9.470km2) là 5,8.109m3

- Biến đổi dòng chảy năm theo không gian:

Thượng nguồn sông Cả tại Cửa Rào khống chế diện tích 12.800km2, lưu lượng trung bình nhiều năm đạt 213 m3/s tương ứng với mô đun dòng chảy 16,6 l/s.km2, Sông Nậm Mô tại Mường Xén có F = 2.620km2, mô đun dòng chảy năm trung bình

là 25,6 l/s.km2 Trên sông Hiếu tại Quỳ Châu, do có lượng mưa năm trung bình lớn 2.100mm, mô số dòng chảy năm trung bình đạt 52,9 l/s.km2 Tại Nghĩa Khánh trên sông Hiếu lượng dòng chảy năm chỉ đạt 3,94.109 m3, tương ứng với Qo = 125 m3/s,

Sông Hiếu có F = 5.340km2, chiếm 23,2% F tại Yên Thượng nhưng lượng dòng chảy năm trung bình đạt 5,24.109m3 chiếm 31,4% lượng dòng chảy tại Yên Thượng

Từ Dừa tới Yên Thượng diện tích khu giữa là 2.200km2, chiếm 9,56% diện tích tại Yên Thượng nhưng lượng dòng chảy năm đạt 3,7.106m3 chiếm 20,0% lượng dòng chảy tại Yên Thượng Đoạn khu giữa này có sự gia nhập dòng chảy năm của sông Giăng có mô đun dòng chảy lớn đạt 37,3 l/s.km2, dòng chảy năm tại Yên

Trang 36

Thượng đạt 16,65.109m3, mô đun dòng chảy 23,0 l/s.km2

- Phân phối dòng chảy năm:

Chế độ mưa, chế độ dòng chảy trong năm phân thành hai mùa rõ rệt: mùa cạn

và mùa lũ Song ngay trong mùa lũ cũng có thể xảy ra kiệt do ảnh hưởng của gió Tây khô nóng Trên toàn lưu vực thời gian bắt đầu và kết thúc mùa lũ, mùa kiệt cũng khác nhau

Trang 37

Bảng 1.11 Tổng lượng dòng chảy năm lưu vực sông Cả thời kỳ 1985 – 2015

% Yên Thượng W o .10

9 % Yên Thượng

Thượng nguồn sông Cả thời gian mùa lũ bắt đầu từ tháng VI và kết thúc vào tháng X, càng về hạ du thời gian mùa lũ chậm hơn bắt đầu từ tháng VII kết thúc vào tháng XI Trên dòng chính sông Cả lượng nước mùa lũ chiếm 70- 75% lượng nước năm, mùa cạn từ 25 - 30% lượng nước năm Trên các sông suối vừa và nhỏ, lượng nước mùa lũ biến đổi 65 - 70% lượng nước năm, còn lại là mùa kiệt Hai tháng có lượng nước lớn nhất IX, X có tổng lượng nước chiếm 40% tổng lượng nước năm Tháng III trên dòng chính sông Cả, sông Hiếu có lượng nước trung bình nhỏ nhất Tháng IV trên hệ thống sông La có lượng dòng chảy nhỏ nhất năm

Do xu hướng mưa muộn dần từ Bắc vào Nam nên tỷ lệ dòng chảy tháng VIII,

IX, X cũng có sự thay đổi đáng kể

Càng đi về phía Nam do ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc giảm dần, lượng mưa phùn cuối mùa đông giảm nhỏ, lượng dòng chảy có xu hướng kiệt muộn dần Có năm kiệt tháng xảy ra vào tháng IV, V, kiệt ngày xảy ra vào tháng IV, tháng V, VII

Trong mùa mưa thường xuất hiện lũ tiểu mãn vào tháng V, VI do sự hội tụ của gió mùa Tây Nam và gió Tín Phong Có năm lượng mưa tiểu mãn rất lớn gây lũ tiểu

Nguồn: Đài KTTV Khu vực Bắc Trung Bộ

Trang 38

mãn vào cuối tháng V và tháng VI gây thiệt hại nặng nề cho lúa hè thu khi mới gieo trồng như trận lũ tháng V/1989 gây nên lũ lớn ở hạ du sông Cả

