Bài thu hoạch diễn án hồ sơ tình huống số 17 Tranh chấp thừa kế I. Tóm tắt vụ án Gia đình cụ Hà Thị Lợi và cụ Hoàng Đình Toát có năm người con là: Hoàng Đình Bang, Hoàng Thị Khả, Hoàng Thị Tác, Hoàng Đình Cương và Hoàng Thị Dung. Cụ Hoàng Đình Toát tham gia kháng chiến chống Pháp và mất năm 1950. Năm 1958, cụ Lợi đến sinh sống với con gái Hoàng Thị Tác và con rể Lưu Công Thành trên mảnh đất cụ Hoàng Thị Liễu cho. Sau đó, cụ Liễu với cụ Lợi thỏa thuận cụ Lợi và các con ở trên mảnh đất của cụ Liễu, còn cụ Liễu sẽ cho con gái là Xuyến ở trên mảnh đất cũ nhà cụ Lợi. Năm 1969, bà Tác và ông Thành chuyển vào Nghĩa Lộ sinh sống, đất để lại cho cụ Lợi và các em sinh sống. Năm 1966, bà Hoàng Thị Dung đi học chuyên nghiệp không ở nhà. Chỉ còn ông Hoàng Đình Cương sinh sống với cụ lợi. Năm 1968 ông Cương lấy bà Đào Thị Chế. Năm 1979, ông Cương và bà Chế ly hôn. Năm 1980, ông Cương lấy bà Hà Thị Bình. Từ đó cho đến nay, hai vợ chồng sinh sống và quản lý sử dụng mảnh đất có diện tích 776m2 đất thổ cư cùng hai thửa vườn đồi trước và sau nhà khai phá thêm để trồng cây cọ và một số loại hoa màu khác cùng với cụ Lợi. Năm 1996, cụ Lợi đến ở với con trai Hoàng Đình Bang và con gái Hoàng Thị Dung cho đến năm 2007 thì cụ mất. Năm 2000, ông Cương xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) và được cơ quan có thẩm quyền cấp. Năm 2007 ông Cương chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 288m2 đất trong số 776m2 đất thổ cư cho anh Hoàng Văn Thắng (con riêng bà Hà Thị Bình). Năm 2011, bà Hoàng Thị Tác biết sự việc và khởi kiện ông Hoàng Đình Cương và bà Hà Thị Bình, yêu cầu ông bà trả lại đất để chia thừa kế diện tích đất 776m2 và hai thửa đất vườn đồi với lý do đây là di sản thừa kế cụ Lợi để lại. Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Tác. Sinh năm 1939. Địa chỉ: Tổ 17 phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái. Bị đơn: Ông Hoàng Đình Cương sinh năm 1941; Bà Hà Thị Bình sinh năm 1961. Địa chỉ : thôn Thanh Bồng, Đại Lịch, Văn Chấn, Yên Bái. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Hoàng Đình Bang. Địa chỉ: Phường Minh Tân, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Bà Hoàng Thị Khả. Địa chỉ: Thôn Dọc, xã Viêt Hồng, Trấn Yên, Yên Bái. Bà Hoàng Thị Dung. Địa chỉ: tổ 57, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Anh Hoàng Văn Thắng. Địa chỉ: thôn Thanh Bồng, Đại Lịch, Văn Chấn, Yên Bái. II. Bản trình bày của luật sư bị đơn. Kính thưa HĐXX, thưa đại diện viện kiểm sát, tôi là Nguyễn Thị Thúy Hoa, thuộc văn phòng luật sư X, Đoàn luật sư thành phố Hà nội, tham gia phiên tòa ngày hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích cho bà Hà Thị Bình. Gia đình cụ Hà Thị Lợi và cụ Hoàng Đình Toát có năm người con là: Hoàng Đình Bang, Hoàng Thị Khả, Hoàng Thị Tác, Hoàng Đình Cương và Hoàng Thị Dung. Cụ Hoàng Đình Toát tham gia kháng chiến chống Pháp và mất năm 1950. Năm 1958, cụ Lợi đến sinh sống với con gái Hoàng Thị Tác và con rể Lưu Công Thành trên mảnh đất cụ Hoàng Thị Liễu cho. Sau đó, cụ Liễu với cụ Lợi thỏa thuận cụ Lợi và các con ở trên mảnh đất của cụ Liễu, còn cụ Liễu sẽ cho con gái là Xuyến ở trên mảnh đất cũ nhà cụ Lợi. Năm 1969, bà Tác và ông Thành chuyển vào Nghĩa Lộ sinh sống, đất để lại cho cụ Lợi và các em sinh sống. Năm 1966, bà Hoàng Thị Dung đi học chuyên nghiệp không ở nhà. Chỉ còn ông Hoàng Đình Cương sinh sống với cụ lợi. Năm 1968 ông Cương lấy bà Đào Thị Chế. Năm 1979, ông Cương và bà Chế ly hôn. Năm 1980, ông Cương lấy bà Hà Thị Bình. Từ đó cho đến nay, hai vợ chồng sinh sống và quản lý sử dụng mảnh đất có diện tích 776m2 đất thổ cư cùng hai thửa vườn đồi trước và sau nhà khai phá thêm để trồng cây cọ và một số loại hoa màu khác cùng với cụ Lợi. Năm 2007, cụ Lợi mất. Năm 2000, ông Cương xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) và được cơ quan có thẩm quyền cấp. Năm 2007 ông Cương chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 288m2 đất trong số 776m2 đất thổ cư cho anh Hoàng Văn Thắng (con riêng bà Hà Thị Bình). Đây là tài sản chung của ông Cương và bà Bình và yêu cầu tòa án bác yêu cầu chia thừa kế của bà Hoàng Thị Tác. Căn cứ chứng minh Sổ hộ khẩu gia đình ông Hoàng Đình Cương và bà Hà Thị Bình Giấy CMTND bà Hà Thị Bình Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2000 mang tên ông Hoàng Đình Cương. Biên bản lấy lời khai tại tòa. III. Kế hoạch hỏi 1. Hỏi bà Hoàng Thị Tác Bà không ở với cụ Lợi từ năm nào? Hiện nay sinh sống ở đâu? Bà yêu cầu chia thừa kế để làm gì? Năm 2000, ông Cương làm sổ đỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà phản đối như thế nào? Cụ Lợi có phản đối không?
Trang 1Bài thu hoạch diễn án hồ sơ tình huống số 17
Tranh chấp thừa kế
I Tóm tắt vụ án
Gia đình cụ Hà Thị Lợi và cụ Hoàng Đình Toát có năm người con là: Hoàng Đình Bang, Hoàng Thị Khả, Hoàng Thị Tác, Hoàng Đình Cương và Hoàng Thị Dung Cụ Hoàng Đình Toát tham gia kháng chiến chống Pháp và mất năm 1950
Năm 1958, cụ Lợi đến sinh sống với con gái Hoàng Thị Tác và con rể Lưu Công Thành trên mảnh đất cụ Hoàng Thị Liễu cho Sau đó, cụ Liễu với
cụ Lợi thỏa thuận cụ Lợi và các con ở trên mảnh đất của cụ Liễu, còn cụ Liễu
sẽ cho con gái là Xuyến ở trên mảnh đất cũ nhà cụ Lợi Năm 1969, bà Tác và ông Thành chuyển vào Nghĩa Lộ sinh sống, đất để lại cho cụ Lợi và các em sinh sống Năm 1966, bà Hoàng Thị Dung đi học chuyên nghiệp không ở nhà Chỉ còn ông Hoàng Đình Cương sinh sống với cụ lợi Năm 1968 ông Cương lấy bà Đào Thị Chế Năm 1979, ông Cương và bà Chế ly hôn Năm 1980, ông Cương lấy bà Hà Thị Bình Từ đó cho đến nay, hai vợ chồng sinh sống và quản lý sử dụng mảnh đất có diện tích 776m2 đất thổ cư cùng hai thửa vườn đồi trước và sau nhà khai phá thêm để trồng cây cọ và một số loại hoa màu khác cùng với cụ Lợi Năm 1996, cụ Lợi đến ở với con trai Hoàng Đình Bang
và con gái Hoàng Thị Dung cho đến năm 2007 thì cụ mất
Năm 2000, ông Cương xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) và được cơ quan có thẩm quyền cấp Năm 2007 ông Cương chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 288m2 đất trong số 776m2 đất thổ cư cho anh Hoàng Văn Thắng (con riêng bà Hà Thị Bình)
Năm 2011, bà Hoàng Thị Tác biết sự việc và khởi kiện ông Hoàng Đình Cương và bà Hà Thị Bình, yêu cầu ông bà trả lại đất để chia thừa kế diện tích
Trang 2đất 776m2 và hai thửa đất vườn đồi với lý do đây là di sản thừa kế cụ Lợi để lại
Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Tác Sinh năm 1939 Địa chỉ: Tổ 17
phường Trung Tâm, thị xã Nghĩa Lộ, Yên Bái
Bị đơn:
- Ông Hoàng Đình Cương sinh năm 1941;
- Bà Hà Thị Bình sinh năm 1961
Địa chỉ : thôn Thanh Bồng, Đại Lịch, Văn Chấn, Yên Bái
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Hoàng Đình Bang Địa chỉ: Phường Minh Tân, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
- Bà Hoàng Thị Khả Địa chỉ: Thôn Dọc, xã Viêt Hồng, Trấn Yên, Yên Bái
- Bà Hoàng Thị Dung Địa chỉ: tổ 57, phường Đồng Tâm, thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái
- Anh Hoàng Văn Thắng Địa chỉ: thôn Thanh Bồng, Đại Lịch, Văn Chấn, Yên Bái
II Bản trình bày của luật sư bị đơn.
Kính thưa HĐXX, thưa đại diện viện kiểm sát, tôi là Nguyễn Thị Thúy Hoa, thuộc văn phòng luật sư X, Đoàn luật sư thành phố Hà nội, tham gia phiên tòa ngày hôm nay với tư cách là người bảo vệ quyền và lợi ích cho bà
Hà Thị Bình
Gia đình cụ Hà Thị Lợi và cụ Hoàng Đình Toát có năm người con là: Hoàng Đình Bang, Hoàng Thị Khả, Hoàng Thị Tác, Hoàng Đình Cương và
Trang 3Hoàng Thị Dung Cụ Hoàng Đình Toát tham gia kháng chiến chống Pháp và mất năm 1950
Năm 1958, cụ Lợi đến sinh sống với con gái Hoàng Thị Tác và con rể Lưu Công Thành trên mảnh đất cụ Hoàng Thị Liễu cho Sau đó, cụ Liễu với
cụ Lợi thỏa thuận cụ Lợi và các con ở trên mảnh đất của cụ Liễu, còn cụ Liễu
sẽ cho con gái là Xuyến ở trên mảnh đất cũ nhà cụ Lợi Năm 1969, bà Tác và ông Thành chuyển vào Nghĩa Lộ sinh sống, đất để lại cho cụ Lợi và các em sinh sống Năm 1966, bà Hoàng Thị Dung đi học chuyên nghiệp không ở nhà Chỉ còn ông Hoàng Đình Cương sinh sống với cụ lợi Năm 1968 ông Cương lấy bà Đào Thị Chế Năm 1979, ông Cương và bà Chế ly hôn Năm 1980, ông Cương lấy bà Hà Thị Bình Từ đó cho đến nay, hai vợ chồng sinh sống và quản lý sử dụng mảnh đất có diện tích 776m2 đất thổ cư cùng hai thửa vườn đồi trước và sau nhà khai phá thêm để trồng cây cọ và một số loại hoa màu khác cùng với cụ Lợi Năm 2007, cụ Lợi mất
Năm 2000, ông Cương xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sổ đỏ) và được cơ quan có thẩm quyền cấp Năm 2007 ông Cương chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 288m2 đất trong số 776m2 đất thổ cư cho anh Hoàng Văn Thắng (con riêng bà Hà Thị Bình)
Đây là tài sản chung của ông Cương và bà Bình và yêu cầu tòa án bác yêu cầu chia thừa kế của bà Hoàng Thị Tác
Căn cứ chứng minh
- Sổ hộ khẩu gia đình ông Hoàng Đình Cương và bà Hà Thị Bình
- Giấy CMTND bà Hà Thị Bình
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp năm 2000 mang tên ông Hoàng Đình Cương
- Biên bản lấy lời khai tại tòa
Trang 4III Kế hoạch hỏi
1 Hỏi bà Hoàng Thị Tác
- Bà không ở với cụ Lợi từ năm nào? Hiện nay sinh sống ở đâu?
- Bà yêu cầu chia thừa kế để làm gì?
- Năm 2000, ông Cương làm sổ đỏ- giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
bà phản đối như thế nào? Cụ Lợi có phản đối không?
2 Hỏi ông Hoàng Đình Cương
- Ông ở trên mảnh đất đang tranh chấp từ khi nào?
- Khi lập gia đình với bà Bình ông có ra ở riêng không? Ai oÔng ở trên mảnh đất đang tranh chấp từ khi nào?
- Khi lập gia đình với bà Bình ông có ra ở riêng không? Ai ở với cụ Lợi?
3 Hỏi bà Hà Thị Bình
- Ai là người thờ phụng cụ Toát và cụ Lợi?
- Hàng năm các anh chị em có về nhà bà tham gia cúng, giỗ không?
- Năm 2000, anh chị làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ Lợi có ý kiến gì không?
IV Bản luận cứ bảo vệ bị đơn bà Hoàng Thị Bình.
Kính thưa HĐXX, tôi tham gia phiên tòa đề bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Hà Thị Bình
Gia đình cụ Hà Thị Lợi và cụ Hoàng Đình Toát có năm người con là: Hoàng Đình Bang, Hoàng Thị Khả, Hoàng Thị Tác, Hoàng Đình Cương
và Hoàng Thị Dung Cụ Hoàng Đình Toát tham gia kháng chiến chống Pháp và mất năm 1950 Cụ Lợi mất năm 2007
Trang 5Bà Bình và ông Cương đến và xây dựng hạnh phúc gia đình với nhau khi trải qua bao nhiêu sóng gió của những cuộc hôn nhân trước năm 1980 Khi về làm dâu, thân chủ tôi đã tần tảo sớm hôm, chăm sóc các con nhỏ dại và mẹ chồng già yếu Hai vợ chồng thân chủ tôi đã quản lý sử dụng mảnh đất đang tranh chấp, mặt khác dồn nhiều tâm huyết để tu bổ cải tạo, giữ gìn phần đất thổ cư, đặc biện là hai thửa đất vườn đồi sau nhà, thân chủ tôi đã mở rộng được gấp đôi diện tích đất trồng cọ và hoa màu
Hai vợ chồng thân chủ tôi sinh sống tại xã Đại Lịch, huyện Văn Chấn, tỉnh Yên Bái, thuộc vùng quê phía Bắc của nước Việt Nam Tại đây, tập quán
từ lâu đời và quan niệm trọng nam cho rằng người con trai sống với bố mẹ, chăm sóc lúc bố mẹ tuổi già, ốm đau sẽ được hưởng phần đất đai bố mẹ để lại
và thờ phụng hương khói cho các cụ Ông Cương và bà Bình đã chăm sóc cụ Lợi từ năm 1980 cho đến năm 1996 thì các anh chị e khác muốn chia sẻ trách nhiệm chăm nom mẹ già nên mới đón đi chứ hoàn toàn không phải theo ý kiến chủ quan của bà Tác là thân chủ tôi đã không chăm sóc cụ Lợi theo nghĩa vụ của người làm con Mặt khác, năm 2000 khi thân chồng thân chủ tôi xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ Lợi lúc đó còn sống khỏe mạnh, minh mẫn mà không có ý kiến gì thì tức là cụ đã đồng ý cho đất ông Cương và bà Bình theo như tập quán
Vậy theo Điều 14, Luật Hôn nhân và Gia đình năm 1986 quy định: “Tài
sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra, thu nhập về nghề nghiệp và những thu nhập hợp pháp khác của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được cho chung.”
Tức là phần đất thổ cư có diện tích 776m2 và hai thửa đất vườn đồi đã thuộc tài sản chung của vợ chồng ông Cương và bà Bình từ năm 2000 mà không ai phản đối hoặc có ý kiến gì
Trang 6Từ những căn cứ trên đây đã chứng minh rằng việc yêu cầu chia thừa kế của bà Hoàng Thị Tác là không có căn cứ, chúng tôi đề nghị tòa án bác yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của nguyên đơn Hoàng Thị Tác
Xin trân trọng cảm ơn
NHẬN XÉT DIỄN ÁN
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 7………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 8………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 9………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 10………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 11………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
………
Trang 12………
………
………
………
………
………
………
………
………
………