1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Thiết kế máy siêu âm trị liệu đa năng

87 321 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 5,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chúng có nhiều tác dụng trong việc điều trị các bệnh, phục hồi chức năng của các cơ quan trong cơ thể như giảm đau, gây tê, kích thích các hệ cơ, kích thích hệ thần kinh...Dựa trên các n

Trang 1

MỤC LỤC

Lời cam đoan 3

Danh mục các ký hiệu, các chữ viết tắt 4

Danh mục hình vẽ 5

MỞ ĐẦU 7

CHƯƠNG I CƠ SỞ Y HỌC CỦA THIẾT BỊ TRỊ LIỆU 9

1.1 Đại cương về châm cứu 9

1.1.1 Sơ lược về lịch sử châm cứu 9

1.1.2 Châm cứu và các loại bệnh 11

1.1.3 Nhận thức về châm cứu của đông y và tây y 13

1.1.4 Học thuyết kinh lạc và quan niệm về huyệt 13

1.1.5 Kỹ thuật châm cứu 31

1.2 Điện châm và siêu âm trị liệu 34

1.2.1 Cơ sở kỹ thuật điện châm 34

1.2.2 Cơ sở kỹ thuật siêu âm trị liệu 37

CHƯƠNG II THIẾT KẾ MÁY TRỊ LIỆU ĐA NĂNG SATL 1.0 41

2.1 Yêu cầu thiết kế 41

2.2 Sơ đồ khối và hoạt động 41

2.2.1 Sơ đồ khối máy SATL 1.0 41

2.2.2 Khối nguồn 42

2.2.3 Khối vi điều khiển 48

2.2.4 Khối điện châm 50

2.2.5 Khối siêu âm 51

2.2.6 Mạch in 52

Trang 2

2.3 Phần mềm điều khiển và vận hành máy 55

2.3.1 Phần mềm điều khiển 55

2.3.2 Vận hành máy 58

CHƯƠNG III: CHẾ TẠO THỬ NGHIỆM VÀ KẾT QUẢ 61

3.1 Sản phẩm thử nghiệm 61

3.2 Kết quả đo 64

3.2.1 Kết quả đo trên khối điện châm 64

3.2.2 Kết quả đo trên khối siêu âm 67

3.3 Kết Luận 67

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 69

Kết luận 69

Kiến nghị 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 70

PHỤ LỤC 72

Phụ lục 1 Chương trình mã nguồn máy SATL1.0 72

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi là Nguyễn Huy Hoàng sinh ngày 5 tháng 8 năm 1986 Tôi là học viên lớp

Kỹ thuật Viễn Thông(KT)- CH2014A Tôi xin cam đoan luận văn này do tôi tự viết, vấn đề nghiên cứu trong luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào và tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về những lời cam đoan trên

Hà nội, ngày 10 tháng 3 năm 2016

Nguyễn Huy Hoàng

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ADCSRA ADC Control and Status Register A Thanh ghi trạng thái và điều

DDR Data Direction Register Thanh ghi hớng dữ liệu

ICR Input Capture Register Thanh ghi lu giữ lối vào OCR Output Compare Register Thanh ghi so sánh ra

PDIP Plastic Dual-Inline Package Vỏ nhựa 2 hàng chân

PWM Pulse Width Modulation Điều chế độ rộng xung

TCCR Timer/Counter Control Register Thanh ghi điều khiển bộ định

thời/bộ đếm

TIMSK Timer/Counter Interupt Mask

UCSR USART Control and Status Register Thanh ghi trạng thái và điều

khiển USART

USART

Universal Synchronous and Asynchronous serial Receiver and Transmitter

Bộ phát thu đồng bộ và không đồng bộ

WHO World Health Organization Tổ chức y tế thế giới

Trang 5

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1 1 Kinh Phế (Lung) 15

Hình 1 2 Kinh Đại trường (Large Intestine) 16

Hình 1 3 Kinh Vị (Stomach) 17

Hình 1 4 Kinh Tỳ (Spleen) 18

Hình 1 5 Kinh Tâm (Heart) 19

Hình 1 6 Kinh Tiểu trường (Small Intestine) 20

Hình 1 7 Kinh Bàng quang (Urinary Bladder) 21

Hình 1 8 Kinh Thận (Kidney) 22

Hình 1 9 Kinh Tâm bào (Pericardium) 23

Hình 1 10 Kinh Tam tiêu (Triple Heater) 23

Hình 1 11 Kinh Đởm (Gall Bladder) 24

Hình 1 12 Kinh Can (Liver) 25

Hình 1 13 Hình ảnh dây thần kinh tại huyệt vị 29

Hình 1 14 Hình ảnh chụp fMRI tại huyệt vị 30

Hình 1 15 Nguyên nhân gây bệnh và chữa trị nhờ châm cứu 31

Hình 1 16 Một số loại kim châm cứu 33

Hình 1 17 Kỹ thuật cứu bằng ngải 34

Hình 1 18 Đường cong cường độ xung và độ rộng xung 36

Hình 1 19 Máy điện châm DC0699 của viện trang thiết bị y tế - Việt Nam 36

Hình 1 20 Máy điện châm của Trung Quốc KW-808 37

Hình 1 21 Máy DT20 của Italy 39

Hình 1 22 Máy SI190 của Hà Lan 40

Hình 1 23 ST10A của Hàn Quốc 40

Hình 2 1 Sơ đồ khối máy trị liệu SATL1.0 42

Hình 2 2 Sơ đồ khối mạch nguồn 42

Hình 2 3 Mạch chỉnh lưu cầu 43

Hình 2 4 Đồ thị mạch chỉnh lưu cầu 43

Hình 2 5 Hình dáng máy biến áp cảm ứng 44

Trang 6

Hình 2 6 Sơ đồ mạch nguồn 15V, 12V và 5V 46

Hình 2 7 Sơ đồ mạch nguồn 30V 47

Hình 2 8 Mạch vi điều khiển trong máy SATL1.0 49

Hình 2 9 Mạch điện châm 50

Hình 2 10 Mạch khuếch đại công suất tín hiệu siêu âm 52

Hình 2 11 Mạch in thiết kế trên phần mềm Altium Designer 53

Hình 2 12 Mạch in trên giấy in nhiệt 54

Hình 2 13 Mạch điện máy SATL1.0 54

Hình 2 14 Mạch điện máy SATL1.0 khi có màn hình 55

Hình 2.15 Lưu đồ chương trình chính máy SATL 1.0 56

Hình 2.16 Lưu đồ chương trình con điện châm 57

Hình 2.17 Lưu đồ chương trình con siêu âm 58

Hình 3 1 Máy SATL 1.0 dạng dàn trải 61

Hình 3 2 Mạch điện máy SATL1.0 62

Hình 3 3 Mạch điện máy SATL1.0 khi có màn hình 62

Hình 3 4 Đầu ra siêu âm 63

Hình 3 5 Đầu ra điện châm 63

Hình 3 6 Dạng xung đều cho điện châm 64

Hình 3 7 Dạng xung ngắt quãng cho điện châm 65

Hình 3 8 Dạng xung co dãn cho điện châm 66

Hình 3 9 Dạng tín hiệu điện châm ra điện cực 66

Hình 3 10 Tín hiệu 1MHz ra từ vi điều khiển đo trên Ô- Xy-Lô 67

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Hiện nay, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu chứng minh ảnh hưởng của các xung điện tần số thấp, sóng siêu âm tới hệ cơ, hệ thần kinh của con người Chúng có nhiều tác dụng trong việc điều trị các bệnh, phục hồi chức năng của các cơ quan trong cơ thể như giảm đau, gây tê, kích thích các hệ cơ, kích thích hệ thần kinh Dựa trên các nghiên cứu đó, đề tài sẽ sử dụng chức năng mềm dẻo của vi xử

lý, các mạch ngoại vi để thiết kế và chế tạo một máy trị liệu đa năng tích hợp khả năng điện châm trị liệu và siêu âm trị liệu trên cùng một thiết bị

2 Lịch sử nghiên cứu:

Trên thế giới, công nghệ thiết bị y tế đã phát triển vượt bậc.Nhiều loại thiết bị cho các chuyên khoa đã được ứng dụng những công nghệ hiện đại, trở thành yếu tố quan trọng, quyết định trình độ công nghệ y học Các nước như Mỹ, Nhật, Đức và Trung Quốc đã trở thành những trung tâm công nghệ thiết bị y tế và trở thành những nước sản xuất và xuất khẩu thiết bị y tế lớn

Tại Việt Nam, công nghiệp sản xuất trang thiết bị y tế còn hạn chế Hiện chỉ có một số ít cơ sở nghiên cứu và sản xuất thiết bị y tế nhưng chủng loại thiết bị được sản xuất cũng chưa phong phú, chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ nhu cầu của cả nước