Bảng 1.12 Lưu lượng trung bình tháng năm trung bình nhiều năm tại một số vị

Mường Xén 26.2 21.5 19.8 20.7 37.1 71.9 127.0 166.9 147.7 87.1 47.6 32.3 67.2 Cửa Rào 85.8 70.2 60.7 66.3 108.2 204.2 334.0 500.8 522.0 319.7 176.8 108.8 213 Dừa 163 134 119 121 205 360 497 797 1065 842 395 219 410 Yên Thượng 218 173 151 149 277 419 550 949 1343 1213 592 299 528 Quỳ Châu 40.7 34.4 30.3 30.9 55.4 76.9 81.7 118.1 170.2 154.7 83.8 52.4 77.4 Nghĩa Khánh 56.5 47.5 42.6 44.2 82.2 111.8 108.2 192.0 317.8 297.9 132.2 70.1 125.2 Cốc Nà 8.22 6.41 6.16 5.73 8.11 11.03 12.88 16.74 38.27 34.30 22.62 11.82 15.2 Thác Muối 22.3 16.6 15.9 15.6 17.4 18.2 20.4 30.9 95.9 90.7 63.0 29.8 36.4 Hoà Quân 4.08 3.82 3.43 3.72 6.85 5.43 3.04 5.10 13.06 20.53 9.64 4.54 6.936 Trại Trụ 4.90 3.78 3.70 3.47 4.28 4.37 4.26 6.41 17.37 16.84 11.70 6.55 7.3

c) Dòng chảy kiệt

Các nhân tố ảnh hưởng tới dòng chảy kiệt

- Mùa mưa kết thúc sớm, lượng mưa mùa mưa năm trước nhỏ, dòng chảy bổ sung cho nước ngầm ít đã làm cho suy giảm dòng chảy kiệt

- Những năm không có hoặc rất ít bão ảnh hưởng vào Việt Nam như các năm

1976, 1977 dòng chảy trong sông thấp dẫn tới mùa kiệt năm sau rất nhỏ

- Sự khai thác nguồn nước phục vụ cho tưới cũng làm suy giảm nhanh chóng dòng chảy kiệt nếu không trả lại dòng chảy cơ bản cho sông như hạ du sông Hiếu và

hạ du sông Cả lấy nước từ cống Mụ Bà, cống Nam Đàn

Các nguyên nhân trên đã làm cho dòng chảy mùa kiệt, tháng kiệt, ngày kiệt ở các lưu vực sông ngày càng suy giảm nghiêm trọng cần có biện pháp chống cạn kiệt dòng sông

Sự biến đổi của mô đun dòng chảy kiệt

Mô đun dòng chảy trung bình tháng nhỏ nhất đạt 5,1 l/s.km2 tại Cửa Rào, 5,7 l/s.km2 tại Dừa, 6,5l/s.km2 tại Yên Thượng, 20,2l/s.km2 tại Quỳ Châu, 10,4l/s.km2 tại Nghĩa Khánh Mô đun dòng chảy ngày nhỏ nhất tuyệt đối lại rất nhỏ chỉ đạt

Nguồn: Đài KTTV Khu vực Bắc Trung Bộ

Trang 39

1,9l/s.km2 tại Dừa, 1,7l/s.km2 tại Yên Thượng, 4,5l/s.km2 tại Quỳ Châu, 1,8l/s.km2tại Nghĩa Khánh (Bảng 1.13)

Bảng 1.13 Đặc trưng dòng chảy mùa kiệt trên lưu vức sông Cả

Trạm F

(km 2 )

Q bq tháng nhỏ nhất Q min tuyệt đối

Q (m 3 /s) Tháng

M (l/s.km 2 )

Q (m 3 /s)

M (l/s.km 2 ) Ngày-tháng

Nghĩa Khánh 4080 42,6 III 10,4 7,5 1,8 12(2)/VII /2010

1.3.8 Hiện trạng xâm nhập mặn khu vực nghiên cứu

Vùng ven biển tỉnh Nghệ An nằm trên khu vực hạ lưu sông Cả Trong những năm gần đây, vùng hạ du sông Cả đang đối mặt với tình trạng suy giảm dòng chảy mùa kiệt trên các sông, xâm nhập mặn tiến sâu vào nội đồng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế - xã hội trong khu vực Xâm nhập mặn trên sông Cả diễn biến phức tạp gây khó khăn cho việc cấp nước các hệ thống thủy lợi Đặc biệt vùng cửa sông mặn xâm nhập khá sâu vào nội địa do tác động thủy triều

Bến Thủy từ năm 1991 - 2017

TT Năm XII I II III IV V Smax Stbmax

Smax Smax Smax Smax Smax Smax năm năm

Trang 40

TT Năm XII I II III IV V Smax Stbmax

Smax Smax Smax Smax Smax Smax năm năm

Nguồn: Đài KTTV Khu vực Bắc trung bộ

Theo bảng thống kê trị số đặc trưng độ mặn của trạm Bến Thủy từ năm 1991 đến 2017 độ mặn lớn nhất thường xuất hiện vào tháng IV hoặc tháng V độ mặn đo được có thời điểm lên tới 20‰ năm 2007, 17,1‰ năm 2010, 14,1‰ năm 2016

Ngày đăng: 04/11/2017, 15:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w