Trong thí nghiệm ôtô thường dùng cảm biến để đo các đại lượng: chuyển dịch, tốc độ, gia tốc, lực, áp suất và ứng suất.. Khi nghiên cứu động cơ đốt trong cũng như những cơ cấu khác của ôt
Trang 1KHOA CƠ KHÍ ĐỘNG LỰC
BÀI GIẢNG HỌC PHẦN: THÍ NGHIỆM Ô TÔ
SỐ TÍN CHỈ: 02
LOẠI HÌNH ĐÀO TẠO: ĐẠI HỌC CHÍNH QUY NGÀNH: CÔNG NGHỆ KỸ THUẬT Ô TÔ
Trang 2CHƯƠNG I CÁC VẤN ĐỀ CƠ BẢN TRONG ĐO LƯỜNG KỸ THUẬT
1.1 Mục đích thí nghiệm
Thí nghiệm ôtô chiếm vị trí rất quan trọng trong nền công nghiệp ôtô Mục đích của việc thí nghiệm là để đánh giá hoặc phát hiện các ưu nhược điểm của các chi tiết, các cụm chi tiết và toàn bộ ôtô về các mặt như:
Thông số kỹ thuật và tính năng làm việc cơ bản
Độ tin cậy làm việc
Quy mô và độ phức tạp của thí nghiệm phụ thuộc vào mục đích đề ra ban đầu
Tuỳ theo mục đích và tính chất của thí nghiệm mà đề ra chương trình thí nghiệm bao gồm:
Phương pháp tiến hành và thời gian thí nghiệm
Đối tượng dùng cho thí nghiệm
Trang thiết bị dùng cho thí nghiệm
Vị trí, chế độ và điều kiện thí nghiệm
Phương pháp xử lý số liệu thí nghiệm
Trang 3Đối tượng thí nghiệm
Cường độ và thời gian thí nghiệm
Theo mục đích thí nghiệm ta có thí nghiệm kiểm tra kiểm tra ở nhà máy sản xuất, thí nghiệm trong điều kiện sử dụng, thí nghiệm trong nghiên cứu khoa học
Theo tính chất thí nghiệm ta có thí nghiệm để xác định tính chất kéo, tính nhiên liệu, tính chất phanh, tính ổn định và điều khiển, tính êm dịu chuyển động, tính cơ động, độ tin cậy làm việc, độ mòn, độ bền…của ôtô
Theo vị trí tiến hành thí nghiệm ta có thí nghiệm trên bệ thử (trong phòng thí nghiệm), thí nghiệm ở bãi thử, thí nghiệm trên đường Thí nghiệm trên bệ thử
có thể tiến hành cho từng chi tiết, cho từng cụm hoặc cho cả ôtô một cách dễ dàng hơn so với khi thí nghiệm trên đường
Theo đối tượng thí nghiệm ta có thí nghiệm mẫu ôtô đơn chiếc, thí nghiệm mẫu ôtô của một đợt sản xuất nhỏ, thí nghiệm ôtô được sản xuất đại trà
Theo cường độ và thời gian thí nghiệm ta có thí nghiệm bình thường theo quy định và thí nghiệm tăng cường Ở thí nghiệm tăng cường thì thời gian thường được rút ngắn và chế độ tải trọng tăng
1.3 Yêu cầu đối với thiết bị đo
Thiết bị đo dùng cho thí nghiệm cần đảm bảo những yêu cầu chính sau đây:
Đảm bảo độ chính xác cần thiết cho thí nghiệm
Không bị ảnh hưởng bởi rung động, điều này rất cần thiết đối với thí nghiệm trên đường
Đặc tính của thiết bị đo cần phải tuyến tính hoặc rất gần với tuyến tính trong suốt phạm vi đo
Trọng lượng và kích thước nhỏ để có thể đặt được ở trong ôtô Điều này rất quan trọng khi thí nghiệm trên đường
Không bị ảnh hưởng bởi khí hậu và thời tiết
Câu hỏi ôn tập
Câu 1: Nêu mục đích của thí nghiệm ôtô?
Câu 2: Các dạng thí nghiệm ôtô?
Trang 4CHƯƠNG II CÁC LOẠI CẢM BIẾN DÙNG TRONG THÍ NGHIỆM
2.1 Định nghĩa và phân loại cảm biến
Cảm biến là bộ phận để nhận tín hiệu về trang thái của tín hiệu cần đo và biến đổi nó thành tín hiệu điện tương ứng
Trong thí nghiệm ôtô thường dùng cảm biến để đo các đại lượng: chuyển dịch, tốc độ, gia tốc, lực, áp suất và ứng suất Khi nghiên cứu động cơ đốt trong cũng như những cơ cấu khác của ôtô có thể dùng đến cảm biến loại nhiệt, loại quang và loại hoá, hall, áp suất …
Cảm biến còn phân loại theo nguyên lý biến đổi đại lượng không điện thành đại lượng điện theo hai nhóm lớn:
Nhóm phát điện (gênêratơ): ở nhóm này các đại lượng không điện từ đối tượng cần đo được biến đổi thành sức điện động hoặc cường độ dòng điện, chẳng hạn như cảm biến điện cảm, cảm biến thạch anh, cảm biến quang, cảm biến hall
và những cảm biến khác không cần nguồn điện bởi vì chính các cảm biến ấy là nguồn phát điện
Nhóm thông số: ở nhóm này đại lượng không điện từ đối tượng cần đo sẽ biến đổi thành một hoặc vài thông số điện của cảm biến như điện trở tenxơ, cảm biến điện dung, cảm biến điện từ, cảm biến con trượt
2.2 Cấu tạo các loại cảm biến
2.2.1 Cảm biến điện áp
a Nguyên lý hoạt động
Nguyên lý cảm biến điện áp Hình vẽ
Hiệu ứng áp điện
(piezo-electric):
Ở trạng thái ban đầu các tinh
thể thạch anh là trung hòa về điện, tức
là các ion dương và ion âm cân bằng
như hình 2.1A Khi có áp lực bên
ngoài tác dụng lên một tinh thể thạch
anh làm cho mạng tinh thể bị biến
dạng Điều này dẫn đến sự dịch
chuyển các ion Một điện áp điện (B)
Hình 2.1: Nguyên lý hoạt động của hiệu
ứng áp điện
Trang 5được tạo ra Ngược lại, khi ta đặt vào
một điện áp, điều này dẫn đến một
biến dạng tinh thể và bảo toàn lực
b Ứng dụng
Cảm biến áp điện được ứng dụng rất rộng rãi trong cơ khí và ngành công nghệ ôtô Chẳng hạn như: cảm biến kích nổ, cảm biến áp suất, cảm biến siêu âm, cảm biến gia tốc
Ứng dụng cảm biến điện áp Hình vẽ
Cảm biến tiếng gõ được đặt
nắp trên động cơ dưới đầu xi lanh
Thành phần áp điện trong
cảm biến kích nổ được chế tạo
bằng tinh thể thạch anh là những
vật liệu khi có áp lực sẽ sinh ra
điện áp Phần tử áp điện được thiết
kế có kích thước với tần só riêng
trùng với tần số rung của động cơ
khi có hiện tượng kích nổ để xẩy ra
hiện tượng cộng hưởng (f=7kHz)
Như vậy, khi có kích nổ, tinh thể
thạch anh sẽ chịu áp lục lớn nhất và
sinh ra một điện áp
Hình 2.2: Cảm biến tiếng gõ
Trang 62.2.2 Cảm biến cảm ứng từ
a Nguyên lý hoạt động
Nguyên lý hoạt động Hình vẽ
Những cảm biến này làm việc
trên nguyên lý phát sinh sức điện động
trên mạch khi từ thông thay đổi
Nguyên lý làm việc của cảm
biến này được trình bày trên hình 2.3
Cảm biến cấu tạo bởi khung dây điện
quay trong trường nam châm vĩnh cửu
gây nên bởi hai cực bắc N và nam S
Khi khung dây điện quay như
vậy thì từ thông đi qua dây điện sẽ
thay đổi và sức điện động e (tín hiệu
ra) sinh ra ở hai đầu ra của khung dây
điện sẽ tỷ thuận với tốc độ thay đổi từ
thông đi qua khung dây điện
Hinh 2.3: Sơ đồ nguyên lý làm việc của
Cảm biến này bao gồm: một nam
châm được bao kín bằng một cuộn dây
và các vòng cảm biến
Nam châm và cuộn dây được đặt
cách các vòng cảm biến một khoảng xác
Trang 7định
Khi răng của vòng cảm biến 4
không nằm đối diện cực từ, thì từ thông
đi qua cuộn dây cảm ứng sẽ có giá trị
thấp vì khe hở không khí lớn lên có từ
trở cao Khi một răng đến gần cực từ của
cuộn dây, khe hở không khí giảm dần
khiến từ thông tăng nhanh Như vậy, nhờ
sự biến thiên từ thông, trên cuộn dây sẽ
xuất hiện một sức điện động cảm ứng
Khi răng vòng cảm biến đối diện cuộn
dây từ thông đạt giá trị cực đại nhưng
điện áp ở hai đầu cuộn dây bằng không
Khi răng của vòng cảm biến di chuyển ra
khỏi cực từ, khe hở không khí tăng dần
làm từ thông giảm sinh ra một sức điện
động theo chiều ngược lại
Việc luân chuyển các bánh xe sẽ
thay đổi khe hở dẫn đến làm thay đổi từ
trường Những thay đổi của từ trường tạo
ra điện áp xoay chiều trong cuộn dây
Các tần số tín hiệu thay đổi như tốc độ
bánh xe tăng hoặc giảm
đặt trên vành đai puly cam hoặc có thể
tích hợp trong bộ chia điện
Bộ phận chính của cảm biến là
một cuộn cảm ứng, một nam châm vĩnh
cửu và một rotor dùng để khép mạch từ
có số răng như hình 2.5 Về cơ bản
nguyên lý tương tự như cảm biến tốc độ
Việc luân chuyển trục cam sẽ thay đổi
khe hở dẫn đến làm thay đổi từ trường
Sự biến thiên từ trường tạo ra điện áp
Hình 2.5: Cảm biến vị trí trục cam
1 Cảm biến vị trí trục cam;
2 Vòng cảm biến trục cam
Trang 8xác định góc chuẩn của trục cam, từ đó
xác định điểm chết trên và kỳ nén của
mỗi xi lanh để đánh lửa
2.2.3 Cảm biến áp suất
a Nguyên lý hoạt động
Nguyên lý hoạt động cảm biến áp suất Hình vẽ minh họa
Cảm biến áp suất thường được
sử dụng để đo áp suất trong ôtô
Cấu tạo quan trọng nhất của cảm
biến áp suất là:
Chip silicon 5, trong chip silicon
có màng 1 và các điện trở được mắc với
nhau theo hình cầu Wheatstone
Khi áp suất cao, khi đó màng 5
tác dụng làm các điện trở biến Các điện
trở biến dạng được kết nối với nhau
theo hình cầu mạch Wheatstone Và khi
đó các điện trở thay đổi về giá trị điện
trở dẫn đến thay đổi điện áp trên các
điện trở đo Điện trở um cũng thay đổi
phù hợp Sự thay đổi đó phù hợp với áp
hòa khí Cảm biến MAP được cung cấp
bởi một điện áp tham chiếu 5V Cảm
Trang 9biến bao gồm một tấm chip silicon Mặt
ngoài của tấm silicon tiếp xúc với áp suất
đường ống nạp Hai mặt của tấm được
phủ thạch anh để tạo thành điện trở áp
điện Khi áp suất đường ống nạp thay
đổi, giá trị của điện trở áp điện sẽ thay
đổi Các điện trở áp điện được nối thành
cầu Wheastone
Hình 2.7: Cảm biến áp suất đường
ống nạp
Cảm biến áp suất nhiên liệu
Cảm biến được lắp đặt ống phân
phối của hệ thống cung cấp nhiên liệu
thay đổi điện trở, việc thay đổi điện trở
này tỷ lên với áp suất nhiên liệu và được
khuyếch đại trong IC khuyếch đại 2
Hình 2.8: Cảm biến áp suất nhiên liệu
Hình 2.9: Cấu tạo cảm biến áp suất
nhiên liệu
1 Dây kết nối; 2 IC khuyếch đại; 3 Màng ngăn thép; 4 Áp suất nhiên
Trang 10a Nguyên lý hoạt động
Nguyên lý cảm biến Hall Hình vẽ
Hiệu ứng Hall ở đây được tạo ra
bởi một tấm bán dẫn (IC hall) Khi
cung cấp một điện áp một chiều U thì
có một dòng điện phân bố đều trên toàn
bộ bề mặt của tấm IC Hall và tạo ra từ
trường xung quang tấm Hall Khi ta
thay đổi từ trường dẫn đến sự thay đổi
các điện tử, các điện tử này bất ngờ
chệch hướng quỹ đạo hiện tại Kết quả
là tấm Hall đưa ra một hiệu điện thế
Cảm biến Hall được lắp gần bánh
đà hoặc Puli trục khuỷu
Cảm biến xác định vị trí của trục
và tốc độ của trục khuỷu
Các tín hiệu từ cảm biến vị trí suất
ra là ở dạng xung Các xung này được
đưa tới ECU
Theo sơ đồ nguyên lý, khí có
nguồn cung cấp đến IC Hall và có từ
thông đi qua nó thì IC Hall sẽ cho một
tín hiệu điện áp Khi cực bắc lại gần IC
Hall thì IC Hall sẽ tạo ra điện áp Còn
cực nam lại gần IC Hall thì sự thay đổi
điệp áp là rất nhỏ so với cực bắc, do đó
Hình 2.11: Cảm biến vị trí trục khuỷu Cặp cực từ; 2 Cảm biến tốc độ động cơ; 3 Khoảng cách giữa cặp cực và cảm biến tốc độ; 4 Khoảng cách giữa các xung; 5 Tín hiệu từ cảm biến tốc
độ
Trang 11điện áp lúc này là 0V.
Cảm biến mô men:
Khi người lái điều khiển vô lăng,
mô men lái tác dụng lên trục của cảm
biến mô men thông qua trục lái chính
Khi đó làm quay rotor của cảm biến
Trên Stator là đĩa phân đoạn có tác dụng
ngăn IC hall tiếp xúc với từ trường Trên
rotor có các nam châm, do đó khi quay
rotor làm cho IC Hall tiếp xúc với từ
trường Khi tiếp xúc sẽ sinh ra các điện
áp Khi không tiếp xúc thì điện áp mất
Hình 2.12: Cấu tạo cảm biến mô men
1 IC Hall; 2 Rotor; 3 Stator.
2.2.5 Manheto – điện trở suất
hóa Nếu không có sự ảnh hưởng của
từ hóa bên ngoài, thì sự liên kết của
mỗi lớp từ hóa là ngẫu nhiên Nếu một
từ trường ngoài tác dụng vào vật liệu
sắt từ, thì các thành phần từ hóa sẽ
phù hợp với từ trường bên ngoài
Sự liên kết của các thành phần
từ hóa phụ thuộc trên độ mạnh của từ
trường bên ngoài:
Nếu từ trường yếu, sự liên kết
của thành phần từ hóa đến từ trường
bên ngoài là ngẫu nhiên và do đó
không đồng đều Các vật liệu sắt từ có
điện trở cao
Nếu từ trường đủ mạnh, sự liên
Hình 2.13: Cảm biến Manhêtô
Trang 12nhất với tù trường ngoài Các vật liệu
trên các bánh xe trước và bánh sau
Cảm biến tốc độ đo tốc độ của
từng bánh xe Tạo ra các sóng vuông
với tần số liên tục và tương ứng với
tốc độ động cơ tăng lên
Cảm biến tốc độ bao gồm hai
magneto-resistive điện trở kết nối với
nhau theo dạng cầu Wheatstone Khi
vòng từ tính quay, từ thông biến thiên
qua các phần tử magneto này làm cho
điện thế tại các điểm giữa của hai
nhánh thay đổi Một bộ so sánh
khuyếch đại căn cứ vào sự chênh lệch
điện áp tại 2 điểm này sẽ tạo ra các
xung vuông Tần số các xung này
bằng số cực các nam châm gắn vào
vòng từ tính
Hình 2.14: Cảm biến tốc độ bánh xe
Hình 2.15: Nguyên lý hoạt động của cảm
biến tốc độ xe
Trang 132.2.6 Cảm biến điện dung
a Nguyên lý hoạt động
Nguyên lý hoạt động Hình vẽ
Cảm biến điện dung dựa trên
các nguyên tắc của một tụ điện Một
trong những tính chất vật lý của tụ
điện là sự phụ thuộc của điện dung,
tức là khả năng lưu trữ năng lượng,
vào khoảng cách giữa hai tấm kim
loại Các tấm có khoảng cách phù
hợp
Nếu hai mảnh là tương đối xa
nhau, thì khả năng nạp giữa chúng là
tương đối thấp Nếu các tấm di chuyển
lại gần nhau hơn, thì khả năng nạp
Cảm biến đo gia tốc:
Cảm biến gia tốc được lắp trên
khung kết cấu sàn xe theo chiều dọc
và ngang trục
Cảm biến gia tốc đo gia tốc của
xe theo chiều dọc hoặc ngang, tùy
thuộc vào sử dụng
Cảm biến này được dùng để
điều khiển hoạt động của túi khí
Hình 2.18: Cấu tạo cảm biến gia tốc
Trang 14Cảm biến áp suất phanh:
Cảm biến áp suất phanh có thể
được lắp bên ngoài của xi lanh phanh
chính hoặc có thể tích hợp vào HCU
Cảm biến áp suất phanh dùng
để đo áp suất trong hệ thống phanh
thủy lực
Cảm biến này tạo ra một tín
hiệu điện áp tỉ lệ thuận với áp suất
phanh tạo ra Và gửi tín hiệu này về
ECU
Khi áp suất phanh nhỏ thì
khoảng cách giữa đĩa dung (di động)
và đĩa dung (cố định) ở xa nhau do đó
làm thay đổi điện dung của mạch do
đó tạo ra tín hiệu điện áp tương ứng
Hình 2.19: Cảm biến áp suất phanh
Hình 2.20: Cấu tạo cảm biến áp suất
hướng, người ta đặt điện áp xoay
chiều vào phần rung, điện áp này làm
cho nó rung Sau đó, mức lệch hướng
được phát hiện từ phần phát hiện theo
Hình 2.21: Cấu tạo cảm biến độ lệch của
xe
Trang 15mức lệch và hướng lệch của miếng
một đĩa phân đoạn (hình vẽ) Các
khoảng trống trên các cạnh của đĩa
phân khúc cho phép các chùm ánh
sang đi qua và đó cũng chính là
khoảng cách dịch chuyển
Hình 2.22: Nguyên lý cảm biến quang
1 Đĩa phân đoạn; 2 Chùm sáng; 3 Bộ
phận phát và nhận.
b Ứng dụng
Cảm biến góc quay tay lái:
Cảm biến góc lái được lắp đặt
trong cụm ống trục lái, để phát hiện
góc và hướng quay
Cảm biến bao gồm 3 bộ ngắt
quang điện với các pha, và một đĩa
xẻ rãnh để ngắt ánh sáng nhằm đóng
ngắt (on/off) tranzito-quang điện
nhằm phát hiện góc và hướng lái
Hình 2.23: Cảm biến góc quay tay lái
Trang 16Cảm biến này được cấp điện áp
chuẩn thông qua một thanh tiếp xúc
Thanh tiếp xúc này có điện trở rất
thấp và cố định Khi con trượt di
chuyển thì giá trị điện trở tăng hoặc
giảm từ điểm đầu tới điểm cuối
Đồng thời việc sụt giảm điện áp qua
những thay đổi biến điện trở tương
biến vị trí con trượt
1 Góc quay tối đa; B Góc đo hiện tại;
1 Rãnh biến điện trở; 2 Điện trở lớn nhất;
3 Rãnh tiếp xúc; 4 Con trượt tiếp xúc;
5 Điện trở nhỏ nhất.
b Ứng dụng
Cảm biến hao mòn má phanh:
Cảm biến hao mòn má phanh
nằm trong điệm hãm phanh (chỉ cho
phanh đĩa)
Cảm biến hoa mòn má phanh
bao gồm một vòng dây nhỏ mà được
lồng vào trong của các má phanh
Ngay sau khi má phanh bị mòn
xuống đến mức độ dày quy định, điều
Trang 17Hướng trượt được chia làm
bảy phân đoạn, theo đó mỗi phân
đoạn được kết nối qua điện trở ta có
thể quan sát trên hình vẽ Tại mỗi vị
trí thì điện trở thay đổi hoặc thay đổi
điện áp trên toàn bộ cảm biến
Hình 2.26: Cảm biến vị trí bàn đạp
phanh
Hình 2.27: Cấu tạo cảm biến vị trí bàn
đạp phanh
1 Hướng trượt; 2 Con chạy; 3 Điện trở;
4 Giắc kết nối điện.
Cảm biến vị tri bướn ga:
Cảm biến vị trí bướm ga được
lắp ở trên trục của bướm ga
Khi bướm ga được mở ra, một
vành trượt di chuyển bên trong rãnh
điện trở của cảm biến Điện trở của
cảm biến tăng lên tương ứng là vị trí
bướm ga (hình 2.28)
Hình 2.28: Cảm biến vị trí bướm ga Tương ứng với khoảng 0,5V; B Tương
Trang 18Cảm biến vị trí bàn đạp ga:
Cảm biến vị trí bàn đạp ga
được tích hợp vào bàn đạp ga
Cảm biến xác định vị trí hiện
tại của bàn đạp ga Khi ta đạp vào bàn
đạp ga, trục và vít trượt được di
chuyển vào vị trí của nó trên các rãnh
trượt, khi đó điện trở thay đổi tỷ lệ
với vị trí của bàn đạp ga Hình 2.29: Cảm biến vị trí bàn đạp ga
cầu này có đặc điểm là hiệu điện
thế tại A và B bằng nhau khi tích
điện trở tính theo đường chéo là
bằng nhau:
[Ra + R3].R1=Rh.R2
Khi dây sấy (Rh) bị làm lạnh
bởi không khí, điện trở giảm kết
quả là tạo ra sự chênh lệch điện thế
giữa A và B một bộ khuyếch đại
hoạt động sẽ nhận biết sự chênh
lệch này và làm cho điện áp cấp
đến mạch tăng (tăng dòng điện
chạy qua dây sấy (Rh)) Khi đó
nhiệt độ của dây sấy (Rh) tăng lên
kết quả là làm điện trở tăng cho đến
khi điện thế tại A bằng B
Hình 2.30: Sơ đồ nguyên lý cảm biến hoạt động theo nguyên tắc dây nóng
Trang 19b Ứng dụng
Cảm biến đo lưu lượng khí
nạp dùng dây sấy:
Cảm biến được lắp trên
đường ống nạp của động cơ
Cảm biến do lưu lượng khí
nạp vào động cơ Dòng điện chạy
qua dây nóng 2 làm nó nóng lên Khi
không khí chạy qua dây nóng, dây
nóng sẽ được làm mát phụ thuộc vào
khối lượng không khí nạp vào Bằng
cách điều khiển dòng điện chạy qua
dây sấy để giữ cho nhiệt độ của dây
không đổi ta có thể đo được lượng
Trang 202.10 Cảm biến ôxy
Nguyên lý hoạt động Hình vẽ
Cảm biến oxy loại này có một
phần tử được chế tạo bằng Điôxít
Zirconia (Zro2, một laoij gốm) Phần
thử này được phủ ở cả bên trong và
bên ngoài bằng một lớp mỏng platin
Không khí bên ngoài được dẫn vào
bên trong của cảm biến và bên ngoài
của nó tiếp xúc với khí xả
Nếu nồng độ oxy trên bề mặt
trong của phần tử zirconia chênh
lệch lớn so với bề mặt bên ngoài tại
nhiệt độ cao (4000C hay cao hơn),
phần tử zirconia sẽ tạo ra một điện
áp để báo về nồng độ oxy trong khí
xả tại mọi thời điểm
Khi tỷ lệ không khí – nhiên
liệu là nhạt, sẽ có nhiều oxy trong
khí xả, sẽ có nhiều oxy trong khí xả,
nên chỉ có sự chênh lệch nhỏ về
nồng độ giữa bên trong và bên ngoài
phần tử cảm biến Vì lý do đó, điện
áp nó tạo ra rất nhỏ (gần 0V) Ngược
lại, nếu tỷ lệ không khí – nhiên liệu
đậm, oxy trong khí xả gần như biến
mất Điều đó tạo ra sự chênh lệch
lớn về nồng độ oxy bên trong và bên
ngoài của cảm biến, nên điện áp tạo
ra tương đối lớn (xấp xỉ 1V)
Platin (phủ bên ngoài phần tử
cảm biến) có tác dụng như một chất
xúc tác, làm cho oxy và Co trong khí
xả phản ứng với nhau Nó làm giảm
giảm lượn oxy và tăng độ nhạy của
cảm biến
Hình 2.32: Cấu tạo cảm biến oxy
A Lưu lượng khí thải qua ống;
B Không khí ngoài trời;
C Cảm biến điện áp;
1 Lớp Zirconia; 2 Platin (21 % oxy);
3 Platin (oxy còn lại quá trình cháy);
4 Dòng khí thải
Trang 212.2.11 Cảm biến Tenxơ
a Nguyên lý hoạt động
Nguyên lý hoạt động Hình vẽ
Trên hình 2.33 trình bày cấu
tạo của cảm biến dây điện trở Nó
được bằng dây điện trở nhỏ có
đường kính 0,020,04 mm được
uốn đi uốn lại nhiều lần và dán
trên giấy hoặc trên lớp nhựa
mỏng.Ở hai đầu cuối có gắn các
dây nối ra Để đo biến dạng người
ta dán cảm biến lên bề mặt của chi
tiết bằng một thứ keo đặc biệt, nhờ
thế dây điện trở của cảm biến sẽ
biến dạng khi chi tiết bị biến dạng
và sẽ làm thay đổi kích thước hình
học của sợi dây điện trở (chiều dài
và diện tích tiết diện ngang), qua
đó làm thay đổi tính chất vật lý của
dây điện trở (điện trở suất) Như
vậy điện trở của cảm biến dây điện
trở là hàm số của biến dạng của chi
tiết được thử, mà biến dạng của chi
tiết là do lực tác dụng lên nó, cho
nên điện trở của cảm biến sẽ thay
đổi tương ứng với lực tác dụng lên
chi tiết đó Khi điện trở của cảm
biến thay đổi thì đòng điện trên
mạch đó sẽ thay đổi tương ứng
Cảm biến dây điện trở có
các ưu điểm:
Có thể dán trực tiếp lên chi
tiết cần nghiên cứu, do có kích
thước bé có thể dán vào chi tiết
R: Điện trở của dây
: Điện trở suất
l: Chiều dài của sợi dây điện trở
S: Diện tích tiết diện của sợi dây điện trở
Trang 22Do trọng lượng nhỏ nên có
thể dán vào chi tiết quay nhanh
Không có quán tính về điện
cho nên có thể dùng chúng làm
cảm biến đầu tiên trong các máy
ghi rung động và ghi gia tốc với tần
số tới hàng nghìn Hz
Giá thành rất rẻ cho nên có
thể dùng một lần rồi bỏ đi
Cảm biến dây điện trở có
loại tiết diện tròn và loại dây tiết
diện hình chữ nhật.Trên hình (2.34)
trình bày cảm biến loại dẹt
Hình 2.34: Cảm biến dây điện trở loại dẹt
2.3 Mạch chuyển đổi, thiết bị chỉ thị và ghi
2.3.1 Mạch chuyển đổi
Như chúng ta đều biết hầu hết tín hiệu mà chúng ta thường gặp trong khoa học và kỹ thuật là tín hiệu tương tự Tức tín hiệu là các hàm của biến liên tục như thời gian hoặc không gian và thường cho ta giá trị liên tục trên một khoảng
Chúng ta hoàn toàn có thể xử lý trực tiếp các tín hiệu này nhờ các hệ thống xử lý tín hiệu tương tự như là bộ lọc hay bộ phân tích tần số tương tự Tuy nhiên có một số điểm hạn chế khi xử lý với tín hiệu tương tự như: Tín hiệu tương
tự khó trong việc điều chỉnh, khó lưu trữ tín hiệu Tuy nhiên thì bộ xử lý tín hiệu số khắc phục được điều này và vì vậy mà thông thường người ta sẽ chuyển một tín hiệu tương tự sang tín hiệu số để xử lý
Hình 2.35: Mô phỏng nguyên lý của bộ chuyển đổi A/D và D/A
Trang 23Công việc chuyển đổi xảy ra qua 3 quá trình:
Lấy mẫu tín hiệu
Lấy mẫu là quá trình chuyển từ một tín hiệu tương tự liên tục theo thời
gian sang tín hiệu rời rạc theo thời gian bằng cách "lấy mẫu" tức là lấy giá trị của
tín hiệu tại những thời điểm cho trước Lưu ý khoảng thời gian lấy giữa 2 lần lấy
mẫu liên tiếp là như nhau
Như vậy nếu ta có một tín hiệu tương tự liên tục theo thời gian x(t) ta cần
lấy ra các tín hiệu x(n) thỏa:
x(n)=x(nT)
Trong đó: T được gọi là khoảng lấy mẫu hoặc là chu kỳ lấy mẫu
Sau qua trình này ta thu được một mẫu x(n), Đối với tín hiệu tương tự VI thì tín
hiệu lấy mẫu VS sau quá trình lấy mẫu có thể khôi phục trở lại VI một cách trung
thực nếu điều kiện sau đây thỏa mản: fS>= 2flmax (1) Trong đó fS: tần số lấy mẫu flmax: là giới hạn trên của giải tần số tương tự
Hình 2.36: Lấy mẫu tín hiệu tương tự đầu vào
Nếu biểu thức (10) được thỏa mản thì ta có thể dùng bộ tụ lọc thông thấp
để khôi phục VI từ VS
Vì mỗi lần chuyển đổi điện áp lấy mẫu thành tín hiệu số tương ứng đều
cần có một thời gian nhất định nên phải nhớ mẫu trong một khoảng thời gian cần
thiết sau mỗi lần lấy mẫu Điện áp tương tự đầu vào được thực hiện chuyển đổi
A/D trên thực tế là giá trị VI đại diện, giá trị này là kết quả của mỗi lần lấy mẫu
Lượng tử hóa và mã hóa:
Trang 24số nguyên lần giá trị đơn vị nào đó, giá trị này là nhỏ nhất được chọn Nghĩa là nếu dùng tín hiệu số biểu thị điện áp lấy mẫu thì phải bắt điện áp lấy mẫu hóa thành bội số nguyên lần giá trị đơn vị Quá trình này gọi là lượng tử hóa Đơn vị được chọn theo qui định này gọi là đơn vị lượng tử, kí hiệu D Như vậy giá trị bit
1 của LSB tín hiệu số bằng D Việc dùng mã nhị phân biểu thị giá trị tín hiệu số
là mã hóa Mã nhị phân có được sau quá trình trên chính là tín hiệu đầu ra của chuyên đổi A/D
Mạch lấy mẫu và nhớ mẫu:
Khi nối trực tiếp điện thế tương tự với đầu vào của ADC, tiến trình biến đổi có thể bị tác động ngược nếu điện thế tương tự thay đổi trong tiến trình biến đổi Ta có thể cải thiện tính ổn định của tiến trình chuyển đổi bằng cách sử dụng mạch lấy mẫu và nhớ mẫu để ghi nhớ điện thế tương tự không đổi trong khi chu
kỳ chuyển đổi diễn ra
Nguyên tắc hoạt động:
Sơ đồ khối:
Bộ chuyển đổi tương tự sang số – ADC (Analog to Digital Converter) lấy mức điện thế vào tương tự sau đó một thời gian sẽ sinh ra mã đầu ra dạng số biểu diễn đầu vào tương tự Tiến trình biến đổi A/D thường phức tạp và mất nhiều thời gian hơn tiến trình chuyển đổi D/A Do đó có nhiều phương pháp khác nhau
để chuyển đổi từ tương tự sang số
Hình 2.37: Sơ đồ khối của một lớp ADC đơn giản
Hoạt động cơ bản của lớp ADC thuộc loại này như sau:
Xung lệnh START khởi động sự hoạt động của hệ thống
Trang 25Xung Clock quyết định bộ điều khiển liên tục chỉnh sửa số nhị phân lưu trong thanh ghi
Số nhị phân trong thanh ghi được DAC chuyển đổi thành mức điện thế tương tự VAX
Bộ so sánh so sánh VAX với đầu vào trương tự VA Nếu VAX < VA đầu
ra của bộ so sánh lên mức cao Nếu VAX > VA ít nhất bằng một khoảng VT (điện thế ngưỡng), đầu dra của bộ so sánh sẽ xuống mức thấp và ngừng tiến trình biến đổi số nhị phân ở thanh ghi Tại thời điểm này VAX xấp xỉ VA, giá dtrị nhị phân ở thanh ghi là đại lượng số tương đương VAX và cũng là đại lượng số tương đương VA, trong giới hạn độ phân giải và độ chính xác của hệ thống
Logic điều khiển kích hoạt tín hiệu ECO khi chu kỳ chuyển đổi kết thúc Tiến trình này có thể có nhiều thay dổi đối với một số loại ADC khác, chủ yếu là
sự khác nhau ở cách thức bộ điều khiển sửa đổi số nhị phân trong thanh ghi
Hình 2.38: Máy hiện sóng oscilloscope
Máy hiện sóngoscilloscope số bao gồm các hệ thống (hình 2.35):
Hệ thống dọc
Trang 26Hệ thống khởi động
Bộ chuyển đổi A or D
Màn hình hiển thị
Nguyên lý hoạt động của máy oscilloscope số:
Khi bạn nối đầu dò của máy oscilloscope số vào cảm biến: hệ thống dọc
sẽ điều chỉnh biên độ của tín hiệu như trong máy oscilloscope tương tự Tiếp tới,
bộ chuyển đổi tương tự/số trong hệ thống thu thập lấy mẫu tín hiệu ở các thời điểm rời rạc và chuyển đổi điện áp tín hiệu ở các điểm này thành giá trị số, gọi là các điểm lấy mẫu Xung lấy mẫu của hệ thống ngang quy định bộ ADC lấy mẫu bao nhiên lần Tốc độ mà ở đó xung “ticks” được gọi là tốc độ lấy mẫu và được
đo bằng số mẫu trên giây
Các điểm mẫu từ ADC được lưu trữ trong bộ nhớ như là các điểm dạng sóng Có nhiều hơn một điểm mẫu có thể cấu thành nên một điểm dạng sóng
Cùng với nhau, các điểm dạng sóng cấu thành nên một bản ghi dạng sóng
Số điểm sóng được dùng để tạo nên một bản ghi dạng sóng được gọi là độ dài bản ghi Hệ thống kích khởi quy định điểm bắt đầu và điểm kết thúc bản ghi Màn hình nhận các điểm bản ghi này sau khi chúng được lưu trữ trong bộ nhớ
Hình 2.39: Sơ đồ làm việc của máy hiện sóng oscilloscope
2.4 Tổ hợp các cảm biến
Hệ thống đo bao gồm các cảm biến, mạch thích ứng và các thiết bị đầu ra
có thể tổ hợp lại theo các sơ đồ khác nhau Hình (2.40) mô tả các khả năng tổ
Trang 27hợp của chúng Đường liền nét biểu thị khả năng tổ hợp chính, đường nét đứt biểu thị các khả năng tổ hợp khác Nhờ sử dụng các bộ chuyển mạch để chọn kênh đo, các bộ tính tổng, mô đun hoá, khuếch đại thuật toán, các bộ biến đổi số
- tương tự và tương tự - số chúng ta có thể mở rộng thêm các sơ đồ đo
Hình 2.40: Sơ đồ các thành phần cảm biến, mạch thích ứng và thiết bị chỉ thị, ghi trong
hệ thống đo
Trên hình (2.40), các cảm biến điện trở 1, điện cảm 2, điện dung 3 có tín hiệu ra dạng tương tự Các cảm biến 4, 5 là cảm biến phát điện kiểu cảm ứng và cảm biến kiểu áp điện, tín hiệu ra của chúng là tín hiệu tương tự Phần tử 6 là cảm biến kiểu điện cảm có tín hiệu ra kiểu số (ví dụ cảm biến có cảm kháng thay đổi nhờ các răng và rãnh của các bộ phận quay kiểu bánh xe răng) Phần tử 7 là cảm biến phát điện kiểu cảm ứng có tín hiệu ra là tín hiệu số Trong sơ đồ các cảm biến, góc trên bên trái ký hiệu vào cảm biến có bản chất vật lý không điện Còn góc dưới bên phải ký hiệu các đại lượng điện ở đầu ra của cảm biến
Khi nối ghép các phần tử của mạch đo cần phải đảm bảo điều kiện thích ứng về độ nhạy, về trị số của tín hiệu đo, dòng điện, công suất tiêu thụ, các điện trở đầu vào và ra của mạch đo Các mạch thích ứng thường sử dụng như các tụ
bù 8, các bộ khuếch đại tần số sóng mang (9) khuếch đại điện áp một chiều (10), khuếch đại điện tích (11), khuếch đại điện áp dòng một chiều (12) Các thiết bị hiển thị và ghi cần được chọn phù hợp với dạng tín hiệu và phối hợp đúng với các trở kháng vào ra của thiết bị Thiết bị chỉ thị 13 có thể làm việc với các dạng tín hiệu vào dạng tương tự và số Thiết bị tự ghi 14 và16 kiểu từ điện dùng điện thế kế kiểu gương có thể làm việc với tín hiệu vào có trị số dòng lớn Thiết bị tự
Trang 28Câu hỏi ôn tập:
Câu 1: Nêu nguyên lý hoạt động và ứng dụng của cảm biến điện áp? Câu 2: Nêu nguyên lý hoạt động và ứng dụng của cảm biến cảm ứng từ? Câu 3: Nêu nguyên lý hoạt động và ứng dụng của cảm biến áp suất?
Câu 4: Nêu nguyên lý hoạt động và ứng dụng của cảm biến Hall?
Câu 5: Nêu nguyên lý hoạt động và ứng dụng của cảm biến Manheto? Câu 6: Nêu nguyên lý hoạt động và ứng dụng của cảm biến điện dung? Câu 7: Nêu nguyên lý hoạt động và ứng dụng của cảm biến quang?
Câu 8: Nêu nguyên lý hoạt động và ứng dụng của cảm biến con trượt? Câu 9: Nêu nguyên lý hoạt động và ứng dụng của cảm biến ôxy?
Câu 11: Nêu nguyên lý hoạt động và ứng dụng của cảm biến Tenxơ?
Trang 29CHƯƠNG 3 THÍ NGHIỆM ĐỘNG CƠ
3.1 Mục đích thí nghiệm động cơ
Nhằm đánh giá các tính năng kỹ thuật và xác định chất lượng chế tạo của động cơ mới và động cơ sau khi sửa chữa, đại tu, hay động cơ sau một khoảng thời gian sử dụng Qua đó có thể có được một cách tương đối thời hạn sử dụng, thời gian giữa hai kỳ sửa chữa lớn Ngoài ra còn có thể đánh giá chất lượng động
cơ sau quá trình sửa chữa hay đại tu
Các thí nghiệm này thông thường kiểm tra các thông số kỹ thuật cơ bản của động cơ: momen, công suất động cơ, số vòng quay, suất tiêu hao nhiên liệu, lượng tiêu hao dầu bôi trơn, thành phần khí thải…
ta dựa vào các đường đặc tính xây dựng trên cơ sở các số liệu đo bằng thực nghiệm
Các đặc tính cơ bản của động cơ ôtô là:
Đường đặc tính tốc độ
Đường đặc tính tải
Đặc tính tốc độ động cơ là hàm số (đường cong) thể hiện sự biến thiên của một trong các chỉ số công tác chủ yếu của động cơ như: Momen quay (Me), công suất có ích (Ne), lượng tiêu hao nhiên liệu (Gnl) và suất tiêu thụ nhiên liệu (ge) theo số vòng quay (ne) khi giữ cơ cấu điều khiển động cơ (tay ga) cố định
Trang 30a)
Hình 3.1: Đặc tính tốc độ của động cơ
a Động cơ xăng không hạn chế số vòng quay;
b Động cơ xăng có hạn chế số vòng quay;
Hình 3.2: Đặc tính tải của động cơ
a Động cơ diesel; b Động cơ xăng.
Trang 313.2.1.2 Thiết bị gây tải để do công suât động cơ
Nhằm tạo ra các chế độ làm việc khác nhau cho động cơ, giúp thí nghiệm
có kết quả chính xác nhất đó chính là các thiết bị gây tải cho động cơ thí nghiệm, các thiết bị gây tải cũng là thiết bị chính trong thí nghiệm động cơ
a Thiết bị gây tải thủy lực
Thiết bị gây tải bằng thủy lực Hình vẽ
Một trục mang rotor có bố trí các
cánh có chứa nước và được quay tròn
khi rotor quay Nước từ các cánh của
rotor sẽ được tát vào những cách được
bố trí trên stator Như hình 3.3.a Tác
động này sẽ làm cho stator quay theo
Một đồng hồ đo lực và cánh tay đòn
được bố trí trên stator Momen cản đo
được trên stator bằng mô men tác động
từ động cơ
Hình 3.3: Thiết bị đo thủy lực
Trang 32Chẳng hạn ta xét thiết bị đo kiểu
“Bolt_on” Những thiết bị này được sử
dụng nhiều ở Mỹ, và được gá trên phần
sau vỏ ly hợp hoặc trên khung ôtô Việc
tạo tải loại này bằng cách phối hợp điều
chỉnh các vanvào và ra trên thiết bị
Hình 3.4: Thiết bị đo kiểu “Bolt_on”
b Thiết bị dây tải bằng động cơ điện
Thiết bị gây tải bằng động cơ điện Hình vẽ
Đặc tính chung của loại này,
động cơ được tạo tải, được sử dụng là
động cơ điện (AC hay DC) có thể thay
đổi số vòng quay được Động cơ điện
(kể cả AC hay DC) trong thiết bị đo có
thể hoạt động được cả ở chế độ máy
phát để tạo tải (khi được động cơ thử
nghiệm dẫn động) hay ở chế độ động
cơ, để dẫn động động cơ thử nghiệm
Để thay đổi số vòng quay, ở động cơ
AC người ta thường sử dụng biện pháp
thay đổi tần số dòng điện Ở động cơ
DC người ta dừng biện pháp thay đổi vị
trí chổi than, thay đổi điện áp…
Nhược điểm của loại này là giá
thành cao vì kết cấu phức tạp
Thiết bị đo sử dụng động cơ DC:
Những thiết bị này được gắn
động cơ điện một chiều Điều khiển
hoàn toàn bằng thysistor dựa trên bộ
chuyển đổi AC/DC, để điều khiển, có
khả năng khởi động và tạo mô men cản
tốt Nhưng khuyết điểm của nó là hạn
chế tốc độ tối đa và có quán tính lớn, có
thể tạo ra sự dao động xoắn và đáp ứng
Hình 3.5: Thiết bị đo sử dụng động cơ
điện DC
Trang 33với sự thay đổi tốc độ chậm
Thiết bị đo sử dụng động cơ AC:
Sự phát triển của kỹ thuật, điều
khiển động cơ xoay chiều đã cho phép
sử dụng động cơ xoay chiều thay cho
động cơ DC cho các thiết bị đo Dụng
cụ này có các tính năng và hiệu suất
hơn hẳn động cơ DC Ưu điểm của loại
này là không sử dụng chổi than và lực
quán tính thấp Loại này có cấu tạo như
là động cơ cảm ứng, tốc độ được điều
khiển từ sự thay đổi tần số của dòng
điện Khi hoạt động ở chế độ máy phát
nó tạo ra mô men cản
Thiết bị đo sử dụng dòng điện
Foucault:
Sử dụng nguyên tắc cảm ứng
điện từ tạo ra momen Rotor có răng ở
mép và được làm mát bằng nước Từ
trường song song với trục của máy
được sinh ra ở hai cuộn dây và sự
chuyển động của rotor làm phát sinh
những thay đổi từ thông trên các răng
của rotor và điều này làm phát sinh ra
dòng Foucault trong Rotor Dòng điện
này sẽ tạo ra từ trường có khuynh
hướng chống lại từ trường sinh ra nó
Hay nói cách khác nó sẽ tạo ra một mô
men cản Việc thay đổi công cản sẽ tạo
ra một cách nhanh chóng bởi việc thay
đổi cưỡng độ dòng điện qua các cuộn
dây Loại này có cấu tao dơn giản và có
hiệu quả cao Hệ thống điều khiển đơn
giản và nó có khả năng tăng momen
13 Join; 14 Dòng nước ra
Trang 34c Thiết bị gây tải kiểu ma sát
Thiết bị gây tải kiểu ma sát Hình vẽ
Thiết bị này có nguyên lý làm việc
như hệ thống phanh, bao gồm
phanh nhiều đĩa ma sát làm mát
bằng nước Nó được ứng dụng cho
tốc độ thấp, ví dụ đo đạc công suất
từ ôtô ở bánh xe Ưu điểm của loại
máy này là có thể đo được momen
từ những số vòng quay rất nhỏ
Hình 3.7: Thiết bị đo kiểu ma sát
3.2.1.3 Quy trình thí nghiệm đo công suất động cơ
a Thí nghiệm xác định đặc tính
Ứng với từng thiết bị đo công suất động cơ, người ta sẽ quy định các quy trình đo khác nhau Tuy nhiên tổng quát nhất ta có thể tiến hành theo các bước sau:
Cho động cơ hoạt động và bướm ga mở hoàn toàn hoặc thanh răng ở vị trí cung cấp nhiên liệu tối đa Ngắt bỏ hệ thống diều chỉnh đánh lửa của động cơ xăng hoặc cơ cấu điều tốc của động cơ diesel
Đối với động cơ xăng:
Cho động cơ chạy ở số vòng quay nhất định (chẳng hạn n = 900 vòng/ phút) bằng cách dùng các thiết bị tạo tải, đồng thời thay đổi thời điểm đánh lửa cho tới một một vị trí mà động cơ làm việc ổn định nhất và để động cơ nổ ở trạng thái nhiệt độ ổn định
Trang 35Ta tiến hành đo các chỉ số: Mô men phanh của các thiết bị tạo tải, chi phí nhiên liệu, số vòng quay động cơ
Ta tiến hành giảm tải cho động cơ, tức là tăng số vòng quay lên thêm 200 vòng/ phút, khi đó ta lại điều chỉnh thời diểm đánh lửa cho tới khi động cơ chạy
ổn định ở số vòng quay đã chọn Ta lại tiến hành đo và ghi các chỉ số: Mô men phanh của các thiết bị tạo tải, chi phí nhiên liệu, số vòng quay động cơ
Cứ làm như thế cho tới khi ta có được điểm uốn của đường cong công suất
Đối với động cơ diesel cách tiến hành tương tự nhưng thay vì điều bướm
ga mở hoàn toàn thì ta kéo thanh răng nhiên liệu tối đa
b Thí nghiệm để xác định đặc tính tải trọng
Theo đường đặc tính ngoài ta xác định công suất động cơ Ne tương ứng với các số vòng quay khi đó ta có thể xác định được đường đặc tính tải trọng
Tính các trị số 0,25Ne; 0,5Ne; 0,75Ne; 0,85Ne; 0,95Ne, rồi làm cho động
cơ chịu những tải theo thứ tự đó
Mỗi lần thử nghiệm ta giữ cho số vòng quay n không đổi
Đối với động cơ diesel cách tiến hành cũng tương tự nhưng lức này thay đổi vị trí bướm ga ta sẽ thay đổi vị trí thanh răng nhiên liệu
Trang 363.2.2 Đo tiêu hao nhiên liệu
Thử nghiệm xác định mức độ tiêu hao nhiên liệu của động cơ trong một đơn vị thời gian, nhằm xác định chi phí tiêu hao nhiên liệu giờ GT (Gnl) hay suất tiêu hao nhiên liệu ge và hệ số dư lượng không khí α
Để xác định mức tiêu hao nhiên liệu của động cơ người ta có thể dùng nhiều phương pháp khác nhau
nhiên liệu chảy vào bình thóp cổ
Cho động cơ khởi động và làm
việc ổn định ở một chế độ nhất
định Vặn khóa ba ngả 4 cho
nhiên liệu từ các bình thóp cổ
chảy vào động cơ, đồng thời ta
tiến hành dùng đồng hồ đo thời
gian để tính thời gian tiêu hao
nhiên liệu t Biết thời gian t tính
bằng giây mà động cơ đã tiêu thụ
hết lượng nhiên liệu đã qui định là
V tính bằng dm3, ta có thể tính
được chi phí nhiên liệu giờ GT và
chi phí nhiên liệu riêng ge:
.3600
T
v G
e
G g
N
(g/nl.h)
Khi đo lượng tiêu hao
nhiên liệu bằng những bình thóp
cổ áp suất trong bình luôn luôn
Hình 3.8: Dụng cụ đo tiêu hao nhiên liệu sử
Trang 37thay đổi Thiếu sót này có thể
khắc phục được nếu đo bằng
những bình có vạch
Sơ đồ cấu tạo nguyên lý
hoạt động của bình có vạch trình
bày ở hình 3.9(a, b) Hình vẽ a
trình bày trường hợp nhiên liệu
được cung cấp cho động cơ từ
bình nhiên liệu, hình b trình bày
trường hợp được cung cấp từ bình
dưới của bình có vạch Lượng
nhiên liệu được cung cấp tới động
cơ cũng chịu một áp suất như thế,
bởi vì lượng khí của bình trên
thông với lượng khí của bình
dưới Khi mức nhiên liệu của bình
dưới giảm chừng nào thì mức
nhiên liệu của bình trên giảm
chừng ấy Khi khóa ở vị trí khóa
không có nhiên liệu xuống bình
dưới, nếu lượng không khí trong
bình trên giảm sẽ làm mức nhiên
liệu tăng lên Khi hoạt động bình
thường thì khóa 3 đóng, khóa này
Trang 38a Phương pháp đo bằng cách cân trực tiếp
Phương pháp cân trục tiếp Dụng cụ thí nghiệm
Phương pháp đo bằng cách
cân trục có độ chính xác cao và
không bị ảnh hưởng các sai số do
thay đổi tỷ trọng nhiên liệu khi
nhiệt độ thay đổi Muốn thực hiện
phương pháp này thùng nhiên liệu
phải đặt trên cân và dùng ống dẫn
cao su, hay tốt hơn, bằng xiphông
để dẫn nhiên liệu tới động cơ
Sau hiệu lệnh bắt đầu thử
nghiệm các đĩa cân bằng và thời
điểm cân bằng phải bấm đồng hồ
bấm giây, sau đố lấy bớt quả cân
(Gon) và ở thời điểm cân bằng lần
Phương pháp thứ hai đòi
hỏi thời gian tiến hành lâu hơn và
do đó một vài trường hợp việc thử
nghiệm kéo dài Khi thử nghiệm
những động cơ mà việc cung cấp
nhiên liệu thực hiện bằng việc tự
chảy thì phải lưu ý thực hiện sao
cho áp suất của nhiên liệu gần
bằng áp suất của thùng nhiên liệu
của máy khi cung cấp cho động
cơ
Hình 3.11: Sơ đồ nguyên lý phương pháp đo
bằng cân trực tiếp
1 Thùng chứa; 2, 3 Các van; 4 Bình đo; 5
Cảm biến đo; 6 Quả cân
Trang 39b Phương pháp đo dùng thiết bị điện tử
Phương pháp dùng thiết bị điện
tử
Dụng cụ thí nghiệm
Băng thử sử dụng phương
pháp cân kết hợp với bộ chuyển
đổi kết quả đo nhiên liệu tiêu thụ
(Gnl) điện tử trên cơ sở thay đổi
điện dung
Phương pháp này dựa trên
nguyên lý thay đổi điện tích tích
điện của hai bản cực khi khoảng
cách tiếp xúc giữa hai bản cực
thay đổi Giá trị điện dung ban
đầu (C0) tính theo công thức sau:
0
0 0 0 0
a
l b
C
Khi hai điện cực tiếp xúc
lên nhau khoảng cách l thì lúc này
điện cực sẽ thay đổi đến C và giá
trị này được tính theo công thức :
0 0 0
0 0 0 0
l
l C a
l b
Trên cơ sở quan hệ giữa
mức tích điện và lượng nhiên liệu
trung bình đo giảm dần, thiết bị đo
hiển thị trực tiếp giá trị nhiên liệu
mà động cơ tiêu thụ Q
Hình 3.12: Sơ đồ thiết bị cân nhiên liệu theo nguyên lý điện dung
1 Đối trọng; 2 Lò xo lá; 3 Cần đo; 4 Bình đo; 5 Cảm biến; 6 Giảm chấn thủy lực
Trang 40Lúc này, giá trị lượng
nhiên liệu động cơ tiêu thụ trong 1
giờ:
3, 6
nl
Q G
e
G g
N
(kg/kW.h)
3.2.3 Do lương khí nạp vào trong động cơ
3.2.3.1 Các vấn đề chung khi đo lưu lượng không khí nạp
Động cơ đốt trong là một động cơ dùng không khí làm môi chất công tác Chức năng của nhiên liệu là cung cấp nhiệt Bất kì trở ngại nào, xảy ra ở kỳ nạp hỗn hợp nhiên liệu hay không khí vào trong xy lanh, dều ảnh hưởng đến công suất phát ra của động cơ Tuy nhiên, công suất phát ra của động cơ bị giới hạn bởi lượng không khí hút vào trong động cơ
Việc nâng cao hiệu quả trong quá trình nạp là một mục tiêu quan trọng, trong việc nâng cao hiệu suất làm việc của động cơ Thiết kế của đường ống nạp, thải, hình dạng kích thước các xu-páp hút, thải và các đường dẫn không khí trong động cơ là nhũng vấn đề cần được quan tâm đến…
Không khí là một hỗn hợp bao gồm các thành phần sau:
Bảng 3.1: thành phần các loại khí trong không khí tính theo khối lượng và theo thể tích: