Tiết 1,2: KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CMT8 1945 -> HẾT TK XX Mục tiêu: + Kiến thức: 1 số nét tổng quát về các chặng đường phát triển, những thành tựu chủyếu và những đặc điểm cơ bản củ
Trang 1Tiết 1,2: KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CMT8 1945 -> HẾT TK XX Mục tiêu:
+ Kiến thức: 1 số nét tổng quát về các chặng đường phát triển, những thành tựu chủyếu và những đặc điểm cơ bản của vhVN từ 1945-> 1975 và đến hết tk XX
+ Kĩ năng: Rèn luyện năng lực tổng hợp, khái quát, hệ thống hoá các kiến thức đã học
về vhVN từ 1945 đến hết XX
Phương pháp:
+ HS tự soạn bài ở nhà theo câu hỏi hướng dẫn sgk
+ Đến lớp giáo viên hướng dẫn học sinh thảo luận bài học, học sinh tự ghi bài(nhữngvấn đề tâm đắc)
+ Giáo viên phát tài liệu chốt lại những nội dung cơ bản của bài học
Nội dung:
I/ KHÁI QUÁT VHVN TỪ CMT8 NĂM 1945 ĐẾN NĂM 1975:
1/ Vài nét về hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hoá:
+ Sự lãnh đạo của Đảng góp phần tạo nên một nền vh thống nhất trên đất nước ta + Văn học hình thành và phát triển trong hoàn cảnh 2 cuộc kháng chiến lâu dài và ácliệt chống Pháp và chống Mĩ
+ Nền kinh tế còn nghèo nàn và chậm phát triển, điều kiện giao lưu về văn hoá bị hạnchế, chủ yếu tiếp xúc và chịu ảnh hưởng của văn hoá các nước Xã hội chủ nghĩa( Liên
Xô, Trung Quốc)
2/ Quá trình phát triển và những thành tựu chủ yếu:
a/ Chặng đường từ 1945 đến 1954:
+ Một số tác phẩm trong những năm 1945- 1946 đã phản ánh không khí hồ hởi, vui
sướng của nhân dân ta khi đất nước vừa giành độc lập( Huế tháng 8, Vui bất tuyệt của Tố Hữu, Ngọn quốc kì, Hội nghị non sông của Xuân Diệu)
+ Từ cuối 1946, văn học tập trung phản ánh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp:
= Truyện ngắn và kí: Một lần tới thủ đô, Trận phố Ràng của Trần Đăng, Đôi mắt của Nam Cao, Làng của Kim Lân, Thư nhà của Hồ Phương, Con trâu của Nguyễn Văn Bổng, Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Truyện Tây Bắc của Tô Hoài
= Thơ: Đạt nhiều thành tựu xuất sắc, tiêu biểu là những tác phẩm: Cảnh khuya, Cảnh rừng Việt Bắc, Rằm tháng giêng của Hồ Chí Minh, Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm, Tây Tiến của Quang Dũng, Nhớ của Hồng Nguyên, Đất nước của Nguyễn Đình Thi, Đồng chí của Chính Hữu, Việt Bắc của Tố Hữu…
+ Thơ phát triển mạnh mẽ: Gió lộng của Tố Hữu, Ánh sáng và phù sa của Chế Lan Viên, Riêng chung của Xuân Diệu, Đất nở hoa, Bài thơ cuộc đời của Huy Cận, Bài thơ Hắc Hải của Nguyễn Đình Thi, Mồ anh hoa nở của Thanh Hải, Quê hương của Giang
Trang 2+ Văn xuôi có: Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Rừng xà nu của Nguyễn Trung Thành, Hòn đất của Anh Đức, Mẫn và tôi của Phan Tứ, Vùng trời của Hữu Mai, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu, Bão biển của Chu Văn…
+ Thơ đạt nhiều thành tựu xuất sắc: Ra trận, Máu và hoa của Tố Hữu, Hoa ngày thường chim báo bão và Những bài thơ đánh giặc của Chế Lan Viên, Đầu súng trăng treo của Chính Hữu, Vầng trăng quầng lửa của Phạm Tiến Duật, Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Gió lào cát trắng của Xuân Quỳnh…
+ Kịch : Quê hương Việt Nam và Thời tiết ngày mai của Xuân Trình, Đại đội trưởng của tôi của Đào Hồng Cẩm, Đôi mắt của Vũ Dũng Minh…
3/ Những đặc điểm cơ bản của văn học Việt Nam từ 1945 đến 1975:
a/ Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hoá, gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước:
+ Phát triển trong hoàn cảnh 30 năm đất nước liên tục có chiến tranh, nền văn họcchủ yếu vận động theo hướng cách mạng hoá, khuynh hướng tư tưởng chủ đạo của nềnvăn học mới là tư tưởng cách mạng, văn học trước hết là vũ khí phục vụ sự nghiệp cách
mạng, với kiểu nhà văn mới “ nhà văn - chiến sĩ”.
+ Quá trình vận động, phát triển của nền văn học mới ăn nhịp với từng chặng đườnglịch sử của dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước Văn học tập trung vào
đề tài Tổ quốc trong chiến đấu và lao động xây dựng Chủ nghĩa xã hội, nhân vật trung tâmcủa văn học là người chiến sĩ, con người mới …
b/ Nền văn học hướng về đại chúng:
+ Đại chúng vừa là đối tượng phản ánh và đối tượng phục vụ, vừa là nguồn cung cấp,
bổ sung lực lượng sáng tác cho văn học
+ Văn học Việt Nam 1945-> 1975 quan tâm tới đời sống của nhân dân lao động, nóilên nỗi bất hạnh của người lao động nghèo khổ, vẻ đẹp tâm hồn và con đường tất yếu đếnvới cách mạng của họ…
+ Hướng về đại chúng, văn học có nội dung dễ hiểu, chủ đề rõ ràng, văn học tìm đếnnhững hình thức nghệ thuật quen thuộc với nhân dân…
c/ Nền văn học chủ yếu mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:
+ Khuynh hướng sử thi: đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử và có tính chấttoàn dân tộc Nhân vật chính thường là những con người đại diện cho tinh hoa và khíphách, phẩm chất và ý chí của dân tộc, cho lí tưởng của cộng đồng hơn là lợi ích và khátvọng cá nhân Con người được khám phá ở bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, ở lẽsống lớn và tình cảm lớn Lời văn sử thi thường mang giọng điệu ngợi ca, trang trọng vàđẹp một cách tráng lệ, hào hùng
+ Cảm hứng lãng mạn: Khẳng định cái tôi tràn đầy tình cảm, cảm xúc và hướng tới lítưởng, nói nhiều đến niềm vui, mơ ước và tin tưởng vào tương lai tươi sáng của dân tộc
II/ VÀI NÉT KHÁI QUÁT V HỌC V NAM TỪ NĂM 1975 ĐẾN HẾT THẾ KỈ XX 1/ Hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hoá:
+ Chiến thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra thời kì mới, thời kì độc lập, tự do vàthống nhất đất nước Tuy nhiên, từ năm 1975 đến 1985, đất nước ta lại gặp những khókhăn thử thách mới
+ Từ năm 1986, với công cuộc đổi mới do Đảng đề xướng và lãnh đạo, kinh tế nước
ta từng bước chuyển sang nền kinh tế thị trường, văn hoá có điều kiện tiếp xúc rộng rãi vớinhiều nước trên thế giới, nền văn học cũng có nhiều đổi mới…
2/ Những chuyển biến và một số thành tựu ban đầu:
Trang 3+ Từ sau 1975, thơ không tạo được sự lôi cuốn và hấp dẫn như ở giai đoạn trước.
Hiện tượng trường ca nở rộ : Những người đi tới biển của Thanh Thảo, Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh, Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu… Một số tập thơ tạo được
sự chú ý như Tự hát của Xuân Quỳnh, Người đàn bà ngồi đan của Ý Nhi, Ánh trăng của Nguyễn Duy, Xúc xắc mùa thu của Hoàng Nhuận Cầm… Những cây bút thơ thuộc thế hệ
sau năm 1975 xuất hiện nhiều, đang từng bước khẳng định mình như: Phùng Khắc Bắc, YPhương, Trần Anh Thái…
+ Văn xuôi sau 1975 có nhiều khởi sắc hơn thơ ca Một số cây bút bộc lộ ý thứcmuốn đổi mới cách viết về chiến tranh như Nguyễn Trọng Oánh, Thái Bá Lợi, NguyễnMạnh Tuấn, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu…
+ Từ năm 1986, văn học chính thức bước vào chặng đường đổi mới, văn học gắn bóhơn với những vấn đề của đời sống hàng ngày: truyện của Nguyễn Minh Châu, NguyễnHuy Thiệp, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Bảo Ninh, bút kí của Hoàng Phủ NgọcTường, Tô Hoài… Kịch nói phát triển mạnh mẽ…
III/ KẾT LUẬN:
+ Văn học Việt Nam từ 1945-> 1975 đã kế thừa và phát huy mạnh mẽ những truyềnthống tư tưởng lớn của văn học dân tộc: chủ nghĩa nhân đạo, chủ nghĩa yêu nước và chủnghĩa anh hùng Do phát triển trong hoàn cảnh hết sức khó khăn, văn học giai đoạn này
cũng còn một số hạn chế…nhưng thành tựu là cơ bản và to lớn “ xứng đáng đứng vào hàng ngũ tiên phong của những nền văn học nghệ thuật chống đế quốc trong thời đại ngày nay”
+ Từ năm 1975, nhất là từ năm 1986, văn học Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới,văn học vận động theo hướng dân chủ hoá, phát huy cá tính sáng tạo và phong cách nghệthuật của nhà văn…
Kiến thức cơ bản cần nắm:
1/ Nét chính về tình hình lịch sử, xã hội, văn hoá từ 1945-> 1975?
2/ Các chặng đường phát triển của vh VN từ 1945-> 1975
3/ Những đặc điểm cơ bản của vh VN từ 1945-> 1975?
4/ Những thành tựu ban đầu của vh VN từ 1975 đến hết thế kỉ XX?
Hướng dẫn học bài:
+ Nắm vững các kiến thức cơ bản trên
Soạn bài: Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí - Đọc kĩ sgk, lập dàn ý đề: “ Ôi! Sống đẹp
Đề bài: Anh ( chị) hãy trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu:
“ Ôi! Sống đẹp là thế nào, hỡi bạn?” ( Một khúc ca)
Gợi ý thảo luận:
a/ Tìm hiểu đề:
Trang 4+ Câu thơ của Tố Hữu viết dưới dạng câu hỏi, nêu vấn đề “ sống đẹp” trong đời sốngcủa mỗi người Đây là vấn đề cơ bản mà mỗi người muốn xứng đáng là “ con người” cầnnhận thức đúng và rèn luyện tích cực
+ Để sống đẹp, mỗi người cần xác định: lí tưởng( mục đích sống) đúng đắn, cao đẹp; tâm hồn, tình cảm lành mạnh, nhân hậu; trí tuệ( kiến thức) mỗi ngày thêm mở rộng, sáng suốt; hành động tích cực, lương thiện -> Như vậy, bài làm có thể hình thành 4 nội dung
+ Có thể sử dụng các thao tác lập luận như: giải thích( sống đẹp), phân tích( các khíacạnh biểu hiện của sống đẹp); chứng minh, bình luận( nêu những tấm gương người tốt,bàn cách thức rèn luyện để sống đẹp; phê phán lối sống ích kỉ, vô trách nhiệm, thiếu ý chí,thiếu nghị lực…)
+ Dẫn chứng chủ yếu dùng tư liệu thực tế, có thể lấy dẫn chứng thơ văn nhưngkhông cần nhiều
b/ Lập dàn ý:
Mở bài: Một nhà văn Liên xô đã từng nói: “ Cái quí nhất của con người là cuộc
sống” Con người sinh ra luôn băn khoăn đi tìm lẽ sống, sống như thế nào cho tốt đẹp, hữu ích? Trong bài thơ “ Một khúc ca”, nhà thơ Tố Hữu từng đặt ra câu hỏi cho tất cả chúng ta
“ Ôi! Sống đẹp là thế nào, hỡi bạn?”
Thân bài: Sống đẹp là sống có mục đích, lí tưởng, có tâm hồn, tình cảm lành mạnh,
nhân hậu, có trí tuệ ngày càng mở rộng, sáng suốt, có hành động tích cực, lương thiện…
“ Sống đẹp” trước hết là sống có mục đích, lí tưởng đúng đắn, cao đẹp Thật buồn
chán biết bao khi khi chúng ta sống không mục đích, sống qua ngày đoạn tháng, sống ngàynào biết ngày ấy Sống có mục đích giúp chúng ta hướng đến một tương lai tươi sáng.Sống vì điều gì, vì ai, cuộc sống của ta ngày mai sẽ tốt đẹp hơn hôm nay đó là điều tâmniệm thường xuyên của mỗi người Lẽ sống tốt đẹp là sống có ích, có trách nhiệm với cuộcđời, biết đấu tranh chống áp bức bất công vì công bằng xã hội, như các chiến sĩ cách mạngdám hi sinh thân mình cho hạnh phúc của nhân dân, đất nước Nhà văn N Ô xtơ rôpxki đã
viết: “ Cái quí nhất của con người là cuộc sống Mỗi người chỉ sống có một lần, phải sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì
dĩ vãng ti tiện, đớn hèn, để khi nhắm mắt xuôi tay ta phải tự hào vì tất cả đời ta, tất cả sức
ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao quí nhất: sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người”.
Để sống đẹp, con người cần có tâm hồn, tình cảm lành mạnh, nhân hậu Không chỉ
sống vì mình, cho mình mà cần biết sống vì mọi người, trước hết là những người thân yêu
như bố mẹ, anh em, vợ con, bè bạn… Con người cần có trái tim yêu thương “ thương người như thể thương thân”, biết chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với đồng loại Tiêu biểu là
tấm gương những em thiếu nhi cõng bạn tàn tật tới trường, những doanh nhân thành đạt bỏhàng tỉ đồng để làm việc thiện giúp người nghèo Là anh Nguyễn Hữu Ân ngủ ở gầmgiường bệnh viện, vừa chăm sóc hai bà mẹ ung thư, vừa học đại học Và quanh ta còn biếtbao người sống đẹp, với những nghĩa cử đời thường khi biết hi sinh cho người khác
Để sống đẹp, con người trong thời đại hôm nay còn cần có trí tuệ, có kiến thức mỗi
ngày thêm mở rộng sáng suốt Sống trong thời đại của nền kinh tế tri thức, hội nhập toàncầu hoá, thời đại bùng nổ thông tin, con người phải có tri thức, phải học tập suốt đời: học
để biết, học để làm, học để chung sống và học để tự khẳng định mình Con người mớikhông có tri thức, không có văn hoá sẽ nhanh chóng bị tụt hậu Thật đáng phê phán nhữngthanh thiếu niên trong cuộc sống hiện nay sa đà vào chuyện ăn chơi, bỏ bê học hành, lẽsống của họ chỉ là xin tiền bố mẹ đi chơi game, chát chít, đàn đúm với bạn bè, la cà nhậunhẹt… họ đang giết thời gian, giết chết tuổi trẻ vào những việc hưởng thụ ích kỉ mà chắcchắn khi quay đầu nhìn lại họ sẽ hối hận nuối tiếc… Nhưng bên cạnh đó biết bao bạn trẻ
Trang 5của chúng ta có ý thức quyết tâm học tập để thành tài, học vì ngày mai lập nghiệp, cónhững tiến sĩ ở độ tuổi 27,28; có nhiều bạn trẻ đỗ đầu ở các trường đại học danh tiếng ởnước ngoài, nhiều học sinh giành huy chương ở các kì thi học sinh giỏi quốc tế…
Để sống đẹp, mỗi người chúng ta còn cần phải hành động tích cực, lương thiện Con
người không chỉ có tư tưởng đúng, tình cảm đẹp mà cần phải được thử thách bằng trảinghiệm thực tế qua việc làm, hành động tích cực để đạt hiệu quả thiết thực cho cuộc sốngcủa cá nhân, gia đình và xã hội Qua lao động, bằng những hành động tích cực chúng tagóp phần làm cho cuộc sống được cải thiện mỗi ngày một tốt đẹp hơn, phấn đấu cho cuộcsống của ta giàu có cả về tinh thần và vật chất Chúng ta không thể duy ý chí cho rằngmình chỉ cần giàu có về tinh thần, tình cảm, văn hoá mà có thể nghèo về vật chất Cuộcsống chỉ tốt đẹp khi có sự hài hoà giữa tinh thần và của cải, con người cần hành động tíchcực, lương thiện để đạt được sự hài hoà đó Cần phải biết sống nghèo hèn là sống nhục đểvươn lên hành động tích cực cho cuộc sống tốt đẹp, phồn vinh
Kết luận: Tóm lại, thanh niên học sinh chúng ta muốn trở thành người sống đẹp cần
thường xuyên học tập và rèn luyện để từng bước hoàn thiện nhân cách Chúng ta khôngchỉ sống đẹp cho bản thân mà sống đẹp cho mọi người, như nhà thơ Tố Hữu đã nói:
“ Đã là con chim chiếc lá
Thì con chim phải hót, chiếc lá phải xanh
Lẽ nào vay mà không có trả
Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình”
2/ Cách làm bài nghị lụân về một tư tưởng, đạo lí:
+ Đề tài nghị luận về tư tưởng, đạo lí vô cùng phong phú: về lí tưởng, mục đích sống,
về lòng yêu nước, lòng nhân ái, vị tha, tính trung thực, dũng cảm, chăm chỉ, tính hoà nhã,khiêm tốn, thói ích kỉ, vụ lợi…về tình mẫu tử, tình anh em, bè bạn, tình thầy trò…về cáchứng xử, hành động của con người…
+ Các thao tác lập luận cơ bản thường được sử dụng trong kiểu bài này là: giải thích,phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận…
3/ Ghi nhớ: Bài nghị luận về một tư tưởng, đạo lí thường có một số nội dung sau: + Giới thiệu, giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận
+ Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề + Nêu ý nghĩa, rút ra bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí.
