MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU - Mục đích: Phân tích cho học viên nắm được những thuận lợi, khó khăn khi hội nhập quốc tế , từ đó hiểu rõ hơn về các quan điểm và giải pháp của Đảng, nhà nước ta trong
Trang 1BÀI 7:
CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Người soạn: Vũ Duy Hưng
Đối tượng giảng: Đảng viên mới
Số tiết lên lớp: 5 (mỗi tiết 45 phút)
A MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU
- Mục đích: Phân tích cho học viên nắm được những thuận lợi, khó khăn khi hội nhập quốc tế , từ đó hiểu rõ hơn về các quan điểm và giải pháp của Đảng, nhà nước ta trong việc hội nhập quốc tế
- Yêu cầu: Học viên nắm được kiến thức, xác định rõ trách nhiệm trong việc xây dựng, phát triển toàn diện xã hội
B KẾT CẤU NỘI DUNG, PHÂN CHIA THỜI GIAN, TRỌNG TÂM CỦA BÀI
I/ YẾU CẦU KHÁCH QUAN CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1/ Cách mạng khoa học công nghệ và những tác động vào đời sống kinh tế
-xã hội
2/ Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan ngày càng có nhiều nước tham gia
3/ Xu thế chủ đạo trong quan hệ quốc tế là các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác, cùng tồn tại trong hòa bình
4/ Quá trình phát triển kinh tế thị trường và khu vực mậu dịch tự do
II/ QUAN ĐIỂM CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG TA
1/ Quá trình hình thành chính sách hội nhập quốc tế của Đảng ta
2/ Những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập
III/ TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA
1/Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN
2/ Tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực
Việt Nam là thành viên sáng lập của Diễn đàn kinh tế Á-Âu (ASEM)
3/ Xây dựng các quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với nhiều nước trên thế giới
IV/ PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HỘI QUỐC TẾ TRONG NHỮNG NĂM TỚI
1 Bảo đảm lợi ích tối cao của quốc gia-dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế, bình đẳng và cùng có lợi
2 Nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại, tiếp tục đưa các mối quan hệ hợp tác đi vào chiều sâu
Trang 23 Triển khai mạnh mẽ định hướng chiến lược chủ động và tích cực hội nhập quốc tế
4 nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế
5 Bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước đối với các hột động đối ngoại
C - Phương pháp giảng dạy và đồ dùng dạy học
1 Thuyết giảng
2 Phát vấn
3 Trao đổi, thảo luận
4 Bảng
5 Máy tính, màn chiếu
D- Tài liệu phục vụ soạn giảng
1 Tài liệu bồi dưỡng chuyên đề Hội nhập kinh tế quốc tế
2 Văn kiện Đại hội Đảng các khóa
Đ - Nội dung các bước lên lớp
Bước 1: Ổn định lớp (3 phút)
Bước 2: Kiểm tra bài cũ
Trang 3Bước 3: Giảng bài mới CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP QUỐC TẾ
I/ YẾU KHÁCH QUAN CỦA HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1/Cách mạng khoa học - công nghệ và những tác động vào đời sống kinh
tế - xã hội
- Nửa sau của thế kỷ XX, đặc biệt là những năm 70 trở đi, thế giới bước vào thời kỳ phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ
Với những thành tựu nổi bật trong nghiên cứu, phát minh, ứng dụng khoa học đã thực sự trở thành lực lượng sản xuất to lớn, trực tiếp và có tác động sâu sắc tới những biến đổi kinh tế, chính trị, văn hoá và tổ chức đời sống xã hội
