+ Quan hệ 1 số ĐCS công nhân có sự rạn nứt, bất đồng chính kiến, có hại cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế => từ đó làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vốn vô tư t
Trang 1TÁC PHẨM
NÂNG CAO ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG
Trang 2I Bối cảnh ra đời, chủ đề và kết cấu tác phẩm
- Là điều kiện lịch sử cụ thể để ra đời 1 quan
điểm, 1 tư tưởng, 1 tác phẩm.
- Phải trình bày bối cảnh là tính nguyên tắc
Vậy tác phẩm “nâng cao ” ra đời trong bối cảnh quốc tế và trong nước ?
Trang 3a Bối cảnh quốc tế (Bác viết 2/1969).
+ Là những năm mà CNXH hiện thực trên thế giới giành được nhiều thành tựu to lớn, rực rỡ trên các lĩnh vực KT-VH-XH…
=> Cũng từ đó, một số nước XHCN xuất hiện
tư tưởng chủ quan, nóng vội - ví dụ ở Liên Xô
1967, nhân kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng 10, người đứng đầu Đảng Cộng sản Liên Xô xác định: Liên Xô ở giai đoạn CNXH phát triển; và trong lãnh đạo, quản lý xuất hiện quan liêu => đó là những biểu hiện của
Trang 4+ Trong xây dựng CNXH lúc đó, đặc biệt trên lĩnh vực văn hóa tư tưởng, cách làm có tính tả khuynh Bác Hồ quan niệm ĐCS ở các nước XHCN là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo mọi mặt đời sống xã hội, trong đó có lãnh đạo sự nghiệp văn hóa Do vậy, Đảng phải có chiều sâu lãnh đạo văn hóa, đặc biệt là khâu ứng xử văn hóa quá khứ (có nơi phủ định sạch) => đó là biểu hiện của CN cá nhân.
a Bối cảnh quốc tế (Bác viết 2/1969).
Trang 5+ Quan hệ 1 số ĐCS công nhân có sự rạn nứt, bất đồng chính kiến, có hại cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế => từ đó làm cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vốn vô tư trong sáng trở thành không lành mạnh => đó là biểu hiện của CN cá nhân trong quan hệ giữa các ĐCS anh em.
a Bối cảnh quốc tế (Bác viết 2/1969).
Trang 6b Bối cảnh trong nước
+ Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3, chúng
ta tiến hành đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược… Thế nhưng sự nghiệp xây dựng CNXH ở miền Bắc không được bao lâu, sau
đó phải đánh trả cuộc tấn công của Đế quốc
Mỹ bằng máy bay… và mãi cho đến 1/11/1968 Tổng thống Mỹ ra lệnh ngừng ném bom miền Bắc.
Trang 7Như vậy, lúc này có điều kiện tập trung xây dựng CNXH ở miền Bắc và làm hậu phương vững chắc cho miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà Đó là nhiệm vụ nặng
nề to lớn, đòi hỏi Đảng ta phải có sự đoàn kết thống nhất thật sự Bởi lẽ, lúc này xuất hiện
tư tưởng nghĩ ngơi, xã hơi sau những năm chống chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ
ác liệt Vì vậy, Bác viết tác phẩm “nâng cao ” nhằm để tăng cường sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, từ trên xuống để hoàn thành nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới.
b Bối cảnh trong nước
Trang 8b Bối cảnh trong nước
+ Xuất phát từ nhận thức của Bác về một
số biểu hiện trong Đảng không lành mạnh, mà sau này ta gọi là biểu hiện của CN cá nhân.
Sau 1945 ĐCS VN trở thành Đảng cầm quyền, khi đó các đảng viên được cử sang nắm giữ các chức vụ then chốt trong bộ máy Nhà nước và khi có quyền lực trong tay, một số đảng viên không giữ được đạo đức cách mạng
Trang 9Thực tế biểu hiện của CN cá nhân có xu hướng
Trang 102 Tên gọi và bút danh của tác phẩm này
đ/c và HCM toàn tập là “nâng cao ” Nhưng lúc đầu Bác Hồ chọn tên tác phẩm và yêu cầu Trưởng ban Tuyên huấn viết là “Quét sạch ” Sau đó, đ/c Trưởng Ban Tuyên huấn
và 1 số đ/c khác đề nghị đổi 2 vế ngược lại. Đây không phải là hình thức đổi trước hay sau mà
sự đổi chỗ ấy thể hiện quan điểm của Hồ Chí Minh về sự kết hợp, về mối liên hệ giữa 2 mặt xây và chống trong quá trình hình thành đạo
Trang 11=> Theo quan điểm của Bác muốn xây dựng đạo đức cách mạng thì trước hết phải quét sạch rác rưởi, những đạo đức không lành mạnh, quét càng sạch thì kết quả xây dựng đạo đức CM càng nhanh chóng.
=> Đọc tác phẩm chúng ta thấy: tên gọi có đổi lại nhưng nội dung bài viết giữ theo ý của Bác “quét sạch CN cá nhân ” là mối quan hệ giữa xây và chống, chống càng mạnh thì xây sẽ
có hiệu quả hơn
Trang 12+ Bút danh: TL, đăng báo nhân dân ngày 3/2/1969.
Bác cầm bút viết báo trong vòng 50 năm, (9/1919 - 6/1969).
Bác có hơn 100 bút danh Riêng bút danh
TL Bác sử dụng hơn 70 lần, bắt đầu sử dụng
1950 và sử dụng bút danh này thường khi đề cập những vấn đề bức xúc trong Đảng, trong
xã hội.
Trang 133 Chủ đề tư tưởng và kết cấu tác phẩm
nhân ngày thành lập Đảng:
- B1: 30 năm hoạt động của Đảng - đăng tạp chí những vấn đề hòa bình và CNXH - ở Praha năm 1960.
“đoàn kết tiến lên giành thắng lợi mới và ở đó Bác chỉ ra 4 dấu hiệu của chủ nghĩa cá nhân trong Đảng.
Trang 14- B3: 1964 nhân 34 năm ngày thành lập Đảng, Bác viết dưới chủ đề xây dựng Đảng, nhưng xây dựng Đảng về mặt đạo đức
- B4: Là bài đang nghiên cứu Như vậy, đây không phải là bài duy nhất nhân ngày thành lập Đảng Bác bàn về đạo đức CM (Bác có 55 tác phẩm bàn về đạo đức CM không tính các
3 Chủ đề tư tưởng và kết cấu tác phẩm
Từ ĐH.3 cho đến 1969 Bác có 4 bài viết nhân ngày thành lập Đảng:
Trang 15=>Do đó, chủ đề tư tưởng xây dựng Đảng
về mặt đạo đức là xuyên suốt, là nhất quán của Bác từ tác phẩm đầu tiên “Đường kách mệnh”
ở đó Bác chỉ ra 23 tư cách của người cách mạng.
Trang 16=>Bác quan niệm “Lý luận Mác-Lênin là
lý luận cao cả, trong sáng chứa đựng trong nó những giá trị nhân văn lớn và không phải bất
kỳ con người nào cũng có những phẩm chất, năng lực để lĩnh hội những phẩm chất cao cả
đó, mà chỉ có những người có những phẩm chất nhất định mới lĩnh hội được hạt nhân cơ bản của nó Vì vậy, theo quan điểm của Bác muốn tìm hiểu lý luận CM thì trước hết phải
có tâm trong sáng, cái đức cao đẹp, thì mới lĩnh hội được -> cho nên Bác chỉ ra 23 tư cách người CM.
Trang 17* Kết cấu tác phẩm: là bài báo ngắn,
có 686 từ (khoảng 1,5 trang A4) nhưng
có logic rất chặt chẽ, dưới dạng tổng kết
lý luận - thực tiễn và có thể chia nội dung
4 phần độc lập nhau:
Trang 18
Một là: Vai trò lãnh đạo của Đảng và truyền
thống đấu tranh CM cao đẹp của Đảng ta (212 từ).
Hai là: Thực chất của CNCN và những hình
thức biểu hiện cụ thể của nó.
Ba là: Các giải pháp “nâng cao ”
Bốn là: phần Kết luận
Trang 19II Nội dung cơ bản của tác phẩm.
1 Quan điểm HCM về vai trò lãnh đạo của Đảng và truyền thống đạo đức CM tốt đẹp của Đảng ta
a Về tính tiên phong gương mẫu của cán
bộ, đảng viên.
Trang 20Mở đầu bài viết bằng câu khẳng định:
“Nhân dân ta thường nói, đảng viên đi trước làng nước theo sau”
=> Đó là một lời khen chân thành đối với
đảng viên và cán bộ chúng ta, đó là khách
quan, là sự tôn vinh của nhân dân đối với
Đảng.
Trang 21+ Về lý luận: Chí ít trong các tác phẩm của mình, Bác nhắc đi nhắc lại 14 lần câu nói đó:
- Năm 1955 trong bài đạo đức CM HCM
cho rằng: “đại đa số những người chiến sĩ CM
là những người có đạo đức, cả đời hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, sinh hoạt hàng ngày thì
gương mẫu, gian khổ, chất phát nghĩa là: lo thì
lo trước thiên hạ, hưởng thì hưởng sau thiên hạ”.
Trang 22- 3/1961 khi bàn về đạo đức CM HCM
nhấn mạnh: “lo trước thiên hạ, vui sau thiên
hạ” chớ nên “ăn cỗ đi trước lội nước theo sau”.
- 12/1961 HCM nói “sự khổ sở, khó khăn thì
đảng viên ta đi trước, khi sướng thì đảng viên ta hưởng sau”.
Trang 23+ Về thực tiễn: cán bộ đảng viên chúng ta:
lo trước, làm trước, đi trước => đó là cách
hành xử của người đảng viên => đó là tính
tiên phong, là đạo đức người CS, là tư cách người đảng viên.
Trang 24b Về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với
CM VN
+ Trong tác phẩm HCM nêu lên những thắng lợi to lớn của CM Việt Nam, mà một trong những nguyên nhân tạo nên các thắng lợi
đó chính là => sự gương mẫu, tận tụy của cán
bộ, đảng viên đi đầu trong lãnh đạo toàn dân
kiện lớn:
Trang 25- Đảng mới 15 tuổi đã lãnh đạo CMT8 thành công, đã nắm chính quyền toàn quốc.
- Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy chấn động địa cầu.
- Vai trò lãnh đạo xây dựng CNXH ở miền Bắc
và đâu tranh thống nhất đất nước Từ đó, B ác khẳng định CM VN đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác….
Trang 26Vấn đề đặt ra tại sao Đảng ta làm được
Trang 27- Quyết tâm suốt đời đấu tranh cho Đảng,
cho CM, đó là điểm chủ chốt nhất.
- Ra sức làm việc cho Đảng, giữ vững kỷ
luật của Đảng thực hiện tốt đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Trang 28- Đặt lợi ích của Đảng và của nhân dân lao động lên trên, lên trước lợi ích cá nhân Hết lòng hết sức phục vụ nhân dân Vì Đảng vì dân mà đấu tranh quên mình, gương mẫu trong mọi việc.
- Ra sức học tập CN Mác-Lênin, dùng tự phê
bình và phê bình để nâng cao tư tưởng và cải tiến công tác của mình và cùng đ/c mình tiến bộ.
Trang 29=> Những phẩm chất đạo đức đó đã thẩm thấu, thẩm thấu trong lớp lớp cán bộ, đảng viên, dù trong tác phẩm này Bác không kể tên những tấm gương “gian khổ
đi trước, hưởng thụ đi sau”
Mà nhiều lần Bác nói “trong đảng ta có
Trang 30Và nhiều lần Bác nhắc đến những tấm
Tự, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Văn Thụ đã thấm nhuần đạo đức CM (Giàu sang không khuyến rủ; Khó khăn không lay chuyển; Không gì khuất phục được họ).
Trang 31Nhân dịp 30 năm thành lập Đảng, Bác nêu dẫn chứng những tấm gương của những đảng viên cấp cao (1960) => trong 31 đ/c UVTW hiện nay, trước ngày khởi nghĩa được Đế quốc Pháp tặng cho 222 năm tù đày (không kể án tử hình
và vượt ngục trước khi hết hạn).
Trang 32Trong tác phẩm “nâng cao ” Bác nói: Đảng ta đã đào tạo 1 thế hệ thanh niên CM, gái cũng như trai rất hăng hái dũng cảm trong mọi công tác” Những người Bác nhắc đến: Lý Tự Trọng, Nguyễn Văn Trỗi, Trần Thị Lý, đó là những bông hoa tươi thắm của
CN anh hùng CM; Đảng ta, nhân dân ta rất
tự hào có những người con như thế.
Trang 33=> Và như vậy, đạo đức CM đã thẩm thấu vào lớp lớp cán bộ, đảng viên, và nhờ có đạo đức CM, nên có bản lĩnh làm người, “Đảng ta
là đạo đức, văn minh”, “lịch sử Đảng ta là lịch
sử bằng vàng”,=> “văn hóa, đạo đức của Đảng
đã tạo thành một dòng chảy liền mạch” và tạo nên truyền thống cực kỳ vẻ vang của Đảng.
Trang 342 Quan điểm HCM về thực chất của CN cá nhân và các hình thức biểu hiện của nó
a Vài nét về Chủ nghĩa cá nhân (CNCN)
Trang 35a Vài nét về Chủ nghĩa cá nhân (CNCN)
- Những biểu hiện đầu tiên của CNCN xuất hiện cùng với phong trào văn hóa phục hưng, gắn liền với văn hóa ánh sáng, các nhà triết học khai sáng.
- Lúc đầu, CNCN xuất hiện như trạng thái đối lập lại chế độ chính trị, nói đến tính độc lập của con người, sự nổ lực vươn lên của cá nhân, quyền tự do dân chủ của cá nhân trong lòng
XH Vì thế, CNCN xuất hiện có tác dụng thúc đẩy phát triển lịch sử, tiến bộ XH (g/c TS đã lợi dụng triệt để mặt tích cực này)
Trang 36- Tư tưởng CNCN có rất sớm, nhưng về thuật ngữ CNCN xuất hiện vào những năm 20 của thế kỷ 19 CNCN cực đoan gắn với CN ích
kỷ của g/c TS (Nó có những dấu hiệu hết sức tiêu cực, mặt tích cực thì bị che mất, còn mặt tiêu cực thì nổi cộm lên) Sau này rất nhiều phân tích đánh giá CNCN đó là 1 thế giới quan
mà thế giới quan đó dựa trên sự đối lập cá XH.
Trang 37Bác nói: CNCN phát triển đến dạng cực đoan, tức là gắn với CNCN cực đoan, ích kỷ của g/c TS với những biểu hiện của nó.
Bác không hoàn toàn phủ nhận vai trò CNCN, Bác nói Quyét sạch CNCN, nhưng Bác
có bao giờ nói chống lại cá nhân, mà còn khẳng định “chỉ có trong CNXH quyền và lợi ích cá nhân được đảm bảo triệt để” Bác xem CNCN
đó đối lập với đạo đức CM, những gì đối lập với đạo đức CM là CN Đế quốc.
Trang 38- Bác dùng thuật ngữ CNCN từ 1947 trong tác phẩm “sửa đổi lối làm việc” Ở đó Bác nói đến CNCN và chỉ ra 7 biểu hiện tiêu cực của nó.
Bác thấy CNCN ngày càng tinh vi, phức tạp có những hình thức biểu hiện đặc thù trong những
Nói về chủ nghĩa cá nhân Bác có quan điểm rất nhất quán:
Trang 39=> Vì thế, 1963, Bác chỉ ra 4 biểu hiện mới
của CNCN và cho đến bài báo này, diện mạo của CNCN được HCM chỉ ra tương đối toàn diện và cụ thể
sự tuyệt đối hóa, sự tôn thờ quyền và lợi ích cá nhân, đến mức nó đối lập hoàn toàn với lợi ích tập thể, lợi ích XH Bác nói: Nếu CNCN như vậy thì hoàn toàn đối lập với đạo đức CM.
Trang 40Từ quan điểm đạo đức CM và CNCN như vậy, Bác dùng để tiếp cận với bản chất của CNXH.
=> Bác nói thêm: Bản chất CNCN hoàn toàn đối lập với CNXH Vì thế, muốn có CNXH thì phải tiêu diệt CNCN Cuộc đấu tranh cho CNXH cũng đồng thời là cuộc đấu tranh tiêu diệt CNCN trong từng con người và trong phạm vi XH.
Trang 41b Hồ Chí Minh chỉ ra 1 cách rất cụ thể các
hình thức biểu hiện của CNCN
- Biểu hiện của sự tham lam: CNCN là sự tham lam (tiền tài, của cải, quyền lực, thậm chí
là sắc đẹp) đã tham là không liêm => CNCN là bất liêm.
Chính vì lòng tham đó, trong những trường hợp nhất định, mù quán về vật chất, tham quyền cố vị, con người rất dễ rơi vào sự phản bội lại Đảng và nhân dân => Lòng tham
là 1 biểu hiện của đạo đức
Trang 42- Sự lười biếng (không chịu làm việc) khó
khăn gian khổ là từ chối, béo bỡ là lao vào
Sự lười biếng còn là sự lười suy nghĩ, làm việc theo thói quan, kinh nghiệm, không suy nghĩ, không cách tân, không đổi mới, thậm chí nhờ người khác suy nghĩ => không có sự đổi mới trong lãnh đạo, trong quản lý, giậm chân tại chỗ, CM không tiến lên được Lười trong học tập lý luận, văn hóa để nâng cao trình độ, kiến thức để phục vụ tốt hơn cho Đảng, cho
CM (rồi tự cho mình cái gì cũng biết, cái gì
Trang 43Cái lười do CNCN, Bác nói không thể một
sớm một chiều có thể chữa được, mà bệnh lười này gắn với quan điểm của g/c TS thống trị tức
hưởng Nó hoàn toàn khác với đạo đức CM.
Trang 44- Quan liêu: gắn với lãnh đạo, quản lý =>
mọi quyết định đưa ra từ bàn giấy, không sát với thực tế, không xâm nhập thực tiễn => sai về đường lối, chủ trương chính sách;
Phương pháp lãnh đạo quan liêu tức là lãnh đạo trái với dân chủ => quan liêu tức là mất dân chủ không nắm bắt vấn đề từ thực tiễn, không xuất phát nhu cầu từ thực tiễn, mà đặt vấn đề “ông quan liêu khi được phân công ”.
Trang 45- Kiêu ngạo: Sau khi giành được chính
quyền, tức là lãnh đạo nhân dân giành được 1
số thắng lợi nhất định, từ đó cán bộ đảng viên ta
dời non lấp biển làm được, mọi thứ đều biết, rất chủ quan kiêu ngạo => coi thường tổ chức, coi khinh quần chúng, cho ta là nhất, là tất cả thiên hạ.
- Vô kỷ luật: Phớt lờ tổ chức, cán bộ đảng viên không tuân thủ điều lệ của Đảng, Pháp luật Nhà nước => vô tổ chức vô kỷ luật
=> làm Đảng yếu đi.
Trang 46- Địa phương cục bộ: Gắn với địa phương
mình, 1 lĩnh vực nào đó, sau khi chú ý đến lợi ích của mình, thì coi lợi ích của cả nước, của những nơi khác không ra gì.
- Kéo bè, kéo cánh gây mất đoàn kết trong nội bộ Đảng và nhân dân: không dùng những người có tài mà chỉ dùng những người bảo vệ lợi ích của mình dù không có tài => mất đoàn kết trong Đảng => Bác cho rằng: nguy cơ của 1 Đảng cầm quyền do CNCN mà có.