+ Diễn đạt cần chuẩn xác, mạch lạc, có thể sử dụng một số phép tu từ và có yếu tố biểu cảm
4/ Luyện tập: Giải bài tập 1,2 sgk trang 22
5/ Soạn bài: Tác gia Hồ Chí Minh theo 3 câu hỏi sgk trang 29
Tiết 4: TÁC GIẢ NGUYỄN ÁI QUỐC - HỒ CHÍ MINH
Trang 6+ Thời trẻ, Người học chữ Hán ở nhà, sau đó học tại trường Quốc học Huế và có mộtthời gian ngắn dạy học ở trường Dục Thanh, Phan Thiết
+ Năm 1911, Người ra nước ngoài tìm đường cứu nước Người tham gia thành lập
nhiều tổ chức cách mạng như Việt Nam thanh niên cách mạng đồng chí hội, thống nhất các
tổ chức cộng sản trong nước để thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 3/2/1930 Tháng2/1941, Người về nước trực tiếp lãnh đạo pt cm trong nước, tiến tới giành thắng lợi trong
cuộc Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 Ngày 2/9/1945, Người đọc Tuyên ngôn độc lập tại
quảng trường Ba Đình Năm 1946, Hồ Chí Minh được bầu làm chủ tịch nước Việt Namdân chủ Cộng hoà và đã giữ chức vụ này cho tới khi từ trần(năm 1969)
Hồ Chí Minh là nhà yêu nước và nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc Cùng với sựnghiệp cách mạng vĩ đại, Người còn để lại một sự nghiệp văn học to lớn
II/ SỰ NGHIỆP VĂN HỌC:
+ Khi cầm bút, Hồ Chí Minh bao giờ cũng xuất phát từ mục đích, đối tượng tiếp
nhận để quyết định nội dung và hình thức của tác phẩm Người luôn tự đặt câu hỏi: Viết cho ai?( đối tượng) Viết để làm gì? ( mục đích) Viết cái gì?( nội dung) Viết thế nào?( hình
+ Nội dung tư tưởng: Lí trí sáng suốt, trí tuệ sắc sảo, tấm lòng yêu, ghét sâu sắc,mãnh liệt, nồng nàn
+ Nghệ thuật: Bút pháp hiện đại, nghệ thuật trần thuật linh hoạt, tình huống truyệnđộc đáo, hình tượng sinh động, sắc sảo
c/ Thơ ca:
+ Tác phẩm: Ngục trung nhật kí ( 1942-> 1943), thơ viết trong kháng chiến chống Pháp và Mĩ: Pác Bó hùng vĩ, Lên núi, Nguyên tiêu, Thu dạ, Báo tiệp, Cảnh khuya, Các bài thơ mừng xuân…
+ Nhật kí trong tù là bức chân dung tự hoạ của Hồ Chí Minh: con người có nghị lực
phi thường, tâm hồn luôn khao khát tự do, hướng về Tổ Quốc, nhạy cảm trước vẻ đẹpthiên nhiên, dễ động lòng trắc ẩn trước nỗi đau khổ của con người, nhìn thấy những nghịch
lí của chế độ xã hội Tưởng Giới Thạch thối nát để tạo ra những tiếng cười đầy trí tuệ…
Trang 7+ Nổi bật trong thơ Người là hình ảnh nhân vật trữ tình mang nặng “ nỗi nước nhà”
mà phong thái vẫn ung dung, tâm hồn luôn hoà hợp với thiên nhiên, lạc quan tin tưởng vàotương lai tất thắng của cách mạng…
3/ Phong cách nghệ thuật:
+ Văn chính luận thường ngắn gọn, súc tích, lập luận chặt chẽ,lí lẽ đanh thép, bằngchứng đầy thuyết phục, giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp, thấm đượm tình cảm,giàu hình ảnh Giọng văn chính luận đa dạng: khi thấu tình đạt lí, khi đanh thép, mạnh mẽ,hùng hồn…
+ Truyện và kí hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúngvừa sắc bén, thâm thuý của phương Đông, vừa hài hước hóm hỉnh của phương Tây
+ Thơ ca: Chia làm 2 loại: Những bài thơ nhằm mục đích tuyên truyền cách mạngthường được viết bằng hình thức bài ca, lời lẽ giản dị, mộc mạc, dễ nhớ, mang màu sắcdân gian hiện đại Những bài thơ nghệ thuật hầu hết là thơ tứ tuyệt cổ điển, bằng chữ Hán,kết hợp hài hoà giữa bút pháp cổ điển với bút pháp hiện đại của thơ cổ phương Đông
III/ KẾT LUẬN:
Văn thơ Hồ Chí Minh là di sản tinh thần vô giá, là một bộ phận gắn bó hữu cơ với sựnghiệp cách mạng vĩ đại của người Những tác phẩm văn học xuất sắc của Người đã thểhiện chân thật và sâu sắc tư tưởng, tình cảm và tâm hồn cao cả của Người
+ Nắm vững các kiến thức cơ bản trên, học thuộc một số bài thơ của HCM
+ Làm bài tập 1,2 phần luyện tập trang 29
Soạn bài: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
Tiết 5,9: GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT
Mục tiêu:
+ Nhận thức được sự trong sáng của tiếng Việt biểu hiện ở một số phương diện cơ bản và
là một yêu cầu đối với việc sử dụng tiếng Việt
+ Có ý thức, thói quen giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt khi sử dụng, luôn nâng caohiểu biết về tiếng Việt và rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếng Việt
Nội dung:
I/ SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT:
Sự trong sáng của tiếng Việt được biểu hiện qua một số phương diện sau:
1/ Tiếng Việt có hệ thống chuẩn mực, quy tắc chung về phát âm, chữ viết, về dùng từ,đặt câu, về cấu tạo lời nói, bài văn… Sự trong sáng của tiếng Việt bộc lộ sự tuân thủ hệthống các chuẩn mực và quy tắc chung đó Mặt khác, chuẩn mực không phủ nhận nhữngchuyển đổi linh hoạt và sáng tạo, không phủ nhận cái mới, miễn là cái sáng tạo, cái mớiphù hợp với quy tắc chung
2/ Sự trong sáng không dung nạp tạp chất, không cho phép pha tạp, lai căng nhữngyếu tố không cần thiết của ngôn ngữ khác nhưng tiếng Việt có thể vay mượn các yếu tốcần thiết từ tiếng nước ngoài để làm phong phú vốn từ của mình Tuy nhiên không nên lạmdụng tiếng nước ngoài làm tổn hại sự trong sáng của tiếng Việt
Trang 83/ Sự trong sáng của tiếng Việt còn được biểu hiện ở tính văn hoá, lịch sự của lời nói.Tránh nói năng thô tục, thiếu văn hoá, bất lịch sự làm cho tiếng Việt mất đi vẻ trong sángvốn có của nó
II/ TRÁCH NHIỆM GIỮ GÌN SỰ TRONG SÁNG CỦA TIẾNG VIỆT:
1/ Có tình cảm yêu mến và ý thức quý trọng tiếng Việt
2/ Có những hiểu biết cần thiết về tiếng Việt, hiểu biết về chuẩn mực và quy tắc củatiếng Việt ở các phương diện phát âm, chữ viết, dùng từ, đặt câu, tạo lập văn bản, tiến hànhgiao tiếp…
3/ Việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt đòi hỏi trách nhiệm cao của mỗi ngườitrong quá trình sử dụng tiếng Việt để giao tiếp( nói hoặc viết), cần tuân thủ đúng các chuẩnmực, quy tắc nhưng cũng biết vận dụng sáng tạo để ngôn ngữ của dân tộc hay hơn, đẹphơn
Ghi nhớ: sgk trang 33,44
Kiến thức cơ bản cần nắm:
1/ Sự trong sáng của tiếng Việt biểu hiện qua những phương diện nào?
2/ Trách nhiệm của mỗi người trong việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt?
Học bài:
+ Nắm vững những kiến thức cơ bản trên
+ Làm các bài tập phần luyện tập trang 33,34,44,45
Soạn bài:
Ôn tập về văn nghị luận về một tư tưởng, đạo lí để làm bài viết số 1 ở lớp
Tiết 6: VIẾT BÀI LÀM VĂN SỐ 1: NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
+ Thấy được giá trị nhiều mặt và ý nghĩa to lớn của bản Tuyên ngôn độc lập
+ Hiểu vẻ đẹp của tư tưởng và tâm hồn tác giả qua bản Tuyên ngôn độc lập
Nội dung:
I/ Hoàn cảnh ra đời:
Chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, phát-xít Nhật, kẻ đang chiếm đóng nước ta lúc ấyđầu hàng đồng minh Nhân dân ta vùng dậy giành chính quyền trên toàn quốc Ngày26/8/1945, chủ tịch Hồ Chí Minh từ chiến khu Việt Bắc về tới Hà Nội Tại căn nhà số 48phố Hàng Ngang, Người soạn thảo bản Tuyên ngôn độc lập Ngày 2/9/1945, tại quảngtrường Ba Đình, Hà Nội người đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nammới
II/ Giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập:
1/ Giá trị lịch sử: Là lời tuyên bố xoá bỏ chế độ thực dân phong kiến, là sự khẳng định
quyền tự chủ và vị thế bình đẳng của dân tộc ta trên toàn thế giới, mở ra kỉ nguyên độclập, tự do trên đất nước ta
Trang 92/ Giá trị tư tưởng: Là tác phẩm kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh
thần yêu chuộng độc lập, tự do của dân tộc ta
3/ Giá trị nghệ thuật: Là bài văn chính luận mẫu mực, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh
thép, bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục, ngôn ngữ gợi cảm, hùng hồn
+ Việc tác giả trích dẫn bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mĩ và bản Tuyênngôn Nhân quyền và dân quyền năm 1791 của cách mạng Pháp nhằm vừa đề cao nhữnggiá trị hiển nhiên của tư tưởng nhân đạo và của văn minh nhân loại, vừa thể hiện chiến
thuật “ dùng gậy ông đập lưng ông”
+ Từ quyền bình đẳng, tự do của con người mà tác giả suy rộng ra về quyền bìnhđẳng, tự do của các dân tộc trên thế giới, đây là cách vận dụng khéo léo và đầy sáng tạonhưng vẫn bảo đảm tính chặt chẽ trong lập luận Đúng như một nhà nghiên cứu nước
ngoài đã thừa nhận “ Cống hiến nổi tiếng của cụ Hồ Chí Minh là ở chỗ Người đã phát triển quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc Như vậy, tất cả mọi dân tộc đều có quyền tự quyết lấy vận mệnh của mình”
2/ Cơ sở thực tế của bản Tuyên ngôn: Tội ác của thực dân Pháp và cuộc đấu tranh giành chính quyền của nhân dân ta:
a/ Tố cáo tội ác của Pháp và Nhật:
+ Tội ác của Pháp qua 80 năm xâm lược là “ trái với nhân đạo và chính nghĩa”
= Cách nêu tội ác súc tích, đầy đủ, bao gồm các mặt về: chính trị, kinh tế, vănhoá, xã hội, làm nổi bật những tội ác điển hình, những chính sách thâm độc nhất của Pháp = Giọng văn đanh thép, căm thù, những câu văn ngắn gọn, đồng dạng về cấutrúc, điệp từ “ chúng” láy lại 14 lần ở đầu mỗi câu làm cho giọng kể tội thêm đanh thép = Từ ngữ, hình ảnh giản dị nhưng giàu sức gợi cảm khi nói về tình cảnh nhândân, đất nước trong hoạ xâm lăng
+ Bản Tuyên ngôn còn nêu rõ tội ác của Pháp trong 5 năm bán nước ta 2 lần choNhật, dẫn đến hậu quả khủng khiếp: hơn 2 triệu đồng bào ta bị chết đói
+ Cách lập luận chặt chẽ để đập lại luận điệu sai trái của Pháp: Pháp có công khaihoá Việt Nam, Pháp bảo hộ Việt Nam, Pháp sẽ trở lại Việt Nam, bản Tuyên ngôn chỉ rõ:Pháp xâm lược Việt Nam, gây bao tội ác, Pháp bán nước ta 2 lần cho Nhật, ta giành chínhquyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp
b/ Cuộc đấu tranh giành chính quyền của ta:
+ Nhân dân ta đứng về phe đồng minh chống phát xít, tiến hành cuộc cách mạng dântộc dân chủ, lật đổ ách thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa + Khí thế vùng lên quật khởi của dân ta như triều dâng, thác đổ Những câu văn
ngắn gọn biểu dương sức mạnh kì vĩ của ta, tô đậm thất bại thảm hại của giặc “ Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” Những câu văn sang sảng niềm tự hào ca ngợi sức
mạnh chính nghĩa của ta, mang âm hưởng của những cuộc chiến đấu và chiến thắng vang
dội, thần tốc “ Một dân tộc đã gan góc…Một dân tộc đã gan góc… Dân tộc đó phải được
tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”
3/ Lời tuyên bố độc lập:
Trang 10+ Một lần nữa, bản Tuyên ngôn khẳng định quyền độc lập dân tộc của Việt Nam trên
Soạn bài: Nguyễn Đình Chiểu… theo câu hỏi hướng dẫn sgk
Tiết 10,11:
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ CỦA DÂN TỘC
Phạm Văn Đồng
Mục tiêu:
+ Nắm được những ý kiến sâu sắc, có lí có tình của tác giả Phạm Văn Đồng về thân thế và
sự nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu Từ đó, hiểu đúng đắn, sâu sắc hơn những giá trị lớnlao của thơ văn Nguyễn Đình Chiểu với mọi thời đại
+ Nghệ thuật của bài nghị luận văn học: lí lẽ xác đáng, lập luận chặt chẽ, ngôn từ trongsáng, giàu hình ảnh, và điều quan trọng là nhiệt huyết của một con người gắn bó với Tổquốc, nhân dân, biết kết hợp hài hoà giữa sự trân trọng những giá trị văn hoá truyền thốngvới những vấn đề trọng đại đang đặt ra cho thời đại mình
Nội dung:
I/ TIỂU DẪN:
+ Phạm Văn Đồng ( 1906 – 2000) là một nhà cách mạng lớn của nước ta trong thế kỉ
XX, quê ở Quảng Ngãi Ông từng đảm nhiệm các cương vị: Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộtrưởng Bộ Ngoại giao, Phó Thủ tướng, Thủ tướng, là Uỷ viên Bộ chính trị Đảng Cộng sảnViệt Nam
+ Ông còn là một nhà giáo dục tâm huyết và một nhà lí luận văn hoá văn nghệ lớn, ôngluôn giành mối quan tâm đặc biệt đến công tác văn hoá văn nghệ ở nước ta Ông có nhiềubài nói, bài viết sâu sắc, mới mẻ về tiếng Việt và các danh nhân văn hoá Việt Nam nhưNguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh…
+ Bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng… của ông được viết nhân kỉ niệm 75 năm
ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu, trích trong Tạp chí Văn học năm 1963
II/ VĂN BẢN:
Văn bản là một bài văn nghị luận văn học gồm 3 phần: mở bài, thân bài, kết luận
1/ Phần mở bài:
+ Gây ấn tượng nhờ hình ảnh so sánh “ ngôi sao” Nguyễn Đình Chiểu trên bầu trời
văn nghệ dân tộc, nhưng mà là vì sao có ánh sáng khác thường, càng nhìn càng thấy sáng + Đánh giá cao thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu
2/ Thân bài: gồm 3 luận điểm:
a/ Cuộc đời và quan niệm sáng tác thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu:
+ Tác giả không viết lại tiểu sử Nguyễn Đình Chiểu mà chỉ nhấn mạnh đến khí tiết
của “ một người chí sĩ yêu nước” trọn đời phấn đấu hi sinh vì nghĩa lớn.
Trang 11+ Trước tiên tác giả chưa nói đến các tác phẩm cụ thể mà đề cao quan niệm củaNguyễn Đình Chiểu về sáng tác văn chương, văn thơ phải là vũ khí chiến đấu chống giặcngoại xâm trong hoàn cảnh đất nước lâm nguy.
+ Tác giả nêu một câu thơ tiêu biểu của Nguyễn Đình Chiểu để chứng minh cho khítiết bất khuất của ông và 3 câu thơ để chứng minh đầy đủ cho quan niệm sáng tác vănchương tiến bộ của Nguyễn Đình Chiểu: thơ để chở đạo, thể hiện rõ thái độ khen chê, thơ
để đâm gian( diệt giặc) và phê phán bọn người lợi dụng văn chương làm việc phi nghĩa.-> Lí lẽ ngắn gọn, xác đáng, giàu sức thuyết phục
b/ Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu:
+ Tác giả đã đặt các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu trên cái nền của hoàn cảnh lịch
sử lúc bấy giờ Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là “ ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc” vì trước hết, thơ văn của ông đã “ làm sống lại phong trào kháng Pháp bền bỉ và oanh liệt của nhân dân Nam Bộ từ 1860 trở về sau” Sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương phản chiếu “ một thời khổ nhục nhưng vĩ đại”, là lời ngợi ca những nghĩa sĩ
dũng cảm, cũng là lời than khóc cho những anh hùng thất thế đã bỏ mình trong cuộc chiếnđấu vì nước vì dân
+ Tác giả cho thấy: Tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu lớn lao bởi sức cổ vũ mạnh mẽcho cuộc chiến đấu chống thực dân, làm cho lòng người rung động trước những hình
tượng “ sinh động và não nùng” của những con người “ suốt đời tận trung với nước”, “
trọn nghĩa với dân”, giữ vẹn khí phách hiên ngang cho dù chiến bại
+ Phạm Văn Đồng đánh giá cao giá trị của bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, khúc ca của
những người anh hùng thất thế nhưng vẫn hiên ngang, tác giả còn nhắc đến những đoá
hoa, những hòn ngọc rất đẹp trong thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu như bài Xúc cảnh…
+ Tác giả đánh giá cao tấm lòng của Nguyễn Đình Chiểu với dân với nước, văn thơ
Nguyễn Đình Chiểu chính là bầu nhiệt huyết của nhà thơ trào ra thành chữ nghĩa “ Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu” Vì thế mà tác giả nói đến
Nguyễn Đình Chiểu với một trạng thái tình cảm xúc động mạnh mẽ khác thường Sự kếthợp giữa trí tuệ sáng suốt và con tim dạt dào tình cảm đã khiến tác giả viết được nhữngcâu văn làm rung động lòng người khi bàn về tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu nói chung và
bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc nói riêng.
+ Phạm Văn Đồng đã không viết về Nguyễn Đình Chiểu với nỗi tiếc thương của mộtngười hoài cổ Tác giả nhìn người xưa từ hôm nay( những năm 60 của thế kỉ XX), vì cuộcsống hôm nay Vì thế mà con người đang sống hết mình giữa trung tâm của cuộc chiến đấuhào hùng chống đế quốc xâm lược có điều kiện để thông cảm hơn với một con người cũngđang sống hết mình trong công cuộc chống thực dân oanh liệt mà đau thương thưở trước,
từ đó, thấu hiểu hơn những giá trị đã khiến cho Nguyễn Đình Chiểu trở thành ngôi saocàng nhìn càng thấy sáng
c/ Viết về Lục Vân Tiên:
+ Tác giả cho thấy truyện Lục Vân Tiên là “ một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, đạo đức, ca ngợi những người trung nghĩa”, về mặt nghệ thuật, đây là một truyện kể có “ lối văn nôm na, dễ hiểu, dễ nhớ, có thể truyền bá rộng rãi trong dân gian”-> tác phẩm Lục
Vân Tiên có mối liên hệ mật thiết với đời sống của nhân dân, được nhân dân chấp nhận vàyêu mến
3/ Phần kết luận:
Trang 12+ Đánh giá vai trò quan trọng của Nguyễn Đình Chiểu trong lịch sử và trong nền văn
học dân tộc “ là một người chí sĩ yêu nước, một nhà thơ lớn… một tấm gương sáng nêu cao sứ mạng của người chiến sĩ trên mặt trận văn hoá và tư tưởng”
+ Bày tỏ tấm lòng thành kính để tưởng nhớ người con quang vinh của dân tộc
Soạn bài: Đọc thêm 2 bài: Mấy ý nghĩ về thơ – Đô-xtôi-ép-xki
Đọc thêm: MẤY Ý NGHĨ VỀ THƠ
Nguyễn Đình Thi
1/ Vài nét về tác giả:
+ Nguyễn Đình Thi ( 1924 – 2003) sinh tại Luông Pha-băng ( Lào), quê ở Hà Nội.Năm 1931, ông theo gia đình về nước, tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1941 Từnăm 1958-> 1989, ông là Tổng thư kí Hội nhà văn Việt Nam
+ Là một nhà văn hoá, một nghệ sĩ đa tài: viết văn, làm thơ, sáng tác nhạc, soạn kịch,viết lí luận phê bình văn học… Năm 1996 được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn họcnghệ thuật
+ Tác phẩm: Tiểu thuyết: Xung kích( 1951), Vào lửa( 1966), Mặt trận trên cao( 1967); Thơ: Người chiến sĩ( 1956), Bài thơ Hắc Hải( 1958), Dòng sông trong xanh( 1974)
+ Bài “ Mấy ý nghĩ về thơ” viết vào tháng 9 năm 1949, trong Hội nghị tranh luận văn
nghệ tổ chức ở Việt Bắc
2/ Thể loại: Nghị luận văn học, làm nổi bật đặc trưng bản chất của thơ ca
3/Nội dung:
+ Đặc trưng cơ bản nhất của thơ là biểu hiện tâm hồn con người Khởi đầu một bài
thơ, người viết phải có “ rung động thơ”, sau đó mới “ làm thơ” Rung động thơ có được
khi tâm hồn ra khỏi trạng thái bình thường; do sự va chạm với thế giới bên ngoài, với thiênnhiên mà tâm hồn con người thức tỉnh, bật lên những tình ý mới mẻ
+ Hình ảnh thơ không cốt ghi lại vẻ bề ngoài mà “ đã bao hàm một nhận thức, mộtthái độ tình cảm hoặc suy nghĩ” Thơ gắn liền với sự suy nghĩ, thơ phải có tư tưởng, nhưng
tư tưởng trong thơ cũng là tư tưởng - cảm xúc, “ thơ muốn lay động những chiều sâu của tâm hồn, đem cảm xúc mà đi thẳng vào sự suy nghĩ” Cảm xúc, tình cảm là yếu tố quan trọng bậc nhất mà thơ hướng tới “ Cảm xúc là phần thịt xương hơn cả của đời sống tâm hồn”
+ Ngôn ngữ thơ có những nét đặc biệt so với ngôn ngữ những thể loại văn học khác.Nếu ngôn ngữ trong tác phẩm truyện kí là ngôn ngữ tự sự, ngôn ngữ kịch là ngôn ngữ đối
thoại thì ngôn ngữ thơ ca có tác dụng gợi cảm đặc biệt nhờ yếu tố nhịp điệu “ một thứ nhịp điệu bên trong, thứ nhịp điệu của hình ảnh, tình ý, nói chung là của tâm hồn”
Xuất phát từ sự đề cao nhịp điệu bên trong, nhịp điệu của tâm hồn, Nguyễn Đình Thi
quan niệm “ không có vấn đề thơ tự do, thơ có vần và thơ không có vần”, mà chỉ có “ thơ
Trang 13thực và thơ giả, thơ hay và thơ không hay, thơ và không thơ” Thời đại mới, tư tưởng tình cảm mới, nội dung mới đòi hỏi một hình thức mới, điều quan trọng là “ dùng bất cứ hình thức nào, miễn là thơ diễn tả đúng tâm hồn con người mới ngày nay”
+ Nét tài hoa của Nguyễn Đình Thi trong nghệ thuật lập luận: Lí lẽ gắn với dẫn
chứng Cách sử dụng từ ngữ cụ thể, sinh động, gây ấn tượng mạnh “ Mỗi chữ như một ngọn nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp bên nhau thành một vùng sáng chung”
Đọc thêm: ĐÔ – XTÔI – ÉP – XKI.( Trích)
+ Tác phẩm tiêu biểu: “ Ba bậc thầy: Đô-xtôi-ép-xki – Ban-dắc – Đích-ken” Đoạn
trích trên lấy từ tác phẩm này của Xvai-gơ
2/ Thể loại: Chân dung văn học
3/ Nội dung:
a/ Chân dung văn học Đô – xtôi –ép –xki:
+ Con người yêu nước Nga, đặc biệt gắn bó tâm hồn với nước Nga “ trái tim ông chỉ đập vì nước Nga”
+ 2 thời điểm trong cuộc đời ông:
= Thời điểm phải sống lưu vong ở nước ngoài trong cảnh bần cùng nghèo khổ " đến ngân hàng mòn mỏi chờ đợi tờ séc… người khách chuyên cần của hiệu cầm đồ, cầm cố tất
cả, cả đến cái quần đùi cuối cùng…"
= Thời điểm được trở về Tổ Quốc, ông có được “ hạnh phúc tuyệt đỉnh”, ông trở thành “ sứ giả của xứ sở mình”, vinh quang tột đỉnh đến với ông.
+ Số phận vùi dập thiên tài nhưng thiên tài tự cứu vãn bằng lao động và cũng tự đốt
cháy trong lao động, ông để lại những tác phẩm lớn cho văn học thế kỉ XIX: Tội ác và trừng phạt, Thằng ngốc, Lũ người quỷ ám, Con bạc…
+ Vai trò của nhà văn trong bối cảnh thời sự chính trị và văn chương đương thời: “Các sách của ông đã biện hộ cho sự nghiệp của ông… Nước Nga chỉ còn đổ dồn mắt vào
ông Nhật kí của một nhà văn biến ông thành sứ giả của xứ sở mình Nghệ thuật hoàn hảo
nhất của ông, sức lực cuối cùng của ông, ông hiến dâng cho di chúc của mình, cho dân tộc
mình: Anh em nhà Ka-ra ma-dốp.
-> ông trở thành thiên tài của dân tộc và thời đại ông
+ Làn sóng yêu thương cuồng nhiệt dâng lên sau cái chết của ông Đô-xtôi-ép –xkiqua đời giữa dông bão cách mạng, ông hoàn thành sứ mạng của một người hoà giải chốclát, đã kiềm chế một lần cuối sự cuồng nhiệt của các mâu thuẫn thời đại ông, cái chết của
ông làm cho “ các đảng phái đoàn kết lại trong một lời nguyền yêu thương và cảm phục” b/ Nghệ thuật viết chân dung văn học của tác giả:
+ Lối cấu trúc những hình ảnh trái ngược: giữa số phận và tính cách, giữa vinh quang
và khổ hạnh, như “ một vòng hào quang chói lọi bao quanh cái đầu của người bị hành khổ này”, “ lao động là sự giải thoát và là nỗi thống khổ của ông”…
+ Các hình ảnh so sánh, ẩn dụ thể hiện tầm vóc của thiên tài: “ ông tiếp tục sống giữa giống người chấy rận trước khi vươn lên ánh sáng rực rỡ của niềm vinh quang đời đời”,
“ Đức Chúa Trời ném cho ông một tia chớp… trong một cỗ xe rực lửa”, “ như một lời
Trang 14chào cao cả gửi người quá cố, Cách mạng, trái mìn khủng khiếp nổ ra phía sau đoàn đưa tang ông Ba tuần sau, Nga hoàng bị ám sát…”
+ Kiểu bài nghị luận về một hiện tượng đời sống khác với kiểu bài nghị luận về một
tư tưởng, đạo lí ở chỗ: Lấy một hiện tượng xảy ra trong đời sống để bàn bạc Từ hiệntượng này, người nghị luận phải phân tích, tìm ra ý nghĩa xã hội về tư tưởng, đạo đức màbàn bạc, đánh giá
+ Đề tài nghị luận gần gũi với đời sống và trình độ nhận thức của học sinh như: hiệntượng ô nhiễm môi trường, tiêu cực trong thi cử, phong trào tiếp sức mùa thi, câu chuyện
về lòng tốt…
1/ Tìm hiểu đề và lập dàn ý:
Đề bài: Hãy bày tỏ ý kiến của mình về hiện tượng được nêu trong bài viết sau: CHIA
CHIẾC BÁNH CỦA MÌNH CHO AI?
a/ Tìm hiểu đề:
+ Đề bài yêu cầu bày tỏ ý kiến đối với việc làm của anh Nguyễn Hữu Ân, vì tìnhthương “ dành hết chiếc bánh thời gian của mình” chăm sóc 2 bà mẹ bị bệnh hiểm nghèo + Bài viết có các ý chính:
= Nguyễn Hữu Ân đã nêu một tấm gương về lòng hiếu thảo, vị tha, đức hi sinh củathanh niên
= Thế hệ trẻ ngày nay có nhiều tấm gương như Nguyễn Hữu Ân
= Nhưng bên cạnh đó, vẫn còn một số người có lối sống ích kỉ, vô tâm, đáng phêphán
= Tuổi trẻ cần dành thời gian tu dưỡng, lập nghiệp, sống vị tha để cuộc đời ngàymột đẹp hơn
+ Dẫn chứng minh hoạ cho lí lẽ: Có thể khai thác trong văn bản Chuyện cổ tích mang tên Nguyễn Hữu Ân và bổ sung dẫn chứng về những thanh niên làm việc tốt trong xã hội
để biểu dương hoặc phê phán những thanh niên sống vô tâm, ích kỉ…
+ Cần vận dụng các thao tác lập luận chủ yếu: phân tích, chứng minh, bác bỏ, bìnhluận…
b/ Lập dàn ý:( dựa vào kết quả tìm hiểu đề ở trên, chia nhóm thảo luận trình bày dàn
ý)
2/ Cách làm bài nghị luận về một hiện tượng đời sống:
Có các nội dung:
+ Nêu rõ hiện tượng đời sống ?
+ Phân tích các mặt đúng – sai, lợi - hại, chỉ ra nguyên nhân và bày tỏ thái độ, ý kiếncủa người viết về hiện tượng xã hội đó
+ Diễn đạt cần chuẩn xác, mạch lạc; có thể sử dụng một số phép tu từ và yếu tố biểucảm, nhất là phần nêu cảm nghĩ riêng ( ví dụ: Mỗi chúng ta có thể làm như Nguyễn Hữu
Ân được không? Hoàn toàn có thể! Khi chúng ta biết hi sinh, biết sống vì mọi người từtrong những việc làm nhỏ bé hàng ngày với bố mẹ, người thân, với bạn bè và mọi người
Trang 15Tôi và các bạn mỗi khi có tư tưởng ích kỉ, ngại khó trỗi dậy trong suy nghĩ hãy nghĩ đếnnhững việc làm của Nguyễn Hữu Ân để phấn đấu tự hoàn thiện mình, đồng ý nhé bạn thânyêu.)