3 Mục đích nghiên cứu của luận văn, đối tượng, phạm vi nghiên cứu: Mục đích: Luận văn này tập trung nghiên cứu và chế tạo một sản phẩm thực tế

có tên là: “Thiết kế máy siêu âm trị liệu đa năng” - đáp ứng đầy đủ các chức năng cần thiết một máy siêu âm trị liệu đã được cấp giấy phép của bộ y tế

Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu thiết kế máy siêu âm trị liệu để đưa ra các

tín hiệu điện châm và siêu âm có giá trị chữa bệnh Thiết bị được sử dụng vi điều khiển Atmega32 mang lại khả năng mềm dẻo cho thiết kế, hiệu quả về công suất và tuổi thọ cao

Trang 8

4 Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn trình bày tổng quan về lịch sử và tác dụng của châm cứu cùng với cơ

sở kỹ thuật của phương pháp điện châm và siêu âm trị liệu Trình bày thiết kế máy siêu âm trị liệu đa năng SATL1.0 trên cơ sở vi điều khiển Atmega 32, sau đó tiến hành đánh giá sản phẩm thông qua các số liệu đo đạc trên máy Oxylo

5 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu lý luận và phương pháp thực nghiệm Về phương pháp nghiên cứu lý luận: thu thập các tài liệu, phân tích đánh giá, tổng hợp thông tin liên quan để xây dựng cơ sở lý thuyết cho luận văn Đối với phương pháp thực nghiệm: tiến hành thiết kế chế tạo thiết bị trong thực tế và đo đạc đánh giá

Trang 9

CHƯƠNG I CƠ SỞ Y HỌC CỦA THIẾT BỊ TRỊ LIỆU 1.1 Đại cương về châm cứu

1.1.1 Sơ lược về lịch sử châm cứu

Căn cứ theo sách y học Trung Hoa (Nội kinh tố vấn luận) và tài liệu của Thừa Đạm Am, một Châm cứu gia trứ danh Trung Quốc, thì khoa châm cứu là một phương pháp chữa bệnh thời tối cổ của nước này cách đây hơn 5.000 năm [8] Người thượng cổ vì sự sống quá thô sơ nên phần nhiều bị ngoại tà xâm nhập làm thịt nhức, gân co Khi có bệnh chỉ biết dùng lửa để hơ và dùng đá nhọn để châm chích (thạch khí thời đại).Cách trị liệu này dần dần đúc kết thành khoa châm cứu ngày nay

Do kinh nghiệm sống thời thượng cổ, vì cuộc sống đơn giản của loài người thời

đó nên việc trị bệnh cũng đơn giản, có khi chỉ lấy tay ấn vào huyệt, xoa mạnh vào vùng kinh lạc tập trung, hay hơ ấm những nơi đó cũng lành bệnh được Phương pháp trị bệnh rất giản dị như án ma, suy nả, quất thử, huân úy, tẩm dục, đồ hoán, phu triêm, xuy thông, điều nhập, đạo dẫn, châm cứu, chà bóp, sửa lận xương gân, cạo gió, bắt gió xông giác, tắm, thoa rưới, đặt dán, thổi thụt, nhét hậu môn, thông khoan bằng thuốc hay các chất giúp cho thông đại tiện, châm đốt vào các kinh lạc của các kinh huyệt Tất cả các phương pháp trên chỉ có châm cứu là quan hệ nhất Các phương pháp khác chỉ có tính cách phụ trợ, giải quyết tạm thời chứ không thể lành bệnh hẳn được Từ khi có văn tự, sự ghi chép và kinh nghiệm về khoa châm cứu được hệ thống hoá có quy củ Trải qua hàng ngàn năm với các kinh nghiệm được bổ xung không ngừng làm cho khoa châm cứu trở nên cực kỳ tinh vi thần diệu Khoa này bắt đầu thịnh hành từ năm 1277 ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam Từ đó ngoài những châm cứu gia, các Đông y sư cũng dùng châm cứu để làm trợ liệu cho thang dược, thu thập rất nhiều kết quả khả quan ngoài sức tưởng tượng

Trang 10

Đến thế kỷ thứ XVII có một số nhà khoa học Phương Tây bắt đầu nghiên cứu

về khoa này, làm cho khoa châm cứu đươc phát triển rộng ra.Phong trào này đã đưa khoa châm cứu tiến thêm một bước khá dài

Hiện nay khoa châm cứu đã được thế giới chú ý, cả Tây y cũng tiến hành nghiên cứu phối hợp trị liệu cho các bệnh nhân Ở Pháp, Đức, Nhật, Hàn Quốc, Trung Quốc… đều có thành lập các viện châm cứu, các y viện chuyên trị bệnh bằng khoa này, thu thập hàng ngàn luận án để tổng kết phổ và biến kinh nghiệm Hội châm cứu quốc tế 3 năm họp một lần, xuất bản tạp chí ra hàng tháng (R.I.A) được phát hành rộng rãi.Ở Mỹ, châm cứu cũng đang phát triển rộng rãi Theo thống kê của Viện y học quốc gia Hoa Kỳ (NIH), tính đến năm 2007, có khoảng 1,4% người lớn ở Mỹ sử dụng châm cứu trong trị bệnh Tổ chức Y tế thế giới (WHO) cũng nhận thấy sự phát triển mạnh mẽ của châm cứu Từ những năm 1970 đã tổ chức các hội nghị về châm cứu, thực hiện nhiều nghiên cứu về châm cứu học và cũng đã công bố nhiều báo cáo về tác dụng của châm cứu trong điều trị bệnh

Ở Việt Nam, châm cứu học được ứng dụng từ rất lâu đời Từ thời Thục An Dương Vương đã có Thôi Vỹ dùng châm cứu để cứu người Các thời sau đều có các danh y sử dụng châm cứu để chữa bệnh như Trâu Canh, Tuệ Tĩnh thế kỷ XIV.Thời nhà Hồ thế kỷ XV có Nguyễn Đại Năng viết cuốn "Châm cứu tiệp hiệu diễn ca" Nguyễn Trực giới thiệu châm cứu trong nhi khoa Thế kỷ XVIII có Hải Thượng Lãn Ông

Sau cách mạng tháng 8, châm cứu Việt Nam càng phát triển mạnh mẽ Từ 1949 đến 1950, sau khi dự Hội nghị châm cứu Quốc tế về, Bác sĩ Nguyễn Văn Ba đã chuyển hướng chữa bệnh bằng khoa châm cứu Bác sĩ Nguyễn Văn Ba, nghiên cứu nhiều về Đông y và châm cứu, trong việc trị bệnh hằng ngày Bác sĩ Ba thường trị bằng châm cứu và thuốc Bắc Bác sĩ Hoàng Mộng Lương tuy chuyên về Tây y nhưng cũng áp dụng phương pháp trị liệu của khoa châm cứu

Đông Y sư cũng nhiều người có công nghiên cứu về châm cứu và có nhiều kinh nghiệm về thuật này.Ở Miền Nam có cụ Lê Chí Thuần, một Lão y sư có tên tuổi Ở

Trang 11

Huế có Lão y sư Trần Tiển Hy, Thái Y Nguyễn Văn Ái cũng là bậc Lão Y, Lão Nho, nghiên cứu và áp dụng lâu năm khoa này

Hiện nay, Chương trình châm cứu được giảng dạy chính thức ở các cấp đào tạo

y tế.Viện châm cứu Việt Nam được thành lập.Hội châm cứu Việt Nam có trên 20.000 hội viên trên khắp đất nước.Nhiều thầy thuốc châm cứu Việt Nam được mời

đi điều trị và giảng dạy tại nhiều nước trên thế giới

Tháng 11 năm 1999, Hội nghị châm cứu thế giới đã họp tại Việt Nam.Việt Nam được nhìn nhận là một nước có nền châm cứu phát triển, có nhiều đóng góp cho châm cứu thế giới.Châm cứu ở Việt Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ và được ứng dụng rộng dãi trong điều trị nhiều loại bệnh Bộ Y tế cũng đã đưa ra nhiều phác

đồ điều trị bệnh sử dụng châm cứu như phục hồi chức năng, điều trị khớp, cai nghiện

1.1.2 Châm cứu và các loại bệnh

Khoa châm cứu là thuật trị bệnh rất khoa học, dựa vào kinh lạc, cơ điểm của từng tạng phủ, từng hệ thống một của thần kinh của mỗi bộ phận trong người, đúng với nguyên tắc cấu tạo của cơ thể học [8]

Nói đến châm cứu đa số còn quan niệm là nó chỉ trị được một số bệnh như đau lưng, nhức đầu, đau bụng, tê bại, thủng trướng hay trúng phong, kinh giản… Sự thật, những bậc tiền bối của chúng ta từ trước cũng như các châm y hiện đại của Pháp, Đức, Trung Quốc đều đã dùng châm cứu đối phó với vô số bệnh tật Trong Châm cứu Đại thành hay tạp chí của Hội Châm cứu Quốc tế (Revue international de acupuncture) sẽ thấy, trừ những bệnh về ngoại thương, thì không có mấy chứng bệnh mà người ta không thể trị bằng khoa châm cứu được Cổ nhân có nói “vạn bệnh nhất châm” tức là tất cả các bệnh đều có thể chữa bằng châm cứu

Trước đây người phương tây (Âu châu) có quan niệm chỉ dùng riêng cho bệnh thuộc về nhiều loại quan năng gây ra Sau này nhờ sự gia công nghiên cứu của các châm gia nhất là ở Nhật (Thời Minh Trị có nhiều Châm y đặt vấn đề khoa học hoá

Trang 12

khoa châm cứu) người ta đã chứng minh rằng châm cứu còn trị được cả những chứng bệnh có vi trùng như sốt rét rừng, dịch tả Những bệnh về thời khí, kinh niên nội tạng bị hư hao ít nhiều như dạ dày bị trụt, cả những bệnh sở quan đến tinh thần,

si ngốc, điên cuồng Những bệnh về tâm lý như đau nhức ở mặt vì lúc nhỏ bị nhiều

sợ sệt khổ tâm (theo y án của Bác sĩ Kalma trong R.I.A số tháng 7, 8, năm 1959) Đau đầu, ói mửa vì gặp điều trái ý hay nổi giận dữ (theo y án của Bác sĩ Rebuelto trong tạp chí R.I.A tháng 4 năm 1951) Tuy nhiên, có những loại bệnh như ung thư, giang mai thì châm cứu chỉ đóng vai phụ trợ cho thuốc mà thôi

Nói chung, châm cứu đối với các loại bệnh đều giải quyết được nhất là những bệnh thâm nhiễm lâu ngày thì tác dụng của châm cứu rất nhanh Phần trợ liệu của thang dược đối với châm cứu cần trong trường hợp cơ thể suy yếu Ngược lại phần trợ liệu châm cứu đối với thang dược lại rất cần cho những trường hợp bệnh trạng quá nguy kịch mà dùng thuốc mạnh của thang dược vẫn giải quyết rất chậm Y học ngày này đã thống kê một số chỉ định dùng châm cứu chữa bệnh như sau:

- Bệnh tâm - thần kinh: tâm căn suy nhược, đau thần kinh ngoại biên (đau thần kinh hông, thần kinh liên sườn, thần kinh tam thoa), tê liệt thần kinh (liệt mặt, liệt chi, liệt nửa người)

- Bệnh tim mạch: rối loạn nhịp tim, co thắt mạch vành, cơn tăng huyết áp, hạ huyết áp, choáng

- Bệnh hô hấp: viêm amidan cấp, viêm thanh quản, ho do viêm phế quản, khó thở do hen, khản tiếng, mất tiếng

- Bệnh tiêu hoá: nôn, nấc, ỉa chảy do rối loạn tiêu hoá, cơn đau do viêm loét dạ dạy-tá tràng, táo bón, đầy bụng chậm tiêu, trĩ giai đoạn I, II, sa trực tràng

- Bệnh tiết niệu, sinh dục: bí đái cơ năng, tiểu đêm nhiều, đái dầm, thiểu năng sinh dục, di tinh, liệt dương, rối loạn kinh nguyệt, thống kinh

- Bệnh ngũ quan: đau răng, ù tai, giảm thích lực, điếc, câm, giảm thị lực, viêm mũi, rối loạn tiền đình, mẩn ngứa mề đay

Trang 13

- Đau sưng các cơ khớp hoặc teo cơ, cứng khớp

- Châm giảm đau, gây tê phẫu thuật

Trong báo cáo của WHO trong việc thử nhiệm châm cứu trong điều trị trên 15 nhóm bệnh, đã thống kê được hơn 100 loại bệnh có thể sử dụng châm cứu Trong

đó một số loại bệnh điều trị bằng châm cứu có hiệu quả cao hơn so với sử dụng các phương pháp khác

1.1.3 Nhận thức về châm cứu của đông y và tây y

Đông y là một khoa học cổ truyền của phương đông Trước sự tiến bộ mạnh mẽ của Tây y, nếu đông y không có một cơ sở lý luận, một kinh nghiệm trị liệu căn bản thực tế đem lại sức khoẻ cho loài người thì đã bị Tây y thay thế từ lâu Đông y đặt mình trên cơ sở toàn là khí hoá cho nên dù lập luận theo phương pháp mới của Tây y: giải phẫu, sinh lý chẩn đoán, dược vật v.v .chúng ta cũng gặp toàn là khí hoá [8]

Sự thật thì Đông y và Tây y mỗi bên có một nguyên lý, học thuyết khác nhau Tuy nhiên, vì mục đích phục vụ cho nhân loại thì Đông y và Tây y có thể phối hợp mỗi bên một phương pháp sẽ giúp cho nhận loại rất nhiều lợi ích

Đi theo giải phẫu sinh lý con người, chữa bệnh bằng cách dùng vật thể thay cho

bộ phận của cơ thể hư, Tây y đã đạt đến trình độ cao theo nguyên tắc lý thuyết của

họ nhưng vẫn chưa hoàn toàn thắng bệnh tật

Hiện nay một số Bác sĩ đã thấy y học ở Đông phương ngành khí hoá y hệt thuyết Hypocrate nên đã chú tâm nghiên cứu.Tây y có định hướng tìm hiểu kinh nghiệm của Đông y, Đông y sử dụng thiết bị máy móc hỗ trợ của Tây y, hai nền y học đó đang dần dung hòa

1.1.4 Học thuyết kinh lạc và quan niệm về huyệt

1.1.4.1 Học thuyết Kinh lạc

Học thuyết Kinh lạc, cũng như những học thuyết Âm dương, Ngũ hành, Tạng phủ, Dinh, Vệ, Khí, Huyết… là một trong những học thuyết cơ bản của y học cổ

Trang 14

truyền Học thuyết Kinh lạc đóng vai trò rất lớn trong sinh bệnh lý học cũng như trong điều trị của y học cổ truyền

Kinh lạc là những đường vận hành khí huyết Những con đường này chạy khắp

cơ thể, từ trên xuống dưới, từ dưới lên trên, cả bên trong (ở các tạng phủ) lẫn bên ngoài Học thuyết kinh lạc đã quy nạp được một hệ thống liên hệ chặt chẽ giữa tất

cả các vùng của cơ thể thành một khối thống nhất, thể hiện đầy đủ các học thuyết

Âm dương, Tạng phủ, Ngũ hành, mối liên quan trong ngoài- trên dưới…[8]

Hệ kinh lạc bao gồm:

- Mười hai kinh chính:

+ 3 kinh âm ở tay (Thủ tam âm): Thái âm Phế, Thiếu âm Tâm và Quyết âm Tâm bào

+ 3 kinh dương ở tay (Thủ tam dương): Dương minh Đại trường, Thiếu dương Tam tiêu và Thái dương Tiểu trường

+ 3 kinh âm ở chân (Túc tam am): Thái âm Tỳ, Thiếu âm Thận và Quyết âm Can

+ 3 kinh dương ở chân (Túc tam dương): Dương minh Vị, Thái dương Bàng quang và Thiếu dương đởm

- Tám mạch khác kinh (kì kinh bát mạch): Nhâm mạch, Đốc mạch, Xung mạch, Đới mạch, Âm duy, Dương duy, Âm kiểu, Dương kiểu

- Mười bốn lạc và đại lạc của Tỳ

- Mười hai kinh cân nối các đầu xương ở tứ chi với phủ tạng

- Mười hai kinh biệt tách ra từ 12 kinh chính

- Phần phụ thuộc gồm: tạng phủ, 12 kinh cân, 12 khu da

Dưới đây là những hình ảnh mô tả về lộ trình một số đường kinh chính trong

hệ thống kinh lạc

Trang 15

a Kinh Phế (Lung)

Đường đi: Bắt đầu từ trung tiêu (Vị) xuống liên lạc với Đại trường sau đó quay lên dạ dày (môn vị, tâm vị) xuyên qua cơ hoành lên (thuộc về) Phế Từ phế tiếp tục lên thanh quản, họng, rẽ ngang xuống dưới hố nách rồi đi ở mặt trước ngoài cánh tay (đi ngoài hai kinh Thiếu âm tâm và Quyết âm tâm bào) xuống khuỷu, tiếp tục đi

ở mặt trước cẳng tay, đến bờ trong trước đầu dưới xương quay (chỗ mạch thốn) xuống bờ ngón tay cái (Ngư tế) tận cùng ở góc móng ngón tay cái (phía xương quay)

Hình 1 1 Kinh Phế (Lung)

Phân nhánh: Từ Liệt khuyết tách ra 1 nhánh đi ở phía mu tay xuống đến góc móng ngón tay trỏ (phía xương quay) và nối với kinh Dương minh Đại trường

Kinh bị bệnh: Hố trên đòn đau, đau kịch liệt thì hai tay bắt chéo ôm ngực, mắt

tối sầm, tim loạn lên, mặt trong chi trên đau

Tạng bị bệnh: Ngực phổi đầy tức, ho, suyễn, khó thở, khát, đái rắt, đái vàng, ngực bồn chồn, gan tay nóng, nếu cảm phong hàn có sốt, gai rét, có hoặc không có

mồ hôi

Trang 16

Trị các chứng bệnh: Sốt Bệnh ở phổi, ngực, họng, khí huyết ứ trệ, đái ít khó, có tác dụng hành khí hoạt huyết, lợi tiểu [4]

b Kinh Đại trường (Large Intestine)

Hình 1 2 Kinh Đại trường (Large Intestine)

Đường đi: Từ góc móng tay trỏ (phía xương quay) dọc bờ ngón trỏ (phía mu tay) đi qua kẽ giữa hai xương bàn tay số 1 và 2 (Hợp cốc) vào hố lào giải phẫu (chỗ lõm giữa hai gân cơ dài ruỗi và ngắn ruỗi ngón cái (Dương khê) dọc bờ ngoài (phía xương quay) cẳng tay vào chỗ lõm phía ngoài khuỷu (Khúc trì); dọc phía trước ngoài cánh tay đến phía trước mỏm vai giao hội với kinh thái dương Tiểu trường ở Bỉnh phong với mạch Đốc ở Đại trùy (nơi tụ hội của 6 kinh dương) trở lại hố trên đòn (Khuyết bồn) xuống liên lạc với Phế, qua cơ hoành đi xuống (thuộc về Đại trường)

Phân nhánh: Từ hố trên đòn qua cổ lên mặt vào chân răng hàm dưới rồi vòng môi trên, hai kinh giao nhau ở Nhân trung và kinh bên phải tận cùng ở cạnh cánh mũi bên trái, kinh bên trái tận cùng ở cạnh cánh mũi bên phải để tiếp nối với kinh Dương minh

Kinh bị bệnh: Cổ sưng, răng hàm dưới, vai, cẳng tay đau; ngón trỏ, cái khó vận động Nếu tà khí ở kinh thịnh, có thể sưng đau Nếu kinh khí suy, sợ lạnh ở chỗ đường kinh đi qua

Trang 17

Phủ bị bệnh: Mắt vàng, mồm khô, đau họng, chảy máu mũi, bụng đau, sôi

bụng Nếu hàn: ỉa chảy Nếu nhiệt: ỉa nhão, dính hoặc táo bón Tà khí thịnh, sốt cao

ở mạch Đốc ( Nhân trung) mặt khác vòng môi dưới giao với mạch Nhâm (Thừa tương) rồi quay lại đi dọc phía dưới hàm dưới ra sau Đại nghinh đến trước góc hàm dưới vòng lên trước tai, giao với kinh Thiếu dương Đởm ở Thượng quan, lên bờ trước tai, giao với kinh Đởm (Huyền ly, Hàm yến), lên trên bờ góc trán rồi ngang theo chân tóc ra gặp mạch Đốc (Thần đình)

Từ trước huyệt Đại nghinh xuống cổ, dọc thanh quản, vào hố trên đòn (Khuyết bồn) thẳng qua vú, xuống bụng, đi hai bên mạch Nhâm xuống ống bẹn (Khí xung),

Trang 18

theo cơ thẳng trước (Phục thỏ) ở đùi xuống gối (Độc tỵ) dọc phía ngoài xương chày, xuống cổ chân, mu chân rồi đi ra ở bờ ngoài góc móng ngón chân thứ hai

Phân nhánh: Từ hố trên đòn (Khuyết bồn) xuyên cơ hoành (thuộc) về Vị, liên lạc với Tỳ

- Từ môn vị dạ dày xuống bụng dưới, hợp với kinh chính ở ống bẹn

- Từ Túc tam lý đi phía ngoài kinh chính xuống đến ngón chân giữa

- Từ mu bàn chân (Xung dương) vào đầu ngón chân cái để nối với kinh Thái âm

Tỳ ở chân

Kinh bị bệnh: Mũi chảy máu, miệng môi mọc mụn, họng đau, cổ sưng, mồm méo, ngực đau, chân sưng đau hoặc teo lạnh; tà khí thịnh; sốt cao, ra mồ hôi có thể phát cuồng

Phủ bị bệnh: Vị nhiệt: ăn nhiều, đái vàng, bồn chồn có thể phát cuồng Vị hàn: đầy bụng, ăn ít

Trị chứng bệnh: Bệnh ở đầu, mặt, mũi, răng, họng Bệnh ở não, dạ dày, ruột, sốt cao

d Kinh Tỳ (Spleen)

Hình 1 4 Kinh Tỳ (Spleen)

Đường đi: Bắt đầu từ góc trong móng chân cái dọc theo đường nối da mu bàn chân và da gan bàn chân đến đầu sau xương bàn chân thứ nhất; rẽ lên trước mắt cá trong, lên cẳng chân dọc bờ sau xương chày, bắt chéo kinh can, rồi đi ở phía trước

Trang 19

kinh này lên mặt trong khớp gối, phía trước của mặt trong đùi, đi vào trong bụng (thuộc) về tạng Tỳ, liên lạc với Vị, xuyên qua cơ hoành đi qua ngực đến Chu vinh xuống Đại bao, rồi lại đi lên dọc hai bên thanh quản thông với cuống lưỡi, phân bố

Tạng bị bệnh: Bụng trên đau, bụng đầy, ăn không tiêu, nôn, nuốt khó, vùng tâm

vị đau cấp, ỉa chảy, đái không lợi

Trị các chứng bệnh: Ở dạ dày, ruột, hệ sinh dục, tiết niệu

e Kinh Tâm (Heart)

Đường đi: Bắt đầu từ tim, đi vào hệ thống tổ chức mạch quanh tim (tâm hệ) qua

cơ hoành, liên lạc với Tiểu trường Từ tổ chức mạch quanh tim, lên phổi, ngang ra đáy hố nách, dọc bờ trong mặt trước chi trên, đi phía trong hai kinh Thái âm và Quyết âm ở tay, dọc bờ trước ngoài ngón tay út, ra ở đầu ngón (phía ngón cái) tay út

và nối với kinh Thái dương Tiểu trường ở tay

Hình 1 5 Kinh Tâm (Heart)

Trang 20

Phân nhánh: Từ tổ chức mạch quanh tim, dọc cạnh thanh quản lên thẳng tổ chức mạch quanh mắt ( mục hệ)

Kinh bị bệnh: Vai, mặt trong chi trên đau, gan tay nóng hoặc lạnh, mồm khô, khát muốn uống nước, đau mắt

Tạng bị bệnh: Đau vùng tim, nấc khan, sườn ngực đau tức, chứng thực thì phát cuồng, chứng hư thì bi ai, khiếp sợ

Trị các chứng bệnh: Ở tim, ngực, tâm thần

f Kinh Tiểu trường (Small Intestine)

Đường đi: Từ trong góc trong móng ngón út (phía ngón út) dọc đường nối da gan tay và da mu tay lên cổ tay đi qua mỏm châm xương trụ, dọc bờ phía ngón út xương trụ đến mỏm khuỷu và lồi cầu trong xương cánh tay Tiếp tục, đi ở bờ trong mặt sau cánh tay lên mặt sau khớp vai đi ngoằn nghèo ở trên và dưới gai xương bả vai gặp kinh Thái dương ở chân ( Phụ phân, Đại trữ) và mạch Đốc (Đại chùy) đi vào hố trên đòn (Khuyết bồn) xuống liên lạc với Tâm, dọc theo thực quản qua cơ hoành đến Vị thuộc về Tiểu trường

Hình 1 6 Kinh Tiểu trường (Small Intestine)

Phân nhánh: Từ Khuyết bồn dọc cổ lên má, đến đuôi mắt rồi vào trong tai

Trang 21

Từ má vào đến bờ dươí hố mắt, đến hốc mũi, gần mắt để nối với kinh Thái dương Bàng quang ở chân (Tinh minh) rồi xuống gò má

Kinh bị bệnh: Điếc, mắt vàng, hàm sưng, họng đau, vai và bờ trong mặt sau cánh tay đau, cổ gáy cứng

Phủ bị bệnh: Bụng dưới đau trướng, đau lan ra thắt lưng, đau dẫn xuống tinh hoàn, ỉa lỏng hoặc đau bụng, ỉa táo, ỉa khó

Trị các chứng bệnh: Ở đầu, gáy, mắt, má, mũi, họng, não, sốt

g Kinh Bàng Quang (Urinary Bladder)

Đường đi :Bắt đầu từ đầu mắt, lên trán, giao hội với mạch Đốc ở đầu Từ đỉnh đầu vào não, rồi lại ra sau gáy đi dọc phía trong xương bã vai, kẹp hai bên cột sống,

đi sâu vào vùng xương cùng để liên lạc với thận, thuộc về Bàng quang

Hình 1 7 Kinh Bàng quang (Urinary Bladder)

Trang 22

Phân nhánhTừ đỉnh đầu tách một nhánh ngang đi đến mỏm tai Từ thắt lưng có một nhánh tiếp tục đi hai bên cột sống, xuyên mông, xuống mặt sau đùi vào giữa kheo chân Từ hai bên xương bã tách ra một nhánh tiếp tục qua vùng vai đi dọc hai bên cột sống (phía ngoài đường kinh chính), đến mấu chuyển lớn, dọc bờ ngoài sau đùi hợp với đường trên ở kheo chân đi ra ở sau mắt cá ngoài (Côn lôn), rồi dọc bờ ngoài mu chân đến bờ ngoài ngón chân út và nối với kinh Thiếu âm Thận ở chân Kinh bị bệnh: Mắt đau, chảy nước mắt, chảy nước mũi, chảy máu cam, đầu, gáy, lưng, thắt lưng, cùng cụt, cột sống, mặt sau chi dưới đau, sốt

Phủ bị bệnh: Đái không thông lợi, đau tức bụng dưới, đái dầm

Trị các chứng bệnh: Ở mắt, mũi, đầu, gáy, thắt lưng, hậu môn, não, sôt, bệnh các tạng phủ (dùng các huyệt Du sau lưng)

Trang 23

- Từ gan tay đi dọc bờ (phía ngón út) của ngón đeo nhẫn đến đầu ngón nối với kinh Thiếu dương Tam tiêu ở tay

Biểu hiện bệnh lý:

Kinh bị bệnh: Mặt đỏ, nách sưng, cánh tay, khuỷu tay co quắp, gan tay nóng

- Tạng bị bệnh: Đau vùng tim, bồn chồn, tức ngực sườn, tim đập thình thịch, cuồng, nói lảm nhảm, hôn mê

Tri các chứng bệnh: Ở ngực, tim, dạ dày, bệnh tâm thần, sốt

i Kinh Tâm bào (Pericardium) và Kinh Tam tiêu (Triple Heater)

Hình 1 9 Kinh Tâm bào (Pericardium)

Hình 1 10 Kinh Tam tiêu (Triple Heater)

Trang 24

Đường đi: Bắt đầu từ trong ngực (thuộc về Tâm bào lạc xuyên cơ hoành xuống liên lạc với Thượng tiêu, Trung tiêu, Hạ tiêu)

Phân nhánh: Từ ngực ra cạnh sườn đến dưới nếp nách 3 tấc, vòng lên nách rồi theo mặt trước cánh tay đi giữa Thái âm Phế và Thiếu âm Tâm, vào giữa khuỷu tay, xuống cẳng tay đi giữa hai gân vào gan tay, đi dọc giữa ngón giữa đến đầu ngón tay

Từ gan tay đi dọc bờ (phía ngón út) của ngón đeo nhẫn đến đầu ngón nối với kinh Thiếu dương Tam tiêu ở tay

Kinh bị bệnh: Mặt đỏ, nách sưng, cánh tay, khuỷu tay co quắp, gan tay nóng Tạng bị bệnh: Đau vùng tim, bồn chồn, tức ngực sườn, tim đập thình thịch, cuồng, nói lảm nhảm, hôn mê

Tri các chứng bệnh: Ở ngực, tim, dạ dày, bệnh tâm thần

j Kinh Đởm (Gall Bladder)

Hình 1 11 Kinh Đởm (Gall Bladder)

Đường đi: Bắt đầu từ đuôi mắt, lên góc trán, vòng xuống sau tai, vòng qua đầu sang trán, vòng trở lại gáy đi dọc cổ (trước kinh Tam tiêu) xuống vai, bắt chéo ra sau kinh Thiếu dương ở tay vào hố trên đòn xuống nách, dọc ngực sườn (Chương môn), đến mấu chuyển lớn rồi đi ở mặt ngoài đùi, ra bờ dưới khớp gối, xuống cẳng

Trang 25

chân trước ngoài qua xương mác và trước mắt cá ngoài mu chân đến góc ngoài ngón chân thứ 4

Phân nhánh: Từ sau tai vào trong tai, đi ra trước tai đến phía sau đuôi mắt Từ đuôi mắt xuống huyệt Đại nghênh giao hội với kinh Thiếu dương ở tay, lên dưới hố mắt rồi lại vòng xuống dưới góc hàm để xuống cổ, giao hội với kinh chính ở phía trên đòn (Khuyết bồn) rồi vào trong ngực, qua cơ hoành, liên lạc với Can (thuộc) về Đởm Đi trong sườn, xuống vùng ống bẹn (Khí xung) vòng quanh lông mu tiến ngang vào mấu chuyển lớn Từ mu chân ra, đi giữa xương bàn chân 1,2 đến đầu ngón chân cái rồi vòng lại đến chùm lông ở gần móng chân cái và tiếp nối với kinh Quyết âm Can ở chân

Kinh bị bệnh: Sốt rét, điếc, đau đầu, hàm đau, mắt đau, hố trên đòn sưng đau, nách sưng, lao hạch, khớp háng và mặt ngoài chi dưới đau, phía ngoài bàn chân nóng, ngón chân thứ tư vận động khó

Phủ bị bệnh: Cạnh sườn đau, ngực đau, mồm đắng, nôn

Tri các chứng bệnh: Ở đầu, mặt, tai, mũi, họng, ngực, sườn, sốt

k Kinh Can (Liver)

Hình 1 12 Kinh Can (Liver)

Trang 26

Đường đi: Bắt đầu từ chòm lông góc ngoài móng ngón chân cái, dọc mu chân lên trước mắt cá trong 1 tấc, lên cẳng chân giao với kinh Thái âm tỳ rồi bắt chéo ra sau kinh Thái âm tỳ ở trên mắt cá trong 8 tấc, lên bờ trong kheo chân, dọc mặt trong đùi vào lông mu, vòng quanh bộ phận sinh dục ngoài, lên bụng dưới, đi song song với đường kinh Vị (thuộc về Can), liên lạc với Đởm, xuyên qua cơ hoành, lên phân

bố ở cạnh sườn đi dọc sau khí quản, thanh quản lên vòm họng, lên nối với tổ chức mạch quanh mắt ra trán, rồi hội với mạch Đốc ở giữa đỉnh đầu (Bách hội)

Phân nhánh: Từ tổ chức mạch quanh mắt xuống má vòng vào trong môi Từ Can qua cơ hoành vào Phế để nối với kinh Thái âm Phế

Kinh bị bệnh: Đầu đau, đầu váng, mắt hoa, nhìn không rõ, tai ù, sốt cao, có thể

co giật, đái dầm, đái không lợi

Tạng bị bệnh: Ngực tức, nôn nấc, bụng trên đau, da vàng, ỉa lỏng, họng như bị tắc, thoát vị, bụng dưới đau

Trị các chứng bệnh: Ở hệ sinh dục, bàng quang, ruột, ngực, sườn, mắt

Theo Đông y, cơ thể con người được cấu tạo bởi: ngũ tạng, lục phủ, phủ khác thường, ngũ thể (da, lông, gân, cơ, móng), các màng (cách mô, màng phổi, màng tim, màng bụng, màng treo), ngũ quan, cửu khiếu, tinh, khí, thần và kinh lạc Mỗi thành phần cấu tạo đều đảm trách một chức năng sinh lý của cơ thể.Tất cả những chức năng sinh lý này dù được chỉ huy bởi những thành phần khác nhau, riêng biệt nhưng lại liên hệ mật thiết với nhau và tạo nên tính thống nhất của cơ thể.Tình trạng

"cơ thể thống nhất" này thực hiện được là nhờ vào hệ kinh lạc

Có thể nói, kinh lạc là nơi tuần hoàn của khí huyết để nuôi dưỡng toàn thân, duy trì hoạt động sống bình thường của cơ thể Bên trong thì nuôi dưỡng tạng phủ, bên ngoài thì nuôi dưỡng chân tay xương khớp, làm cơ thể thành một khối thống nhất

Về bệnh lý, có thể xem kinh lạc là đường xâm nhập của ngoại tà vào các tạng phủ.Ngược lại, bệnh ở tạng phủ có thể mượn hệ kinh lạc để biểu hiện ra bên ngoài Thông thường, biểu hiện của bệnh tật phụ thuộc vào thể chất của người bệnh (chính

Trang 27

khí) và độc lực của tác nhân gây bệnh (tà khí), nhưng bắt buộc bệnh tật sẽ được biểu hiện bởi các triệu chứng đặc thù của kinh lạc mà nó mượn đường

Về chẩn đoán, nhờ vào kinh lạc, người thày thuốc có thể biết được biểu hiện của bệnh tật, kiểm soát các hệ thống chức năng của cơ thể, từ đó xác định được vị trí bệnh, phân biệt được trạng thái hư thực của bệnh và dự đoán các biến chứng có thể xảy ra

Trong điều trị, kinh lạc có vai trò dẫn thuốc cũng như dẫn truyền những kích thích của châm cứu đến những tạng phủ bên trong Tính dẫn truyền những phương tiện điều trị của hệ kinh lạc là cơ sở của việc chọn huyệt theo lý luận đường kinh

Hệ kinh lạc, với vai trò chức năng như trên, được xem là hệ thống giải sinh lý của y học cổ truyền.Đóng vai trò cơ bản, quan trọng trọng trong hệ thống lý luận YHCT và chỉ đạo trong mọi chuyên khoa của YHCT

phẫu-1.1.4.2 Khái niệm về huyệt trong y học cổ truyền

Theo y học cổ truyền, Huyệt là nơi thần khí hoạt động vào - ra; nó được phân

bố khắp phần ngoài cơ thể

Có thể định nghĩa huyệt là nơi khí của tạng phủ, của kinh lạc, của cân cơ xương khớp tụ lại, toả ra ở phần ngoài cơ thể.Nói cách khác, huyệt là nơi tập trung cơ năng hoạt động của mỗi tạng phủ, kinh lạc…Huyệt nằm ở một vị trí cố định nào đó trên

cơ thể người Việc kích thích tại những huyệt vị này (bằng châm hay cứu) có thể làm những vị trí khác hay bộ phận của một nội tạng nào đó có sự phản ứng nhằm đạt được những kết quả điều trị mong muốn [2]

Huyệt không những có quan hệ chặt chẽ với các hoạt động sinh lý và các biểu hiển bệnh lý của cơ thể mà còn giúp chẩn đoán và phòng chữa bệnh một cách tích cực

Theo đông y, huyệt vị có nhiều tác dụng.Về sinh lý, huyệt có quan hệ chặt chẽ với kinh mạch và tạng phủ mà nó phụ thuộc.Về bệnh lý, huyệt là cửa ngõ xâm lấn của các nguyên nhân gây bệnh từ bên ngoài.Khi sức đề kháng của cơ thể bị suy

Trang 28

giảm thì các nguyên nhân xấu bên ngoài dễ xâm lấn vào cơ thể qua các cửa ngõ này Mặt khác, bệnh của các tạng phủ kinh lạc cũng được phản ánh ra ở huyệt: đau

tự nhiên, ấn vào đau, màu sắc thay đổi, hình thái thay đổi Dựa vào những thay đổi này mà huyệt còn có tác dụng chẩn đoán bệnh

Huyệt còn là nơi tiếp nhận các kích thích khác nhau.Tác động nên huyệt với một lượng kích thích phù hợp có thể làm điều hoà được những rối loạn bệnh lý, tái lập lại hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể.Tác dụng điều trị này của huyệt tuỳ thuộc vào quan hệ giữa huyệt và kinh lạc tạng phủ Ví dụ, huyệt của phế có tác dụng với chứng khó thở, ho… Huyệt của kinh Vị có tác dụng với chứng đau bụng Với kinh nghiệm và thực tế điều trị được tích luỹ lâu đời, kết hợp với các quy luật triết học phương đông (âm dương, ngũ hành) ứng dụng vào y học, các thầy thuốc đã phân tích tổng hợp để hình thành lý luận kinh lạc, có quan hệ chặt chẽ với

hệ thống phân loại huyệt YHCT chia ra 3 loại huyệt chính:

- Huyệt A thị hay còn gọi là huyệt Thống điểm hay Thiên ứng Huyệt A thị không có vị trí cố định, chỉ xuất hiện khi có bệnh.Lấy điểm đau làm huyệt.Tác dụng chữa chứng đau cấp rất tốt

- Huyệt ngoài kinh: là những huyệt không thuộc 14 kinh mạch chính

- Huyệt thuộc kinh mạch: là các huyệt nằm trên 12 kinh chính và 2 mạch Nhâm, Đốc Các huyệt này chia ra làm 8 nhóm huyệt là: Nguyên, Lạc, Du ở lưng,

Mộ, Khích, Hội, Tổng, Ngũ du

Theo thống kê có tổng cộng 670 huyệt của đường kinh chính trong đó 618 huyệt kép (đối xứng ở hai bên cơ thể) nằm trên 12 kinh chính và 52 huyệt đơn nằm trên 2 mạch nhân đốc Có khoảng 200 huyệt ngoài kinh Trong đó có 49 huyệt đơn,

300 huyệt kép, tất cả có 349 huyệt có tên

Từ năm 1982, WHO đã thống nhất được 361 huyệt kinh điển Tài liệu chuẩn về tên của 361 huyệt đã được WHO tái bản lần 2 năm 1993 với tên của các loại huyệt

Trang 29

bằng nhiều thứ tiếng Cho đến năm 2007, WHO cũng đã định nghĩa 14 kinh với 361 huyệt, 8 kinh phụ với 48 huyệt, 14 đường châm trên đầu và một vài huyệt khác

1.1.4.3 Quan điểm về kinh lạc và huyệt trong giải phẫu

Các nhà khoa học trước đây chỉ công nhận sự hiện hữu của kinh lạc và huyệt vị châm cứu về mặt hiệu quả trị liệu và về mặt điện sinh vật

Trên cơ thể sống, ở những vùng da mà các nhà châm cứu học đã mô tả có lộ trình đường kinh thì điện trở da và trở kháng luôn thấp hơn vùng da xung quanh và tại những nơi có mô tả là huyệt thì điện trở da còn thấp hơn nữa Còn độ dẫn điện của các vùng huyệt tăng lên đáng kể

Gần đây các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu về mặt giải phẫu của các đường kinh lạc và huyệt.Những nghiên cứu này cho thấy tại điểm mà y học cổ truyền gọi

là huyệt tập trung mật độ rất cao các bó dây thần kinh và các đầu dây thần kinh.[16]

Hình 1 13 Hình ảnh dây thần kinh tại huyệt vị

Hình ảnh chụp cộng hưởng từ cũng cho thấy, tại các huyệt tập trung với mật độ

cao các đầu dây thần kinh (N-Nerves Ending), tiểu động mạch (A-Arterioles), mạch bạch huyết (V- Vessels) và các tế bào lớn (C- Mast Cells)

Trang 30

Hình 1 14 Hình ảnh chụp fMRI tại huyệt vị

Một số thí nghiệm khác cũng cho thấy sự tồn tại của huyệt vị và các đường kinh.Người ta cho một đồng vị phóng xạ vào một huyệt vị, chất đó sẽ dần tích tụ tại các huyệt khác trong một kinh Tương tự như vậy, nếu đưa một tín hiệu vào một huyệt thì có thể thu được tín hiệu này ở các huyệt khác trong kinh lạc

Các nhà khoa học cũng đặt ra cách giải thích tác dụng điều trị của châm cứu trên kinh lạc và huyệt Trong đó, kinh lạc là nơi chảy của nguồn năng lượng sinh học và dòng điện sinh học Nguồn năng lượng này chảy trong các kinh mạch và từ huyệt này sang huyệt kia

Khi có một tác nhân nào đó gây ra hiện tượng không thông suốt của kinh mạch

sẽ gây ra hiện tượng đau Châm cứu sẽ giúp loại bỏ tác nhân gây bệnh này, giúp kinh mạch lưu thông nên chữa lành bệnh

Trang 31

Hình 1 15 Nguyên nhân gây bệnh và chữa trị nhờ châm cứu

1.1.5 Kỹ thuật châm cứu

Khi châm cứu, người thày thuốc sử dụng các động tác kích thích nên huyệt vị

Trang 32

Thời thượng cổ dùng đá nhọn để châm (biếm thạch), thời Trung cổ thì dùng xương hay tre vót nhọn Sau đó do con người biết thuật luyện kim và xã hội tiến bộ,

kỹ nghệ phát triển lấy cơ giới thay cho thủ công, người ta dùng hợp kim để chế ra, khi xử dụng không gãy hoặc cong và rỉ sét

Sách Linh khu đã ghi lại 9 loại kim có hình dáng, kích thước và cách dùng khác nhau[8]:

- Tiễn đầu châm: dùng châm cạn ngoài da, hiện giờ dùng kim thất tinh hay kim mai hoa để thay thế còn kim tiễn đầu không thấy sử dụng

- Viên châm: kim tròn, dùng chà sát trên gân thịt

- Đề châm: loại kim dùng kích thích ở ngoài da

- Phong châm: có tên Tam lăng châm (kim 3 khía) dùng châm cho ra máu để làm giảm đau Thí dụ: đau lưng dữ dội châm huyệt ủy trung cho ra máu, hầu sưng nhức, châm huyệt Thiếu thương, dịch tả châm huyệt Thập Tuyên, các chứng trên đều được nhẹ

- Phi châm: Hình giống như lưỡi kiếm, thuở xưa dùng để châm cho ra mủ

- Viên lợi châm: hình giống như đuôi trâu mũi lớn nhọn, thân kim nhỏ để đâm sâu trong những chứng ung thư và tê bại

- Hào châm: hình giống như sợi lông nhọn, hiện tại loại kim này được phổ biến sâu rộng trong dân chúng

- Trường châm: hình như chiếc giày, thân kim mỏng mũi nhọn

- Đại châm: giống như chữ Đại hay chữ hỏa có nhiều người gọi là phần châm, thường dùng xương hay trúc làm cán để cầm, dùng trị những bộ phận trong sâu có mủ, ung thư xương, đau tràng hạt rất có công hiệu

Hiện nay, người ta thường dùng các loại kim sau đây:

Trang 33

- Hào châm: từ 5 phân đến 3 tấc 5 , nhỏ từ số 26 đến 32 v.v thân kim tròn trơn loại này sử dụng rất rộng trong quần chúng

- Tam lăng châm: kim 3 khía mũi nhọn để châm cho ra máu

- Bì phu châm: cũng gọi là tiểu nhi châm, có rất nhiều hình thức như cầm lấy cán gõ lên vị trí của huyệt, gõ nhiều hay ít tùy theo bệnh, nên gọi là kim hoa mai (ít

gõ 3 lần, nhiều gõ 5 lần) có tác dụng làm cho da mẫn cảm để điều chỉnh kinh lạc được phấn khởi Đánh mạnh hay nhẹ tùy theo người béo hay gầy Những người đau lưng gõ vào Du huyệt, gõ vào tay chân hay chỗ đau Mặt khác những bệnh ngoài da, bệnh mắt, bệnh dạ dày, ruột, thần kinh suy nhược dùng trị rất hữu hiệu

- Kim cài loa tai (nhĩ hoàn): là loại kim mới chế tạo, dùng để găm vào da và lưu lâu ở loa tai

Hình 1 16 Một số loại kim châm cứu

b Kỹ thuật cứu

Cứu là dùng sức nóng tác dụng lên huyệt để kích thích tạo nên phản ứng của cơ thể, nhằm mục đích phòng và trị bệnh.Có nhiều cách thức để thực hiện cứu ở huyệt.Cách thức cổ truyền là dùng ngải (phần xơ của lá cây ngải cứu đã phơi khô,

vò nát, bỏ cuống và gân lá) Ngải được cuốn thành điếu lớn đốt rồi hơ trên huyệt hoặc nhúm nhỏ đặt trực tiếp hay gián tiếp lên huyệt và đốt từ trên xuống [8]

Trang 34

Hình 1 17 Kỹ thuật cứu bằng ngải

Hiện nay, các thày thuốc châm cứu còn sử dụng đèn hồng ngoại, laser hoặc siêu

âm để cứu tại các huyệt vị

1.2 Điện châm và siêu âm trị liệu

1.2.1 Cơ sở kỹ thuật điện châm

Điện châm là phương pháp dùng một dòng điện nhất định tác động lên các huyệt châm cứu để phòng và chữa bệnh Dòng điện được tác động lên huyệt qua kim châm hoặc qua các điện cực nhỏ đặt lên da vùng huyệt [5]

Đây là phương pháp kết hợp chặt chẽ giữa phương pháp điều trị bằng châm cứu của y học cổ truyền với phương pháp chữa bệnh bằng dòng điện của y học hiện đại Hiện nay có 4 nhóm phương pháp điều trị điện:

1 Điện trường tĩnh và ion khí

2 Dòng điện một chiều đều

3 Các dòng điện xung tần số thấp, điện thế thấp

Trang 35

- Tác dụng kích thích: nhờ vào sự lên xuống của cường độ xung (độ dốc lên xuống càng dựng đứng bao nhiêu thì kích thích càng mạnh) Tần số sử dụng cho kích thích thường có tần số thấp, khoảng 5-6 xung trên một giây

- Tác dụng ức chế cảm giác và giảm trương lực cơ Tác dụng này đến nhanh khi tần số xung lớn hơn 60Hz Tần số gây ức chế tốt nhất là 100-150Hz

Trên thực tế, có nhiều dạng xung kích thích được sử dụng Mỗi loại xung có một tác dụng kích thích khác nhau:

- Dòng Faradic (xung gai nhọn): có tác dụng kích kích mạnh Tuy nhiên nếu dùng lâu thì gây ức chế

- Dòng Leduc (xung hình chữ nhật): tuỳ tần số, thời gian xung và thời gian nghỉ mà có tác dụng hưng phấn hay ức chế mạnh hơn

- Dòng Lapicque (xung hình lưỡi cày, độ dốc thoai thoải): ứng dụng tốt với những trường hợp cơ và thần kinh đã bị tổn thương

- Dòng Bernard (xung hình sin): ứng dụng tốt cho những trường hợp cơ và thần kinh bị tổn thương Dòng 50Hz có tác dụng kích thích trội hơn, dòng 100 Hz

+ Dùng để chống đau khi cần giảm đau hay gây tê trong phẫu thuật

+ Tăng cường tuần hoàn ngoại vi, khi có hiện tượng co thắt mạch, phù nề, sung huyết tĩnh mạch…

+ Dùng để điều chỉnh trạng thái thần kinh, sử dụng cho mát sa, chữa đau đầu, cai nghiện…

Trang 36

Ngoài dạng xung kích thích, việc kích thích còn phụ thuộc vào cường độ xung

và độ rộng của xung kích thích Mối quan hệ giữa hai yếu tố này như trên hình 1.18.Khi xung có độ rộng hẹp thì cường độ xung phải mạnh để có được hiệu quả trị liệu Và ngược lại, khi xung độ rộng lớn thì không cần cường độ xung lớn [5], [6]

Hình 1 18 Đường cong cường độ xung và độ rộng xung

Hình 1.18a cho thấy quan hệ giữa cường độ xung tối thiểu ứng với độ rộng xung cần thiết để bắt đầu có được sự kích thích Hình 1.18b cho thấy ngưỡng kích thích của cơ vận động (A), cơ thần kinh cảm giác () cũng như cơ thần kinh cảm thụ đau (A hoặc C) Mỗi cơ khác nhau thì ngưỡng kích thích cũng khác nhau, nhưng độ rộng xung cực đại nằm trong khoảng 0,5 ms

Hình 1.19 và 1.20 miêu tả một số loại máy điện châm phổ biến trên thị trường hiện nay

Hình 1 19 Máy điện châm DC0699 của viện trang thiết bị y tế - Việt Nam

Trang 37

Hình 1 20 Máy điện châm của Trung Quốc KW-808

1.2.2 Cơ sở kỹ thuật siêu âm trị liệu

Siêu âm trị liệu là một dạng điều trị bằng nhiệt giúp điều trị một số dạng đau mãn tính và cấp tính Một dòng điện có tần số phù hợp được đưa tới bộ chuyển đổi hoạt động theo hiệu ứng áp điện Bộ chuyển đổi sẽ chuyển tín hiệu điện thành dạng sóng siêu âm.Sóng này sẽ được đưa vào cơ thể để điều trị [5], [6]

Trong siêu âm trị liệu, tần số sử dụng từ 0,8 đến 1MHz cho điều trị vùng sâu và tần số khoảng 3MHz cho điều trị vùng bề mặt (độ sâu tối đa có thể lên tới 5 cm) và cao hơn cho trị liệu da Sóng siêu âm khi được đưa vào cơ thể làm cho các phân tử trong các mô chuyển động, do đó tạo ra nhiệt và năng lượng cơ học.Hiệu ứng trị liệu của sóng siêu âm là tạo ra nhiệt độ tại các vùng cơ cần điều trị Năng lượng này trong các máy trị liệu ở mức trung bình khoảng 1,5 W/cm2 - 4W/cm2 Năng lượng

cơ học của sóng siêu âm được chuyển thành năng lượng nhiệt theo phương trình:

C=2AI (J/cm3) Trong đó:

C là nhiệt lượng tạo ra

I là cường độ siêu âm

A là hằng số suy giảm

Trang 38

Do khả năng đâm xuyên của siêu âm nên nó có thể làm nóng các cơ và sử dụng

để điều trị cho các mô cơ, gân, dây chằng, khớp và xương Có 2 dạng sóng siêu âm được sử dụng trong trị liệu là sóng liên tục và dạng xung siêu âm Dạng xung được ứng dụng trong các loại điều trị không cần hiệu ứng nhiệt như điều trị viêm cấp tính hay chăm sóc các vết thương

Siêu âm trị liệu được sử dụng rộng rãi trong điều trị tổn thương xương, sẹo và giúp giảm co các dây chằng.Nó còn được sử dụng để điều trị các chứng viêm cơ, viêm khớp.Trong thần kinh, siêu âm được sử dụng để điều trị các chứng dây thần kinh bị chèn ép, các loại viêm dây thần kinh và các tổn thương do chấn thương Siêu âm trị liệu cũng được sử dụng kết hợp với điện châm để tăng hiệu quả điều trị

Về nguyên lý, sóng cơ học với tần số siêu âm được tạo bởi một bộ chuyển đổi

Bộ chuyển đổi này thường có cấu tạo là một đĩa gốm áp điện hoặc vật liệu áp điện đơn tinh thể có đường kính vài cm Khi đưa một điện áp xoay chiều vào hai cực kích thích, do hiệu ứng áp điện nghịch sẽ tạo ra sự co dãn liên tục Độ dày của đĩa bằng một nửa chiều dài bước sóng tại tần số mà bộ chuyển đổi hoạt động

Khi đưa tín hiệu điện cưỡng bức có tần số trùng với tần số hoạt động của bộ chuyển đổi sẽ xuất hiện hiện tượng cộng hưởng, đĩa gốm sẽ rung với biên độ lớn nhất Tín hiệu điện kích thích có thể được đưa vào để tạo ra sự rung cơ khí theo chiều dày, theo chiều rộng hoặc phát xạ nếu đĩa gốm hình trụ Một số hằng số vật lý đặc trưng cho gốm áp điện là:

- Hằng số tần số= tần số cộng hưởng (Hz) Bước sóng (m)

Ví dụ bộ chuyển đổi sử dụng vật liệu có hằng số tần số là 1960 tương ứng với điện áp kích thích cho miếng gốm ở chế độ rung theo chiều dày, tần số cộng hưởng

là 1MHz, chiều dày của đĩa gốm là: 1960(m.Hz)/(1000.10-6)=1,960mm

- Hệ số chuyển đổi điện cơ = SQR(năng lượng cơ tạo ra/năng lượng điện đưa vào)

Trang 39

Hệ số này đặc trưng cho hiệu suất chuyển đổi năng lượng điện thành năng lượng cơ học Chất lượng gốm càng tốt thì hệ số này càng cao Bộ chuyển đổi sử dụng trong thiết bị của đề tài có hệ số chuyển đổi là 0,68

- Hằng số biến dạng =độ biến dạng/điện áp đưa vào

Hằng số này đặc trưng cho quan hệ giữa độ biến dạng của gốm với điện áp đưa vào để đạt được độ biến dạng đó Đơn vị đo của hằng số là m/V Bộ chuyển đổi trong đề tài có hằng số biến dạng là 317.10-12 m/V

- Hệ số phẩm chất Q Đặc trưng cho chất lượng của bộ dao động cơ học tại

tần số cộng hưởng

Hình 1.21, 1.22, 1.23 mô tả một số máy siêu âm trị liệu hiện nay:

Hình 1 21 Máy DT20 của Italy

Trang 40

Hình 1 22 Máy SI190 của Hà Lan

Hình 1 23 ST10A của Hàn Quốc

Ngày đăng: 22/07/2017, 23:16

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. GS. Phạm Văn Ất (1999), Kỹ thuật lập trình C, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật lập trình C
Tác giả: GS. Phạm Văn Ất
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1999
2. PGS.TS. Trương Việt Bình (chủ biên), BSCKII. Phạm Chiêu Dương (2005), Châm cứu, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm cứu
Tác giả: PGS.TS. Trương Việt Bình (chủ biên), BSCKII. Phạm Chiêu Dương
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2005
3. Lê Văn Doanh, Phạm Khắc Chương (1998), Kỹ thuật vi điều khiển, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật vi điều khiển
Tác giả: Lê Văn Doanh, Phạm Khắc Chương
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1998
4. PGS.TS. Phan Quan Chí Hiếu (2007), Châm Cứu Học, NXB Y học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Châm Cứu Học
Tác giả: PGS.TS. Phan Quan Chí Hiếu
Nhà XB: NXB Y học
Năm: 2007
5. KS. Nguyễn Hải Long (2006), Máy điện châm, tài liệu đào tạo nghề bảo dưỡng-sửa chữa thiết bị y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Máy điện châm
Tác giả: KS. Nguyễn Hải Long
Năm: 2006
6. KS. Trương Minh Nguyệt (2006), Máy điện châm KWD-808-I, Tài liệu học tập trường kỹ thuật thiết bị y tế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Máy điện châm KWD-808-I
Tác giả: KS. Trương Minh Nguyệt
Năm: 2006
7. Ngô Diên Tập (2006), Vi điều khiển với lập trình C, NXB Khoa học và Kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vi điều khiển với lập trình C
Tác giả: Ngô Diên Tập
Nhà XB: NXB Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 2006
8. Hòa thượng Thích Tâm Ấn (1965), Biên khảo về Châm cứu học, Thư viện Online Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biên khảo về Châm cứu học
Tác giả: Hòa thượng Thích Tâm Ấn
Năm: 1965
9. Quyết định số 5467/2003/QĐ-BYT của Bộ trưởng Bộ Y tế về việc ban hành "Hướng dẫn áp dụng phương pháp điện châm hỗ trợ điều trị cai nghiện ma túy"Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn áp dụng phương pháp điện châm hỗ trợ điều trị cai nghiện ma túy
10. Atmel Corporation (06/2008), ATmega32 , 8155A–AVR–06/08 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ATmega32
11. Atmega Corporation (04/2008), AVR Intruction Set , 0856G–AVR–07/08 12. Atmega Corporation (4/2008),Getting Started with the CodeVisionAVR C Compiler, 2500C–AVR–04/08 Sách, tạp chí
Tiêu đề: AVR Intruction Set" , 0856G–AVR–07/08 12. Atmega Corporation (4/2008),"Getting Started with the CodeVisionAVR C Compiler
13. Educational Engineering, Biomedical Physiological Stimulators, Italy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biomedical Physiological Stimulators
14. Moheimani, PhD; Andrew J. Fleming, PhD (2006),Piezoelectric Transducers for Vibration Control and Damping, University of Newcastle Sách, tạp chí
Tiêu đề: Piezoelectric Transducers for Vibration Control and Damping
Tác giả: Moheimani, PhD; Andrew J. Fleming, PhD
Năm: 2006
15.Dr Xiaorui Zhang (2000), Acupunction: Review and Analysis of report on controlled clinical trials,Department of Essential Drugs and Medicines Policy (EDM) - WHO Sách, tạp chí
Tiêu đề: Acupunction: Review and Analysis of report on controlled clinical trials
Tác giả: Dr Xiaorui Zhang
Năm: 2000
16. R.M. Clemmons, DVM, PhD (2008), Science of Acupuncture, RIA Meeting Sách, tạp chí
Tiêu đề: Science of Acupuncture
Tác giả: R.M. Clemmons, DVM, PhD
Năm: 2008
17. Raman Sankar, Jong M. Rho, José E. Cavzos (2005), Scientific and Clinical Foundations, Taylor & Francis Library Sách, tạp chí
Tiêu đề: Scientific and Clinical Foundations
Tác giả: Raman Sankar, Jong M. Rho, José E. Cavzos
Năm: 2005
18. WHO (26/6/2007), WHO international standard terminologies on traditional medicine in western facific region.Một số Website tham khảo 19. WWW.Alldatasheet.com 20. WWW.atmel.com 21. WWW.moh.gov.vn 22. WWW.who.int Sách, tạp chí
Tiêu đề: WHO international standard terminologies on traditional medicine in western facific region

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w