VD:Nếu trước đây rơm rạ sau vụ mùa chúng ta chỉ đốt đi thì bây giờ nhờ công nghệ chúng ta có thể làm thành ván ép, thức ăn cho vật nuôi, làm nấm
Nhờ công nghệ của cải trong 100 năm gần đây làm ra bằng tất cả của cải từ trước đó làm ra
- Với những thành tựu của khoa học - công nghệ, phương pháp làm ra sản phẩm (có thể hiểu là công nghệ) đã có sự thay đổi căn bản
Trong đó nổi bật là công nghệ thông tin với sự liên kết của tin học và viễn thông, đã hình thành "xã hội thông tin"
Từ bóng đá, hội thảo, đến mổ từ xa thông qua hệ thống viễn thông và máy tính đều trực tiếp mà không cần đi đến tận nơi
Toàn cầu hoá đề cao vai trò của cá nhân: 1 cá nhân trong xã hội hiện đại nhanh chóng được mọi người biết đến nếu cá nhân đó có ĐT, Email, Blog
Cá nhân ở Cẩm Thuỷ đc mọi người biết đến nếu cá nhân đó làm những việc phi thường hoặc khác người
Nguyên, nhiên liệu làm ra sản phẩm không chỉ còn là những tài nguyên vật
chất cụ thể và phụ thuộc vào thiên nhiên nữa mà nó còn là thông tin, tri thức
(Nguồn tài nguyên vô tận)
Có thể nói rằng thông tin trở thành nguồn nguyên liệu đặc biệt, là yếu tố đầu vào của hệ thống sản xuất, của quản lý, là công cụ để sáng tạo của cải, chìa khoá của an ninh kinh tế - xã hội
- Tuy vậy, những tiến bộ của khoa học và công nghệ đã diễn ra không đều giữa các nước và các khu vực
Các nước phát triển chiếm nhiều ưu thế, lợi thế hơn các nước đang và chậm phát triển
Cùng với sự phát triển của khoa học - công nghệ thì thế giới xuất hiện những vấn đề toàn cầu như ô nhiễm môi trường, thay đổi khí hậu, phân hoá giầu nghèo,
Trang 4công bằng, bình đẳng, văn hoá, xã hội, đạo đức đòi hỏi sự phối hợp nỗ lực của các quốc gia - dân tộc để giải quyết
- Trong xã hội thông tin, nền kinh tế như một cơ thể sống mà thị trường như một hệ sinh thái
Doanh nghiệp không chỉ là nơi sản xuất hàng hoá, mà còn là nơi sáng tạo thông tin và tri thức Xã hội thông tin tri thức đòi hỏi sự phối hợp hài hoà giữa nền công nghiệp dựa trên trí tuệ với tiềm năng của con người, làm cho con người có sự thay đổi căn bản, cả nhận thức lẫn cách ứng xử với thiên nhiên, xã hội, cách làm việc, lối sống, phương tiện tiêu dùng Tiến bộ xã hội ngày càng chú trọng nhiều hơn tới các thước đo đánh gía về văn hoá, đạo đức, lối sống, hành vi ứng xử cá nhân
và cộng đồng trong đời sống và trong sản xuất kinh doanh
- Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ và xã hội thông tin đòi hỏi giáo dục
và đào tạo phải đổi mới và hiện đại hoá một cách căn bản
Quan niệm mới về giáo dục và mục tiêu đào tạo liên quan trực tiếp đến chủ thể và đối tượng giáo dục là con người Đó là xã hội học tập, học tập suốt đời Mỗi người phải biết tự làm nới tri thức và cập nhật thông tin cho mình
Giáo dục và đào tạo không dừng lại ở lĩnh vực phúc lợi của xã hội mà được coi là một ngành kinh tế - xã hội đặc biệt, đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư ứng trước, đầu tư chiều sâu, đầu tư cho phát triển Cuộc cạnh tranh và vượt trước trong phát triển giữa các nước trở thành cuộc tranh đua để bứt phá trong giáo dục và đào tạo
2/Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan ngày càng có nhiều nước tham gia
- Toàn cầu hoá là một xu thế khách quan, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực
Nó tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các quốc gia và quan hệ quốc tế Theo quan niệm của Uỷ ban châu Âu đưa ra, toàn cầu hoá là một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau đang ngày càng phụ thuộc lẫn nhau dó có sự năng động của việc buốn bán hàng hoá và dịch vụ, cũng như có sự lưu thông vốn tư bản và công nghệ
- Toàn cầu hoá là một xu thế khách quan vì đó là kết quả của sự phát triển lực lượng sản xuất trên thế giới, gắn liền với sự phát triển của cách mạng khoa học-công nghệ, bắt đầu vào nửa sau của thế kỷ XX, nằm trong tiến trình phát triển của nhân loại Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (thế kỷ XVIII-XX) dựa trên nền tảng của kỹ thuật cơ khí đã tạo ra bước phát triển vượt bậc của LLSX của nhân loại, đồng thời mở rộng thị trường dân tộc, dần dần mở rộng thị trường thế giới Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện nay đã làm cho LLSX của nhân loại phát triển nhanh chóng theo cấp số nhân, xuất hiện nhu cầu mạnh mẽ thị trường thế giới Từ đó xuất hiện quá trình toàn cầu hoá kinh tế
- Toàn cầu hoá kinh tế trên thế giới được mở đầu do các nước tư bản công nghiệp phát động
Trang 5Trước hết vì lợi ích của các nước này, nhằm giải quyết vấn đề thị trường do
sự phát triển của LLSX
Khi SX trong nước đã bảo hoà sản phẩm SX ra tiêu thụ chậm hoặc không còn tiêu thụ được nữa thì phải tìm kiếm thị trường tiêu thụ mới đó là các nước khác
Tuy nhiên các tập đoàn kinh tế này chú ý nhiều đến lợi ích kinh tế mà không quan tâm đầy đủ đến các vấn đề xã hội, an sinh, môi trường; phân phối lợi ích không cân bằng
- Mặc dù toàn cầu hoá do các nước TB phát triển phát động nhưng lôi cuốn được nhiều nước tham gia, kể cả các nước đang phát triển và chậm phát triển
Do toàn cầu hoá mang lại lợi thế và lợi ích nhất định về các mặt hàng cụ thể cho mỗi nước
VD: + Việt Nam (Tiêu, điều, gạo, thuỷ sản )
+ Nhật bản (hàng điện tử )
- Mặt khác, toàn cầu hoá là một quá trình đầy mâu thuẫn, ngay giữa các nước, các tập đoàn tư bản xuyên quốc gia, siêu quốc gia
Đó là quá trình vừa đấu tranh vừa hợp tác, để đi đến những thoả thuận mà hai bên đều có thể chấp nhận được
- Nội dung của quá trình toàn cầu hoá, theo các quy định của WTO đối với các nước tham gia:
+ Mở của thị trường thương mại hàng hoá
Loại bỏ các loại hàng rào thuế quan và phi thuế quan, giảm thuế nhập khẩu
để hàng hoá lưu thông tự do
+Mở của thị trường dịch vụ
Cho phép các nước thành viên tự do cung ứng dịch vụ cho các pháp nhân và thể nhân của nước mình cung ứng qua biên giới, tiêu dùng ngoài lãnh thổ; hiện diện thương mại; hiện diện thể nhân
VD: Giáo dục, y tế, viễn thông, du lịch, ngân hàng, bảo hiểm
+Mở của thị trường đầu tư
Trừ lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc gia, truyền thống văn hoá dân tộc
- Khi mở cửa thị trường theo 3 lĩnh vực trên, mỗi thành viên phải tuân thủ các nguyên tắc của WTO là:
+ Không phân biệt đối xử giữa hàng hoá, doanh nghiệp nước mình với hàng hoá, doanh nghiệp nước khác
Kinh doanh trên đất nước mình (gọi là nguyên tắc tối huệ quốc và đối xử quốc gia) Tuy nhiên thực tế các đồng chí thấy vẫn có sự đối sử ko công bằng với các hàng hoá của các nước kém phát triển Như kiện bán phá giá, k đủ tiêu chuẩn
+Thực hiện minh bạch, công khai trong cơ chế chính sách
Để mọi thương nhân, mọi người có quyền và cơ hội tiếp nhận thông tin như nhau; tạo điều kiện bình đẳng trong kinh doanh
+Thực hiện bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Trang 6+Tuân thủ cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO
Chấp hành sự phán xử của cơ quan tài khoán quốc tế do tổ chức này thiết lập
3/ Xu thế chủ đạotrong quan hệ quốc tế là các nước có chế độ chính trị khác nhau vừa đấu tranh vừa hợp tác, cùng tồn tại trong hòa bình
Từ khi liên xô tan rã (tháng 12-1991) thế đối đầu hai cục giữa hai phe XHCN và TBCN kéo dài 40 đã bị phá vỡ Các nước có chế độ chính trị khác nhau xây dựng mội quan
hệ với nhau trên cơ sở vừa đấu tranh, vừa hợp tác
- Đầu thế kỷ XXI, nước Nga phục hồi dần dưới thời của Tổng thống Putin Trung Quốc đã dần trở thành một nước lớn trong khu vực và trên thế giới Quan hệ các nước lớn, đặc biệt là quan hệ Nga - Mỹ, Trung - Mỹ, Tây Âu - Nga, Nga - Trung có nhiều sự thay đổi Các nước lớn điều chỉnh chiến lược toàn cầu, đấu tranh với nhau trên tất cả các lĩnh vực, lôi kéo các nước tham gia, tạo ra những “điểm nóng”, tình trạnh “Bất ổn”, “bất định” trong quan hệ quốc tế
- Trên thế giới, xuất phát từ lợi ích, đã xuất hiện những liên kết khu vực như liên minh Châu Âu (EU), hiệp hội các quốc gia Đông nam Á (ASEAN), Tổ chức các nước Châu Mỹ (OAS)
- Trong quan hệ quốc tế, vẫn tồn tại các mối quan hệ bất bình đẳng, cường quyền,
áp đặt, giữa nước này với nước khác, bất chấp luật pháp quốc tế cũng như những chuẩn mực, tập quán trung trong quan hệ quốc tế Các thế lực thù địch vẫn thực hiện chiến lược diễn biến hòa bình nhằm can thiệp, lật đổ chế độ của các nước XHCN, các nước độc lập dân tộc
4/ Quá trình phát triển kinh tế thị trường và các khu vực mậu dịch tự do
Cùng với sự gia tăng các mối liên kết kinh tế toàn cầu là sự tăng lên nhanh chóng xu hướng liên kết kinh tế khu vực - Khu vực hoá kinh tế và các quan hệ mậu dịch tự do song phương
- Khu vực hoá kinh tế là sự liên kết kinh tế giữa một số nước trong một không gian kinh tế nhất định
Trên cơ sở cùng có lợi, được thể chế hoá bằng các định chế, quy tắc chung
có cơ chế , tổ chức điều chỉnh các hoạt động kinh tế Cơ sở của khu vực hoá là nó đem lại lợi ích lớn hơn cho các thành viên trong cạnh tranh, hợp tác quốc tế hiện nay
- Trên thế giới ngày nay, do nhu cầu mở rộng thị trường, một số nước đã và đang thảo luận, đàm phán xây dựng thị trường tự do giữa hai nước, hình thành quan
hệ thị trường tự do song phương
- Giữa toàn cầu hoá và khu vực hoá có những khác biệt nhất định và những điểm chung, thống nhất với nhau
Cả hai xu hướng toàn cầu hoá kinh tế và khu vực hoá kinh tế đều có nội dung cơ bản là liên kết kinh tế Nhưng trên phạm vi khác nhau
- Hiện nay, xu hướng khu vực hoá và phát triển quan hệ thị trường song phương tăng nhanh hơn so với hội nhập toàn cầu
Trang 7vì trong khu vực, các quốc gia có nhiều điểm tương đồng hơn, có nhiều cơ hội để hợp tác, phân công hơn và quan trọng nhất là lợi ích từng quốc gia được thoã mãn tốt hơn trong các thoả thuận song phương và khu vực Vì vậy, xu hướng khu vực hoá, thị trường tự do song phương vừa phù hợp với toàn cầu hoá vừa làm chậm lại quá trình toàn cầu hoá Vì lợi ích của mình mà mỗi quốc gia lựa chon hội nhập khu vực trong một số lĩnh vực, đồng thời thúc đẩy hội nhập toàn cầu trong những lĩnh vực khác và trong những thời kỳ nhất định
II/QUAN ĐIỂM CHỦ ĐỘNG VÀ TÍCH CỰC HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA ĐẢNG TA
1/Quá trình hình thành chính sách hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng ta.
a) Về hội nhập kinh tế quốc tế
- Ngay sau khi thành lập nước VN dân chủ cộng hoà, Nhà nước ta đã chủ trương tham gia các thể chế kinh tế quốc tế
Trong lời kêu gọi liên hợp quốc tháng 12 năm 1946, Chủ tịch HCM nêu rõ
"Đối với các nước dân chủ, nước VN sẵn sàng thực thi chính sách mở cửa và hợp tác trong mọi lĩnh vực:
a, Nước Việt Nam dành sự tiếp nhận thuận lợi cho đầu tư của các nhà tư bản, nhà kỹ thuật nước ngoài trong tất cả các ngành kỹ thuật của mình
b, Nước Việt Nam sẵn sàng mở rộng các cảng, sân bay và đường sá giao thông cho việc buôn bán và quá cảnh quốc tế
c, Nước Việt Nam chấp nhận tham gia mọi tổ chức hợp tác kinh tế quốc tế dưới sự lãnh đạo của liên hợp quốc "
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, trong đó có chiến tranh kéo dài và cục diện đối đầu hai cực trên thế giới, nước ta lại bị bao vây cấm vận nhiều năm, quan
hệ kinh tế quốc tế của nước ta chủ yếu với các nước XHCN, có tham gia liên kết , hợp tác trong khuôn khổ của Hội đồng tương trợ kinh tế (SEV) từ năm 1978
- Từ Đại hội VI, khi tiến hành đổi mới toàn diện đất nước, Đảng ta chủ trương " Tham gia sự phân công lao động quốc tế; tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế và khoa học - kỹ thuật với các nước thế giới thứ ba, các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi"
Đại hội VII, Đại hội VIII của Đảng, đặc biệt là từ Hội nghị TW 4 khoá VIII, Đảng ta đã nhấn mạnh: "Chủ động chuẩn bị các điều kiện cần thiết về cán bộ, luật pháp và nhất là về những sản phẩm mà chúng ta có khả năng cạnh tranh để hội nhập thị trường khu vực và thị trường quốc tế Tiến hành khẩn trương, vững chắc việc đàm phán hiệp định thương mại với Mỹ, gia nhập APEC và WTO Có kế hoạch cụ thể để chủ động thực hiện các cam kết trong khuôn khổ AFTA"
Đại hội IX của Đảng đưa ra chủ trương " chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
và khu vực " Sau Đại hội IX, Bộ chính trị khoá IX đã ra nghị quyết 07 về Hội nhập kinh tế quốc tế Hội nghị TW 9 khoá IX đã nhấn mạnh: " chủ động và khẩn
Trang 8trương hơn trong hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế đa phương, song phương nước ta đã ký kết và chuẩn bị tốt điều kiện để sớm gia nhập
Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)"
Đại hội X xác định phải "Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế" b) Chủ trương hội nhập quốc tế
Đại hội XI, XII xác định phải "Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế" Như vậy, sau hơn 30 năm đổi mới, từ nhận thức đúng đắn tính tất yếu khách quan và những vấn đề của toàn cầu hoá, Đảng ta đã xác định rõ chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực
2/Về cơ hội và thách thức trong hội nhập kinh tế quốc tế
- Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện để đất nước vươn lên, tiến kịp cùng thời đại
Do yêu cầu, sự cạnh tranh và trách nhiệm tuân theo các cam kết theo các quy định của các tổ chức kinh tế quốc tế, nên đối với mỗi nước là quá trình chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế trong nước theo hướng hiện đại, xây dựng nền kinh tế có chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh cao, minh bạch hoá và ổn định pháp luật
- Hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội để phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững +Mở rộng được thị trường
+Thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài
+Tiếp nhận những thành tựu và kinh nghiệm về SX, kinh doanh, quản lý +Hình thành cơ chế kinh tế thị trường hiện đại, vận hành theo định hướng XHCN
- Hội nhập kinh tế quốc tế cũng đặt ra nhiều thách thức và có những tác động bất lợi
Các nước phát triển giành nhiêu lợi thế trong cạnh tranh
Như gây sức ép mở cửa thị trường hàng hoá và dịch vụ, đồng thời tạo nên những rào cản để bảo hộ SX trong nước họ
Thao túng các quan hệ kinh tế quốc tế, né tránh các yêu cầu của các nước khác Các luật lệ của hội nhập vô cùng phức tạp, nếu không có đội ngũ cán bộ có trình độ, trung thực thì dễ bị lừa và thua thiệt
Hội nhập cũng là chấp nhận gắn liền với những biến động của tình hình thế giới Như khủng hoảng kinh tế, chính trị, năng lượng, môi trường, chiến tranh, bệnh dịch, khủng bố,
VD: Trước khi hội nhập khủng hoảng tiền tệ nước ta không có biến động gì!
Khi hội nhập rồi ta thấy giá cả biến động liên tục và biểu hiện rõ nhất là giá Vàng, dầu mỏ, USD kéo theo giá mặt hàng tiêu dùng khác tăng liên tục Có những sản phẩm tăng gấp đôi, thậm chí gấp ba Mức tăng trưởng 6 tháng đầu năm là khoảng 7% Còn mức lạm phát 6 tháng đầu năm 2008 là 22% Tức là hiện nay ta làm ra 1 thì tiêu 3 Gây ra những bất ổn về chính trị trong xã hội Có nhiều người
Trang 9hoài nghi về trình độ quản lý của các đồng chí lãnh đạo TW Tuy nhiên theo tôi, thứ nhất đây là biến động chung của cả thế giới chứ không riêng gì chúng ta
VD: Zimbabwe phát hành đồng tiền 100 tỷ mua được 1 ly cafe
Thứ hai, Vào kinh tế thị trường là chấp nhận những biến động này
Hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay cũng gặp những khó khăn, thách thức từ trong nước
Do trình độ phát triển kinh tế còn thấp, ảnh hưởng của tư duy cũ, bao cấp còn nặng nề, có sự do dự, chần chừ, ỷ lại vào nhà nước
3/Những quan điểm chỉ đạo trong quá trình hội nhập
Nghị quyết của Bộ chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế đã nêu ra 5 quan điểm chỉ đạo tiến hành hội nhập KTQT của Đảng ta:
Một là, Chủ động hội nhập KTQT và khu vực
Theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập, tự chủ và định hướng XHCN, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường
Hai là, Hội nhập KTQT là sự nghiệp của toàn dân
Trong quá trình hội nhập cần phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội, trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
Ba là, Hội nhập KTQT là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh
Cạnh tranh, vừa có nhiều cơ hội, vừa không ít thách thức, do đó cần tỉnh táo, khôn khéo và linh hoạt trong việc xử lý tính hai mặt của hội nhập tuỳ theo đối tượng, vấn đề, trường hợp, thời điểm cụ thể; vừa phải đề phòng tư tưởng trì trệ, thụ động, vừa phải chống tư tưởng giản đơn, nôn nóng
Bốn là, nhận thức đầy đủ đặc điểm của nền kinh tế nước ta, từ đó đề ra kế hoạch và lộ trình hợp lý
Vừa phù hợp với trình độ phát triển của đất nước, vừa đáp ứng được các quy định của các tổ chức KTQT mà nước ta tham gia; tranh thủ những ưu đãi dành cho những nước đang phát triển, kém phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế tập trung bao cấp sang kinh tế thị trường
Năm là, kết hợp chặt chẽ quá trình hội nhập KTQT với yêu cầu giữ vững an ninh, quốc phòng;
Thông qua hội nhập để tăng cường sức mạnh tổng hợp của quốc gia, nhằm cũng cố chủ quyền và an ninh đất nước, cảnh giác với những mưu toan thông qua hội nhập để thực hiện ý đồ "Diễn biến hoà bình" đối với nước ta
Hội nhập KTQT Đặt lợi ích quốc gia lên trên hết:
4/Về chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế
a/Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế là:
Hoàn toàn chủ động quyết định đường lối, chính sách phát triển kinh tế
-xã hội nói chung, chủ trương, chính sách hội nhập KTQT nói riêng
Trang 10- Chủ động nắm vững quy luật, tính tất yếu của sự vận động kinh tế toàn cầu, phát huy đầy đủ năng lực nội sinh, xác định lộ trình, nội dung, quy mô, bước đi phù hợp; đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ KTQT
- Chủ động hội nhập KTQT là sáng tạo phân tích, lựa chon phương thức hành động đúng, dự báo được những tình huống thuận lợi và khó khăn khi hội nhập
b/Tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là:
- Khẩn trương chuẩn bị, điều chỉnh, đổi mớí từ bên trong,
Từ phương thức lãnh đạo, quản lý đến hoạt động thực tiễn; từ TW đến địa phương, doanh nghiệp
- Khẩn trương xây dựng lộ trình, kế hoạch
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, hoàn chỉnh hệ thông pháp luật
- Không duy trì quá lâu chính sách bảo hộ của Nhà nước, khắc phục nhanh tình trạng trông chờ, ỷ lại ở sự bao cấp của Nhà nước
-Tích cực nhưng phải vững chắc
* Hội nhập KTQT là sự nghiệp và ý chí quyết tâm của Đảng, Nhà nước, toàn dân; của mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế và của toàn xã hội
III/ TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA
1/Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN)
- Ngày 28/07/1995 nước ta trở thành thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), tham gia khu vực mậu dịch tư do ASEAN(AFTA)
-ASEAN là tổ chức khu vực gồm 10 nước Đông Nam Á, diện tích 4,46 triệu
km2; tổng GDP (2010) là 1,8 nghìn tỷ USD Các thành viên của Khu vực mậu dịch
tự do ASEAN(AFTA) cam kết đến năm 2015-2020 ASEAN sẽ là một khối thị trường tự do hoàn toàn với mức thuế suất bằng 0%
2/ Tham gia các tổ chức kinh tế quốc tế và khu vực
Một là, Việt Nam là thành viên sáng lập của Diễn đàn hợp tác Á-Âu
(ASEM)
Đây là một tập hợp của 42 quốc gia thành viên, gồm 15 nước Châu Á và 27 nước châu Âu, bao gồm 2,5 tỷ dân, bằng khoảng 38% dân số thế giới; tổng GDP khoảng 25.000 tỷ USD, bằng khoảng 42% GDP thế giới Hiện nay ASEM đang thăm dò khả năng hợp tác và xây dựng viễn cảnh đến năm 2020
Hai là, gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á- Thái Bình Dương (APEC)
Tháng 11 năm 1998 Việt Nam gia nhập Diễn đàn Hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương
Đây là diễn đàn hợp tác kinh tế được thành lập năm 1989, đến nay có 21 nền kinh tế thành viên ở châu Á, châu Mỹ và châu Đại Dương Năm 2005 tổng dân
số thành viên của APEC là 2,67 tỷ người, bằng 41% dân số thế giới;, tổng GDP