3/ Luyện tập:
a/ Điều mà tác giả Nguyễn Aí Quốc bàn: hiện tượng nhiều thanh niên, sinh viên ViệtNam du học nước ngoài dành quá nhiều hời gian cho việc chơi bời, giải trí mà chưa chămchỉ hoc tập, rèn luyện để góp phần xây dựng đất nước Hiện tượng ấy xảy ra vào nhữngnăm đầu thế kỉ XX, trong xã hội ta ngày nay hiện tượng ấy vẫn còn Từ hiện tượng trên, cóthể bàn thêm một vài ý:
+ Nêu và phê phán hiện tượng: Thanh niên, sinh viên Việt Nam du học lãng phí thờigian vào những việc vô bổ
+ Chỉ ra nguyên nhân: Họ chưa xác định lí tưởng sống đúng đắn, họ ngại khó, ngạikhổ, lười biếng hoặc chỉ sống vì tiền bạc, vì những lợi ích nhỏ hẹp; cũng một phần do cách
tổ chức, giáo dục chưa tốt của những người có trách nhiệm( cha mẹ không giáo dục concái ý thức tự lực lập thân lập nghiệp, cung phụng tiền của cho con ăn chơi lãng phí ở nướcngoài…)
+ Bàn luận: Nêu một vài tấm gương thanh niên, sinh viên chăm học, đạt học vị cao trở
về tham gia giảng dạy ở các trường đại học hoặc làm việc tại các ngành kinh tế, khoa học,
kĩ thuật tiên tiến của nước nhà( thời chống Pháp có những tấm gương sáng như nhà nônghọc Lương Đình Của, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch từ bỏ cuộc sống giàu sang ở nước Pháp đểtrở về phục vụ đất nước, thời chống Mĩ có anh Nguyễn Thái Bình , sinh viên du học ởnước Mĩ đã hi sinh vì hành động yêu nước, thời đại ngày nay có nhiều bạn sinh viên sẵnsàng từ bỏ cuộc sống an nhàn, giàu có ở nước ngoài để trở về phục vụ Tổ Quốc…)
b/ Tác giả dùng thao tác lập luận phân tích, so sánh, bác bỏ ( tự tìm dẫn chứng quađoạn trích)
c/ Nghệ thuật diễn đạt: Dùng từ, nêu dẫn chứng xác đáng, cụ thể; kết hợp nhuầnnhuyễn các kiểu câu trần thuật, câu hỏi, câu cảm thán…
d/ Rút ra bài học cho bản thân: Xác định lí tưởng, cách sống, mục đích, thái độ học tậpđúng đắn
Hướng dẫn học bài: Nắm vững lí thuyết, chuẩn bị cho bài viết số 2.
Soạn bài: Phong cách ngôn ngữ khoa học
Chuẩn bị 1 văn bản viết theo phong cách ngôn ngữ khoa học, giải thích vì sao văn bản
đó được viết theo phong cách ngôn ngữ khoa học?
Tiết 13,14: Tiếng Việt: PHONG CÁCH NGÔN NGỮ KHOA HỌC
Mục tiêu:
+ Hiểu rõ hai khái niệm: ngôn ngữ khoa học( phạm vi sử dụng, các loại văn bản) vàp/c ngôn ngữ khoa học( các đặc trưng để nhận diện và phân biệt trong sử dụng ngôn ngữ) + Rèn luyện kĩ năng diễn đạt trong các bài làm văn nghị luận( một dạng văn bản khoahọc) và kĩ năng nhận diện, phân tích đặc điểm của văn bản khoa học
Nội dung:
I/ VĂN BẢN KHOA HỌC VÀ NGÔN NGỮ KHOA HỌC:
1/ Văn bản khoa học:
Văn bản khoa học gồm 3 loại chính:
+ Các văn bản khoa học chuyên sâu như: luận án, luận văn, tiểu luận, báo cáo khoa học… - Dùng để giao tiếp giữa những người làm công việc nghiên cứu khoa học
Trang 16+ Các văn bản khoa học giáo khoa như: giáo trình, sách giáo khoa, thiết kế bài dạy… - ngoài yêu cầu về khoa học còn có yêu cầu về sư phạm - Dùng để giảng dạy cho
học sinh các cấp
+ Các văn bản khoa học phổ cập như các bài báo và sách phổ biến khoa học kĩ thuật
nhằm phổ biến rộng rãi kiến thứckhoa học cho đông đảo người đọc, không phân biệt trình
độ chuyên môn -> cách viết dễ hiểu, hấp dẫn
II/ ĐẶC TRƯNG CỦA PHONG CÁCH NGÔN NGỮ KHOA HỌC:
1/ Tính khái quát, trừu tượng:
Thể hiện ở nội dung khoa học, các thuật ngữ khoa học, ở kết cấu văn bản( qua cácphần, chương, mục, đoạn)
2/ Tính lí trí, lô gíc:
a/ Từ ngữ trong văn bản khoa học phần lớn là từ ngữ thông thường, chỉ dùng với mộtnghĩa, văn bản khoa học không dùng từ đa nghĩa, không dùng từ theo nghĩa bóng và ítdùng các phép tu từ
b/ Câu văn trong văn bản khoa học là một đơn vị thông tin, mỗi câu tương đương vớimột phán đoán lô-gic Câu văn yêu cầu chính xác, chặt chẽ, lô-gíc, không dùng câu đặcbiệt, không dùng các phép tu từ cú pháp
c/ Các câu, các đoạn trong văn bản phải được liên kết chặt chẽ và mạch lạc, thể hiệnmột lập luận lô-gíc, từ khâu đặt vấn đề, giải quyết vấn đề đến khâu kết luận
3/ Tính khách quan, phi cá thể:
Từ ngữ, câu văn trong văn bản khoa học có màu sắc trung hoà, ít biểu lộ sắc thái cảmxúc khác với PCNN sinh hoạt và PCNN nghệ thuật mang dấu ấn cá thể của người sử dụng Ghi nhớ: sgk trang 76
+ Cảm nhận được sức thuyết phục to lớn của bài văn với cách diễn đạt vừa trang trọng
cô đúc, vừa giàu hình ảnh và gợi cảm
Nội dung:
I/ Giới thiệu tác giả:
+ Cô-phi An-nan sinh năm 1938, tại Ga-na, một nước cộng hoà thuộc châu Phi Ông
là người châu Phi da đen đầu tiên được bầu làm Tổng thư kí Liên hợp quốc hai nhiệm kì(từ năm 1997 đến năm 2007)
+ Năm 2001, Cô-phi An-nan đã ra Lời kêu gọi hành động gồm 5 điều về đấu tranhchống đại dịch HIV/AIDS và kêu gọi thành lập Quỹ sức khoẻ và AIDS toàn cầu -> năm
Trang 172001, tổ chức Liên hiệp quốc và cá nhân Tổng thư kí Cô-phi An-nan được trao giải thưởngNô-ben Hoà bình
+ Văn bản này là thông điệp của Cô-phi An-nan gửi nhân dân thế giới nhân ngày thếgiới phòng chống AIDS, 1-12-2003
II/ Đọc văn:
+ Thể loại: Văn kiện này là một văn bản nhật dụng, có thể xem đây là bài văn nghịluận về một hiện tượng đời sống của người đứng đầu một tổ chức uy tín nhất của thế giới + Bài văn nghị luận này gồm 3 phần:
1/Mở bài:
Đưa ra vấn đề: Các quốc gia trên thế giới đã nhất trí thông qua Tuyên bố về Cam kếtphòng chống HIV/AIDS, nhưng “ hành động của chúng ta vẫn quá ít so với yêu cầu thựctế”
1/ Thân bài:
a/ Tổng kết tình hình thực tế:
Ưu điểm:
+ Ngân sách dành cho phòng chống HIV tăng đáng kể
+ Các nước đã xây dựng chiến lược quốc gia phòng chống HIV/AIDS
+ Nhiều nhóm từ thiện và cộng đồng luôn đi đầu trong cuộc chiến chống HIV
Nhược điểm:
+ Dịch HIV vẫn hoành hành, gây tỉ lệ tử vong cao và có ít dấu hiệu suy giảm
+ Tuổi thọ người dân bị giảm sút, HIV đang lây lan với tốc độ báo động ở phụ nữ + Bệnh dich đang lan rộng nhanh nhất ở những khu vực trước đây hầu như vẫn còn antoàn, đặc biệt là Đông Âu và toàn bộ châu Á…
+ Không hoàn thành một số mục tiêu đề ra cho năm nay(2003) theo Tuyên bố về Camkết phòng chống HIV/AIDS và không đạt bất cứ mục tiêu nào vào năm 2005
->Phần này viết không dài, nhưng đảm bảo yêu cầu toàn diện và bao quát, cả mặt đãlàm được và mặt chưa tốt, tại những khu vực khác nhau trên thế giới, trong những giớitính, lứa tuổi khác nhau -> Tác giả thể hiện tầm nhìn rộng lớn, xứng đáng với cương vị củamột người đang gánh vác trọng trách Tổng thư kí Liên hợp quốc
->Tác giả đưa vào những số liệu, tình hình cụ thể; cách đưa số liệu gây ấn tượng mạnh,
ví dụ: thay vì nêu tổng số người bị nhiễm HIV trong một năm, ông tìm cách nói có khả
năng gây ấn tượng ngay lập tức đối với mọi người “ Trong năm qua, mỗi phút đồng hồ của
1 ngày trôi đi, có khoảng 10 người bị nhiễm HIV”
->Giọng văn thể hiện cảm xúc hối tiếc chân thành trước tình hình thực tế : nhắc đinhắc lại điệp khúc “ lẽ ra chúng ta phải” tới 3 lần
b/ Các giải pháp hành động:
+ Tác giả dùng những lời lẽ thể hiện niềm lo lắng và sự quan tâm đến hiểm hoạ
HIV/AIDS đối với toàn thế giới “ chúng ta cần phải nỗ lực nhiều hơn” “ chúng ta không thể tuyên bố” “ chúng ta phải đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu…”
+ Trong lời kêu gọi mọi người phải nỗ lực phòng chống HIV/AIDS, tác giả đặc biệtnhấn mạnh đến thái độ kì thị và phân biệt đối xử đối với những người không may bị mắc
bệnh -> cách dùng từ ngữ cô đúc và gợi cảm “ Hãy đừng để một ai có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các bức rào ngăn cách giữa
“chúng ta” và “họ”… Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết”.
+ Những câu cuối thể hiện tình cảm nồng nhiệt kêu gọi mọi người có thái độ cụ thể
trước đại dịch của nhân loại “ Tôi kêu gọi các bạn hãy cùng tôi lên tiếng thật to và dõng dạc về HIV/AIDS Hãy cùng tôi đánh đổ các thành luỹ của sự im lặng, kì thị và phân biệt
Trang 18đối xử… Hãy sát cánh cùng tôi, bởi lẽ cuộc chiến chống lại HIV bắt đầu từ chính các bạn…”
Ghi nhớ: sgk trang 83.
Kiến thức cơ bản cần nắm:
+ Phòng chống HIV/AIDS là mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại Tác giả thiết tha kêu gọi các quốc gia và toàn thể nhân dân thế giới hãy coi đó là công việc của chính mình, tránh thái độ kì thị, phân biệt đối xử.
+ Bài văn có sức thuyết phục mạnh mẽ vì thể hiện được cảm xúc chân thành của tác giả
Soạn bài: Nghị luận về 1 bài thơ, đoạn thơ.
Tiết 17,18: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT BÀI THƠ, ĐOẠN THƠ.
+ Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh nào?
+ Phân tích hết giá trị tư tưởng và nghệ thuật của bài thơ
-> Giá trị tư tưởng: Lòng yêu nước, yêu thiên nhiên
-> Giá trị nghệ thuật: Hình ảnh so sánh( câu 1), đối lập( câu 3), thể thơ Đườngluật thất ngôn tứ tuyệt vừa cổ điển vừa hiện đại
b/ Lập dàn ý:
Mở bài:
+ Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thựcdân Pháp ở chiến khu Việt Bắc Chủ tịch Hồ Chí Minh đang trực tiếp lãnh đạo cuộc khángchiến chống Pháp đầy gian khổ nhưng vô cùng oanh liệt của nhân dân ta
+ Giá trị của bài thơ: Lòng yêu thiên nhiên, đất nước được thể hiện qua bài thơ ngắngọn, vừa cổ điển vừa hiện đại
Thân bài:
+ Cảnh đêm trăng ở núi rừng Việt Bắc đẹp sống động:
= Tiếng suối trong trẻo, rì rầm từ xa vọng lại như tiếng hát-> Hình ảnh so sánh
của một tâm hồn nghệ sĩ rất gần với ý thơ Nguyễn Trãi “ Côn Sơn có suối rì rầm – Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai”
= Ánh trăng lồng lộng chiếu rọi khắp khu rừng khiến cho cảnh vật thêm lung linh
huyền ảo “ Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa”-> cảnh được vẽ bằng âm thanh, hình ảnh.
+ Hình ảnh nhân vật trữ tình:
= Hình ảnh con người đối lập với cảnh thiên nhiên đẹp như tranh vẽ “ Cảnh khuya như vẽ, người chưa ngủ” -> Là người chiến sĩ đang ưu tư day dứt “ Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà” Con người không thể hoà mình tìm thú vui trong thiên nhiên mà đang nặng
lòng lo cho vận mệnh đất nước Thơ Bác luôn canh cánh một nỗi lòng thương nước, nhớ
nước “ Một canh hai canh lại ba canh - Trằn trọc băn khoăn giấc chẳng thành”( Không
ngủ được – Trích “ Nhật kí trong tù”)
Trang 19= Trong thơ cổ, nhân vật trữ tình thường là ẩn sĩ hoà mình trong cảnh thiên nhiên,
xa lánh việc đời nhưng trong bài thơ này nổi bật giữa cảnh đẹp thiên nhiên là người chiến
sĩ cách mạng mang nặng nỗi lo nước, lo đời
+ Bài thơ vừa có tính chất cổ điển, vừa hiện đại Chất cổ điển thể hiện qua thể thơĐường luật thất ngôn tứ tuyệt, đề tài viết về thiên nhiên và người ẩn sĩ sỗng giữa thiênnhiên cũng thường thấy trong thơ cổ Nhưng bài thơ cũng rất hiện đại ở hình ảnh nhân vậttrữ tình không phải là người ẩn sĩ tìm thú vui trong thiên nhiên mà nổi bật giữa khungcảnh thiên nhiên đẹp là hình ảnh người chiến sĩ nặng lòng yêu đất nước
Kết luận: + Bài thơ ngắn gọn, giản dị nhưng thể hiện nét đẹp tâm hồn lớn của Hồ
Chí Minh: yêu thiên nhiên, đất nước thiết tha
+ Bài thơ có vẻ đẹp hài hoà giữa tâm hồn nghệ sĩ và chiến sĩ, giữa tínhchất cổ điển và hiện đại
Đề 2: Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:
“ Những đường Việt Bắc của ta… Vui lên Việt Bắc , đèo De, núi Hồng”
a/ Tìm hiểu đề: sgk trang 85
b/ Lập dàn ý:
Mở bài: Giới thiệu bài thơ, đoạn thơ( xuất xứ, nguyên văn đoạn thơ)
Trong kháng chiến chống Pháp, Trung ương Đảng và Bác Hồ chọn mảnh đất Việt Bắclàm căn cứ địa cách mạng Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, tháng 10/1954, Trung ươngĐảng chính phủ rời chiến khu Việt Bắc về Hà Nội Nhân sự kiện đó, nhà thơ Tố Hữu sáng
tác bài “ Việt Bắc” để ôn lại những kỉ niệm kháng chiến đầy tình nghĩa Trong bài thơ có
đoạn ca ngợi khí thế hào hùng của cuộc kháng chiến
“ Những đường Việt Bắc của ta Đêm đêm rầm rập như là đất rung Quân đi điệp điệp trùng trùng Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan Dân công đỏ đuốc từng đoàn Bước chân nát đá muôn tàn lửa bay Nghìn đêm thăm thẳm sương dày Đèn pha bật sáng như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”
Thân bài:
a/ Khí thế dũng mãnh của cuộc kháng chiến ở Việt Bắc:
+ Đoàn quân ra trận khí thế rầm rập như rung chuyển cả đất trời-> dùng từ láy, điệp từ
“ đêm đêm rầm rập” “ điệp điệp, trùng trùng” để diễn tả sức mạnh của đoàn quân.
+ Nhiều lực lượng tham gia kháng chiến: bộ đội, dân công, cơ giới-> dùng hình ảnh
gợi tả màu sắc “ ánh sao đầu súng” “ dân công đỏ đuốc” “ đèn pha bật sáng” Đêm rừng
Việt Bắc đầy sức sống của những đoàn quân ra trận, ánh sao trời như treo trên đầu súng,những bó đuốc rực lửa của đoàn dân công, ánh đèn pha bật sáng gợi so sánh đến ánh sángcủa ngày mai… hình ảnh đẹp lãng mạn
+ Tác giả dùng hình ảnh cường điệu “ bước chân nát đá” để diễn tả sức mạnh đoàn
quân
b/ Khí thế chiến thắng của các chiến trường khác:
Trang 20+ Phép liệt kê các địa danh thắng trận ở khắp ba miền Trung, Nam, Bắc, điệp từ “
vui” góp phần diễn tả những thắng lợi giòn giã của quân dân ta dồn dập báo về
Kết luận:
Chỉ qua đoạn thơ ngắn Tố Hữu đã thể hiện không khí của cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp của nhân dân ta một cách cụ thể và sinh động Đọc đoạn thơ, chúng ta nhưsống lại không khí của một thời đã qua, thời chiến tranh khốc liệt mà hào hùng của dân tộc
để càng tự hào về truyền thống anh dũng bảo vệ Tổ quốc của cha ông
Kiến thức cơ bản cần nắm:
Bài nghị luận về 1 bài thơ, đoạn thơ thường có các nội dung sau:
+ Giới thiệu khái quát về bài thơ, đoạn thơ.
+ Bàn về những giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ, đoạn thơ.
+ Đánh giá chung về bài thơ, đoạn thơ.
Soạn bài: Tây Tiến
Tiết 19,20: TÂY TIẾN
+ Quang Dũng ( 1921 – 1988), tên thật là Bùi Đình Diệm, quê Hà Tây
+ Là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc Hồn thơ Quang Dũngphóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, tài hoa Năm 2001, ông được tặng Giải thưởng nhànước về văn học nghệ thuật
+ Tác phẩm chính: Mây đầu ô( 1986), Thơ văn Quang Dũng( 1988)
2/ Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: ( sgk trang 87)
+ Tây Tiến là một đơn vị quân đội thành lập đầu năm 1947, có nhiệm vụ phối hợp với bộđội Lào đánh tiêu hao lực lượng quân đội Pháp ở vùng biên giới Tây Bắc Chiến sĩ TâyTiến phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên, sống tronghoàn cảnh rất gian khổ, thiếu thốn, nhưng họ rất lạc quan và chiến đấu rất dũng cảm.+ Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác, rời xa đơn vị cũ chưa được bao
lâu, tại làng Phù Lưu Chanh, Quang Dũng viết bài thơ này Bài thơ Tây Tiến được in trong tập Mây đầu ô
II/ Đọc hiểu:
1/ Nỗi nhớ những chặng đường hành quân:
+ Những chặng đường hành quân gắn liền với những địa danh miền Tây Bắc hoang sơ
mà bí hiểm: sông Mã, Sài Khao, Mường Lát, Mường Hịch, Pha Luông…
+ “ Nhớ chơi vơi”: nỗi nhớ miên man vương vấn không dứt, bao trùm lên cả không
gian và thời gian
+ Đoàn quân đi trong sương rừng, mưa núi, với bao gian lao khổ ải “ Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” – nhưng vẫn có vẻ đẹp lãng mạn “ Mường Lát hoa về trong đêm hơi” + 4 câu thơ hay “ Dốc lên… xa khơi”: Tả chặng đường hành quân gian khổ với núi cao, vực sâu, đèo dốc quanh co hiểm trở -> từ ngữ giàu giá trị tạo hình “ khúc khuỷu, thăm
Trang 21thẳm, heo hút” Cụm từ “ súng ngửi trời” dùng rất độc đáo: chất hồn nhiên, tinh nghịch rất
“ lính”, vừa diễn tả độ cao của dốc núi vừa gợi vẻ đẹp oai hùng của người lính
Câu thứ ba như bẻ đôi, phép đối lập tả dốc núi vút cao “ ngàn thước lên cao” >< vực sâu thăm thẳm “ ngàn thước xuống” Qua câu thứ tư có thể hình dung người lính tạm dừng
chân phóng tầm mắt ra xa qua một không gian mịt mùng sương rừng mưa núi, thấp thoáng
những ngôi nhà như đang bồng bềnh trôi giữa biển mưa “ Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
Bốn câu thơ phối hợp với nhau tạo nên một âm hưởng đặc biệt, ba câu đầu có vẻ gânguốc với nhiều thanh trắc, câu thứ tư toàn thanh bằng gợi nét mềm mại, uyển chuyển + Vẻ hoang dại, dữ dội, chứa đầy bí mật của rừng núi Tây Bắc tiếp tục được khám phá
ở chiều thời gian “ Chiều chiều oai linh thác gầm thét - Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
+ Tác giả không hề né tránh hiện thực khốc liệt khi tả hình ảnh những người chiến sĩ
gục ngã trên đường hành quân “ Anh bạn dãi dầu không bước nữa - Gục lên súng mũ bỏ quên đời”-> nói đến cái chết nhẹ như không -> chất hào hoa, lãng mạn của ngòi bút Quang
Dũng
2/ Nỗi nhớ những kỉ niệm về một vùng đất:
+ Đêm liên hoan văn nghệ: Cảnh được vẽ bằng màu sắc, hình ảnh và âm thanh Màu
sắc của những ngọn đuốc sáng “ Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa”, hình ảnh các cô thiếu
nữ dân tộc trong bộ váy áo rực rỡ đẹp như các cô tiên trong xiêm áo của mình “ Kìa em xiêm áo tự bao giờ”, âm thanh tiếng khèn, điệu nhạc làm cho tâm hồn người chiến sĩ như bốc men say với người, với cảnh “ Khèn lên man điệu nàng e ấp - Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”
+ Nhớ cảnh sông nước, con người Tây Bắc: Chiều sương, hồn lau, hoa đong đưa trêndòng nước lũ…-> cảnh mang nét đặc trưng của núi rừng Tây Bắc, để thương để nhớ rấtnhiều trong lòng người đi, hồn người vương vấn nên cảnh trở nên có linh hồn, tâm trạng “
Dáng người trên độc mộc” gợi liên tưởng đến hình ảnh cô gái Thái chèo đò uyển chuyển
hoặc dáng đứng đẹp, hiên ngang của người chiến sĩ Tây Bắc -> Vẻ đẹp thơ mộng, êm đềmcủa núi rừng Tây Bắc
3/ Hình tượng người chiến sĩ Tây Tiến:
+ Chịu đựng khó khăn gian khổ vì thiếu ăn, thiếu mặc, bị bệnh sốt rét làm tóc không
mọc được da xanh như màu lá “ đoàn binh không mọc tóc, quân xanh màu lá” Ngòi bút
lãng mạn của Quang Dũng nêu bật được sức mạnh tinh thần mạnh mẽ của đoàn quân, qua
các từ “ đoàn binh”, “ dữ oai hùm” “ mắt trừng”( khác với bút pháp tả thực của Chính Hữu trong bài “ Đồng chí” “ Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh - Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi” hoặc của Tố Hữu trong bài “ Cá nước” “ Giọt giọt mồ hôi rơi – Trên má anh vàng nghệ”)
+ Bằng bút pháp lãng mạn, Quang Dũng tả người chiến sĩ Tây Tiến mạnh mẽ khác
thường ngay cả trong hiện thực gian khổ khốc liệt nhất: đôi mắt đầy giận dữ, căm thù “ mắt trừng gửi mộng qua biên giới”, nhưng tâm hồn các anh đầy mộng mơ, hào hoa lãng mạn, bề ngoài có vẻ dữ dằn mà trái tim rạo rực, khao khát yêu đương “ Đêm mơ Hà Nội dáng Kiều thơm”.
+ Tinh thần yêu nước, xả thân hi sinh “ Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, chấp nhận sự hi sinh với tinh thần “ quyết tử cho Tổ Quốc quyết sinh”, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng, tinh thần của thế hệ thanh niên thời chống Pháp “ Đoàn vệ quốc quân một lần
ra đi - Nào có sá chi đâu ngày trở về - Ra đi ra đi bảo toàn sông núi - Ra đi ra đi thề chết chớ lui”
Trang 22+ Cái chết của các anh vừa bi thương vừa hùng tráng: thịt da nằm rải rác trên vùng
biên cương xa xôi “ Rải rác biên cương mồ viễn xứ”, chết không có quan tài khâm liệm,
không một manh chiếu bó thân, chôn các anh bằng chính manh áo các anh mặc, được gọi
một cách trang trọng “ Áo bào thay chiếu anh về đất” Thiên nhiên cất lên khúc nhạc hào hùng và dữ dội tiễn đưa hương hồn người liệt sĩ “ Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
+ Bút pháp lãng mạn và tài hoa của QD qua bài thơ.
Soạn bài: Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học.
Tiết 21: Làm văn: NGHỊ LUẬN VỀ MỘT Ý KIẾN BÀN VỀ VĂN HỌC Mục tiêu:
+ Có kĩ năng vận dụng các thao tác phân tích, bình luận, chứng minh, so sánh… đểlàm bài nghị luận văn học
+ Biết cách làm bài văn nghị luận về một ý kiến bàn về văn học
+ Dân tộc Việt Nam trải qua mấy nghìn năm lịch sử, có truyền thống yêu nước, anh
hùng Văn học Việt Nam như tấm gương phản ánh lịch sử hào hùng của dân tộc
+ Nêu ý kiến của Đặng Thai Mai
Thân bài:
1/ Văn học Việt Nam rất phong phú và đa dạng:
Có nhiều giai đoạn phát triển, nhiều khuynh hướng, nhiều thành tựu về nội dung, nghệthuật Về nội dung: có văn học nhân đạo, văn học yêu nước, về nghệ thuật:có nghệ thuậtdân tộc, ảnh hưởng của nghệ thuật văn học Trung Quốc, nghệ thuật văn học phương Tây…
2/ Văn học yêu nước là một chủ lưu, một dòng chảy chính, quán thông kim cổ từ xưa
tới nay Vì: Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của một dân tộc liên tục chiến đấu chốngxâm lược: nghìn năm phương Bắc đô hộ, kháng chiến chống Tống, Nguyên – Mông,Minh, Thanh, giặc Pháp, giặc Mỹ Do đó, văn học phản ánh tinh thần yêu nước, chốngxâm lược của ta thành một dòng chủ lưu
+ Dẫn chứng tiêu biểu: Nam quốc sơn hà, Hịch tướng sĩ, Bình Ngô đại cáo, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, Tuyên ngôn độc lập…
Kết luận:
+ Ý kiến của Đặng Thai Mai hoàn toàn đúng đắn
+ Giá trị hiện nay: Những tác phẩm văn học yêu nước còn sống mãi trong tâm trí cácthế hệ con cháu để chúng ta càng tự hào thêm về truyền thống cha ông và phát huy tinhthần yêu nước đến hôm nay và mai sau
Trang 23Càng nhiều vốn sống, vốn văn hoá và kinh nghiệm thì đọc sách càng hiểu sâu hơn, rộng
hơn “ Tuổi già đọc sách như thưởng trăng trên đài” Về cách đọc: tuổi trẻ thường đọc
nhanh, qua loa, lớn tuổi hơn biết vừa đọc vừa suy nghĩ, thưởng thức cái hay của sách, tuổigià vừa đọc vừa ngẫm nghĩ, xem đọc sách như một thú vui…
+ Như vậy cách đọc và kết quả đọc sách tuỳ thuộc vào tầm lĩnh hội của mỗi người,mỗi lứa tuổi, tuỳ vào vốn sống, vốn văn hoá, kinh nghiệm cuộc đời Ví dụ như ở các độtuổi khác nhau, sự tiếp nhận các giá trị của truyện Kiều cũng khác nhau
+ Muốn có kết quả tốt trong việc đọc sách, cần trang bị sự hiểu biết về nhiềumặt( kiến thức về văn học, xã hội , lịch sử, về các môn khoa học tự nhiên, triết học…).Đọc sách cần suy ngẫm, không vội vàng, cẩu thả
Kết luận: Nêu bài học chung về đọc sách, đặc biệt là với các tác phẩm văn học( ham
mê đọc sách, suy ngẫm, học tập kiến thức qua sách vở, qua đọc sách để cảm nhận cái haycái đẹp của văn chương và cuộc sống…)
những trào lưu văn học tiến bộ, Thạch Lam từng có quan niệm “ Văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”.
+ Giải thích: Văn chương là một thứ khí giới thanh cao… : quan niệm này không mới
vì trước đây hoặc cùng thời với Thạch Lam đã có nhiều nhà văn quan niệm dùng văn họclàm vũ khí đấu tranh vì hạnh phúc con người như Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh, cácnhà thơ cách mạng…
+ Là một thứ khí giới thanh cao vì văn chương tác động đến người đọc bằng con
đường riêng, bằng cảm xúc, tư tưởng, tình cảm Người xưa nói “ Văn chương có sức mạnh như 10 vạn quân” Tác phẩm văn học có thể “ Tố cáo và thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác”, đó là những tác phẩm như Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng, Kép Tư Bền của Nguyễn Công Hoan, Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh, tác phẩm của các nhà thơ
cách mạng…
+ Văn học cũng “ làm cho lòng người trong sạch và phong phú hơn” vì nó ca ngợi
cái hay, cái đẹp của cuộc sống, tình người, hướng con người tới chân, thiện, mĩ… Nóhướng con người đến tư tưởng đúng, tình cảm đẹp và hành động tích cực vì cuộc sống Nógiáo dục tình yêu thương với con người, cuộc đời, niềm lạc quan hướng đến ngày mai tươisáng…
Trang 24Kiến thức cơ bản cần nắm:
Cách làm bài văn nghị luận về 1 ý kiến bàn về văn học: ý kiến đó của ai, phát biểu trong hoàn cảnh nào, từ đó giải thích, nêu ý nghĩa và tác dụng của ý kiến đó với văn học và đời sống
Soạn bài: Tác gia Tố Hữu
+ Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu: chất trữ tình chính trị và tính dân tộc đậm đà
Nội dung:
I/ Vài nét về tiểu sử:
+ Tố Hữu( 1920 2002), tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành, quê ở tỉnh Thừa Thiên Huế, xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, được bố mẹ truyền cho tình yêu tha thiếtvới văn học dân gian
-+ Tố Hữu sớm tham gia cách mạng, năm 1938 được kết nạp vào Đảng cộng sản, năm
1939 bị thực dân Pháp bắt giam, năm 1942, ông vượt ngục tiếp tục hoạt động cách mạngđến năm 1986 nghỉ hưu Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn họcnghệ thuật
II/ Đường cách mạng, đường thơ:
1/ Vị trí của nhà thơ Tố Hữu trong nền văn nghệ dân tộc: Tố Hữu là lá cờ đầu của nền thơcách mạng Việt Nam Các chặng đường thơ của Tố Hữu gắn bó và phản ánh chân thậtnhững chặng đường cách mạng của dân tộc
2/Tên các tập thơ, thời gian sáng tác và nội dung chính của từng tập thơ của Tố Hữu:a/ Từ ấy ( 1937 - 1946):
+ Tập thơ gồm 3 phần: Máu lửa, Xiềng xích, Giải phóng
+ Thể hiện niềm say mê lí tưởng cách mạng, khao khát đấu tranh vì nền độc lập dân tộcb/ Việt Bắc( 1946 - 1954):
+ Là tiếng ca hùng tráng, thiết tha về cuộc kháng chiến chống Pháp và những con ngườikháng chiến
+ Ca ngợi những tình cảm lớn: tình yêu thiên nhiên, đất nước, tình quân dân, tình hậuphương, tiền tuyến, miền xuôi với miền ngược, cán bộ với quần chúng, nhân dân với lãnhtụ…
c/ Gió lộng( 1955 - 1961):
+ Ca ngợi cuộc sống mới trên miền Bắc như một ngày hội lớn tràn đầy niềm vui
+ Tình cảm thiết tha sâu nặng với miền Nam ruột thịt
d/ Ra trận( 1962 - 1971), Máu và hoa( 1972 - 1977):
+ Khí thế cả dân tộc ra trận đánh Mĩ
+ Tổng kết chặng đường cách mạng đầy gian khổ hi sinh và niềm vui chiến thắng
2 tập thơ " Một tiếng đờn"( 1992), Ta với ta( 1999) viết ở giai đoạn sau 1975
III/Phong cách thơ Tố Hữu:
1/ Về nội dung, thơ Tố Hữu mang tính chất trữ tình chính trị sâu sắc:
Trang 25+ Chất trữ tình chính trị là gì? Nội dung chính trị được nói đến bằng giọng điệu trữ tình,giọng tâm tình ngọt ngào tha thiết của tình yêu, tình bạn, tình mẹ con…, làm cho nhữngvấn đề rất khó diễn tả trở nên hết sức gợi cảm.
+ Chất trữ tình chính trị trong thơ Tố Hữu thể hiện ở những khía cạnh nào?
= Thơ Tố Hữu luôn hướng tới cái ta chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớncủa con người cách mạng, của cả dân tộc Thơ Tố Hữu không đi sâu vào cuộc sống vànhững tình cảm riêng tư
= Thơ Tố Hữu mang đậm tính sử thi, luôn đề cập đến những vấn đề có ý nghĩa lịch sử
và có tính chất toàn dân
= Giọng thơ mang tính chất tâm tình rất tự nhiên, đằm thắm, chân thành
2/ Về nghệ thuật, thơ Tố Hữu mang tính dân tộc đậm đà:
+ Về thể thơ: dùng nhiều thể thơ truyền thống dân tộc: lục bát, thất ngôn
+ Về ngôn ngữ: thường sử dụng những từ ngữ và cách nói quen thuộc với dân tộc, pháthuy cao độ tính nhạc phong phú của tiếng Việt, nhà thơ sử dụng rất tài tình các từ láy, cácthanh điệu, các vần thơ
Ghi nhớ: sgk trang 100
Luyện tập: Bài tập 1,2 trang 100
Soạn bài: Luật thơ.
Tiết 23: Tiếng Việt: LUẬT THƠ
Mục tiêu:
+ Hiểu luật thơ của một số thể thơ truyền thống: lục bát, song thất lục bát, ngũ ngôn
và thất ngôn Đường luật, thơ hiện đại
+ Biết lĩnh hội và phân tích thơ theo những quy tắc của luật thơ
Nội dung:
I/ Khái quát về luật thơ:
1/ Luật thơ là gì?
Ví dụ: Nước non nặng một lời thề
Nước đi, đi mãi không về cùng non
Nhớ lời nguyện nước thề non
Nước đi chưa lại, non còn đứng không
( Thề non nước - Tản Đà)
+ Xác định số tiếng, vần, ngắt nhịp, hài thanh của đoạn thơ trên?
+ Từ đó rút ra khái niệm luật thơ là gì? Luật thơ là toàn bộ những quy tắc về số câu, sốtiếng, cách hiệp vần, phép hài thanh, ngắt nhịp… trong các thể thơ được khá quát theonhững kiểu mẫu nhất định
+ Các thể thơ Việt Nam có thể phân chia thành những nhóm nào?
a/ Các thể thơ dân tộc
b/ Các thể thơ Đường luật
c/ Các thể thơ hiện đại
2/ Vai trò của “ tiếng” trong thơ Việt nam:
Dựa vào đâu để xác định cách hiệp vần, phép hài thanh, ngắt nhịp của luật thơ?( dựa vào số tiếng, các đặc điểm của tiếng)
+ Cấu tạo của “ tiếng” gồm 3 phần: phụ âm đầu, vần, thanh điệu
a/ Căn cứ vào số tiếng để xác định thể thơ: lục bát, ngũ ngôn, thất ngôn…
Trang 26b/ “Vần” của tiếng là căn cứ để hiệp vần các câu thơ với nhau( vần chính: các tiếng hiệp vần có nguyên âm giống nhau, vần thông: các tiếng hiệp vần có nguyên âm cùng dòng với nhau, vần chân, vần lưng, vần bằng, vần trắc)
c/ “Thanh” của “tiếng” là căn cứ xác định luật B – T và nhịp điệu, nhạc điệu trong thơ
II/ Một số thể thơ truyền thống:
1,2,4,6,8
Nhịp Nhịp chẵn 2/2/2 2 câu thất: nhịp
lẻ ¾Câu 6/8: 2/2/2/2
Tiếng thứ 2-4:
thanh B-T hoặcT-B
Tiếng thứ 2-4-6:T-B-T hoặc B-T-B
Niêm: các câu cótiếng thứ 2 cùngthanh: câu 2 và3,
4 và 5, 6 và 7, 1
và 8
Đối: Các câu cótiếng thứ 2 đốithanh: câu 3 và
4, câu 5 và 6Niêm:(như bên)
III/ Các thể thơ hiện đại: ( sgk)
+ Ví dụ : Xác định luật thơ của đoạn thơ sau:
Mùa thu nay khác rồi
Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi
Gió thổi rừng tre phấp phới
Trời thu thay áo mới
Trong biếc nói cười thiết tha
+ Nhận xét: Các thể thơ hiện đại rất đa dạng và phong phú: 5 tiếng, 7 tiếng, 8 tiếng,hỗn hợp, tự do, thơ – văn xuôi… Chúng vừa tiếp nối luật thơ trong thơ truyền thống, vừa
có sự cách tân
Ghi nhớ: sgk trang 107
Làm văn: Tiết 24: TRẢ BÀI VIẾT SỐ 2
Đề: Anh ( chị) hãy viết bài văn nghị luận bàn về hiện tượng ô nhiễm môi trường ở
nước ta hiện nay
1/ Xác định yêu cầu:
+ Giải thích thế nào là “ ô nhiễm môi trường”: Là hiện tượng môi trường sống của conngười ( mặt đất, bầu không khí, nguồn nước…) bị nhiễm bẩn, ảnh hưởng và ảnh hưởngnghiêm trọng đến sự sống
Trang 27+ Các biểu hiện của hiện tượng ô nhiễm môi trường: ô nhiễm vì rác thải ( rác thải sinhhoạt, rác thải sản xuất từ các nhà máy, xí nghiệp, rác thải y tế…); ô nhiễm nguồn nước dorác thải gây nên, ô nhiễm bầu khí quyển do bụi, xăng xe, khói các nhà máy…
+ Thực trạng hiện tượng ô nhiễm môi trường ở nước ta: Đáng báo động ở khắp nơi( dẫn chứng sự kiện, số liệu…)
+ Nguyên nhân: Do ý thức bảo vệ môi trường kém, do công tác tuyên truyền chưamạnh mẽ, sâu rộng, do chính sách xử phạt còn nhẹ ( so sánh với 1 số nước khác: Sin-ga-po
xử phạt nặng hành vi xả rác, Nhật Bản phân loại rác từ từng nhà dân…)
+ Giải pháp cải thiện môi trường: Tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môitrường, có chính sách xử phạt thích đáng với hành vi làm ô nhiễm môi trường với từng cánhân, cơ quan, tổ chức xã hội…, tăng cường trồng rừng, bảo vệ rừng tạo môi trường xanh,sạch đẹp, xã hội hoá công tác vệ sinh môi trường, vận động nhiều nguồn lực kinh tế củanhân dân để bảo vệ môi trường…
Đọc văn: Tiết 25,26: VIỆT BẮC
+ Bài thơ có 2 phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến, phần saugợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước và ca ngợi công ơn Đảng, Bác
II/ Đọc hiểu:
1/ Kết cấu:
+ Vận dụng lối hát giao duyên đối đáp giữa “ mình” và “ ta” trong ca dao để thể hiện tìnhcảm giữa người cán bộ kháng chiến về xuôi và người Việt Bắc Tình cảm cách mạng đượcbộc lộ qua giọng điệu của tình yêu-> tạo nên chất trữ tình ngọt ngào của bài thơ
+ Bài thơ mở đầu với khung cảnh của cuộc chia tay đầy lưu luyến giữa kẻ ở - người đi:Người ở lại gợi kỉ niệm 15 năm gắn bó-> câu hỏi tu từ( câu 1,4), vận dụng ca dao, tục ngữ(
câu 4) – Tâm trạng đầy bâng khuâng, xúc động “ Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay ”=>
Hình thức là đối đáp nhưng bên trong là độc thoại, là tâm tư, nỗi nhớ của chính nhà thơ,của những người cán bộ kháng chiến
2/ Nỗi nhớ cảnh và người Việt Bắc:
a/ Cảnh Việt Bắc:
+ Thiên nhiên khắc nghiệt “ Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù”
+ Những địa danh lịch sử trong thời kì Mặt trận Việt Minh: mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào.
+ Nỗi nhớ da diết về cảnh vật thơ mộng, trữ tình “ Trăng lên đầu núi nắng chiều lưng nương - Nhớ từng bản khói cùng sương - Sớm khuya bếp lửa người thương đi về - Nhớ từng rừng nứa bờ tre - Ngòi Thia, sông Đáy, suối Lê vơi đầy”, ánh nắng ban chiều, ánh
trăng đêm, những bản làng mờ trong sương, những bếp lửa hồng, những núi rừng sôngsuối thân thuộc, thời gian và không gian đều thấm đượm kỉ niệm
Trang 28+ Thiên nhiên hiện lên trong vẻ đẹp 4 mùa gắn với sinh hoạt của con người bình dị: Mùa
đông : hoa chuối đỏ tươi - người đi làm nương rẫy “ Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.
Mùa xuân: mơ nở trắng rừng - người đan nón Mùa hạ: rừng phách đổ vàng – cô gái háimăng Mùa thu: ánh trăng hoà bình - tiếng hát ân tình thuỷ chung
+ Nhớ sinh hoạt kháng chiến gian khổ mà lạc quan “ Nhớ sao lớp học i tờ - Đồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan - Nhớ sao ngày tháng cơ quan - Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo”
+ Nhớ nhịp sống mang bản sắc riêng của Việt Bắc: tiếng mõ rừng chiều, chày đêm trên suối…
+ Cùng chia sẻ, đồng cam cộng khổ “ Thương nhau chia củ sắn lùi - Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”
+ Những người dân bình dị đã góp phần làm nên sức mạnh cuộc kháng chiến “ Nhớ người
mẹ nắng cháy lưng - Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô”
3/ Khung cảnh Việt Bắc kháng chiến:
+ Thiên nhiên cùng con người đánh giặc -> nhân hoá “ Núi giăng thành lũy sắt dày - Rừng che bộ đội rừng vây quân thù”
+ Khí thế của bộ đội và dân công ra trận, hình ảnh hào hùng, âm thanh sôi nổi, dồn dập,cách mạng và kháng chiến đã xua tan vẻ âm u hiu hắt của núi rừng, khơi dậy sức sống
mạnh mẽ của thiên nhiên và con người Việt Bắc-> từ láy “ rầm rập, điệp điệp, trùng trùng”, hình ảnh: ánh sao, đuốc, tàn lửa, đèn pha bật sáng, phép thậm xưng “ bước chân nát đá”
+ Liệt kê các địa danh kể chiến công, tin vui thắng trận…
+ Đoạn cuối: niềm tự hào về Việt Bắc, là quê hương cách mạng, là căn cứ địa vững chắc,
là đầu não của cuộc kháng chiến, vị trí quan trọng của Đảng, Bác Hồ và của Việt Bắc
4/ Nghệ thuật: đậm tính dân tộc
+ Kết cấu của lối hát đối đáp giữa 2 nhân vật mình – ta của ca dao
+ Phép tiểu đối của ca dao…
+ Ngôn ngữ: lời ăn tiếng nói của nhân dân giản dị, mộc mạc nhưng sinh động, giàu hìnhảnh, giàu nhạc điệu…
+ Dùng phép trùng điệp của ngôn ngữ dân gian: điệp từ “ nhớ… nhớ sao… mình về mình có… ta đi… ta về…
Ghi nhớ: sgk trang 114
Tiết 27: Làm văn: PHÁT BIỂU THEO CHỦ ĐỀ
Mục tiêu:
+ Hiểu được yêu cầu, cách thức phát biểu theo chủ đề
+ Trình bày được ý kiến của mình trước tập thể phù hợp với chủ đề được nói tới
Trang 29Nội dung:
I/ Các bước chuẩn bị phát biểu:
“ Thanh niên, học sinh cần làm gì để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông” Anh (chị)hãy phát biểu ý kiến tham gia vào chủ đề trên
1/ Xác định nội dung cần phát biểu
2/ Dự kiến đề cương phát biểu:
+ Tai nạn giao thông hiện đang là vấn đề nhức nhối của xã hội
+ Góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông đang là nhiệm vụ chung của tất cả mọi người,trong đó có thanh niên học sinh
+ Các biện pháp góp phần giảm tai nạn giao thông
II/ Phát biểu ý kiến:
+ Giới thiệu khái quát nội dung sẽ phát biểu
+ Trình bày nội dung theo đề cương dự kiến
+ Nói lời kết thúc và cảm ơn
+ Trong quá trình phát biểu, cần lưu ý điều chỉnh thái độ, cử chỉ, giọng nói cho hợp lí vàthuyết phục
Ghi nhớ: sgk trang 116
III/ Luyện tập:
Đề 1/ 116:
+ Nêu ý kiến phản bác các quan niệm sai lầm về hạnh phúc
+ Tán đồng và phân tích sâu sắc một ý kiến
+ Phát biểu quan niệm riêng của mình về hạnh phúc
+ Trường ca Mặt đường khát vọng được tác giả hoàn thành ở chiến khu Trị Thiên năm
1971, in lần đầu năm 1974, viết về sự thức tỉnh của tuổi trẻ đô thị vùng tạm chiếm miền
Trang 30Nam về đất nước, về nhiệm vụ đấu tranh chống giặc Mĩ xâm lược Đoạn trích nằm ở phầnđầu chương V của bản trường ca.
II/ Đọc văn:
1/ Cảm nhận về đất nước ở các phương diện lịch sử, địa lí, văn hoá:
+ Đất nước có từ lâu đời, rất thân thuộc, gần gũi như câu chuyện cổ tích của mẹ, miếngtrầu của bà, ngôi nhà ta ở, hạt gạo ta ăn…
+ Đất nước trưởng thành trong chiến đấu “ Khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc”, trong lao động “ Hạt gạo một nắng hai sương”, trong tình nghĩa thuỷ chung của con người
“ Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn”
+ Đất nước được cảm nhận ở chiều sâu văn hoá lịch sử qua các câu chuyện truyền thuyết,
cổ tích, các phong tục tập quán, các câu ca dao, tục ngữ…
+ Đất nước là không gian gần gũi với cuộc sống hàng ngày của mỗi người “ Đất là nơi anh đến trường - Nước là nơi em tắm”, là không gian tuyệt diệu của tình yêu đôi lứa “ Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm”
+ Đất nước định hình trong không gian và thời gian, trong núi sông, rừng bể, trong những
truyền thuyết và huyền thoại, trong sự tiếp nối của các thế hệ từ quá khứ đến tương lai “ Những ai đã khuất - Những ai bây giờ - Yêu nhau và sinh con đẻ cái - Gánh vác phần người đi trước để lại - Dặn dò con cháu chuyện mai sau”
+ Suy nghĩ về trách nhiệm xây dựng đất nước của thế hệ trẻ “ Em ơi em Đất Nước là máu xương của mình - Phải biết gắn bó và san sẻ - Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở - Làm nên đất nước muôn đời”-> lời tâm sự nhiều hơn là kêu gọi, giáo huấn
2/ Quan niệm “ Đất nước của nhân dân”:
+ Những người dân vô danh và bình dị đã làm nên đất nước, đã hoá thân thành tên sông
tên núi “ Những người vợ nhớ chồng còn góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu - Cặp
vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái… - Ôi Đất Nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy - những cuộc đời đã hóa núi sông ta”
+ Đất nước phát triển qua quá trình lao động xây dựng và được bảo vệ qua các cuộc chiến
đấu chống xâm lăng “ Em ơi em - Hãy nhìn rất xa - Vào bốn nghìn năm Đất Nước - Năm tháng nào cũng người người lớp lớp - Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta - Cần cù làm lụng - Khi có giặc người con trai ra trận - Người con gái trở về nuôi cái cùng con - Ngày giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh”
+ Bao con người bình dị đã làm nên đất nước, truyền lại mọi giá trị vật chất và tinh thần
cho các thế hệ tiếp theo “ Họ giữ và truyền cho ta hạt lúa ta trồng - Họ chuyền lửa qua mỗi nhà, từ hòn than qua con cúi - Họ truyền giọng điệu mùnh cho con tập nói - Họ gánh thei tên xã, tên làng trong mỗi chuyến di dân - Họ đắp đập be bờ cho người sau trồng cây hái trái - Có ngoại xâm thì chống ngoại xâm - Có nội thù thì vùng lên đánh bại - Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân dân - Đất Nước của Nhân dân, Đất Nước của ca dao thần thoại”
+ Nét đẹp của tâm hồn, tính cách dân tộc: Say đắm trong tình yêu, coi trọng tình nghĩathuỷ chung; kiên cường bất khuất trong chiến đấu bảo vệ đất nước; cần cù lao động, thôngminh sáng tạo…
Kiến thức cơ bản:
+ Cảm nhận mới mẻ về đất nước: Đất nước của nhân dân, đất nước trong bề dày lịch
sử, địa lí, văn hoá…
+ Nghệ thuật: Sự vận dụng sáng tạo cấc yếu tố của văn hoá và văn học dân gian…
Trang 311/ Đầu -> lá rơi đầy: Cảm xúc hoài niệm về mùa thu Hà Nội năm xưa:
+ Từ buổi sáng mùa thu hiện tại ở chiến khu Việt Bắc, tác giả nhớ về mùa thu Hà Nội
“ năm xưa”: sáng mùa thu trong lành, mát mẻ, gió nhẹ thổi, thoảng đưa mùi hương cốm
mới, mùi hương quen thuộc của mùa thu Hà Nội-> gợi không gian và thời gian, màu sắc
và hương vị mùa thu
+ Cảm nhận cái chớm lạnh của buổi sáng mùa thu, cái xao xác của gió heo may trênnhững đường phố dài -> cảnh đẹp, vắng lặng, phảng phất buồn
+ Hình ảnh của những chàng trai Hà Nội rời thành phố thân yêu đi kháng chiến có vẻ
dứt khoát “ đầu không ngoảnh lại” nhưng tâm hồn đầy lưu luyến “ sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”
2/ Tiếp -> “ vọng nói về”: Mùa thu hiện tại ở chiến khu Việt Bắc:
+ Bức tranh mùa thu được vẽ với những hình ảnh bình dị, khoẻ khoắn và tươi sáng “ núi đồi, rừng tre phấp phới, trời thu thay áo mới"… Không gian rộng lớn bao la, không còn vắng lặng hiu hắt mà rộn ràng những hoạt động “ gió thổi rừng tre phấp phới - trong biếc nói cười thiết tha”
+ Tâm trạng của chủ thể trữ tình cũng có sự biến đổi rất rõ: tràn ngập niềm vui, niềm
tự hào trước khung cảnh mùa thu Việt Bắc với tư thế của người làm chủ đất nước “ Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi”, “ Trời xanh đây là của chúng ta - Núi rừng đây là của chúng
ta - Những cánh đồng thơm mát - Những ngả đường bát ngát - Những dòng sông đỏ nặng phù sa- Nước chúng ta - Nước của những người chưa bao giờ khuất - Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất - Những buổi ngày xưa vọng nói về”-> ý thức về chủ quyền đất nước : điệp
từ “ của chúng ta”, những cụm danh - tính từ thể hiện niềm tự hào về vẻ giàu đẹp của đất nước “ trời xanh, cánh đồng thơm mát, ngả đường bát ngát, dòng sông đỏ nặng phù sa…”, tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc “ Nước chúng ta - Nước của những người chưa bao giờ khuất”.
3/ Đất nước từ trong đau thương, căm hờn vùng lên chiến đấu:
+ Đất nước đau thương “ Ôi những cánh đồng quê chảy máu - Dây thép gai đâm nát trời chiều”: cảnh tượng vừa cụ thể, vừa khái quát, vừa hư vừa thực Đây là cảnh có thực
nhà thơ chứng kiến trong một buổi chiều hành quân qua vùng Bắc Giang: trong ánh chiều
tà đỏ rực như màu máu, những vòng dây thép gai của giặc tua tủa đâm lên như rạch nátbầu trời bình yên -> khái quát về sự đau hương của đất nước trong chiến tranh
+ Đất nước vùng lên quật khởi: Những người chiến sĩ có tình yêu lứa đôi nồng nàn
trong tình yêu đất nước “ Những đêm dài hành quân nung nấu - Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu” Những người nông dân hồn hậu vùng lên “ Từ gốc lúa bờ tre hồn hậu - Đã bật lên những tiếng căm hờn" Những người công nhân vừa sản xuất vừa chiến đấu “ Khói nhà máy cuộn trong sương núi - Kèn gọi quân văng vẳng cánh đồng” -> họ là những
Trang 32người dân áo vải bình dị thành anh hùng giữ nước “ Ôm đất nước những người áo vải
-Đã đứng lên thành những anh hùng”.
+ Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh đất nước đứng lên hào hùng chói lọi từ trong đau
thương khói lửa của chiến tranh: “ Súng nổ rung trời giận dữ - Người lên như nước vỡ bờ
- Nước Việt Nam từ máu lửa - Rũ bùn đứng dậy sáng loà”: khổ thơ 6 chữ, cách ngắt nhịp
dồn dập, đều đặn tạo nên âm hưởng hùng tráng, hình ảnh vừa cụ thể, lấy chất liệu trực tiếp
từ chiến trường Điện Biên Phủ, vừa có sức khái quát cho vẻ đẹp đất nước kiên cường bấtkhuất sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp
Tiết 30: Tiếng Việt: LUẬT THƠ (tiếp)
Cách gieo vần, ngắt nhịp, hài thanh trong đoạn thơ 5 tiếng hiện đại của Xuân Quỳnh:
+ Gieo vần: 2 vần, vần gián cách ( xưa, yêu; em, lên)
+ Ngắt nhịp: nhịp lẻ: 3/2 hoặc 2/3
+ Hài thanh: Tiếng thứ 2 và 4 ở câu 1 và câu 7 không luân phiên B – T mà cùng thanh Bhoặc T, các câu thơ không niêm với nhau như thơ ngũ ngôn truyền thống
Bài 2/ 127:
Cách gieo vần, ngắt nhịp khổ thơ đầu của bài “ Tống biệt hành” ( Thâm Tâm) so với
thơ thất ngôn truyền thống
+ Thơ thất ngôn truyền thống: Vần chân, độc vận ở tiếng cuối các câu 1,2,4; ngắt nhịp 4/3
+ Thơ mới của Thâm Tâm: Gieo vần chân hoặc lưng ở 4 câu( sông, lòng, không, trong);
+ Vần chân, vần gián cách ở câu 2,4
+ Hài thanh các tiếng 2,4,6, đối xứng và luân phiên B - T
=> Các thể thơ hiện đại tự do về số câu, số tiếng, ngắt nhịp, hiệp vần nhưng vẫn chịu ảnhhưởng về âm, luật của các thể thơ truyền thống
Tiết 31: Tiếng Việt: THỰC HÀNH MỘT SỐ PHÉP TU TỪ NGỮ ÂM
Trang 33Nội dung:
I/ Tạo nhịp điệu và âm hưởng cho câu:
Do các yếu tố ngắt nhịp, phối hợp âm thanh của các từ ngữ nhằm diễn đạt có hiệu quảnghệ thuật
Bài 1/129:
+ 2 vế đầu dài, nhịp điệu dàn trải, phù hợp với việc biểu hiện cuộc đấu tranh trường kìcủa dân tộc 2 vế sau ngắn, nhịp điệu dồn dập, mạnh mẽ, phù hợp với sự khẳng định hùnghồn quyền độc lập, tự do của dân tộc
+ 3 vế của câu 1 đều kết thúc bằng các âm tiết mở mang thanh bằng ( nay, nay, do) Câu tiếp kết thúc bằng âm tiết đóng mang thanh trắc ( lập)-> tạo âm hưởng mạnh mẽ, dứt
khoát, phù hợp với lời khẳng định quyền độc lập dân tộc
+ Phối hợp với nhịp điệu và âm thanh, đoạn văn còn dùng phép điệp từ ngữ, điệp cúpháp( 2 vế đầu dài, 2 vế sau ngắn) để tạo âm hưởng nhịp nhàng, cân đối
Bài 2/ 129:
Để tạo nên sắc thái hùng hồn, thiêng liêng của lời kêu gọi cứu nước, đoạn văn có sựphối hợp của nhiều yếu tố sau đây:
+ Điệp từ ngữ
+ Lặp kết cấu ngữ pháp và nhịp điệu Nhịp câu đầu lặp lại : 4 tiếng / 2 /4 /2
+ Đối xứng về từ ngữ, đối xứng về nhịp điệu và kết cấu ngữ pháp: nhịp 3/2, kết cấu C –V
+ Câu văn xuôi nhưng có vần: câu đầu : bà – già, câu 2: súng – súng
+ Sự phối hợp giữa nhịp ngắn ( đầu câu 1, câu 2, câu 3) với những nhịp dài dàn trải ( vếcuối câu 1, câu 4) tạo nên âm hưởng khi khoan thai, khi dồn dập mạnh mẽ, thích hợp vớimột lời kêu gọi cứu nước thiêng liêng
Bài 3/ 130:
+ Đoạn văn dùng phép nhân hoá, dùng nhiều động từ, phối hợp với các yếu tố ngữ âmsau:
+ Sự ngắt nhịp ( dấu phẩy ở 3 câu đầu) khi liệt kê
+ Câu 3 ngắt nhịp liên tiếp như lời kể về từng chiến công của tre, nhịp ngắn trước, nhịpdài sau tạo nên âm hưởng du dương của lời ngợi ca
+ 2 câu cuối ngắt nhịp giữa chủ ngữ và vị ngữ, không dùng từ là, tạo âm hưởng mạnh
mẽ, dứt khoát của việc khẳng định, ngợi ca sức mạnh, ý chí kiên cường của cây tre, hìnhảnh tượng trưng cho cho người Việt Nam
II/ Điệp âm, điệp vần và điệp thanh:
Bài 1/ 130:
a/ Điệp phụ âm trong các tiếng lửa lựu lập loè: gợi hình ảnh hoa lựu đỏ như lửa lúc ẩn,
lúc hiện, rất sinh động trong tán lá, hoa lựu có một sức sống, sự sống tiềm tàng bên trong b/ Điệp phụ âm diễn tả ánh trăng lúc loe ra lúc thu gọn lại trên mặt nước, ánh trăng trênmặt nước cũng có sức sống, sự sống tiềm tàng
Bài 2/ 130:
Trong đoạn thơ vần ang được lặp lại 7 lần, âm ang rộng mở góp phần diễn tả không
gian mùa đông vắng lặng, mênh mang, và một cánh chim én đã cất tiếng gọi mùa xuân về
Trang 34+ Sự phối hợp các thanh bằng và trắc ở 3 câu đầu, trong đó câu 1 chủ yếu là thanh trắc-> gợi không gian hiểm trở, chặng đường hành quân vất vả, khó nhọc Câu 4 toàn thanhbằng gợi tả không gian bao la, rộng lớn, cuộc sống thanh bình hiện ra trước mắt sau chặngđường hành quân gian lao
+ Các từ láy gợi hình: khúc khuỷu, thăm thẳm, heo hút Phép đối lập: ngàn thước lên cao >< ngàn thước xuống, phép nhân hoá: súng ngửi trời
=>Các phép tu từ ngữ âm trong tiếng Việt như nhịp điệu, ngắt nhịp, điệp âm, điệp vần,điệp thanh phối hợp với các phép tu từ khác tạo hiệu quả diễn đạt văn chương
Tiết 32,33: Làm văn: BÀI VIẾT SỐ 3: NGHỊ LUẬN VĂN HỌC
+ Tác phẩm chính: Tiếng ca người Việt Bắc ( 1959), Đèo gió ( 1968), Suối và biển
( 1984) Thơ ông mang xúc cảm chân thành, chất phác, lời thơ mang nét riêng biệt trongcách suy tư và diễn đạt của người miền núi: giản dị, tự nhiên, giàu hình ảnh Năm 2000,ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
+ Dọn về làng ( 1950) là bài thơ viết về quê hương tác giả trong những năm kháng chiến
chống Pháp đau thương mà anh dũng Bài thơ được trao giải Nhì tại Đại hội liên hoanthanh niên và sinh viên thế giới ở Béc-lin, sau đó được dịch đăng trên tạp chí Châu Âu
II/ Tác phẩm:
1/ Cuộc sống gian khổ của nhân dân Cao - Bắc - Lạng và tội ác của giặc Pháp: Từ
“ Mấy tháng năm qua quên tết tháng giêng, quên rằm tháng bảy” đến “ Băm xương thịt mày, tao mới hả!”
+ Cuộc sống gian khổ của nhân dân được miêu tả một cách chân thực qua câu chuyện
hiện lên trong hồi ức “ nhớ một hôm”, qua khung cảnh thiên nhiên đầy gió bão, sấm sét
trong cảnh chạy giặc mà tác giả đã trải qua
+ Nỗi khổ của một gia đình, của “ mẹ, em, bà, cha, con” cũng là nỗi khổ chung của
hàng vạn gia đình, của cả quê hương dưới ách giặc Pháp xâm lược
+ Bài thơ như một bản cáo trạng kể tội thực dân xâm lược: Tội ác giặc được miêu tả
cụ thể, chi tiết qua câu chuyện bi thương xảy ra với gia đình cũng là với cả quê hươngđất nước -> lòng căm hờn của tác giả -> sức chịu đựng và lòng yêu nước của nhân dân
2/ Niềm vui Cao - Bắc - Lạng được giải phóng: qua đoạn đầu và đoạn cuối bài:
+ Niềm vui được thể hiện bằng một cách diễn tả độc đáo theo cách tư duy của người
miền núi: lối nói cụ thể bằng hình ảnh so sánh “ Người đông như kiến, súng đầy như
Trang 35củi”, bằng sự miêu tả chân thực “ Đường cái kêu vang tiếng ô tô – Trong trường ríu rít tiếng cười con trẻ - Mờ mờ khói bếp bay trên mái nhà lá”
+ Kết thúc bài thơ là hình ảnh mặt trời lên, tượng trưng ánh sáng cuộc đời mới đến vớiquê hương, nhưng đất nước còn bóng giặc, cuộc chiến đấu còn tiếp diễn trong lời hứaquyết tâm của người con
+ Hình tượng người mẹ chịu đựng bao đau thương mất mát nhưng cũng đầy nghị lựctrước bao thử thách, đó là người mẹ thân yêu của nhà thơ, cũng là người mẹ quê hươngtrong ý nghĩa khái quát của tác phẩm
Đọc thêm: TIẾNG HÁT CON TÀU
Chế Lan Viên
I/ Vài nét về tác giả và hoàn cảnh sáng tác:
+ Chế Lan Viên ( 1920 - 1989) tên khai sinh là Phan Ngọc Hoan, quê ở tỉnh Quảng Trị + Ông là nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam Thơ Chế Lan Viên có phongcách độc đáo: có vẻ đẹp trí tuệ, luôn có ý thức khai thác triệt để những tương quan đốilập, giàu chất suy tưởng triết lí với thế giới hình ảnh đa dạng, phong phú, đầy sáng tạo.Năm 1996, ông được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
+ Tác phẩm chính: Điêu tàn ( 1937), Ánh sáng và phù sa ( 1960), Hoa ngày thường chim báo bão ( 1967), Những bài thơ đánh giặc ( 1972)…
+ Bài thơ Tiếng hát con tàu rút từ tập Ánh sáng và phù sa Bài thơ được gợi cảm hứng từ
một sự kiện kinh tế - chính trị, xã hội: cuộc vận động đồng bào miền xuôi lên xây dựngkinh tế ở miền núi Tây Bắc vào những năm 1958 - 1960
II/ Nội dung:
1/ Ý nghĩa nhan đề và 4 câu thơ đề từ:
+ Con tàu: biểu tượng cho tâm hồn khao khát lên đường, vượt lên khỏi cuộc sống cánhân nhỏ hẹp để đến với cuộc đời rộng lớn
+ Tây Bắc: ngoài ý nghĩa chỉ một địa danh cụ thể còn có nghĩa biểu tượng cho cuộcsống rộng lớn của nhân dân, đất nước, là cội nguồn của cảm hứng sáng tạo nghệ thuật
+ Tiếng hát con tàu: Tiếng hát của khát vọng lên đường đến với Tây Bắc, cũng là đến
với cuộc sống rộng lớn của nhân dân đất nước, ngọn nguồn của sáng tạo nghệ thuật
2/ Sự trăn trở và lời lời mời gọi lên đường:
+ Sự trăn trở, lựa chọn của người nghệ sĩ giữa cuộc sống rộng lớn của nhân dân, đấtnước và cuộc sống cá nhân nhỏ hẹp -> xác định: cuộc sống rộng lớn là ngọn nguồn củasáng tạo thơ ca, không thể sống và sáng tác trong cái tôi cá nhân nhỏ hẹp của riêng mình
“ Chẳng có thơ đâu giữa lòng đóng khép”
+ Lời mời gọi đến với Tây Bắc tha thiết “ Anh có nghe gió ngàn đang rú gọi - Ngoài cửa ô? Tàu đói những vành trăng” “ Tàu gọi anh đi sao chửa ra đi”
3/ Khát vọng về với nhân dân, với những kỉ niệm kháng chiến đầy tình nghĩa:
+ " Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa - Chiếc nôi ngững bỗng gặp cánh tay đưa": Những
-hình ảnh so sánh diễn tả niềm hạnh phúc lớn lao khi được trở về với nhân dân, về vớinhững gì thân thuộc, gần gũi, với nguồn sống, sự nuôi dưỡng, che chở, cưu mang
+ Nhớ những kỉ niệm về quần chúng kháng chiến: Điệp ngữ và cách xưng hô thân
tình, ruột thịt của nhà thơ với quần chúng kháng chiến: con nhớ anh con, con nhớ em con, con nhớ mế… gợi những kỉ niệm sâu sắc gắn liền với những con người tiêu biểu
cho sự hi sinh, cưu mang đùm bọc của nhân dân trong kháng chiến: người anh du kích
Trang 36( chịu đựng gian khổ thiếu thốn, giàu tình nghĩa đồng chí đồng đội), em liên lạc( tinh thầntrách nhiệm, ý thức hoàn thành nhiệm vụ được giao), bà mẹ chiến sĩ ( hi sinh âm thầmlặng lẽ, tình yêu thương, che chở ) em gái nuôi quân( tình yêu gắn liền với lí tưởng cáchmạng)
+ Nhớ những kỉ niệm về một vùng đất: Từ những hình ảnh thực, cụ thể “ Nhớ bảnsương giăng nhớ đèo mây phủ” đến những hình ảnh khái quát, mới lạ, đầy sáng tạo “
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương…Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở - Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn” -> những câu thơ giàu chất suy tưởng, cô đúc như những câu châm ngôn, triết lí
nhưng vẫn thấm đượm tình cảm gắn bó sâu nặng với quê hương đất nước Phép màu củatình yêu làm cho những miền đất xa lạ thành thân thiết, thành máu thịt, tâm hồn
4/ Khúc hát lên đường:
+ Tiếng gọi của đất nước, nhân dân đã thành sự thôi thúc bên trong, thành lời giục giã
của chính lòng mình “ Đất nước gọi hay lòng ta gọi - Tình em đang mong tình mẹ đang chờ”, thành nỗi khao khát lên đường “ Tàu hãy vỗ giùm ta đôi cánh vội - Mắt ta thèm mái ngói đỏ trăm ga”
+ Đường lên Tây Bắc cũng là về với ngọn nguồn của hồn thơ, của cảm hứng sáng tạo
“ Tây Bắc ơ,i người là mẹ của hồn thơ”
+ Lên Tây Bắc cũng là đến với cuộc sống rộng lớn tràn đầy ý thơ của nhân dân, đất
nước “ Mùa nhân dân giăng lúa chín rì rào… Mặt hồng em trong suối lớn mùa xuân”
5/ Nghệ thuật:
+ Sự sáng tạo hình ảnh: hình ảnh cụ thể của đời sống “ bản sương giăng, đèo mây phủ, chiếc áo nâu suốt một đời vá rách”, hình ảnh giàu sức gợi “ lửa hồng soi tóc bạc”, hình ảnh mang tính biểu tượng giàu ý nghĩa “ con tàu, vầng trăng, suối lớn mùa xuân”
+ Các phép tu từ so sánh, ẩn dụ?
Đọc thêm: ĐÒ LÈN.
Nguyễn Duy
I/ Vài nét về tác giả, bài thơ:
+ Nguyễn Duy tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 quê ở tỉnh Thanh Hóa
Mẹ mất sớm, ông ở với bà ngoại từ nhỏ, bà ngoại là hình ảnh gần gũi, thân thuộc nhấttrong tâm hồn nhà thơ
+ Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, khi đang còn là học sinh phổ thông Năm 1973 ông đạtgiải Nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ với chùm thơ: Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, TreViệt Nam Năm 2007, ông được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật
+ Tác phẩm thơ chính: Cát trắng ( 1973), Ánh trăng ( 1984), Mẹ và em ( 1987)
+ Bài Đò lèn viết năm 1983, trong một dịp nhà thơ trở về quê hương, sống với những hồi
ức đan xen nhiều buồn vui thời thơ ấu
II/ Nội dung:
1/ Những kỉ niệm thời tuổi thơ của tác giả:
+ Tuổi thơ ai cũng có nhiều kỉ niệm Kỉ niệm tuổi thơ của tác giả gắn liền với hoàncảnh mồ côi, sống với bà từ nhỏ Những kỉ niệm chân thực và sống động gợi hình ảnhmột chú bé hiếu động với những trò tinh nghịch của một đứa trẻ vùng nông thôn nghèo:
câu cá, níu váy bà đi chợ, bắt chim sẻ, ăn trộm nhãn… Có những kỉ niệm gắn với không gian văn hoá làng quê: xem lễ, mùi huệ trắng, khói trầm, điệu hát văn…-> tạo dấu ấn
không thể quên trong tâm hồn nhà thơ về làng quê, dân tộc, đặc biệt là về người bà thânyêu của mình
Trang 37+ Nét mới mẻ trong cách nhìn của tác giả về chính mình trong quá khứ: thẳng thắn,thành thật, tôn trọng dĩ vãng, không hề thi vị hoá sự thật -> tạo nên chất thơ từ hiện thựcđời sống
2/ Tình cảm sâu nặng với người bà của mình:
+ Hình ảnh người bà cơ cực, âm thầm chịu đựng vất vả để nuôi đứa cháu mồ côi
khôn lớn hiện lên rất cảm động: bà mò cua xúc tép, đi gánh chè xanh… thập thững những đêm hàn, đi bán trứng…
+ Hình ảnh bà trong tâm thức đứa cháu cũng thiêng liêng như tiên, Phật, thánh thần…
“ Tôi trong suốt giữa hai bờ hư- thực - giữa bà tôi và tiên, Phật, thánh, thần”, những
điều kì diệu của cuộc sống được tác giả tiếp thu bắt đầu từ hình ảnh người bà giàu tình
thương yêu và đức hi sinh cho cháu “ Cái năm đói, củ rong riềng luộc sượng - cứ nghe thơm mùi huệ trắng, hương trầm”
+ " khi tôi biết thương bà thì đã muộn - bà chỉ còn là một nấm cỏ thôi": Câu thơ kết
thúc bài gây ấn tượng mạnh và nỗi xúc động lớn trong lòng người đọc, cho thấy cả bàithơ là nỗi ăn năn, day dứt vì thương bà, đó là tình thương chân thành và sâu sắc nhưng đãmuộn, khi cơ hội đền đáp đã không còn nữa
Tiết 36: Tiếng Việt: THỰC HÀNH MỘT SỐ PHÉP TU TỪ CÚ PHÁP
Mục tiêu:
+ Củng cố và nâng cao nhận thức về một số phép tu từ cú pháp ( phép lặp cú pháp, liệt
kê, chêm xen), đặc điểm và tác dụng của chúng
+ Biết phân tích các phép tu từ cú pháp trong văn bản và biết sử dụng chúng khi cầnthiết
Nội dung:
Bài 1/ 150:
a/ + Câu có hiện tượng lặp cú pháp: 2 câu bắt đầu “ Sự thật là…”, 2 câu bắt đầu từ “ Dân ta”
Kết cấu lặp ở 2 câu trước là: P ( tình thái) – C – V1 ( khẳng định)– V2 ( phủ định)
Kết cấu lặp ở 2 câu sau là: C – V – Tr chỉ mục đích
+ Tác dụng: Tạo cho lời tuyên ngôn âm hưởng đanh thép, hùng hồn, thích hợp choviệc khẳng định nền độc lập của Việt Nam, khẳng định thắng lợi của cách mạng tháng 8 b/ Đoạn thơ dùng phép lặp cú pháp giữa 2 câu thơ đầu và giữa 3 câu thơ sau Tácdụng: Khẳng định mạnh mẽ chủ quyền của chúng ta và bộc lộ cảm xúc sung sướng, tựhào khi giành được quyền làm chủ đất nước
c/ Đoạn thơ vừa lặp từ ngữ, vừa lặp cú pháp 3 cặp lục bát lặp các từ “ nhớ sao” và lặp
kết cấu ngữ pháp của kiểu câu cảm thán Tác dụng: Biểu hiện nỗi nhớ da diết của người
ra đi đối với những cảnh sinh hoạt và cảnh vật thiên nhiên ở Việt Bắc
Trang 38Con nhớ anh con, người anh du kích…
Con nhớ em con, thằng em liên lạc
Con nhớ mế! Lửa hồng soi tóc bạc…
+ Tác dụng của phép lặp cú pháp trên: Nhấn mạnh tình cảm gắn bó thiết tha sâu nặngcủa tác giả với quần chúng kháng chiến như tình cảm ruột thịt
II/ Phép liệt kê:
a/ Phép liệt kê phối hợp với phép lặp cú pháp ( lặp kết cấu giữa 2 vế: hoàn cảnh – thì
- giải pháp) Tác dụng: nhấn mạnh và khẳng định sự đối đãi chu đáo, đầy tình nghĩa của
Trần Quốc Tuấn đối với tướng sĩ trong mọi hoàn cảnh khó khăn
b/ Phép lặp cú pháp ( các câu có kết cấu ngữ pháp giống nhau: C – V) phối hợp vớiphép liệt kê, với cách tách dòng văn liên tiếp, dồn dập để tố cáo tội ác nhiều mặt của thựcdân Pháp đối với dân tộc ta
III/ Phép chêm xen:
Bài 2/153: Viết một đoạn văn từ 3 đến 5 câu về Tố Hữu và bài thơ Việt Bắc, trong đó có
sử dụng phép chêm xen Phân tích tác dụng của phép chêm xen trong trường hợp đó?
Nhà thơ Tố Hữu, lá cờ đầu của nền thơ cách mạng Việt Nam hiện đại, đã viết bài
thơ Việt Bắc vào những ngày rời chiến khu Việt Bắc trở về Thủ đô Hà Nội Bài thơ thấm
đượm cảm xúc lưu luyến và tình cảm sâu nặng của tác giả đối với Việt Bắc, căn cứ địa cách mạng và kháng chiến của dân tộc Bài thơ là một thi phẩm đặc sắc của thơ ca
I/ Giới thiệu tác giả, bài thơ
+ Xuân Quỳnh ( 1942 - 1988) tên khai sinh là Nguyễn Thị Xuân Quỳnh, quê ở tỉnh HàTây, là một trong số những nhà thơ tiêu biểu nhất của thế hệ các nhà thơ trẻ thời chống Mĩ.Thơ Xuân Quỳnh là tiếng lòng của người phụ nữ với khát vọng tình yêu chân thành, đằmthắm, da diết Năm 2001, Xuân Quỳnh được tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệthuật
+ Tác phẩm chính: Hoa dọc chiến hào ( 1968), Gió Lào cát trắng ( 1974), Lời ru trên mặt đất ( 1978), Tự hát ( 1984)…
Trang 39+ Bài thơ Sóng được sáng tác năm 1967 trong chuyến đi thực tế ở vùng biển Diêm Điền ( Thái Bình) Bài thơ in trong tập Hoa dọc chiến hào
đó được tạo nên bởi thể thơ 5 chữ có nhịp điệu khi dịu êm, chậm rãi, khi dồn dập dữ dội
1/ Sóng - biểu tượng của khát vọng tình yêu( 4 khổ đầu)
Nhà thơ tìm thấy sự gần gũi giữa sóng và khát vọng tình yêu vì giữa chúng có nhiều điểmtương đồng:
+ Sóng tồn tại vĩnh cửu từ ngàn đời xưa và muôn đời sau vẫn thế, khát vọng tình yêu củacon người có từ ngàn đời xưa, hôm nay và mai sau vẫn thế Nó mênh mông, vô bờ tồn tạimãi với không gian và thời gian
+ Chúng có những phẩm chất đối lập nhưng thống nhất: dữ dội, ồn ào >< dịu êm, lặng lẽ
+ Sóng cũng như khát vọng tình yêu, luôn trăn trở, thao thức, không chấp nhận những giới
hạn chật chội, tìm đến với những chân trời rộng lớn “ Sông không hiểu nổi mình - Sóng tìm ra tận bể”
+ Khổ 3,4: Không dễ gì tìm ra cội nguồn của sóng, cũng như không lí giải được tình yêubắt nguồn từ đâu Nhà thơ nắm bắt được trạng thái tâm hồn chân thực của mọi đôi lứa yêu
nhau: tình yêu đích thực khó lí giải được nguyên nhân, như Xuân Diệu từng nói “ Làm sao cắt nghĩa được tình yêu”
2/ Sóng - biểu tượng của tình yêu nồng nàn, chung thuỷ:
+ Có sự tương đồng giữa sóng và tình yêu của em Tình yêu đồng nghĩa với nỗi nhớ Nỗinhớ của người phụ nữ đang yêu sâu đậm, cồn cào như sóng biển nhớ bờ vỗ suốt ngày đêm
Nỗi nhớ khắc khoải trong thời gian “ Ôi con sóng nhớ bờ Ngày đêm không ngủ được Lòng em nhớ đến anh - Cả trong mơ còn thức”, trong không gian “ Dẫu xuôi về phương bắc - Dẫu ngược về phương nam”
-+ Mượn biểu tượng sóng, Xuân Quỳnh nói sức mạnh của tình yêu có thể vượt qua nhiều
trở lực để đi tới thuỷ chung son sắt ( Sóng “ Con nào chẳg tới bờ - Dù muôn vời cách trở
- Em “ Nơi nào em cũng nghĩ - Hướng về anh một phương”
+ Khổ cuối: Vì cuộc đời con người hữu hạn, còn sóng vô hồi, vô hạn nên nhà thơ ao ước
được bất tử như sóng để sống mãi trong tình yêu “ Làm sao được tan ra - Thành trăm con sóng nhỏ - Giữa biển lớn tình yêu - Để ngàn năm còn vỗ” -> khao khát của một trái tim yêu thương thật mãnh liệt Tình yêu riêng không ích kỉ mà hoà vào “ biển lớn tình yêu”
với con người, với cuộc đời
-> Mượn biểu tượng sóng, nhà thơ gửi gắm khát vọng tình yêu nồng nàn, mãnh liệt,chung thuỷ mãi mãi với thời gian
Tiết 38,39: Làm văn: LUYỆN TẬP VẬN DỤNG KẾT HỢP CÁC PHƯƠNG THỨC BIỂU ĐẠT TRONG BÀI VĂN NGHỊ LUẬN
Mục tiêu:
+ Thấy được sự cần thiết phải vận dụng kết hợp các phương thức biểu đạt tự sự, miêu
tả, biểu cảm, thuyết minh trong bài văn nghị luận
Trang 40+ Bước đầu nắm được cách vận dụng kết hợp các phương thức đó trong một đoạn,một bài văn nghị luận.
Nội dung:
I/ Luyện tập trên lớp:
Những đoạn văn nghị luận sau vận dụng các phương thức biểu đạt nào? Nhằm mục đích gì?
Ví dụ 1: “ Lẽ ra chúng ta phải… vào năm 2005” ( trích “ Thông điệp nhân ngày thế
giới phòng chống AIDS…”, sgk trang81)
+ Đoạn văn nghị luận trên vận dụng phương thức biểu cảm -> qua cụm từ “ lẽ ra chúng ta phải…” lặp lại 3 lần
Ví dụ 2: “ Hãy đừng để một ai có ảo tưởng rằng … bắt đầu từ chính các bạn” ( trích văn
bản trên)
+ Đoạn văn nghị luận trên vận dụng phương thức biểu cảm -> qua cách dùng từ ngữ, hình
ảnh gợi cảm “ đừng một ai có ảo tưởng rằng… im lặng đồng nghĩa với cái chết… hãy cùng tôi đánh đổ các thành luỹ của sự im lặng… hãy sát cánh cùng tôi”
+ Mục đích: Tăng cường sức thuyết phục đối với bài văn nghị luận về vấn đề AIDS
Ví dụ 3: “ Ở Đông Dương, chúng ta có đủ tất cả… không sớm hồi sinh” ( Nguyễn Ái
Quốc, Gửi thanh niên An Nam) sgk trang 68
+ Đoạn văn nghị luận trên vận dụng phương thức miêu tả, biểu cảm
+ Mục đích: Tăng cường sức thuyết phục về thực trạng lười biếng của thanh niên ViệtNam đầu thế kỉ XX
Ví dụ 4: “ Đầu mối của thơ có lẽ ta nên đi tìm bên trong tâm hồn con người chăng? …
chưa thành hình rõ” ( Trích “ Mấy suy nghĩ về thơ” - Nguyễn Đình Thi) sgk trang 56
+ Đoạn văn nghị luận trên vận dụng phương thức miêu tả
+ Mục đích: Tăng cường sự sinh động khi bàn về đặc trưng cơ bản của thơ
Ví dụ 5 sgk trang 158 “ Bấy lâu, ở Việt Nam… hết sức cần thiết”
+ Vận dụng phương thức thuyết minh: GDP là gì, GNP là gì…
+ Mục đích: Bàn rõ ràng, cụ thể về tổng sản phẩm quốc dân, từ đó khẳng định: với ngườidân, tăng trưởng quốc dân GNP, tổng thu nhập quốc dân mới là chỉ tiêu quan trọng
+ Cái hay của một bài văn nghị luận không phụ thuộc vào việc có dùng hay không, dùngnhiều hay ít các phương thức biểu đạt trên, mà quan trọng là chúng có được dùng đúngchỗ và đúng lúc không, có phát huy được tác dụng trong việc nâng cao hiệu quả nghị luậnhay không
Bài 2/ 161: