1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

QUY HOACH DU LICH HAU GIANG

78 274 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 78
Dung lượng 131,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hậu Giang là tỉnh được chia tách từ tỉnh Cần Thơ (cũ) từ tháng 1 năm 2004 thuộc tiểu vùng đồng bằng sông Cửu Long, có nhiều tiềm năng phát triển du lịch đặc biệt là du lịch sinh thái miệt vườn một loại hình du lịch đang ngày càng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước. Hậu Giang có vị trí vệ tinh và chịu ảnh hưởng từ du lịch Cần Thơ, một trọng điểm phát triển du lịch miền Tây Nam Bộ, đóng vai trò quan trọng đối với du lịch cả nước. Hậu Giang cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 230km về phía Tây Nam, là tuyến du lịch quan trọng của khu vực từ trung tâm du lịch TP.HCM đến Cà Mau, có sông Hậu là một trong những tuyến du lịch sông Mê Kong của quốc gia. Để tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch tỉnh Hậu Giang phát triển, đồng thời khai thác, phát huy hợp lý các tiềm năng sẵn có thì việc quy hoạch tổng thể phát triển du lịch là hết sức cần thiết.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của việc lập quy hoạch

Trong những năm qua được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và sự nỗlực của các cấp lãnh đạo địa phương, du lịch Hậu Giang đã có những bước pháttriển nhanh chóng, đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơcấu kinh tế của vùng đồng bằng sông Cửu Long cũng như sự phát triển du lịchchung của cả nước Tuy nhiên, du lịch Hậu Giang còn nhiều hạn chế, chưa pháttriển tương xứng với tiềm năng Việc phát triển du lịch chưa thu hút mạnh đượccác nguồn lực nhằm tạo ra các sản phẩm du lịch hấp dẫn, có khả năng cạnh tranhcao trên thị trường trong và ngoài nước

Du lịch đang ngày càng trở thành ngành kinh tế quan trọng vì hoạt động

du lịch không những mang lại lợi ích kinh tế to lớn mà còn đem lại hiệu quả xãhội tích cực, có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc xóa đói giảm nghèo

Hậu Giang là tỉnh vừa được chia tách từ tỉnh Cần Thơ (cũ) từ tháng 1 năm

2004 thuộc Tiểu vùng Du lịch đồng bằng sông Cửu Long, có nhiều tiềm năngphát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái miệt vườn - một loại hình du lịchđang ngày càng thu hút khách du lịch trong và ngoài nước

Hậu Giang có vị trí vệ tinh và chịu ảnh hưởng lớn của du lịch Cần Thơ, làmột địa bàn trọng điểm phát triển du lịch miền Tây Nam Bộ, đóng vai trò quantrọng đối với du lịch cả nước

Hậu Giang nằm cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 230km về phía TâyNam, trên tuyến du lịch quan trọng của khu vực từ Trung tâm Du lịch TP HồChí Minh đến Cà Mau (Quốc Lộ 1A), có sông Hậu là một trong những tuyến dulịch sông Mê Kông của quốc gia

Xuất phát từ những nhìn nhận như vậy về tiềm năng phát triển du lịch củaHậu Giang nên Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân Tỉnh đã có chủtrương phát triển du lịch tỉnh thành một ngành kinh tế quan trọng để vừa đónggóp tích cực vào việc phát triển kinh tế xã hội, vừa góp phần gìn giữ cảnh quanmôi trường

Để tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch tỉnh Hậu Giang phát triển sánhbước cùng khu vực và cả nước, đồng thời khai thác hợp lý và phát huy mạnh mẽtương xứng với các tiềm năng sẵn có thì việc xây dựng Quy hoạch tổng thể pháttriển du lịch Hậu Giang là hết sức cần thiết để làm cơ sở lập các kế hoạch pháttriển du lịch dài hạn và ngắn hạn, các quy hoạch chi tiết và dự án đầu tư pháttriển du lịch một cách đồng bộ và có hiệu quả

Trang 2

2 Căn cứ lập quy hoạch

2.1 Căn cứ pháp lý

- Căn cứ Luật Du lịch

- Chỉ thị 32/1998/CT - TTg về công tác quy hoạch tổng thể và văn bản số

7689 BKH/CLPT về việc triển khai thực hiện chỉ thị 32/1998/CT-TTg ngày 06tháng 11 năm 1998

- Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 20/01/2003 của Bộ Chính trị về phươnghướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an ninh, quốcphòng vùng đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2001 - 2010

- Quyết định số 52/1999/NĐ- CP ngày 8 tháng 7 năm 1999 của Chính phủ

về việc ban hành quy chế quản lý đầu tư và xây dựng và Nghị Định số12/2000/NĐ-CP ngày 05 tháng 05 năm 2000 của chính phủ về việc sửa đổi, bổsung một số điều của quy chế quản lý đầu tư và xây dựng

- Quyết định số 519/2002/QĐ-BKH của bộ trưởng Bộ KHĐT ngày 26tháng 08 năm 2002 về việc ban hành tạm thời khung giá, định mức chi phí xâydựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội ngành, lãnh thổ

- Thông tư 05/2003/TT-BKH ngày 22 tháng 07 năm 2003 của Bộ Kếhoạch và Đầu tư Hướng dẫn về nội dung, trình tự lập, thẩm định và quản lý các

dự án quy hoạch phát triển ngành và quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xãhội lãnh thổ

- Chiến lược phát triển Du lịch giai đoạn 2001 - 2010 đã được Thủ tướngChính phủ phê duyệt ngày 22 tháng 7 năm 2002

- Quy hoạch Tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam (1995 - 2010) đã đượcThủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 24 tháng 4 năm 1995

- Báo cáo chính trị của Ban chấp hành lâm thời Đảng bộ Tỉnh tại Đại hộiđại biểu Đảng bộ Tỉnh lần thứ XI

- Công văn số 1624/UB ngày 04/8/2004 của UBND tỉnh Hậu Giang vềchủ trương lập quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh

2.2 Các bản đồ và đồ án cơ sở

- Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam 1995-2010

- Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế Đồng Bằng sông Cửu Long

- Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Vùng du lịch Nam Trung

Bộ và Nam Bộ

- Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Tiểu vùng Mê Kông mở rộng

- Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Trung tâm thành phố HồChí Minh và phụ cận

- Báo cáo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Cần Thơ (dự thảo lần 2)

- Quy hoạch bảo tồn tôn tạo và phát huy tác dụng các di tích lịch sử vănhóa và danh lam thắng cảnh đến năm 2020; Định hướng quy hoạch tổng thể pháttriển đô thị Việt Nam đến năm 2020; các định hướng, quy hoạch phát triển cơ sở

Trang 3

hạ tầng: giao thông, cấp, thoát nước, xử lý chất thải vệ sinh môi trường và một

số quy hoạch ngành khác trên địa bàn Vùng

- Các bản đồ hành chính toàn quốc tỷ lệ 1/1.500.000, bản đồ địa hình HậuGiang tỷ lệ 1/50.000

3 Phạm vi nghiên cứu quy hoạch

- Về không gian: Toàn bộ lãnh thổ tỉnh Hậu Giang (có xét đến các khu vực

xung quanh trong mối liên hệ vùng)

- Về thời gian: Giai đoạn từ nay đến năm 2010 và tiếp theo đến năm 2020.

- Về nội dung: quy hoạch phát triển du lịch (bao gồm các định hướng phát

triển theo các chỉ tiêu ngành, tổ chức không gian lãnh thổ, các giải pháp tổ chứcthực hiện và quản lý quy hoạch)

4 Mục tiêu và những nội dung nghiên cứu chính

4.1 Mục tiêu

4.1.1 Mục tiêu tổng quát

Phát triển du lịch ngang tầm với tiềm năng, thế mạnh theo hướng du lịchnghỉ dưỡng, du lịch văn hoá - lịch sử, du lịch sinh thái; giữ gìn và phát huy bảnsắc văn hoá dân tộc, phát triển du lịch quốc tế và du lịch nội địa; góp phần quantrọng vào phát triển kinh tế - xã hội, xoá đói, giảm nghèo, giữ vững an ninh, quốcphòng, trật tự an toàn xã hội Phấn đấu sau năm 2020, du lịch trở thành ngànhkinh tế mũi nhọn, và Hậu Giang trở thành một địa bàn động lực để đẩy mạnhphát triển du lịch cả nước

4.1.2 Mục tiêu cụ thể

- Xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển ngành du lịch tỉnh Hậu Giang làcăn cứ khoa học để làm cơ sở cho việc đầu tư, phát triển cơ sở vật chất củangành phù hợp với sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch hiện nay

- Làm cơ sở để quản lý, lập các kế hoạch phát triển du lịch ngắn hạn vàdài hạn, xây dựng các quy hoạch chi tiết, các dự án đầu tư phát triển du lịch tỉnhHậu Giang phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ mới

- Sử dụng và khai thác tối ưu các nguồn lực, tài nguyên du lịch sẵn có củađịa phương với sự tham gia của các thành phần kinh tế dưới sự quản lýý của Nhànước

Phát triển ngành du lịch và dịch vụ du lịch tỉnh Hậu Giang sẽ góp phầntích cực vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh nói riêng và của cảnước nói chung Tăng nhanh tỉ trọng GDP du lịch trong cơ cấu kinh tế trước hếtnhằm mục đích:

- Xây dựng Hậu Giang thành một trong những quần thể du lịch quan trọngliên hoàn của đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là cụm du lịch trung tâm HậuGiang và các tỉnh Tây sông Hậu

Trang 4

- Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng nhanh tỷ trọng GDP du lịchtrong cơ cấu kinh tế của tỉnh Nâng cao hiệu quả kinh tế, tạo nguồn thu ngoại tệ

và cải thiện cán cân thanh toán trong tỉnh

- Tạo ra nhiều công ăn việc làm cho người lao động, góp phần nâng caođời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân

- Tạo ra sự phối hợp, liên kết chặt chẽ giữa các cấp, các ngành trong quátrình phát triển kinh tế

- Phát huy truyền thống bản sắc dân tộc, góp phần tôn tạo và giữ gìn các

di tích lịch sử - văn hóa, các lễ hội truyền thống, làng nghề, cảnh quan, môitrường sinh thái v.v

4.2 Những nội dung nghiên cứu chính

- Tổng hợp, cập nhật, đánh giá tiềm năng và định hướng phát triển du lịch Hậu Giang:

+ Phân tích lợi thế và tiềm năng phát triển du lịch của Hậu Giang trongchiến lược phát triển du lịch Việt Nam cũng như của khu vực đồng bằng sôngCửu Long

+ Phân tích, đánh giá những yếu tố thuận lợi và khó khăn trong quá trìnhphát triển du lịch, từ đó nêu được những cơ hội phát triển cũng như những tháchthức và các bài học kinh nghiệm, những vấn đề cần giải quyết nhằm thúc đẩy sựphát triển của du lịch Hậu Giang

+ Dự báo và định hướng phát triển du lịch của Hậu Giang đến năm 2010 vàtầm nhìn đến năm 2020; định hướng không gian phát triển du lịch và một số lĩnhvực chủ yếu về du lịch

- Đề xuất các chính sách, giải pháp phát triển du lịch Hậu Giang, cụ thể trong các lĩnh vực:

+ Tổ chức quản lý phát triển du lịch

+ Đầu tư phát triển du lịch

+ Cơ chế, chính sách về tài chính

+ Tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh du lịch

+ Tổ chức hợp tác quốc tế, ứng dụng khoa học công nghệ

+ Bảo vệ, phát triển tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường du lịch

+ Phát triển nguồn nhân lực ngành du lịch

+ Bảo đảm an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội trong hoạt động du lịch

Trang 5

Chương I ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN

DU LỊCH HẬU GIANG

I VỊ TRÍ VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA DU LỊCH HẬU GIANG

1 Trong Chiến lược phát triển KTXH của cả nước và Vùng đồng bằng

sông Cửu Long

Tỉnh Hậu Giang nằm trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, một khuvực có nhiều tiềm năng phát triển du lịch và có vị trí quan trọng trong chiến lượccông nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước Trong suốt những năm qua, khu vựcnày đã đạt mức tăng trưởng khá so với các khu vực kinh tế trọng điểm khác của

cả nước với sự đóng góp đáng kể của ngành thương mại dịch vụ (trên 12%).Vùng Đồng bằng sông Cửu long có địa thế hết sức thuận lợi để phát triển kinh tế

- xã hội nói chung và kinh tế đối ngoại nói riêng Phía Đông và phía Nam củaVùng giáp biển Đông là cầu nối quan trọng giữa Đông Á và Nam Á cũng nhưvới châu Úc và các quần đảo khác trong Thái Bình Dương Vị trí này lại càngthuận lợi nếu như kênh đào nối vịnh Thái Lan với Ấn Độ Dương được thực hiện

và đây sẽ là vị trí chiến lược trong giao thông và du lịch đường biển

2 Trong Chiến lược và Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam

Chiến lược phát triển Du lịch giai đoạn 2001 - 2010 đã được Thủ tướngChính phủ phê duyệt ngày 22 tháng 7 năm 2002 và Dự thảo Điều chỉnh Quyhoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010 đều xác định

về phân vị lãnh thổ du lịch, Hậu Giang thuộc vùng du lịch Nam Trung Bộ vàNam bộ, Á vùng du lịch Nam Bộ, tiểu vùng du lịch Tây Nam Bộ Vì vậy, cácđịnh hướng phát triển du lịch của Hậu Giang không những phải đáp ứng đượccác mục tiêu phát triển kinh tế xã hội do Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân đề ra màcòn phải phù hợp với định hướng phát triển du lịch của tổ chức không gian pháttriển ngành

Do có vị trí địa lý sát với Cần Thơ - trung tâm của tiểu vùng du lịch TâyNam Bộ nên Hậu Giang có nhiều điều kiện thuận lợi trong giao lưu với các tỉnhcòn lại trong khu vực và với các lãnh thổ du lịch khác để nhanh chóng phát triển

du lịch trong giai đoạn sắp tới Với điểm mạnh về tài nguyên tự nhiên là có sôngHậu nối liền các tỉnh miền Tây với Thành phố Hồ Chí Minh - một trong nhữngtrung tâm du lịch lớn của cả nước và lớn nhất ở phía Nam nên Hậu Giang rấtthuận lợi trong việc tổ chức tour, tuyến du lịch Mặt khác, trong Chiến lược cũngnhư trong Dự thảo điều chỉnh quy hoạch tổng thể của cả nước đều xác định làHậu Giang nằm trong khu vực khuyến khích phát triển các loại hình du lịch gắnvới thiên nhiên, xóa đói và giảm nghèo, đẩy mạnh hợp tác trong phát triển dulịch với khu vực tiểu vùng Mê Kông mở rộng thông qua hành lang du lịch

Trang 6

đường sông qua sông Hậu Chính lợi thế này tạo điều kiện thuận lợi trong hợptác quốc tế, thu hút đầu tư đối với du lịch Hậu Giang.

II ĐÁNH GIÁ ĐIỀU KIỆN VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HẬU GIANG

1 Điều kiện và tài nguyên du lịch tự nhiên

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Tỉnh Hậu Giang được tách ra từ tỉnh Cần Thơ cũ năm 2004, có tọa độ địa

Phụng Hiệp, Vị Thuỷ, Long Mỹ, Châu Thành A, Châu Thành và thị xã TânHiệp Ranh giới hành chính của tỉnh được xác định như sau:

Phía Bắc giáp TP Cần Thơ, tỉnh Vĩnh Long

Phía Đông giáp tỉnh Sóc Trăng

Phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu

Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang

1.1.2 Địa hình, địa mạo, thổ nhưỡng

Về địa hình, đồng bằng châu thổ của tỉnh chiếm 95% diện tích, bằngphẳng có xu thế thấp dần theo hướng ra sông Hậu với một số vùng trũng cục bộ(Phương Ninh) Hậu Giang có dạng địa hình đồng bằng phù sa châu thổ thấp dần

từ Tây Bắc sang Đông Nam, chiều cao trung bình khoảng 1,2m, độ dốc thấp,chịu tác động trực tiếp của các yếu tố sông với quá trình chính là bồi lắng Sựbồi đắp của phù sa làm cho cây cối, vườn cây ăn trái quanh năm tươi tốt, phongcảnh hoang sơ, có nhiều tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái

Trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có ba nhóm đất chính là nhóm đất phù sa,nhóm đất phèn và nhóm đất lập liếp

- Nhóm đất phù sa: chiếm 42% diện tích tự nhiên, bao gồm đất phù saloang lổ, đất phù sa Gley chiếm 86,4% và đất phù sa nhiễm mặn ít chiếm 9,2%

- Nhóm đất phèn: chiếm 41% diện tích tự nhiên, trong đó các loại đất cóđặc tính phèn chiếm 89%, các loại đất có đặc tính phèn mặn chiếm 27%

- Nhóm đất lập liếp chiếm 17% diện tích tự nhiên, bao gồm đất liếp trongkhu thổ canh và đất liếp trồng khóm, mía và cây ăn trái

Nhìn chung đất có thành phần cơ giới nặng, tỷ lệ sét và thịt từ 75-85%,kết cấu khối giữ nước mạnh, rất giàu mùn, thiếu cân đối về lân, thích nghi vớilúa nước, ít thích nghi với cây màu, cây công nghiệp ngắn ngày

1.1.3 Khí hậu

Kết quả quan trắc nhiều năm tại khu vực cho thấy, đặc điểm khí hậu củaHậu Giang mang đặc tính của toàn bộ khu vực đồng bằng sông Cửu Long là khí

Trang 7

hậu nóng ẩm chịu ảnh hưởng của chế độ gió mùa Trong năm, khí hậu chiathành 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô.

* Chế độ nhiệt, giờ nắng

khỏe của con người và như vậy khá thuận lợi cho việc triển khai các hoạt động

du lịch ngoài trời Số giờ nắng trung bình mỗi ngày trong năm là 7,1 giờ Thờigian có số giờ nắng trung bình lớn trong năm kéo dài từ tháng 1 đến tháng 5

* Chế độ gió

Chế độ gió của khu vực khá rõ rệt theo 2 hướng Đông - Đông Nam vàTây - Tây Nam Từ tháng 5 đến tháng 9 hướng gió chủ yếu là Tây Nam - TâyTây Nam, tháng 10 hướng gió chuyển dần sang hướng Bắc, từ tháng 11 đếntháng 3 gió chuyển sang hướng Đông - Đông Nam, tháng 4 gió chuyển hướngsang hướng Nam để tiếp tục chuyển dần sang hướng Tây - Tây Nam Tốc độ giótrung bình 3 - 3,8m/s

Bảng 1 : Mức độ ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết đến sức khoẻ con người

Trang 8

1.1.4 Thuỷ văn

Cũng như hầu hết các tỉnh ở Đồng Bằng Sông Cửu Long, Hậu Giang có

hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, tạo nên những tuyến giao thông thuỷnội tỉnh và nối liền với các tỉnh trong khu vực Địa bàn tỉnh Hậu Giang chịu ảnhhưởng của hai hệ thống dòng chảy:

Hệ thống sông Hậu: chịu ảnh hưởng bởi chế độ bán nhật triều không đều

của biển Đông; lưu lượng và biên độ triều lớn, mật độ sông rạch phân nhánh dày

và chịu tác động tương tác giữa lũ và triều

Hệ thống sông Cái Lớn: chịu ảnh hưởng bởi chế độ nhật triều của biển

Tây; lưu lượng và biên độ triều thấp, mật độ kênh rạch phân nhánh trung bình ,chịu ảnh hưởng xâm nhập mặn và cũng là trục tải lũ từ sông Hậu ra biển Tây

Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có hệ thống các kênh, rạch chuyển nước từsông Hậu về biển Tây và bán đảo Cà Mau theo hướng Đông Bắc và Tây Namvới các kênh chính là; kênh Xà No, Nàng Mau, Cái Côn - Quản Lộ - PhụngHiệp Tỉnh Hậu Giang đã đầu tư các tuyến kênh trục chính (mặt cắt ngang từ 20-

40 m) Hệ thống kênh cấp 2 (mặt cắt ngang từ 10 - 20 m) dài gần 4.500km, đãnạo vét hơn 3.000 km, đạt trên 65%

Hệ thống ngăn mặn: Vùng phía Tây huyện Long Mỹ và một phần xã HoảTiến (thị xã Vị Thanh) hàng năm bị nước mặn xâm nhập vào mùa khô theo cácsông Ngan Dừa và Nước Trong, nhờ hệ thống cống ngăn mặn Mỹ Phước kháhoàn chỉnh và tuyến đê ngăn mặn dài 56 km cặp sông Xẻo Chít, Nước Trong,sông Cái Tư, tình hình nhiễm mặn ở khu vực này được cải thiện rõ rệt, cơ bảngiải quyết được việc chống xâm nhập mặn cho trên 10.000 ha Hệ thống thuỷlợi, thuỷ nông nội đồng được xây đựng khá dày đặc, hiệu quả khá rõ nét trongsản xuất nông nghiệp Diện tích canh tác có thuỷ lợi cơ sở đạt trên 75.000 ha,trong đó diện tích có chủ động tưới tiêu là 66.000 ha, chiếm gần 90% diện tíchcanh tác nói trên

1.1.5 Sinh vật

Trước đây, Hậu Giang có các hệ sinh thái ngập nước khá phong phú;

riêng khu vực Lung Ngọc Hoàng được xem là vùng trũng chứa nước ngọt lớnnhất vùng đồng bằng sông Cửu Long Đây là nơi di trú và tập trung nhiều loạithuỷ sản ngọt vào mùa khô để tái sinh sản vào mùa mưa năm sau Hệ động vậttrên cạn chỉ còn các loài chim như gà nước, le le ; nhóm bò sát như trăn, rắn,rùa rất phong phú tập trung ở vùng rừng ngập nước Hệ thuỷ sinh vật tương đối

đa dạng với 173 loài cá, 14 loài tôm, 198 loài thực vật nổi, 129 loài động vật nổi,

43 loài động vật đáy; trong đó đáng lưu ý nhất là loài cá đặc sản Thác Lác đã bắtđầu hình thành thương hiệu của địa phương Ngoài ra với tính chất nhiễm lợ nhẹ

và lưu lượng nguồn nước mùa khô khá ổn định của sông Cái Lớn, khu vực Long

Mỹ có thể hình thành vùng nuôi giống tôm càng xanh quan trọng cho khu vực

Trang 9

Trên địa bàn tỉnh Hậu Giang có Khu bảo tồn sinh thái Lung Ngọc Hoàng

và khu bảo tồn nghiên cứu khoa học Hoà An-VH10 (Phụng Hiệp) đang từngbước khôi phục và bảo tồn hệ động thực vật tự nhiên rừng ngập nước và trũngnước ngọt

Nhìn chung với tài nguyên đất đai khá đa dạng, chế độ thuỷ văn dễ điềutiết, địa hình bằng phẳng rất thuận lợi cho phát triển các vườn cây trái, các loạirau quả bốn mùa và các loại đặc sản của vùng đồng bằng sông Cửu Long Nhiềuvùng sinh thái đặc trưng ở đây có điều kiện thuận lợi để xây dựng các khu bảotồn kết hợp với nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái

1.2 Tài nguyên du lịch tự nhiên

Tại Hậu Giang có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên mang đậm tính chấtđặc trưng của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đó là kênh rạch và các miệtvườn cây trái Tuy nhiên, để thể hiện tập trung và khai thác có hiệu quả, ta có thểxét đến các khu vực tài nguyên tiêu biểu như sau :

1.2.1 Khu vui chơi sinh thái Tây Đô

Khu vui chơi sinh thái Tây Đô thuộc địa bàn xã Tân Bình huyện PhụngHiệp, quy mô diện tích 20 ha, đang có kế hoạch mở rộng lên 50ha Khu du lịchđược xây dựng với nhiều nhóm như; đảo Khỉ, Nai, Voi và nhiều loài chim quýhiếm cùng với hệ sinh thái cây ăn trái nhiệt đới được tuyển chọn

1.2.2 Khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng

Lung Ngọc Hoàng là tên gọi của một vùng trũng ngập nước nổi tiếngthuộc xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp Thảm thực vật tại Lung Ngọc Hoàngmang nét đặc thù hoang dã bởi các loài thực vật ngập nước theo mùa với cácloài động vật nước phong phú như; rắn, rùa, cua đinh, các loại chim nước và cánước ngọt nổi tiếng Thủ tướng Chính phủ đã có quyết định thành lập khu bảotồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng với diện tích hơn 2.800 ha Bao quanh khubảo tồn là vùng đệm rộng gần 900 ha chuyển tiếp giữa khu bảo tồn với vùngkinh tế Những nét độc đáo sinh hoạt, sản xuất sẽ được tôn tạo nhằm phục vụ dulịch như nghề thủ công mỹ nghệ từ gỗ, tre, lá ở địa phương; nghề gác kèo onglấy mật và sáp; ca nhạc tài tử Nam bộ; phục chế các loại hầm ngầm, chiến hàocủa khu căn cứ cách mạng qua các thời kỳ quật khởi của vùng Đồng bằng sôngCửu Long

1.2.3 Khu du lịch sinh thái rừng Tràm huyện Vị Thuỷ

Khu du lịch sinh thái rừng Tràm huyện Vị Thuỷ nằm trên địa bàn huyện

Vị Thuỷ, có diện tích khoảng 140 ha, đến đây du khách có dịp được thư giãn,nghỉ ngơi, thưởng thức những món ăn đặc sản của địa phương

Trang 10

2 Điều kiện kinh tế- xã hội và tài nguyên du lịch nhân văn

2.1 Điều kiện kinh tế xã hội

Tỉnh Hậu Giang vừa được tách ra từ tỉnh Cần Thơ cũ vào năm 2004 và từthời điểm đó đến nay, Hậu Giang đã nỗ lực phấn đấu vươn lên giành được nhiềuthành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội và an ninh quốcphòng

- Tăng trưởng kinh tế đạt bình quân khá cao 10,11%/năm, hơn 1,36 lần bìnhquân cả nước, đã tạo giá trị GDP năm 2005 tăng gấp 1,62 lần năm 2000, đặc biệt

2 năm 2004 - 2005 có mức tăng bình quân 10,95% (mức tăng bình quân thời kỳ2001-2003 là 9,55%) Trong đó các ngành thuộc khu vực II (Công nghiệp - Xâydựng) tăng nhanh nhất, bình quân 16,15%/năm; tiếp đến là khu vực III (dịch vụ)tăng bình quân 13,43%/năm; Khu vực I (Nông nghiệp - Thuỷ sản - Lâm sản)tăng bình quân 5,48%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tăng dần tỷtrọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tương đối tỷ trọng nông nghiệp trong cơ cấuGDP Khu vực I giảm từ 51,31% (2000) xuống 43,88% (2005), giảm 7,43%.Khu vực II tăng từ 26,16% (2000), lên 28,73% (2005), tăng 2,57% Khu vực IIItăng 22,53% (2000) lên 27,39% (năm 2005), tăng 4,86% Thu nhập bình quânđầu người 3,5 triệu đồng năm 2000, tương đương 247 USD lên 6,7 triệu đồngnăm 2005, tương đương 421 USD, tăng 1,7 lần, bằng 70% bình quân cả nước

- Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới: giá trị sảnxuất tăng bình quân 9,42%/năm (riêng hai năm 2004 - 2005 tăng bình quân14,31%/năm), trong đó sản xuất nông nghiệp tăng 8,55%/năm (riêng trong hainăm 2004-2005 tăng bình quân 12,69%/năm); thuỷ sản tăng bình quân22,6%/năm (trong hai năm 2004-2005) tăng bình quân khá nhanh 36,05%/năm)

- Trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp:

+ Giá trị công nghệp (chuyển đổi 94) trên địa bàn tỉnh Hậu Giang, thựchiện năm 2001 đạt 1.449.297 triệu đồng đến năm 2005 đạt 2.440.000 triệu đồng,nhịp độ tăng bình quân giai đoạn 2001 - 2005 là 13,9%

+ Giá trị sản xuất công nghiệp (giá hiện hành) thực hiện năm 2001 được1.819.637 triệu đồng, đến năm 2005 thực hiện được 3.701.992 triệu đồng, nhịp

độ tăng bình quân 2001 - 2005 là 19,4%

+ Giá trị sản xuất công nghiệp (giá chuyển đổi 94) thực hiện năm 2005được 2.44 tỷ đồng, đạt 93,5% kế hoạch năm và bằng 100,78% so với cùng kỳnăm trước

Giá trị sản xuất công nghiệp (giá hiện hành) thực hiện năm 2005 được3.701 tỷ đồng, tăng 5,08% so với cùng kỳ năm trước

- Các loại hình dịch vụ: hàng hoá dịch vụ đa dạng, đáp ứng được một phầnyêu cầu sản xuất và đời sống nhân dân Thương nghiệp có mức tăng trưởng khácao, nhờ khuyến khích phát triển thương nghiệp nhiều thành phần; kinh tế hộ cá

Trang 11

thể phát triển, tỷ trọng chiếm 98,5% tổng mức bán hàng và doanh thu dịch vụ,tăng bình quân 15%/năm

- Kinh tế đối ngoại, giá trị xuất khẩu hàng hoá tăng từ 83,5 triệu USD năm

2000 lên 154 triệu USD năm 2005, tăng bình quân 7,3%/năm Cơ cấu hàng xuấtkhẩu chủ yếu là thuỷ sản chế biến (99,4%), còn lại là hàng hoá khác

- Lĩnh vực tài chính - tiền tệ, tổng thu ngân sách Nhà nước bình quân hàngnăm thời kỳ 2001-2005 phần địa phương thu trong kế hoạch Trung ương giaotăng 21,8%, riêng trong hai năm 2004-2005 có mức tăng khá cao gấp 2,4-2,7 lần

so với năm 2000 do điều kiện mới thành lập nên tỉnh nhận được khoản thu trợcấp từ ngân sách Trung ương cho đầu tư cơ sở hạ tầng Tổng chi Ngân sách địaphương trong 5 năm 2001-2005 tăng bình quân 32,6% đặc biệt hai năm 2004-

2005 tăng 47,6% Cơ cấu nguồn chi ngân sách bảo đảm chi thường xuyên, chiđầu tư phát triển chiếm khá cao 58,9% tổng chi

- Huy động vốn đầu tư phát triển trên tổng giá trị sản xuất của tỉnh đạt mứckhá cao Tổng vốn đầu tư huy động trong 5 năm là 7.034 tỷ đồng, tăng bìnhquân 24,45%/năm (riêng hai năm 2004-2005 huy động 51,3% tổng vốn đầu tư ),năm 2005 tỷ lệ huy động vốn đầu tư/GDP khoảng 39,8%, chủ yếu là vốn đầu tưtrong nước, vốn nước ngoài không đáng kể Cơ cấu đầu tư tập trung hơn chonhững mục tiêu quan trọng, trong đó: khu vực III chiếm tỷ trọng lớn nhất 60%,khu vực II chiếm 33%, còn lại khu vực I chiếm 7% (chủ yếu là vốn ngân sách)

2.2 Nguồn nhân lực

2.2.1 Dân số, dân cư

Dân số tỉnh Hậu Giang năm 2005 trên 772.000 người, trong đó nữ chiếm51%, nam chiếm 49%, chủ yếu là dân tộc Kinh và số ít là đồng bào dân tộcKhme, dân tộc Hoa Nhìn chung dân số tỉnh Hậu Giang tăng chậm từ 727.858người năm 1995 lên 748.496 người năm 2000 (tăng bình quân 1.11%/năm), vàlên 789.556 người vào năm 2005 (tăng bình quân 1.07%/năm) Trong đó chia ra;

- Dân số đô thị: có khuynh hướng tăng nhanh khoảng 7,28%/năm tronggiai đoạn 1996-2000 và 7,31% trong giai đoạn 2001-2005, chủ yếu dân từ nôngthôn đổ dồn về đô thị

- Dân số nông thôn: tăng bình quân 0,4% trong giai đoạn 1996-2000, và0,1% trong giai đoạn 2001-2005

2.2.2 Thành phần dân tộc

Về thành phần dân tộc tỉnh Hậu Giang, người Kinh chiếm đa số với tỷ lệ96,4%, người Hoa 1,1%, người Khme 2,4%

2.2.3 Lao động và cơ cấu nguồn nhân lực

Năm 2005, trên toàn tỉnh Hậu Giang có 406,860 lao động tham gia cácngành kinh tế quốc dân

Trang 12

Hiện trên địa bàn tỉnh chưa có trường Đại học, Cao đẳng, trường Trunghọc chuyên nghiệp, do đó còn thiếu nhiều lao động có trình độ chuyên môn kỹthuật và nghiệp vụ, nhất là trong các ngành công nghiệp, giáo dục, y tế, văn hóa-

xã hội Mặt khác tỷ lệ trong độ tuổi còn đi học hiện rất thấp (4,7% lao độngtrong độ tuổi) là điều kiện trở ngại cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóatrong tương lai

2.3 Tài nguyên du lịch nhân văn

Các tài nguyên du lịch nhân văn có giá trị nổi bật của Hậu Giang có thể kểđến như sau :

* Chợ Nổi Ngã Bảy

Đây là chợ nổi lớn nhất của vùng đồng bằng sông Cửu Long và họp tạinơi hội tụ của 7 dòng sông Tại chợ nổi trên sông, hàng hoá rất đa dạng Chợ ởtrên mặt đất có những thứ gì, thì chợ Ngã Bảy cũng đủ những thứ mà du kháchcũng như người dân ở đây cần Tại Chợ, việc mua bán nông sản hàng hóa diễn

ra tấp nập, sầm uất trên ghe xuồng nên gọi là chợ nổi và cách tiếp thị rất mộcmạc độc đáo là treo các hàng hóa muốn bán lên cây sào cắm mũi Qua chợ nổi làđến làng đóng ghe xuồng có lịch sử hình thành từ lâu đời “Xuồng Hậu Giang”năm lá mà người dân miền Tây quen thuộc có xuất xứ từ chính làng nghề này

* Di tích Chiến thắng 75 tiểu đoàn địch và di tích lịch sử văn hóa đền thờ Bác Hồ thuộc huyện Long Mỹ.

Long Mỹ là vùng đất ở giữa vùng đất U Minh và vùng sông nước HậuGiang Cách đây khoảng 200 năm, đây là vùng rừng tràm Đến năm 1920 Long

Mỹ mới bắt đầu được khai thác để ngày nay trở thành vùng quê trù phú, đồnglúa bạt ngàn, cây trái trĩu quả Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống

Mỹ, Long Mỹ là vùng chiến địa giành nhau từng tấc đất giữa ta và địch Từtrung tâm thị trấn Long Mỹ theo đường liên xã qua Thuận Hưng, Xà Phiên sẽđến xã Lương Tâm là đến nơi di tích Đền thờ Bác Hồ Di tích tọa lạc ở ấp III, xãLương Tâm, huyện Long Mỹ Di tích được xây dựng trên vùng đất phía Bắc nơihai con kênh Long Mỹ II và Năm Căn giao nhau; cách thị trấn Long Mỹ 21km

Với nhân dân miền Nam nói chung, nhân dân Hậu Giang, Long Mỹ nóiriêng, hình ảnh của Bác Hồ kính yêu ở trong trái tim, khối óc của mỗi ngườidân Tuy xa thủ đô Hà Nội hàng nghìn cây số nhưng người dân luôn hướng vềBác Hồ và thủ đô kính yêu với niềm tin vững chắc để chiến đấu và chiến thắng

kẻ thù xâm lược Khi nghe tin Bác qua đời ngày 3/9/1969, trong nỗi đau chung

và sự tổn thất lớn lao đối với cả dân tộc Việt Nam, nhất là nhân dân Miền Namchưa kịp rước Bác vào thăm; để đền đáp công ơn trời biển của Bác và đáp ứngnguyện vọng của và đáp ứng nguyện vọng của nhân dân xã Lương Tâm, Đảng

bộ xã đã quyết định lập bàn thờ Bác ngay tại văn phòng Đảng ủy xã Sau ngàyhòa bình lập lại từ nguyện vọng tha thiết của Đảng bộ và nhân dân xã LươngTâm mong muốn xây dựng lại đền thờ Bác Hồ ở vị trí đã dự kiến trong thời kỳkháng chiến chống Mỹ, tại Ngã tư lộ xe, ấp 3, xã Lương Tâm, được Huyện ủy,

Trang 13

UBND huyện Long Mỹ, Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Hậu Giang chấp nhận báocáo lên tỉnh và đến năm 1990 Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh Hậu Giang chophép xây dựng mở rộng khu đền thờ Bác, kết hợp với sinh hoạt văn hoá, thể thaohình thành một trung tâm giáo dục truyền thống và sinh hoạt văn hoá của nhândân trong vùng Qui hoạch tổng thể khu đền thờ mới gần 2 hecta, gồm có 7 hạngmục công trình.

Từ năm 1990 đến năm 2000, bình quân mỗi năm có từ 35.000 đến 40.000lượt người đến viếng tưởng niệm công đức của Người Nhân các ngày lễ hội đều

tổ chức nhiều hình thức hoạt động văn hoá - thể thao vui chơi giải trí cho nhândân địa phương và các xã lân cận tỉnh bạn Đây trở thành một công trình tưởngniệm Bác; đồng thời là trung tâm văn hoá - thể thao của nhân dân trong vùng

Với ýý nghĩa to lớn đó, Bộ Văn hoá - Thông tin ra quyết định số02/QĐ/BT, ngày 07- 01- 2000 công nhận Đền thờ Bác Hồ ở xã Lương Tâm,huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang (Cần Thơ cũ) là di tích lịch sử - văn hoá quốcgia

Long Mỹ còn có khu di tích chiến thắng 75 tiểu đoàn địch tại xã VĩnhViễn được xây dựng trên diện tích khoảng 2 ha, bao gồm nhiều công trình phục

vụ du khách tham quan tìm hiểu về quá khứ oanh liệt của ông cha ta ngày trước.Nơi đồng chí Võ Văn Kiệt, Bí thư Khu uỷ và đồng chí Lê Đức Anh (Sáu Nam)

tư lệnh Quân khu 9 cùng Bộ chỉ huy tiền phương đứng chân lãnh đạo, chỉ đạolực lượng của khu và các tỉnh chiến đấu và chiến thắng 75 tiểu đoàn địch sauHiệp định Paris

Chiến thắng 75 tiểu đoàn địch tại Chương Thiện năm 1973 đã chứng minhchủ trương đúng đắn, táo bạo, kịp thời của Khu uỷ, Bộ tư lệnh Quân khu, Tỉnh

uỷ Hậu Giang và các tỉnh bạn; đặc biệt là sự chịu đựng gian khổ hy sinh, tinhthần chiến đấu kiên cường dũng cảm của quân dân Đồng bằng sông Cửu Long.Chiến thắng này đã góp phần tạo tiền đề quan trọng cho quân dân miền Namxông lên làm cuộc tổng tiến công và nổi dậy ngày 30-4-1975 giải phóng hoàntoàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc Với thành tích chiến thắng vẻ vang 75 tiểuđoàn địch tại Chương Thiện, nên Bộ Văn Hoá - Thông tin ra quyết định số 921-

QĐ/BT ngày 20- 7-1994 công nhận địa điểm “ Chiến thắng 75 tiểu đoàn địch

năm 1973” tại xã Vĩnh Viễn, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang là di tích lịch sử

cấp quốc gia

Bên cạnh khu di tích này hiện nay cũng đang có dự án xây dựng một khudịch vụ ăn uống, giải trí nhằm đáp ứng nhu cầu ăn, nghỉ của du khách khi đếnđây tham quan

* Di tích căn cứ Tỉnh uỷ Cần Thơ

Khu căn cứ Tỉnh uỷ còn gọi là căn cứ Bà Bái, nằm ở địa phận ấp PhươngQuới, xã Phương Bình, huyện Phụng Hiệp Toàn bộ khu di tích được xây dựngtrên khu đất rộng 6 ha, được bao bọc bởi bốn chiến hào: kênh Xáng, Lái Hiếu,kênh Cả Cường, kênh Cũ và kênh Bà Bái Khu di tích bao gồm hội trường vànhiều lán trại, hầm tránh pháo Ở đây đã diễn ra các hội nghị quan trọng của

Trang 14

Tỉnh uỷ Hậu Giang thời kháng chiến, là điểm du lịch “Trở về chiến trường xưa”hấp dẫn.

* Di tích lịch sử văn hoá chiến thắng Cái Sình

Di tích chiến thắng Cái Sình thuộc ấp Mỹ II, xã Hoả Lựu, thị xã VịThanh Từ thị xã Vị Thanh đến Cái Sình khoảng 5 km, đi bằng đường bộ hayđường thủy đều có thể đến di tích tại Vàm rạch giáp với kênh Xáng Xà No đổ rasông Cầu Đúc (Cái Tư) Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, trên chiếntrường Hậu Giang nhân dân đã lập hai chiến công hiển hách diệt nhiều địchnhất, đó là trận đánh xe cơ giới ở 4 trận tại Tầm Vu, lấy khẩu đại bác 105 ly ởtrận Tầm Vu IV và trận đánh tàu tại Vàm Rạch Cái Sình, làm vang dội chiếncông khắp miền Tây và cả nước Chiến thắng Cái Sình đã tiêu diệt sinh lực củađịch phối hợp với mặt trận chính ở chiến dịch Biên giới Việt Bắc năm 1951 –

1952 và cùng với các chiến trường khác trong cả nước đẩy địch vào thế bị động,thất bại, tạo ra thế và lực mới thúc đẩy kháng chiến phát triển mạnh mẽ dẫn đếnchiễn thắng Điện Biên Phủ Từ ý nghĩa và giá trị lịch sử quan trọng của chiếnthắng Cái Sình, sau ngày giải phóng Miền Nam khu di tích Cái Sình đã đượcUBND tỉnh Hậu Giang (cũ) công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp Tỉnh tạiQuyết định số 4048/QĐ.CT.UB ngày 30/12/2001

* Di tích lịch sử văn hoá Tầm Vu

Từ Thị xã Vị Thanh đi về hướng TP.Cần Thơ theo QL 61 khoảng 40km,hay từ QL1 đi khoảng 03km sẽ đến di tích lịch sử - văn hoá chiến thắng Tầm Vuthuộc xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A Sau ngày 23-9-1945 khi quândân Sài Gòn - Gia Định nổ súng chống thực dân Pháp xâm lược, mở đầu chocuộc kháng chiến Nam Bộ, thì ngày 30-10-1945 quân dân Hậu Giang anh dũngkháng chiến chống thực dân Pháp tái chiếm Hậu Giang Di tích lịch sử văn hoáTầm Vu đã tô điểm vào trang sổ vàng truyền thống cách mạng chống quân xâmlược của dân tộc ta càng thêm chói lọi Do đó, Bộ Văn hóa - Thông tin có quyếtđịnh số 154VH/QĐ ngày 25-10-1991 công nhận địa điểm chiến thắng Tầm Vu,

là di tích lịch sử - văn hoá cấp quốc gia Hiện tại khu di tích đang lập quy hoạch

để kêu gọi đầu tư với quy mô diện tích 90 ha Tại đây sẽ được xây dựng theo môhình du lịch sinh thái với nhiều nhóm động vật quy hiếm và hệ sinh thái cây ăntrái nhiệt đới được tuyển chọn cùng với những nét văn hoá, truyền thống độcđáo của địa phương gắn liền với chiến thắng lịch sử Tầm Vu

* Di tích khu trù mật Vị Thanh - Hoả Lựu

Ngày 12/9/1959 Mỹ - Diệm khởi công xây dựng khu trù mật, chúng huy

rộng con đường từ Vị Thanh - Hoả Lựu Theo sơ đồ thiết kế, khu trù mật cóchiều dài khoảng 7 km, chiều ngang lấy Kinh Xà No làm trung tâm, mỗi bên

Hoả Lựu, Khu Giữa, khu Bắc Xà No Mỗi khu chia thành 4 tiểu khu; tiểu khuHành chính, tiểu khu công thương, tiểu khu Xã hội, tiểu khu Gia cư Trong tiểu

Trang 15

khu chúng chia ra nhiều lô, từ lô chia ra nhiều ô, từ ô chia ra nhiều khoảnh nhỏ,mỗi khoảnh dài 90 mét, rộng 45 mét cho mỗi gia đình, ngăn cách nhau bằng mộtcon mương rộng, sâu 1,5 mét Các lô cách nhau bằng một con kênh rộng từ 3đến 4 mét, sâu 2 mét, ngoài ra còn có hàng rào, dây thép gai bao bọc Địch kiểmsoát rất chặt, cứ 5 gia đình tổ chức thành “ngũ gia liên bảo”, chỉ 1 cửa ra vào, điphải thưa, về phải trình với liên gia trưởng, trưởng ấp Ngoài cùng toàn khu trùmật còn bao bọc một con kênh rộng 6 mét, sâu 3 mét Để ghi nhớ những sự kiệnlịch sử gắn liền với những năm tháng đấu tranh của nhân dân Hậu Giang, BộVăn hoá thông tin ra quyết định số 2327/QĐ/VH, ngày 02- 8 - 1997 công nhận

“khu trù mật Vị Thanh - Hỏa Lựu - di tích tội ác Mỹ Diệm tàn sát đồng bào” là

di tích Quốc gia

3 Đánh giá chung về điều kiện và tiềm năng phát triển du lịch

- Hậu Giang được tách ra từ tỉnh Cần Thơ (cũ), có vị trí địa lý giáp vớiThành phố Cần Thơ - trung tâm kinh tế chính trị văn hóa xã hội của toàn bộvùng đồng bằng sông Cửu Long nên có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế - xãhội nói chung và du lịch nói riêng Ngoài ra, Hậu Giang có vị trí gần với thànhphố Hồ Chí Minh, một trong những trọng điểm du lịch lớn nhất của cả nước,mặt khác để đến với Hậu Giang có thể theo nhiều phương thức: đường bộ,đường thủy và các hệ thống giao thông này hiện nay cũng khá phát triển nênviệc phát triển du lịch Hậu Giang có nhiều thuận lợi

- Về tài nguyên du lịch tự nhiên, Hậu Giang có lợi thế trong việc thu hútkhách du lịch là có hệ thống sông ngòi chằng chịt với các vườn cây ăn trái,nhiều sản vật hấp dẫn, không khí trong lành ở vị trí trung tâm của vùng Tâysông Hậu, do đó rất thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và pháthuy tốt vai trò trung chuyển khách đi các tỉnh đối với các tour liên kết Đặc biệttại Hậu Giang có khu bảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, một khu vực đượcxem là tập trung các tài nguyên thiên nhiên đặc sắc có cự ly gần nhất đối vớiCần Thơ - trung tâm của cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long nên có nhiềuđiều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình du lịch gắn với thiên nhiên trongchương trình du lịch tổng hợp như tham quan, giáo dục bảo vệ môi trường, vuichơi giải trí trên sông, nghỉ dân dã

- Về tài nguyên du lịch nhân văn, tại Hậu Giang còn lưu giữ và bảo tồnnhiều di tích lịch sử - cách mạng mang đậm nét đặc trưng cho truyền thống đấutranh cách mạng của nhân dân đồng bằng sông Cửu Long nói chung và HậuGiang nói riêng nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển các loại hình dulịch tham quan, giáo dục truyền thống, đặc biệt là với thế hệ trẻ, học sinh, sinhviên

III HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG

Trang 16

1 Hệ thống hạ tầng kỹ thuật

1.1 Giao thông

Mạng lưới đường bộ: Hiện nay tuyến QL từ Thị Xã Vị Thanh (tỉnh Hậu

Giang) đi TP.Cần Thơ và các tỉnh lân cận như: Kiên Giang, Sóc Trăng, CàMau…đã được nâng cấp và mở rộng Hệ thống các tuyến đường liên huyện vàđường đô thị dài 3.253 km phần lớn đã được rải nhựa, còn một số đang xâydựng mới và có một số cải tạo, nâng cấp và mở rộng thêm Đặc biệt tuyếnđường bộ nối thị xã Vị Thanh đi Kiên Giang đã được thông và cầu Cái Tư đangđược xây dựng dự kiến đến tháng 12 năm 2006 sẽ thông cầu

Với hệ thống giao thông như hiện nay tạo thuận tiện cho tỉnh Hậu Giangnối liền các mạch giao thông giữa các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, tạo ra khảnăng giao lưu và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội tại các tỉnh vùng Nam sôngHậu nói riêng và cả vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung

Mạng lưới đường thuỷ: Tỉnh Hậu Giang là tỉnh có rất nhiều sông, kênh

rạch với tổng chiều dài khoảng 860 km sông, kênh, rạch cấp I đến cấp IV, trong

đó các cấp quản lý bao gồm:

- Trung ương quản lý các tuyến như; sông Hậu, Cái Nhúc, Cái Tư, kênh

Xà No, Cái Côn, kênh Quản lộ - Phụng Hiệp với tổng chiều dài khoảng 100 km

- Tỉnh quản lýý gồm 5 tuyến cấp IV, tổng chiều dài gần 300 km

- Hệ thống kênh, rạch do huyện quản lý 470 km đã hình thành mạng lướiđường thuỷ chằng chịt trải đều trên địa bàn tỉnh đảm bảo cho việc vận chuyểnđường thuỷ thuận lợi

1.2 Cấp điện

Nguồn cung cấp điện từ hệ thống điện lưới quốc gia Miền Nam và đườngdây 500KV Bắc-Nam Lưới 230 KV, đường dây 230 KV Phú Lâm - Trà Nóc -Kiên Giang - Hậu Giang Lưới phân phối điện có cấp điện áp 110 KV/22 KV.Mạng lưới trung thế đã kéo đến trung tâm các xã vùng sâu, vùng xa, nhiều xã đãđược điện khí hoá Tỷ lệ hộ dân sử dụng điện toàn tỉnh trên 90%, khu vực nôngthôn 86% Hệ thống điện lưới được các cấp, ngành trong tỉnh quan tâm đầu tư

mở rộng theo hướng xã hội hoá

1.3 Cấp thoát nước

- Cấp thoát nước thành thị: tại thị xã, các thị trấn, cụm kinh tế - xã hội

số nhà máy nước khác ở các trung tâm đô thị mới thành lập, đang được mở rộng

và xây dựng mới

Trang 17

- Cấp nước tại nông thôn: hệ thống cấp nước tập trung tại các cụm kinh

có hệ thống nhỏ cung cấp nước sạch phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt cho bàcon nông dân Hiện tại toàn tỉnh tỷ lệ hộ dân sử dụng nước sạch chiếm 75%tổng số hộ, trong đó khu vục nông thôn là 64% Tỉnh Hậu Giang đang có chủtrương đầu tư các công trình cấp nước nhằm nâng cao tỷ lệ hộ dân sử dụngnước sạch

1.4 Bưu chính viễn thông

So với các tỉnh trong khu vực, ngành Bưu chính viễn thông của tỉnh HậuGiang đã được đầu tư tương đối hoàn chỉnh đáp ứng được như cầu kinh tế xãhội trên địa bàn tỉnh Hiện tại các huyện, thị trong tỉnh đều được trang bị tổngđài tự động liên lạc thông suốt trong nước và quốc tế Đến năm 2005 trên địabàn tỉnh có 01 bưu cục nằm ở trung tâm thị xã và 6 bưu cục cấp huyện, 48 bưucục khu vực và 14 đại lýý bưu điện phục vụ tại các xã, phường trên địa bàntỉnh, trong đó có 30 bưu cục văn hoá Tổng số máy điện thoại là 34.118 máy,mật độ bình quân 4,32 máy/100 người, số lao động trong ngành là 336 người.Chất lượng và sản lượng ngày càng được nâng cao, các bưu cục được bố trírộng khắp trên địa bàn nên công việc phát triển các dịch vụ như thư báo và việcphục vụ thông tin liên lạc cho nhân dân ngày càng được đảm bảo

Nhìn chung tốc độ tăng trưởng của ngành bưu điện rất nhanh, hàng nămtăng 30% Tuy nhiên ngành vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn do địa bàn rộngmạng lưới bưu cục chưa được bố trí hợp lý, bán kính bình quân phục vụ còncao, mật độ bình quân máy trên dân còn thấp, nên việc phục vụ và khai thác cònnhiều hạn chế

2 Hệ thống dịch vụ xã hội

2.1 Y tế

Hệ thống ýy tế của Hậu Giang tuy được hình thành rộng khắp ở 3 tuyến,riêng tuyến tỉnh mới được nâng cấp lên từ tuyến huyện sau khi Hậu Giang đượctách tỉnh

Toàn tỉnh hiện có 6 bệnh viện đa khoa, 9 phòng khám đa khoa khu vực, 2nhà bảo sanh khu vực và 52/60 trạm y tế phường, xã Năm 2005 thêm 2 trạm y

tế xã Ngoài ra ở các trung tâm huyện thị còn có các phòng mạch tư, hiệu thuốc

và các đại lý thuốc tân dược và y học dân tộc, phòng trồng răng góp phần đáng

kể vào việc chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

Toàn hệ thống y tế trên địa bàn tỉnh có 786 giường, số ngày phục vụ của

01 giường tại trạm y tế chỉ vào khoảng 14 ngày/tháng trong khi tại trung tâm y

tế là 32 ngày/tháng do tình hình trang thiết bị và y bác sỹ còn thiếu Một số bệnhnhân ở xã chuyển lên tuyến thị xã, nhất là sang bệnh viện Hậu Giang, tạo ra tìnhtrạng mất cân đối trong hoạt động ngành y Trong năm 2005 số giường bệnhđược nâng lên 1.343 giường, bình quân 1 giường phục vụ 588 người/năm, số

Trang 18

cán bộ trong ngành là 1.367, trong đó có 217 bác sỹ, 3526 y sỹ và 141 ngànhdược, trong đó có 9 dược sỹ cao cấp Đa số bác sỹ tập trung ở tuyến thị xã, nhiều

xã chưa có bác sỹ Trước đây năm 2003 bình quân 3.559 dân mới có một bác sỹ,đến năm 2005 số bác sỹ được nâng lên 255 người, bình quân 3.509 người cómột bác sỹ con số này vấn còn quá thấp so với các tỉnh lân cận

Nhìn chung ngành y tế của tỉnh Hậu Giang đã phủ gần kín nhưng đa số cơ

sở y tế đều nhỏ bé, không đạt tiêu chuẩn, nhiều nơi quá tải như Phụng Hiệp,Long Mỹ , còn thiếu nhiều chuyên khoa, trang thiết bị cũ kỹ, thiếu thốn, chắp

vá, về nhân sự còn thiếu hoặc chưa đủ tiêu chuẩn, chức năng chủ yếu là khámbệnh bán thuốc và thực hiện các chương trình mục tiêu do Nhà nước đề ra

2.2 Các cơ sở văn hóa thông tin, phát thanh truyền hình, thể thao.

* Văn hoá, thông tin: Mặc dù mới tách tỉnh nhưng hoạt động văn hoá

trên địa bàn tỉnh Hậu Giang khá nhộn nhịp, đáp ứng kịp thời nhu cầu của ngườidân Hiện nay trung tâm văn hoá của tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động và loạihình văn hoá cho nhiều đối tượng khác nhau Toàn tỉnh hiện có 4 đội tuyêntruyền, xe văn hoá, 58 đội thông tin văn hoá xã, các đội đờn ca tài tử ở cáchuyện như: Châu Thành, Châu Thành A, Long Mỹ tổ chức phục vụ cho nhândân vào các dịp lễ tết và các chương trình khác như y tế, dân số

Toàn tỉnh hiện có 01 thư viện tỉnh và 05 thư viện huyện, thị với tổng sốsách là 22.963 quyển; ngoài ra các trường còn có thư viện riêng, chủ yếu làtrưng bày sách giáo khoa phục vụ cho giáo viên, học sinh; mỗi xã cũng có 01 tủsách pháp luật, nhưng cơ sở nhỏ hẹp, chưa đủ tiêu chuẩn môi trường, số bảnsách chưa phong phú về thể loại, chưa đáp ứng yêu cầu của độc giả Bên cạnh

đó tỉnh còn có 27 bưu điện văn hoá xã phường, hàng tháng ngành văn hoá trích

từ kinh phí sự nghiệp để bổ sung cho thư viện mua sách mới và bồi dưỡng cán

bộ quản lý Đây cũng là điều kiện đẩy nhanh trình độ dân trí và kiến thức vềkinh tế kỹ thuật góp phần đưa kiến thức khoa học vào phát triển kinh tế của nhândân Tại trung tâm thị xã Vị Thanh, Tân Hiệp và các thị trấn đều có các cửa hàng

tư nhân kinh doanh văn hoá phẩm nhưng hoạt động còn kém so với các tỉnhvùng đồng bằng sông Cửu Long Công tác in ấn trên địa bàn chủ yếu là nhỏ lẻcủa tư nhân, các cửa hàng cho thuê băng hình đều có ở khắp các huyện thị.Phong trào đời sống văn hoá được nâng lên về chất lượng lẫn số lượng, các hoạtđộng văn hoá nghệ thuật, thông tin, thể dục thể thao, thực hiện quy chế dân chủ

ở các cơ sở do đó làm hạn chế các tệ nạn xã hội ở nông thôn Đến nay toàn tỉnh

đã có 140.647 gia đình văn hoá; số ấp, khu vực văn hoá là 297 ấp, khu vực

* Phát thanh, truyền hình: Đài phát thanh - truyền hình Hậu Giang được

thành lập ngày 23/02/2004, chưa có trụ sở chính đặt tại Thị xã Vị Thanh, mặc dùcòn gặp những khó khăn về mọi mặt nhưng với sự quyết tâm của lãnh đạo vànhân viên đài, đã khắc phục và dần dần đưa ra những chương trình hay, hấp dẫnđáp ứng được nhu cầu giải trí của khán giả xem đài

Trang 19

Nhìn chung hiện nay các huyện thị đều có đài phát thanh và đi đến tận xã,phường và được bố trí một cán bộ có trình độ chuyên môn thông qua đào tạongắn hạn hoạt động thống nhất về nghiệp vụ Các trạm truyền thanh xã, phườngcòn tạm bợ nằm chung trong các nơi làm việc của xã, phường.

* Thể dục thể thao: Các hoạt động từng bước hình thành thu hút đông

đảo đối tượng tham gia, điển hình là các môn bóng đá, bóng chuyền, cờ tướng,dưỡng sinh, võ cổ truyền không khí thể thao rèn luyện thân thể, thi đấu thể dụcthể thao của mọi người dân ngày càng nâng cao, 100% các trường học dạy tốtmôn thể dục thể thao nội khoá

3 Đánh giá chung về hiện trạng phát triển cơ sở hạ tầng

Tỉnh Hậu Giang vừa được tách từ tỉnh Cần Thơ (cũ), do đó việc phát triển

về cơ sở vật chất của ngành du lịch còn dựa vào cơ sở cũ đã được đầu tư từtrước Trước đây thị xã Vị Thanh là đơn vị hành chính thuộc cấp huyện của tỉnhCần Thơ (cũ) do đó cơ sở vật chất du lịch chưa được đầu tư nhiều Sau khi táchtỉnh năm 2004, trên địa bàn tỉnh chỉ có một khách sạn đạt tiêu chuẩn tối thiểu.Cùng với việc phát triển chung của ngành du lịch, du lịch tư nhân bắt đầu xâydựng một số nhà hàng phục vụ khách du lịch trong và ngoài tỉnh Nhìn chung hệthống hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho ngành du lịch của tỉnh Hậu Giang còn yếu,chủ yếu là ăn uống, chất lượng phục vụ chưa cao Trong tương lai về cơ sở vậtchất Hậu Giang cần phải đầu từ nhiều về giao thông đường bộ từ trung tâm đếncác điểm du lịch

Trang 20

Chương II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HẬU GIANG

Hậu Giang là một tỉnh nằm ở trung tâm thuộc tiểu vùng Tây sông Hậuthuộc châu thổ sông Mêkông, có tiềm năng trong phát triển du lịch Du lịch HậuGiang đã xác định cho mình định hướng phát triển riêng: “phát triển du lịchsinh thái và du lịch văn hoá mang nét đặc thù của Hậu Giang, xã hội hoá dịch vụ

du lịch, khuyến khích các tổ chức, cá nhân nâng cấp mở rộng hệ thống nhà hàng,khách sạn để đa dạng hoá hoạt động kinh doanh du lịch Xây dựng Hậu Giangthành một trong những quần thể du lịch quan trọng liên hoàn của đồng bằngsông Cửu Long, đặc biệt là cụm du lịch trung tâm Hậu Giang và các tỉnh Tâysông Hậu” Cùng với định hướng phát triển đề ra, Hậu Giang cũng đã xác lậpcho mình một kế hoạch phát triển cụ thể như: Mở rộng khu vui chơi sinh tháiTây Đô (xã Tân Bình), đầu tư dự án làng du lịch sinh thái vườn Tầm Vu, khubảo tồn thiên nhiên Lung Ngọc Hoàng, làng nghề và chợ Nổi Ngã Bảy (TânHiệp), khu du lịch sinh thái rừng Tràm huyện Vị Thuỷ Phối hợp cùng với SởVHTT-TT nâng cấp cụm du lịch văn hoá gắn với các công trình văn hoá, các ditích lịch sử đã được xếp hạng cấp quốc gia (Di tích căn cứ tỉnh ủy Cần Thơ, ditích Đền Thờ Bác Hồ, di tích chiến thắng 75 tiểu đoàn địch) và các chùa chiền,

lễ hội văn hoá truyền thống của đồng bào dân tộc Khmer Tuy nhiên, để từngbước thực hiện được định hướng và kế hoạch đã đề ra ở trên, Việc xác định khảnăng phát triển du lịch thông qua đánh giá hiện trạng phát triển du lịch trên cơ

sở các chỉ tiêu khách du lịch, thu nhập và GDP từ du lịch, hiện trạng đầu tư pháttriển, cơ sở vật chất kỹ thuật, lao động việc làm là cần thiết và góp phần pháttriển du lịch ổn định, bền vững

Do mới được tách lập, nên công tác thống kê của tỉnh Hậu Giang mớithực hiện trong năm 2004 và những tháng đầu năm 2005, vì vậy, việc phân tích,đánh giá các chỉ tiêu dựa trên các số liệu chung từ khi chưa chia tách tỉnh và trên

cơ sở các báo cáo liên quan do tỉnh cung cấp

1 Khách du lịch

Khách du lịch là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá hiện trạngphát triển của ngành du lịch Số lượng khách ngày một tăng là một biểu hiện rõràng nhất về chất lượng dịch vụ du lịch cũng như sự phong phú, đa dạng của sảnphẩm du lịch Từ đó sẽ làm tăng thu nhập của ngành du lịch, góp phần làm tănggiá trị đóng góp của du lịch đối với GDP toàn tỉnh

Hậu Giang là tỉnh vừa được chia tách từ tỉnh Cần Thơ cũ, nên việc pháttriển ngành du lịch trong năm qua còn phải dựa vào những cơ sở đã được đầu tư

từ trước Cùng với chuyển biến của nền kinh tế nói chung, du lịch Hậu Giangcũng đã có sự chuyển mình, lượng khách du lịch có xu hướng ngày một tănglên Năm 2004, tổng luợng khách du lịch nội địa đến tỉnh là 90.563 lượt khách,trong đó khách tham quan là 84.334 lượt, chiếm 93% tổng lượng khách trongnước Năm 2005, tổng số khách du lịch đến Hậu Giang chỉ đạt là 73.051 lượt

Trang 21

người, giảm 19,33% so với năm 2004 Nguyên nhân của sự giảm sút này là doảnh hưởng của tuyến QL 61 đang thi công trong thời gian này đã làm ảnh hưởngcho việc đi lại của du khách.

Nếu so sánh với lượng khách du lịch đến các tỉnh thuộc tiểu vùng du lịchĐồng bằng sông Cửu Long và hơn nữa là so với Trung tâm Du lịch thành phố

Hồ Chí Minh và phụ cận thì lượng khách đến Hậu Giang chiếm một tỷ lệ rấtkhiêm tốn Song trong tương lai, cùng với sự phát triển chung về kinh tế-xã hộicủa cả tiểu vùng, đặc biệt là khi Hậu Giang đang ngày càng được quan tâm đểphát triển thành trung tâm hành chính của miền Tây- Nam Bộ thì lượng kháchđến Hậu Giang sẽ ngày một nhiều hơn và theo đó thì Hậu Giang sẽ trở thành vệtinh quan trọng trong phát triển chung của toàn vùng và cũng sẽ thu hút đượclượng lớn khách du lịch

Bảng 1 Lượng khách du lịch của Hậu Giang

so với một số địa phương trong vùng

-Nguồn: Tổng hợp số liệu của các Sở

Ghi chú: (*) Năm 1994, 2000 số liệu Hậu Giang khi chưa tách tỉnh

Bảng 2 Hiện trạng khách du lịch đến Hậu Giang thời kỳ 1994-2005

Đơn vị tính: Lượt khách

Trang 22

-Nguồn: Sở Thương mại – Du lịch Hậu Giang

Ghi chú: (*) – Số liệu sau khi tách tỉnh Hậu Giang

Khách du lịch đến Hậu Giang chủ yếu là khách du lịch nội địa với mụcđích chính là tham quan các di tích lịch sử như: căn cứ tỉnh uỷ tại huyện PhụngHiệp, Khu trù mật Vị Thanh Hoả Lựu tại thị xã Vị Thanh Tuy nhiên, hiện tạicác di tích lịch sử của tỉnh chưa được đầu tư đúng mức nên hầu hết chưa thànhsản phẩm du lịch hấp dẫn, do đó khách đi tham quan các di tích còn khiêm tốn.Ngoài ra, còn một lượng lớn khách đến Hậu Giang thông qua việc buôn bán tạichợ Nổi Ngã Bảy

Cuối năm 2004, sau một năm tách tỉnh, lượng khách nội địa đến HậuGiang theo thống kê chỉ đạt 90.563 lượt người, năm 2005 lượt khách du lịchgiảm xuống còn 73.051 lượt, trong khi đó chưa có số liệu thống kê về lượngkhách quốc tế đến trong hai năm này

1.2 Khách du lịch nội địa

Trang 23

Khách du lịch nội địa là thị trường chính của du lịch Hậu Giang Năm

2004, sau khi đã tách tỉnh được một năm, lượng khách du lịch của Hậu Giang chủ yếu là khách nội địa đạt 90.563 lượt Năm 2005, tổng lượng khách du lịchchỉ đạt 73.051 lượt người, vì vậy lượng khách nội địa cũng đã giảm so với năm2004

-Khách nội địa đến Hậu Giang tập trung nhiều ở các tỉnh phía Nam nhưthành phố Hồ Chí Minh và các thành phố, thị trấn mà người dân có thu nhập khácao Sau những ngày làm việc trong tuần, các gia đình tổ chức đi nghỉ cuối tuần

ở các miệt vườn sinh thái, thưởng thức bầu không khí sông nước miền Tây.Ngoài ra, lượng khách nội địa từ các tỉnh lân cận đến Hậu Giang còn thông quagiao lưu buôn bán tại các chợ nổi hay đến các lễ hội của người Khmer Trong đócũng phải kể đến lượng khách đi công vụ, hội nghị kết hợp với du lịch, thamquan các di tích lịch sử kháng chiến

Trang 24

- Các hoạt động khác 1.249 1.942 1.187 7.382 6.486 0,381 0,337

Tỷ trọng (%) 2,97 2,44 1,16 5,51 4,07 22,42 18,98

Nguồn: Sở Thương mại –Du lịch Hậu Giang

Ghi chú: (*) –Số liệu sau khi tách tỉnh

Xét về cơ cấu nguồn thu thì doanh thu du lịch của tỉnh Hậu Giang cónhiều sự tương đồng với các tỉnh trong cả nước và đặc biệt với một số tỉnh trongtiểu vùng, chủ yếu vẫn là doanh thu từ khách du lịch nội địa

Về cơ cấu doanh thu nhưng xét về lĩnh vực, có thể nhận thấy doanh thu dulịch của tỉnh Hậu Giang chủ yếu vẫn từ dịch vụ cho thuê phòng và ăn uống.Điều này cho thấy, du lịch Hậu Giang hiện nay mới chỉ cung cấp chủ yếu cácdịch vụ về ăn uống và lưu trú, các lĩnh vực bổ sung khác còn thiếu và yếu Cơcấu này là chưa phù hợp với xu thế của du lịch hiện đại Các chuyên gia của Tổchức Du lịch thế giới đã chỉ ra: nhu cầu loại 1 (ăn, ngủ) của khách du lịch là cógiới hạn nên việc doanh thu thông qua tăng chi tiêu về ăn ngủ gặp nhiều hạnchế; còn nhu cầu loại 2(như chăm sóc sức khoẻ, vui chơi giải trí, tham quan ditích ) thì hầu như không có giới hạn và thường hay xuất hiện tuỳ thuộc vàotrạng thái tâm lý và khả năng cung ứng, du khách lại rất sẵn lòng chi trả cao chocác dịch vụ này Do vậy, ở nhiều nước có ngành du lịch phát triển, các nhà kinhdoanh du lịch thường đưa ra hệ thống các sản phẩm, dịch vụ du lịch rất phongphú và các khoản thu từ những dịch vụ này lớn hơn nhiều so với khoản thu từdịch vụ ăn uống và lưu trú

Vì vậy, không chỉ riêng đối với Hậu Giang mà với hầu hết các tỉnh thànhtrong cả nước, vấn đề sản phẩm từ đa dạng, phong phú đến chất lượng phải luônđược quan tâm đúng mức Sản phẩm du lịch không chỉ là những hàng hoá bàybán thông thường mà là loại sản phẩm phải có sự hấp dẫn đặc biệt khiến khách

du lịch vui lòng trả tiền để đạt được nó Việc lồng ghép xây dựng các dịch vụvui chơi, giải trí vào các nhà hàng, khách sạn, các khu nghỉ mát là cần thiếtnhưng đảm bảo được chất lượng và phong cách phục vụ của các dịch vụ nàymới có tính quyết định trong việc tăng doanh thu

Sau khi tách tỉnh, doanh thu từ du lịch Hậu Giang năm 2004 chỉ đạt 1,7 tỷVNĐ, điều này phản ảnh một thực tế là đóng góp doanh thu của du lịch HậuGiang là rất nhỏ trong tổng doanh thu trước khi tách tỉnh, so với các tỉnh trongvùng là rất khiêm tốn

2.2 GDP du lịch

Là một trong những chỉ tiêu kinh tế tổng hợp quan trọng để đánh giá sứcsản xuất gia tăng giá trị của một năm GDP ngành du lịch thể hiện cụ thể hơnkhả năng sản xuất của ngành du lịch trong cơ cấu tổng sản phẩm quốc dân

Trang 25

Theo số liệu thống kê của tỉnh, cơ cấu GDP của các khu vực trong tổngGDP của tỉnh Hậu Giang thời kỳ 1995-2005 được thể hiện ở bảng sau:

Bảng 5 GDP của tỉnh Hậu Giang giai đoạn 1995-2005

Đơn vị: Triệu đồng - Giá so sánh 1994

Năm

Chỉ tiêu 1995 2000 2001 2002 2003 2004 2005 GDP 1.261.363 2.176.675 2.332.048 2.649.396 2.870.886 3.174.000 3.524.001

3 Đầu tư phát triển du lịch

Đầu tư là đòn bẩy thúc đẩy các ngành kinh tế trong đó có du lịch Trongnhững năm qua đầu tư du lịch Hậu Giang còn ít so với nhu cầu phát triển củangành Trong những năm tới vấn đề này cần được sự quan tâm hơn nữa nhằmđưa du lịch Hậu Giang hội nhập vào du lịch của vùng và du lịch cả nước, giảmthiểu sự bỏ lỡ đáng tiếc những cơ hội phát triển ngành du lịch vừa thiếu và yếu

về mọi lĩnh vực Là một tỉnh vừa được tách từ tỉnh có ngành du lịch phát triểnkhá so với cả nước, du lịch Hậu Giang đã nhận thấy: sự thiếu hụt các cơ sở hạtầng phục vụ phát triển du lịch, các điểm du lịch không được đầu tư xây dựng và

sử dụng đúng tiềm năng, các di tích lịch sử, văn hoá lâu ngày chưa được trùng

tu, tu bổ

Năm 2004, các dự án đầu tư vào du lịch đã được triển khai với tổng sốvốn là 14.850 triệu VNĐ, toàn bộ là nguồn vốn trong nước Nguồn vốn đầu tưđược tập trung toàn bộ vào lĩnh vực dịch vụ ăn uống, nhà nghỉ và khách sạn.Tổng vốn đầu tư như trên chưa đủ để đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch của HậuGiang, bởi sau khi tách tỉnh Hậu Giang gần như chưa có cơ sở vật chất đáng kể

để phục vụ phát triển du lịch, hơn nữa lại thiếu các điểm du lịch hoặc có nhưngchưa được đầu tư, tôn tạo tu bổ để thu hút khách Với cơ cấu nguồn vốn nhưtrên, Hậu Giang thể hiện là chưa có biện pháp gì để thu hút nguồn vốn nướcngoài, đây là một nguồn vốn quan trọng trong phát triển kinh tế-xã hội nói

Trang 26

chung và của ngành du lịch nói riêng Hơn nữa, việc phân bổ nguồn vốn đầu tưchưa thật hợp lý, đi theo lối mòn của hầu hết các tỉnh trong nước, nguồn vốnkhông phân bổ đều vào các lĩnh vực khác như siêu thị để phục vụ mua sắm, hayphương tiện vận chuyển, hay đầu tư khai thác các điểm vui chơi giải trí, công tácmaketing, phát triển sản phẩm bởi tỷ trọng nguồn thu từ các lĩnh vực này cànglớn, thì càng thể hiện một ngành du lịch phát triển phù hợp với xu hướng của dulịch hiện đại Hơn nữa, nguồn vốn đầu tư được phân bố chưa theo kế hoạch pháttriển trọng tâm mà tỉnh đề ra như tôn tạo, tu bổ các điểm di tích lịch sử, khu vuichơi giải trí; xây dựng thị trấn Phương Bình thành đô du lịch sinh thái hay như

tổ chức lại hoạt động du lịch tại chợ Nổi Ngã Bảy

Bảng 6 Hiện trạng đầu tư vào ngành du lịch Hậu Giang

Vui chơi giải trí

KDL sinh thái

Cơ sở hạ tầng

Trang 27

9 8

Nguồn: Sở Thương Mại-Du lịch Hậu Giang

Theo kế hoạch đầu tư năm 2005 và 2006, tổng lượng vốn ngân sách đầu

tư vào du lịch giảm so với năm 2004 và chỉ đạt tương ứng là 3.350 triệu VNĐ và11.558,779 triệu VNĐ, không đảm bảo được nhu cầu về vốn để phát triển ngành.Song vốn đã được phân bổ đều hơn về các lĩnh vực vui chơi giải trí, khu du lịchsinh thái và cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển du lịch và đã được thực hiện theo

kế hoạch phát triển ngành của tỉnh Một vấn đề tiếp theo mà du lịch Hậu Giangcần tập trung thực hiện đó là việc huy động nguồn vốn của các nhà đầu tư trong

và ngoài nước để đầu tư, hiện tại hầu như các dự án có nguồn vốn đều ngân sáchnhà nước, vốn tư nhân có nhưng còn rất nhỏ bé và đầu tư tự phát, tập trung chủyếu vào lĩnh vực nhà hàng, nhà trọ

4 Cơ sở vật chất kỹ thuật

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch là một yếu tố quan trọng trong cấu thànhcủa sản phẩm du lịch Việc thiết kế, phát triển hiệu quả các tiện nghi phù hợpkhông những sẽ tạo nên sự độc đáo, hấp dẫn của khu du lịch mà còn nâng caohiệu quả kinh tế và hiệu quả đầu tư Nó góp phần tạo ra sự khác biệt giữa cáckhu du lịch, giữ gìn bảo vệ và tôn tạo cảnh quan của khu du lịch Cơ sở vật chất

kỹ thuật du lịch bao gồm cơ sở lưu trú, các tiện nghi phục vụ ăn uống, các tiệnnghi thể thao vui chơi giải trí, phương tiện vận chuyển và các tiện nghi phục vụ

du lịch khác

Là một tỉnh vừa được tách ra từ tỉnh Cần Thơ (cũ), cơ sở hạ tầng kinh tế

xã hội nói chung và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch nói riêng chưa pháttriển Tuy nhiên trong năm qua, được sự quan tâm của chính quyền tỉnh, cơ sởvật chất kỹ thuật đang được đầu tư và xây dựng Do hoạt động du lịch của tỉnhHậu Giang còn dựa vào các cơ sở cũ, nên để phân tích yếu tố này căn cứ vào các

số liệu trước khi tách tỉnh

4.1 Cơ sở lưu trú

Cơ sở lưu trú là tiện nghi quan trọng không thể thiếu của mỗi điểm du lịch

và thường chiếm tỷ trọng lớn vốn đầu tư Cơ sở lưu trú rất đa dạng và phong phú

về loại hình, quy mô nhằm đáp ứng nhu cầu của các thị trường khách du lịchkhác nhau Việc phát triển các loại hình cơ sở lưu trú không những tạo nét độcđáo của khu du lịch mà còn nâng cao hiệu quả kinh tế và hiệu quả đầu tư

Bảng 7 Cơ sở lưu trú trên địa bàn tỉnh Hậu Giang

Trang 29

-Nguồn: Báo cáo của Sở Thương mại –Du lịch Hậu Giang

Ghi chú: (*) –Số liệu sau khi tách tỉnh

Sau khi chia tách tỉnh, trên địa bàn tỉnh Hậu Giang chỉ có 01 khách sạn,

02 khu du lịch, với 93 phòng và 170 giường phục vụ khách du lịch Với cơ sởnhư hiện có, vừa thiếu lại vừa yếu cả về số lượng lẫn chất lượng dẫn đến việcthu hút khách du lịch đến Hậu Giang rất hạn chế, từ đó sẽ làm giảm nguồndoanh thu từ du lịch do không giữ chân được khách du lịch Việc sớm có kếhoạch xây dựng các nhà hàng, nhà nghỉ, khách sạn để phục vụ phát triển du lịchHậu Giang trong thời gian tới là cần thiết

4.2 Phương tiện vận chuyển và các loại hình khác

* Phương tiện vận chuyển

Khách đến Hậu Giang bằng nhiều đường, tuy nhiên tập trung chủ yếu làbằng đường bộ và đường thuỷ Chuyên chở hàng hoá và hành khách bằng đường

bộ chủ yếu tập trung trên Quốc lộ 61 và Quốc lộ 1A; về đường thuỷ chủ yếu trêncác kênh Xà No, kênh Quản Lộ-Phụng Hiệp, kênh Nàng Mau, kênh Lái Hiếu vàkênh KH 9 Hiện tại, Hậu Giang có khoảng 208 xe vận tải với năng lực tổngcộng là 415 tấn và có khoảng 4.248 xe khách có 12.421 ghế chở khách vàkhoảng 1.031 ghe vận tải có năng lực 21.648 tấn và 1.248 ghe thuyền có 13.676ghế chở khác Tuy nhiên số đầu xe chuyên phục vụ cho du lịch còn ít, không đadạng và còn thô sơ chỉ vào khoảng 200 đầu xe, chất lượng vận chuyển còn kém,không đáp ứng yêu cầu của du khách, đặc biệt là khách quốc tế Về vận chuyểnkhách cần có sự thống nhất quản lý và tổ chức thành các công ty hay hợp tác xã

để quản lý chung về giá cả, chất lượng và độ an toàn tạo cảm giác yên tâm, thoảimái cho du khách khi sử dụng các phương tiện vận chuyển, đặc biệt là vậnchuyển trên sông nước

* Các cơ sở ăn uống

Hiện tại Hậu Giang có khoảng 282 điểm ăn uống nằm cả trong và ngoàikhách sạn, thực đơn của các nhà hàng không đa dạng, chủ yếu là các món ăn củaViệt Nam, chưa có nhà hàng phục vụ được đa nhu cầu của các thị trường khách

du lịch Nhìn chung các nhà hàng ăn uống còn thiếu về chủng loại và số lượng,nhiều cơ sở kinh doanh có chất lượng kém Trong tương lai, Hậu Giang cần pháttriển thêm các loại hình tiện nghi ăn uống cho phong phú hơn, đa dạng hơn vớicác món ăn, đồ uống và phù hợp hơn với nhu cầu của các thị trường khách dulịch Các tiện nghi ăn uống cần chú ý đến bài trí, trang hoàng, chất lượng vệ sinh

Trang 30

và cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên để tạo cảm giác nghỉ ngơi thư giãn sau mộtngày đi lại mệt mỏi, được hít thở không khí trong lành của miền sông nước.

* Các cơ sở vui chơi giải trí

Hiện nay hoạt động tiêu khiển chính của du khách khi đến Hậu Giang chủyếu dựa vào thiên nhiên, đi thuyền trên các dòng kênh và tham quan chợ nổiNgã Bảy, tham quan các di tích lịch sử, và vui chơi giải trí ở các khu du lịch nhưTây Đô, Ngã Sáu, Lan Hà Quy mô của các cơ sở còn nhỏ bé, chất lượng chưađồng đều, đa số các khu du lịch đều bị trùng lắp về các loại hình vui chơi, vì vậychưa có tính hấp dẫn và thu hút khách du lịch Nhìn chung, Hậu Giang còn thiếucác điểm tham quan, các loại hình vui chơi giải trí và các hoạt động tiêu khiểnđộc đáo, hấp dẫn có sức cạnh tranh với các khu du lịch của các tỉnh trong vùng

Vì vậy, phát triển các tiện nghi vui chơi giải trí là hết sức cần thiết vì nó làmtăng sự hấp dẫn đối với du khách, tăng mức chi tiêu của khách và giúp kéo dàithời gian lưu trú của khách tại các khu du lịch

* Hệ thống các cửa hàng

Hoạt động mua bán hàng hoá và quà lưu niệm là một thú vui của dukhách, đặc biệt là khách du lịch nữ Với một ngành du lịch phát triển có đủ sựhấp dẫn thì hoạt động mua bán thường chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu chitiêu của khách Hoạt động mua bán sẽ khuyến khích phát triển sản xuất và tạocông ăn việc làm, góp phần tăng thu nhập, cải thiện đời sống cho người dân củatỉnh Việc khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống sẽ góp phần tạonên sự hấp dẫn đối với du khách Trong thời gian qua, du lịch Hậu Giang chưatạo được nét riêng có kể cả trong các sản phẩm hàng hoá, đồ lưu niệm Việc dukhách đến Hậu Giang du lịch thường ra về với những túi quà hoa quả đã chứngminh thực tế đó Sự nghèo nàn và không có tính độc đáo và phong phú của sảnphẩm du lịch sẽ góp phần làm giảm lượng khách du lịch đến Hậu Giang, khôngkhuyến khích khả năng chi tiêu của du khách Xây dựng hệ thống các chợ vàsiêu thị cũng sẽ góp phần thoả mãn các nhu cầu mua bán phong phú đa dạng củakhách du lịch, song tạo được sự độc đáo của sản phẩm hàng hoá phục vụ du lịch

là cấp thiết

5 Lao động và việc làm

Do là một tỉnh vừa được tách từ tỉnh Cần Thơ (cũ), giống như tình hìnhchung của toàn bộ các ngành khác, trong năm qua ngành du lịch của tỉnh cũngtiến hành công tác bàn giao công việc, nhân sự, địa giới hành chính Vì vậy,theo thống kê năm 2004 của tỉnh, tổng số lao động của ngành Du lịch là 189người Ngoài số lao động trực tiếp trong các cơ sở kinh doanh du lịch còn cómột số lao động gián tiếp Về tình hình đào tạo, số lao động đang làm việc tạicác doanh nghiệp nhà nước được qua đào tạo, số lao động trực tiếp chỉ được đàotạo nghiệp vụ ngắn hạn, trình độ nghiệp vụ thấp, ít kinh nghiệm, trình độ kiến

Trang 31

thức chưa tương xứng với yêu cầu, số lao động qua đào tạo đại học và trên đạihọc chiếm tỷ lệ nhỏ, chủ yếu tập trung tại các bộ phận quản lý Đối với thànhphần kinh tế ngoài quốc doanh hầu như không qua đào tạo, chủ yếu là dựa vàokinh nghiệm tự phát, không có chuyên môn

Đội ngũ hướng dẫn viên du lịch còn rất thiếu và chưa đáp ứng được vềnghiệp vụ, sự hiểu biết về lịch sử-nhân văn, về xã hội, cũng như khả năng giaotiếp và trình độ ngoại ngữ cũng còn rất hạn chế Nhìn chung nguồn nhân lực dulịch của Hậu Giang chưa đáp ứng được cho yêu cầu hiện tại Do vậy, vấn đềtuyển dụng, đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ chonguồn nhân lực du lịch để đáp ứng nhu cầu phát triển của du lịch Hậu Giangđang là một trong những vấn đề hết sức cấp bách

6 Công tác quản lý nhà nước về du lịch

Nhờ sự chuyển đổi cơ chế kinh tế từ quan liêu, tập trung bao cấp sang cơchế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, việc tổ chức hoạt động kinh tếnhiều thành phần, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới của đất nước tạo tiền đềcho tổ chức quản lý du lịch của tỉnh Hậu Giang

Nhận thức được vị trí, vai trò của mình trong năm qua, Hậu Giang đã triểnkhai các công việc để thúc đẩy ngành du lịch, song việc xây dựng và triển khaiquy hoạch, kế hoạch, chương trình dự án tiến hành còn chậm, vốn đầu tư cònhạn chế, quản lý còn đang trong thời kỳ chuyển giao, tiếp quản Số lượng vàchất lượng lao động chưa đáp ứng được nhiệm vụ và yêu cầu phát triển đề ra Sựphối hợp liên ngành, địa phương chưa thường xuyên, chưa đồng bộ Hiện tại, tổchức quản lý các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh đang được kiện toàn, độclập để phát huy đúng vai trò và nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý Tuy nhiên,

hệ thống quản lý từ tỉnh xuống cơ sở chưa được triển khai đồng bộ, chưa cóphân công giám sát cụ thể Nhiều quy định của nhà nước về quản lý kinh doanh

du lịch chưa được nghiêm túc thực hiện

Theo chủ trương xã hội hoá du lịch, năm qua, Hậu Giang đã quan tâm, tạođiều kiện cho các thành phần kinh tế trong và ngoài tỉnh tham gia đầu tư vàohoạt động kinh doanh du lịch, tuy nhiên do điều kiện vật chất phục vụ phát triển

du lịch thiếu thốn, mạng lưới kinh doanh du lịch của tính vẫn kế thừa từ khichưa tách tỉnh Chưa hình thành được các công ty chuyên kinh doanh về lữhành, bước đầu mới có một số nhà hàng, khách sạn phục vụ du khách Các tour

du lịch qua Hậu Giang chủ yếu do các tỉnh xung quanh xây dựng và Hậu Giangchỉ là một điểm dừng tạm thời trong hành trình tour ở khu du lịch đã hình thànhđược ban quản lý để tổ chức, điều hành việc khai thác tiềm năng cho phát triển dulịch

7 Đánh giá chung về hiện trạng phát triển ngành

Trang 32

Với lợi thế là trung tâm của tiểu vùng Tây sông Hậu, Hậu Giang có nhiềuthuận lợi để phát triển du lịch, hơn nữa là tỉnh giáp ranh với Cần Thơ, trung tâmkinh tế-xã hội-văn hoá của miền Tây Nam Bộ, Hậu Giang đang và sẽ trở thành

vệ tinh phát triển của vùng Xác định đúng vai trò, trị trí của tỉnh sẽ giúp kinh tếHậu Giang phát triển, đối với ngành du lịch, được kế thừa các cơ sở hoạt độngcủa một tỉnh có ngành du lịch phát triển, Hậu Giang đang từng bước tranh thủ,tận dụng khai thác các lợi thế này Hoạt động du lịch của Hậu Giang năm qua đãđạt được những thành tựu và khó khăn sau:

- Về khách du lịch, lượng khách đạt 95.363 lượt là một thành công đối vớitỉnh vừa được thành lập, cơ cấu khách có sự đa dạng về mục đích du lịch, tuynhiên lượng khách quốc tế còn rất hạn chế Cơ cấu thị trường khách không đadạng, chủ yếu là khách nội địa và khách của một số thị trường truyền thống.Ngày lưu trú trung bình của khách thấp, chi tiêu trung bình của khách du lịchchưa cao Nguyên nhân có rất nhiều nhưng cơ bản vẫn là do cơ cấu sản phẩm dulịch không phong phú, không đa dạng, không có những sản phẩm du lịch đặctrưng Khách du lịch đến Hậu Giang thường có tâm lý là điểm dừng chân tạmthời để đến các tỉnh lận cận

- Về thu nhập và GDP du lịch đã có chuyển biến nhưng còn thấp so vớitiềm năng du lịch của tỉnh, nguyên nhân cơ bản là do sự thiếu thốn, nghèo nàn

về cơ sở vật chất phục vụ du lịch Cơ cấu nguồn thu chưa đa dạng, chủ yếu là từkinh doanh khách sạn và dịch vụ ăn uống, các dịch vụ khác nguồn thu còn hạnchế Đây là vấn đề ngành du lịch của tỉnh cần quan tâm và có biện pháp giảmnguồn thu từ dịch vụ ăn nghỉ, tăng nguồn thu từ các dịch vụ bổ trợ đặc biệt làdịch vụ vui chơi, giải trí, mua sắm

- Về đầu tư, mặc dù đã được quan tâm nhưng nguồn vốn dành cho du lịchcòn thiếu trầm trọng so với nhu cầu phát triển Cơ cấu nguồn vốn đầu tư không

đa dạng, chủ yếu là từ nguồn ngân sách nhà nước Vốn đầu tư tư nhân và nướcngoài còn rất hạn chế, không đáng kể Đầu tư nhỏ lẻ, cá nhân, không đồng bộ.Tỉnh Hậu Giang cần quan tâm hơn nữa về vấn đề này và đề ra các biện pháp huyđộng, thu hút các nguồn vốn Tập trung khai thác nguồn vốn nhàn rỗi trong dân,hình thành các chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài, và nguồn từ các Việtkiều

- Về cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ phát triển dulịch thiếu thốn, không đáp ứng được việc phục vụ đối với các đoàn khách có sốlượng lớn, số phòng, giường chất lượng cao phục vụ khách quốc tế có rất ít.Loại hình của các cơ sở lưu trú không đa dạng, không đáp ứng được đa nhu cầucủa du khách Cơ sở lưu trú còn rất hạn chế, dịch vụ đi kèm thiếu đồng bộ cả vềchất lượng và số lượng Hình thức và phương tiện vận chuyển lạc hậu, chủ yếu

Trang 33

theo con đường truyền thống là đường bộ và đường thuỷ Chưa có công tychuyên trách về vận chuyển khách du lịch Các nhà hàng phục vụ khách du lịchhình thành tự phát, mang nặng tính cá nhân chưa phát triển thành hệ thống phục

vụ chung nhằm mục đích phát triển ngành

- Về lao động và việc làm là vấn đề đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt củangành, của tỉnh Các cán bộ có trình độ và có chuyên môn về du lịch thiếu, độingũ quản lý chưa có nhiều kinh nghiệm Đội ngũ hướng dẫn viên thiếu nhữngkiến thức cần thiết về mọi lĩnh vực Mặt bằng về trình độ thấp, chủ yếu được đàotạo qua các lớp nghiệp vụ đào tạo ngắn hạn

- Công tác quản lý Nhà nước về du lịch từ khi tách tỉnh Sở Thương

mại-Du lịch đã được thành lập và đang được kiện toàn về bộ máy tổ chức cũng nhưtrình độ quản lý Tuy nhiên, hiện nay công tác phân công, giám sát các hoạtđộng du lịch ở các huyện, thị trong tỉnh chưa thật sự mạnh và sát sao để có thểgiúp cho Sở quản lý tốt hơn về các hoạt động du lịch ở địa phương Bên cạnh

đó, tỉnh cũng chưa có công ty chuyên kinh doanh về lĩnh vực du lịch Những tồntại trên, đã gây nhiều khó khăn cho công tác điều hành, quản lý du lịch

chương III ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HẬU GIANG

GIAI ĐOẠN 2006 - 2020

I CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC

1 Bối cảnh phát triển

+ Du lịch thế giới đang có điều kiện phát triển mạnh mẽ:

- Thế kỷ 21, tình hình thế giới sẽ có những biến đổi sâu sắc với nhữngbước nhảy vọt về khoa học và công nghệ, toàn cầu hóa là một xu thế kháchquan; Tuyên ngôn Thiên niên kỷ của Liên hiệp quốc từ ngày 6-8/9/2000 được kýkết dưới sự chứng kiến của 149 nguyên thủ quốc gia trong đó có Việt Nam được

xem như nền tảng thiết yếu cho một thế giới hòa bình, thịnh vượng hơn và công

bằng hơn Trong bối cảnh đó, nhu cầu đi du lịch của người dân tăng nhanh.

- Du lịch trên phạm vi toàn cầu đã phát triển nhanh và trở thành một trongnhững ngành kinh tế hàng đầu của thế giới Theo số liệu của Tổ chức Du lịchThế giới (WTO) năm 2004 trên thế giới có khoảng 763 triệu người đã đi du lịch

và thu nhập từ du lịch đạt 622 tỷ USD, tương đương trên 6,67% tổng sản phẩmquốc dân (GDP) trên thế giới Du lịch là ngành kinh tế tạo nhiều việc làm chongười lao động và hiện đang thu hút trên 230 triệu lao động trực tiếp, chiếm10,87% lực lượng lao động trên toàn thế giới, như vậy nếu tính trung bình cứ 9người lao động có 1 người làm nghề du lịch

Trang 34

- Theo dự báo của WTO, đến năm 2010 lượng khách du lịch quốc tế củathế giới lên tới 1.006,4 triệu lượt, thu nhập du lịch ước tính đạt 900 tỷ USD.

- Do lợi ích nhiều mặt mà ngành du lịch mang lại nên nhiều nước đã tậndụng tiềm năng và lợi thế của mình để phát triển du lịch, tăng nguồn thu ngoại

tệ, tạo việc làm, thúc đẩy sản xuất trong nước, đóng góp tích cực vào việc pháttriển kinh tế-xã hội

+ Dòng khách du lịch trên thế giới đang có xu hướng thay đổi cơ bản:

Nền chính trị ở nhiều quốc gia, nhiều khu vực trên thế giới có nhiều biếnđộng Chiến tranh, khủng bố đã và đang xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, bên

trở lại , ảnh hưởng lớn đến ngành du lịch toàn cầu Trong bối cảnh đó, dòngkhách du lịch thế giới đang hướng tới những khu vực có nền chính trị ổn định,kinh tế phát triển, các khu vực an toàn không có dịch bệnh; đặc biệt là dòngkhách du lịch thế giới đang có xu thế chuyển dần sang khu vực Đông Á - TháiBình Dương và Đông Nam Á, những nơi có nền kinh tế phát triển năng động vànền chính trị hòa bình ổn định (trong đó có Việt Nam)

+ Châu  u và Châu Mỹ là những khu vực nhận khách lớn nhất, song thị phần đang có xu hướng giảm:

Trong quá trình phát triển, du lịch thế giới đã hình thành các khu vực lãnhthổ với các thị phần khách du lịch quốc tế khác nhau Năm 2000, Châu Âu làkhu vực đứng đầu với 56,8% thị phần khách du lịch quốc tế Đứng thứ 2 là châu

Mỹ với 18,7%; tiếp đến là Đông Á - Thái Bình Dương 16,7% Tuy nhiên thịphần của Châu Âu có xu hướng giảm dần; năm 2000 đã giảm 5,3% thị phần sovới năm 1975 Năm 2003, thị phần khách du lịch quốc tế của Châu Mỹ giảmxuống chỉ còn 16,4%; và khu vực Đông Á - Thái Bình Dương tăng lên 17,3%

+ Hoạt động du lịch có xu hướng chuyển dịch sang khu vực Đông Á Thái Bình Dương trong thế kỷ 21:

-Trong giai đoạn 1975 - 1999, khu vực Đông Á - Thái Bình Dương đã tăngđáng kể thị phần của mình trong tổng doanh thu du lịch toàn cầu; tăng 13,5%.Châu Âu, Châu Phi và Trung Đông giảm tương ứng là 4,3%; 1,1% và 0,2% Đếnnăm 2003 thị phần của khu vực Đông Á - Thái Bình Dương đã tăng lên đến17,3% Theo dự báo của WTO đến 2010 ngành du lịch sẽ tạo thêm khoảng 150triệu chỗ làm việc, tập trung chủ yếu ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương Đến

2010 khu vực Đông Á - Thái Bình Dương sẽ vượt châu Mỹ, trở thành khu vựcđứng thứ 2 sau châu Âu về đón khách du lịch quốc tế với 22,08% thị phần vàđến năm 2020 là 27,34%

+ Du lịch các nước Đông Nam Á (ASEAN) giữ vị trí quan trọng trong khu vực Đông Á - Thái Bình Dương:

Trang 35

- Hiện nay chiếm 36% lượng khách và 38% thu nhập du lịch toàn khuvực.

- Bốn nước ASEAN có ngành du lịch phát triển nhất là Thái Lan,Singapore, Malayxia và Indonexia

- Việt Nam và Philippin là hai nước thu hút được lượng khách du lịchquốc tế cao nhất trong 6 nước Đông Nam Á còn lại, nhưng cũng chỉ xấp xỉ 1/3lượng khách so với 4 nước phát triển trên

- Theo dự báo của WTO, năm 2010 lượng khách quốc tế đến khu vựcĐông Nam Á là 125 triệu, với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 1995 - 2010

là 6%/năm so với 1 - 2% giai đoạn 1998 - 2000 do ảnh hưởng của cuộc khủnghoảng tài chính, tiền tệ trong khu vực

Là một quốc gia nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, sự phát triển

của du lịch Việt Nam nói chung và du lịch tỉnh Hậu Giang nói riêng sẽ không nằm ngoài xu thế phát triển chung về du lịch của khu vực và thế giới Tuy nhiên,

Việt Nam cũng như Hậu Giang có những thuận lợi và khó khăn, thách thức riêngtrong sự nghiệp phát triển du lịch

2 Những cơ hội và thuận lợi cơ bản

2.1 Trong phạm vi cả nước

- Chính sách “đổi mới, mở cửa và hội nhập” của Đảng và Nhà nước tiếp

tục phát huy có hiệu quả, đã tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế đối ngoại, trong

đó có du lịch phát triển Đặc biệt Đảng và Nhà nước đã khẳng định “Du lịch là

một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, phát triển du lịch góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ, tạo việc làm và thúc đẩy các ngành kinh tế khác cùng phát triển ” và những năm gần đây thực sự đã quan tâm đầu tư cho du lịch phát triển

(đầu tư từ Ngân sách Nhà nước cho phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng du lịchtrong phạm vi cả nước)

- Việt Nam là đất nước có chế độ chính trị hòa bình, ổn định; công tác giữgìn an ninh trật tự xã hội luôn được đảm bảo là nhân tố quan trọng đảm bảo chophát triển du lịch Theo đánh giá, Việt Nam là một điểm du lịch rất an toàn trongkhu vực Nền chính trị ổn định là một thuận lợi lớn, nhất là trong bối cảnh hiệnnay, khi nạn khủng bố toàn cầu làm ảnh hưởng lớn đến tâm lý đi du lịch của dukhách

- Việt Nam có những lợi thế đặc biệt về vị trí địa lý, kinh tế - xã hội Nằm

ở trung tâm Đông Nam Á, lãnh thổ Việt Nam vừa gắn liền với lục địa vừa thôngrộng với đại dương, có vị trí giao lưu quốc tế thuận lợi cả về đường biển, đườngsông, đường sắt, đường bộ và đường hàng không Đây là tiền đề rất quan trọngtrong việc mở rộng và phát triển du lịch quốc tế

- Việt Nam nằm trong khu vực phát triển năng động, và là điểm du lịchcòn mới trên bản đồ du lịch thế giới với tiềm năng tài nguyên du lịch đa dạng và

Trang 36

phong phú (với nhiều di sản thế giới), con người Việt Nam luôn mến khách lànhững điều kiện đặc biệt quan trọng để hấp dẫn khách du lịch.

- Nền kinh tế nước ta phát triển nhanh và ổn định, đời sống vật chất vàtinh thần của người dân ngày càng được cải thiện và nâng cao, nhu cầu đi dulịch của người dân đã trở thành nhu cầu thiết yếu, không thể thiếu

- Hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội của đất nước được đầu tư xâydựng mới và nâng cấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác các tiềm năng

du lịch to lớn của đất nước, tăng khả năng giao lưu giữa các vùng (đặc biệt làvùng sâu, vùng xa - nơi có nhiều tài nguyên du lịch đặc sắc) và phát triển cáctuyến, điểm tham quan du lịch

2.2 Đối với du lịch Hậu Giang

- Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân và Ủy ban Nhân dân tỉnh rất quan tâm chútrọng phát triển nông nghiệp - nông thôn, kinh tế đối ngoại, thương mại - dịch vụ

và du lịch Đây là những ngành kinh tế quan trọng có khả năng chuyển đổi cơcấu kinh tế của Tỉnh Chính vì vậy đã có những chính sách và sự đầu tư thíchđáng cho phát triển du lịch

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế Hậu Giang tương đối cao (tăng trung bình10,11%/năm hơn 1,36 lần bình quân cả nước), đặc biệt hai năm 2004 - 2005 cómức tăng bình quân 10,95%/năm (thời kỳ 2001 - 2003 tăng trưởng 9,55%/năm),đời sống của nhân dân từng bước được cải thiện, thu nhập bình quân đầu người

đã đạt 6,7 triệu đồng/năm Hệ thống cơ sở hạ tầng đang được đầu tư nâng cấp,phát triển Đây là những điều kiện thuận lợi để du lịch Hậu Giang phát triển

- Nằm trong số các tỉnh của vùng đồng bằng sông Cửu Long, lại nằm ởvùng trung tâm của tiểu vùng Tây nam sông Hậu, Hậu Giang có vị trí trung giannối các tỉnh thượng lưu sông Hậu với các tỉnh nằm ở vùng ven biển Đông (SócTrăng, Bạc Liêu) nên có vị trí tương đối thuận lợi trong giao lưu kinh tế, thươngmại và du lịch Từ đây, có thể nối các tuyến du lịch liên hoàn trong vùng đồngbằng sông Cửu Long, và xa hơn là nối với các tuyến du lịch quốc gia

- Tiềm năng du lịch của Hậu Giang tương đối đa dạng và phong phú cả vềtài nguyên tự nhiên và nhân văn (đặc biệt là những tài nguyên sinh thái sôngnước, miệt vườn và đáng chú ý là khu bảo tồn sinh thái Lung Ngọc Hoàng ) chophép Hậu Giang phát triển nhiều sản phẩm du lịch đặc trưng có nhiều cơ hội đểcạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế

3 Những khó khăn, thách thức

3.1 Trong phạm vi cả nước

+ Điểm xuất phát thấp: Du lịch Hậu Giang vẫn đang ở giai đoạn đầu phát

triển, xuất phát điểm còn quá thấp so với du lịch ở các tỉnh trong vùng Kinhnghiệm trong công tác quản lý, kinh doanh và trình độ nghiệp vụ của đội ngũcán bộ, lao động ngành còn nhiều bất cập Cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật

Trang 37

du lịch còn nhiều yếu kém, thiếu đồng bộ Do vậy, việc đầu tư xây dựng “hình

ảnh du lịch Hậu Giang”; xây dựng đồng bộ hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật du

lịch có chất lượng cao đòi hỏi phải có sự chỉ đạo sát sao, kịp thời của lãnh đạotỉnh, phải có sự hợp tác toàn diện giữa các ban ngành, và nhất là cần có sự nỗlực không ngừng của đội ngũ cán bộ ngành du lịch Để làm tốt được những vấn

đề này cũng là một thách thức lớn với ngành du lịch Hậu Giang

+ Cạnh tranh: Du lịch trong khu vực và trên thế giới ngày càng cạnh

tranh gay gắt, đặc biệt sẽ đẩy lên ở mức cao trong điều kiện toàn cầu hóa, khuvực hóa và biến động khó lường của khủng hoảng tài chính, năng lượng, thiêntai Trong khi đó khả năng cạnh tranh của du lịch Việt Nam nói chung và dulịch Hậu Giang nói riêng còn rất hạn chế Ngay cả trong vùng đồng bằng sôngCửu Long cũng sẽ diễn ra cuộc cạnh tranh gay gắt giữa các sản phẩm du lịch củacác địa phương vì nhìn chung các sản phẩm du lịch trong vùng đều tương đốigiống nhau Với Hậu Giang, việc xây dựng những sản phẩm du lịch đặc thù cókhả năng cạnh tranh cao sẽ là một thách thức lớn đối với ngành Du lịch của tỉnh

+ Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của Hậu Giang chưa cao; mức sống

của người dân nhìn chung còn thấp so với mặt bằng chung của cả nước do đó đã

ảnh hưởng đến quan hệ “cung - cầu” đối với phát triển du lịch Trong khi đó,

nền kinh tế thế giới đang có chiều hướng phát triển trì trệ (đặc biệt là ở nhữngnước có nguồn khách du lịch ra nước ngoài lớn), tốc độ tăng trưởng thấp, khôngđược thúc đẩy phát triển như ý muốn, đặc biệt là ở những nước công nghiệp pháttriển Cuộc khủng hoảng dầu lửa do chiến tranh ở vùng Vịnh kéo dài khiến chogiá xăng dầu thế giới tăng mạnh ảnh hưởng tới du lịch và hàng không và ảnhhưởng đến toàn bộ nền kinh tế thế giới, ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành

du lịch toàn cầu Sự suy giảm của nền kinh tế ở một số nước đã dẫn đến nhữngthay đổi trong nhu cầu của khách du lịch (đi du lịch ở những nơi gần hơn, ngắnngày hơn, chi tiêu ít hơn )

+ Chiến tranh, khủng bố, thiên tai, dịch bệnh đang diễn biến khó lường:

Trên phạm vi toàn cầu, các cuộc chiến tranh sắc tộc, nạn khủng bố, thiên tai(động đất, sóng thần ), dịch bệnh (đặc biệt là đại dịch SARS và bệnh cúm gia

hạn chế và phong tỏa các luồng khách đến một số quốc gia Ngành du lịch thếgiới đang phải đối mặt với những thử thách mới trong mối quan hệ cung cầu Dulịch Việt Nam, cũng như du lịch Hậu Giang không nằm ngoài những bất lợi đó

3.2 Đối với du lịch Hậu Giang

- Việc quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên phục vụ du lịch cònnhiều bất cập và chồng chéo Nhiều cấp, nhiều ngành cùng tham gia quản lý vàkhai thác một điểm tài nguyên Do vậy, việc xây dựng quy hoạch, việc đầu tưtôn tạo và bảo vệ tài nguyên, môi trường chưa được quan tâm thỏa đáng Nhiều

Trang 38

tài nguyên và môi trường du lịch đang có nguy cơ suy giảm do khai thác, sửdụng thiếu hợp lý và những tác động tiêu cực của con người và thiên tai ngày càngtăng

- Vốn đầu tư cho phát triển du lịch còn rất thiếu, trong khi đó đầu tư lạichưa đồng bộ, chưa tạo ra được những sản phẩm du lịch đặc trưng có chất lượngcao của Hậu Giang, dẫn đến kinh doanh kém hiệu quả Đầu tư cho công tác bảotồn, phát triển các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường du lịch; đầu tư chocông tác tuyên truyền quảng bá và xúc tiến phát triển du lịch; đầu tư cho côngtác đào tạo nguồn nhân lực du lịch có chất lượng cao còn rất thiếu Đây cũngđang là một thách thức không nhỏ đối với sự phát triển ngành du lịch tỉnh HậuGiang

- Nhận thức xã hội về ngành kinh tế du lịch của toàn dân vẫn còn yếu.Việc khuyến khích và hỗ trợ cho cộng đồng dân cư - nơi có tài nguyên du lịchtham gia vào các hoạt động du lịch ở Hậu Giang còn yếu; và do đó khôngkhuyến khích được họ tham gia bảo vệ tài nguyên, môi trường du lịch

- Hệ thống các cơ chế chính sách (đặc biệt là các cơ chế chính sách ưuđãi); các quy định pháp luật liên quan đến phát triển du lịch ở Hậu Giang còn

thiếu, chưa thật thông thoáng so với yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế, chưa

giải quyết tốt mối quan hệ giữa quản lý và phát triển

- Trên địa bàn tỉnh hiện nay chưa có được doanh nghiệp chuyên trách về

lữ hành và vận chuyển khách, vì vậy đã hạn chế khả năng đón tiếp cũng nhưquảng bá giới thiệu du lịch Hậu Giang ra thị trường trong nước và quốc tế Bêncạnh đó, là tỉnh mới được chia tách, vì vậy bộ máy quản lý nhà nước về du lịchvẫn đang trong thời kỳ chuyển giao, tiếp quản do đó chưa có được những quantâm sát sao

II DỰ BÁO CÁC CHỈ TIÊU PHÁT TRIỂN DU LỊCH HẬU GIANG GIAI

ĐOẠN 2006 - 2020

1 Quan điểm phát triển

1.1 Quan điểm lâu dài

- Phát triển du lịch phải dựa trên các căn cứ định hướng chiến lược pháttriển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước, các quy hoạch phát triển liên quan

và kế thừa được cơ sở khoa học đã nghiên cứu về phát triển du lịch, tiếp thu kinhnghiệm phát triển du lịch của quốc tế, thông qua các đề án phát triển du lịch docác tổ chức quốc tế, chính phủ nước ngoài giúp đỡ

- Phát triển bền vững, phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển dulịch chung của cả nước và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của khu vực,trong mối liên hệ chặt chẽ với du lịch của các khu vực khác trong toàn quốc

Trang 39

- Khai thác hợp lý và có hiệu quả các lợi thế về tiềm năng tài nguyên dulịch, nhưng phát triển có trọng điểm để hình thành các khu du lịch có tầm cỡ quốc

tế, tạo thương hiệu cho du lịch Việt Nam trên trường quốc tế

- Phát triển du lịch phải gắn với huy động các nguồn lực của mọi thànhphần kinh tế Theo đó, phải nâng cao được năng lực cạnh tranh và khả năng hộinhập của các doanh nghiệp du lịch và phát triển du lịch dựa vào cộng đồng

- Phát triển du lịch phải có tốc độ tăng trưởng GDP du lịch cao hơn cácvùng khác, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tạo ra nhiều công ăn việc làmcho người lao động;

- Bảo tồn, tôn tạo và phát triển bền vững môi trường, tài nguyên du lịch;Phát huy truyền thống bản sắc dân tộc kết hợp với khoa học kỹ thuật, công nghệtiên tiến về phát triển du lịch của quốc tế

- Phát triển du lịch phải đặc biệt coi trọng với việc bảo vệ và giữ vững anninh, quốc phòng, an toàn xã hội Phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấptrong việc bảo tồn và khai thác tài nguyên du lịch để đảm bảo giữ vững an ninh,quốc phòng, an toàn xã hội Đặc biệt lưu ý trong việc phát triển du lịch tại cácđịa bàn nhạy cảm

1.2 Quan điểm trước mắt

Việc phát triển ngành du lịch Hậu Giang trong thời gian trước mắt để trởthành ngành kinh tế quan trọng phải dựa trên những quan điểm phát triển sau:

- Phát triển du lịch sinh thái miệt vườn, cảnh quan sông nước, môi trường bền vững: Phát triển du lịch Hậu Giang đạt hiệu quả cao nhưng phải gắn liền với

việc bảo vệ và tôn tạo tài nguyên, môi trường sinh thái, cảnh quan

- Phát triển du lịch văn hóa, lễ hội truyền thống: Phát triển du lịch phải

dựa trên nguyên tắc bảo vệ và phát huy truyền thống bản sắc dân tộc, tiếp thu cóchọn lọc những tinh hoa văn hóa nhân loại, tránh du nhập những luồng văn hóađộc hại

- Xã hội hoá dịch vụ du lịch: Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi nhất

cho các tổ chức, cá nhân trong và ngoài tỉnh đầu tư nâng cấp mở rộng hệ thốngnhà hàng, khách sạn để đa dạng hoá hoạt động kinh doanh du lịch; đầu tư pháttriển các điểm du lịch ở những địa danh có khả năng thu hút khách bằngnhững cơ chế chính sách ưu đãi nhất

2 Dự báo các chỉ tiêu phát triển ngành

2.1 Cơ sở để dự báo: Dự báo mức độ tăng trưởng các chỉ tiêu chủ yếu của

ngành du lịch Hậu Giang trong những năm tới được dựa trên những căn cứ cụthể sau:

- Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Hậu Giang đến năm 2010

và định hướng đến 2020 trong đó du lịch và dịch vụ được đánh giá là ngànhkinh tế quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Ngày đăng: 19/10/2017, 16:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

  • Đang cập nhật ...

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w