- Đọc- hiểu một văn bản văn học là quá trình đọc – hiểu từ ngữ, hiểu ý câu thơ, câu văn, nắm bắt được các từ ngữ then chốt có giá trị biểu cảm và biểu hiện tư tưởng, nắm bắt được hình t
Trang 1TỔNG KẾT PHƯƠNG PHÁP ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN VĂN HỌC
Trang 2I NỘI DUNG
+ Ngữ cảnh văn hóa (ngữ cảnh hẹp): là hoàn cảnh giao tiếp trong văn bản
Muốn hiểu và suy ra nghĩa của văn bản, cần phải dựa vào hoàn cảnh giao tiếp
“Hôm qua tát nước đầu đình,
Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen
Em được thì cho anh xin, Hay là em để làm tin trong nhà?
…”
+Ngữ cảnh xã hội, lịch sử (ngữ cảnh rộng): muốn tìm hiểu căn nguyên sâu
xa của văn bản, ta phải đặt văn bản vào “thời” của nó
Trang 31 Thế nào là đọc hiểu một văn bản văn học
a) Đọc- hiểu một văn bản văn học là gì?
- Đọc- hiểu một văn bản văn học là quá trình đọc – hiểu từ ngữ, hiểu ý câu thơ, câu văn, nắm bắt được các từ ngữ then chốt có giá trị biểu cảm
và biểu hiện tư tưởng, nắm bắt được hình tượng và ý nghĩa của nó trong văn bản, từ đó khái quát được tư tưởng, tình cảm trong tác phẩm
và đánh giá được tư tưởng, nghệ thuật của tác phẩm ấy.
- Đọc hiểu văn bản là một quá trình từ cảm đến hiểu, từ hiểu bề ngoài đến hiểu được ý tứ sâu xa của tác phẩm.
b) Biểu hiện của đọc- hiểu văn bản văn học:
- Từ hiểu khái quát, đúng đắn, sâu sắc về văn bản tác phẩm, người đọc có thể tiến hành phân tích, giải thích, bình luận, giúp người khác có thể đọc- hiểu văn bản ấy, giải thích bình luận được bài văn là biểu hiện quan trọng của sự hiểu văn.
c) Quá trình văn học trong nhà trường
- Là quá trình đọc- hiểu từng bài, tập phát hiện các từ ngữ, chi tiết và khái quát về tư tưởng tác phẩm, cuối cùng biết phân tích, bình luận, đối thoại với các tác phẩm ấy hoặc các tác phẩm cùng loại
Hình thành kĩ năng, kinh nghiệm đọc hiểu văn bản văn học
Trang 42 Phương pháp đọc hiểu
2.1 Đọc – hiểu tác phẩm văn học trước hết là đọc – hiểu từ ngữ, câu văn,
câu thơ, phát hiện các từ ngữ biểu hiện cách cảm nhận độc đáo, hiểu được
tư tưởng, tình cảm tác giả thể hiện qua từ ngữ, câu văn, đoạn văn, bài thơ
a) Khám phá nhan đề, đề từ, mở, kết của văn bản.
- Nhan đề thường kết tinh nội dung và tư tưởng của tác phẩm
- Mở, kết của tác phẩm cũng có tầm quan trọng đặc biệt nó phản ánh cách đặt vấn đề và giải quyết các vấn đề đời sống của tác giả
Trang 52 Phương pháp đọc hiểu
b) Tìm hiểu từ ngữ, điểm nhìn và cái nhìn chủ thể.
- Khi tiếp nhận văn bản, nhất thiết phải tìm hiểu các từ ngữ, nhất
là những từ “thần”, từ “đắt’
- Để hiểu sâu sắc văn bản, người đọc cũng phải xác định điểm nhìn, cái nhìn của chủ thể nhà văn, để từ đó hiểu thêm ý tứ của tác giả
c) Đọc hiểu nghĩa câu văn, đoạn văn trong văn bản.
- Khi đọc, cần dừng lại ở những câu thơ hay, những đoạn văn tiêu biểu để suy ngẫm, phân tích, đánh giá chúng Từ cách hiể nhò đọc kỹ, đọc chậm đó mà ta hiểu được ý tứ của tác giả
Trang 62 Phương pháp đọc hiểu
2.2 Kiến tạo nội dung văn bản bằng cách tìm ra mạch chủ đề nối kết các chi tiết giữa các đoạn trong văn bản và ý nghĩa khái quát của hình tượng nhân vật
2.3. Trong khi đọc – hiểu văn bản, cần khái quát tư tưởng, tình cảm của tác giả qua các tác phẩm hay đoạn trích
2.4. Đối với các bài thơ, đoạn thơ cần chú ý đặc điểm của ngôn từ thơ, tìm hiểu từ ngữ, giọng điệu, hình ảnh, tứ thơ, mối liên kết chìm giữa các hình ảnh, từ đó cảm nhận được cái không khí và ý nghĩa của hình tượng đó
a) Chọn những thông tin quan trọng nhất trong bài văn để suy ngẫm.
b) Nắm bắt các câu then chốt trong bài văn.
- Câu chuyển đoạn, chuyển mạch, chuyển ý.
- Câu chủ đề (đầu hoặc cuối đoạn).
- Câu trung tâm và tư tưởng của bài văn
Trang 7II LUYỆN TẬP
Bài 1: Chỉ ra những nét đặc sắc trong khổ thơ:
“Ôi những cánh đồng quê chảy máu Dây thép gai đâm nát cả trời chiều Những đêm dài hành quân nung nấu Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”
(Nguyễn Đình Thi - Đất nước)
Trang 8+ Gợi ý:
1 Hai câu đầu: Bức tranh về đất nước đau thương, anh dũng trong chiến tranh và ách chiếm đóng nặng nề, dã man của giặc
a) Bằng biện pháp nhân hóa đặc sắc, hai câu thơ đã diễn tả được một cách cô đọng và tập trung cảnh làng xóm quê hương chảy máu, đau thương và tinh thần anh dũng của đồng bào trong chiến đấu.
b) Hình ảnh thơ được xây dựng từ một hình ảnh thực, có sức khơi gợi
đặc biệt
c) Nét nghệ thuật đặc sắc ở hai câu này là tác giả đã sử dụng thủ pháp nhân hóa đơn sơ mà rất gợi cảm và đặc biệt là thủ pháp ngược sáng điện ảnh, tạo nên sự tương phản gay gắt về đường nét, màu sắc, gây ấn tượng mạnh mẽ trong tâm trí người đọc.
Trang 9+ Gợi ý:
2. Hai câu sau :
a) Hai câu thơ trên thiên về ngoại cảnh, hai câu tiếp theo đã đi sâu vào tâm trạng:
c) Tất cả đã làm tỏa sáng vẻ đẹp tâm hồn lãng mạn mộng mơ mà ta đã bắt gặp ở nhiều trong thơ ca chống Pháp viết về người lính chiến đấu cho một lí tưởng cao đẹp
b) Hai hình ảnh “đêm dài hành quân nung nấu” và “Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”có sự đối lập mà thống nhất
Trang 10II LUYỆN TẬP
Bài 2: Phân tích vẻ đẹp và ý
nghĩa của đoạn thơ
Sông Mã xa rồi Tây tiến ơi ! Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây, súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời ! Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
(Quang Dũng – Tây Tiến)
Trang 11+ Vẻ đẹp của bài thơ Tây Tiến trước hết là “Nỗi nhớ”
+ Gợi ý:
- Đấy là nỗi nhớ kìm nén, ám ảnh từ rất lâu bây giờ mới bật lên tiếng gọi tha thiết, tạo nên tính nhạc cho câu thơ: Tiếng gọi, tiếng lòng, từ lòng người vào thời gian lan rộng sang không sang bật lên như một tiết ngân rất dài
- Đấy là cảm xúc chủ đạo bao trùm trong thơ, nỗi nhớ ấy vừa có
phương hướng, “nhớ về” Vừa có đặc điểm là “chơi vơi”, nên tạo được
màu sắc riêng cho bài thơ
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi”
Trang 12+ Gợi ý:
+ Vẻ đẹp ấy còn thể hiện qua thiên nhiên
- Thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội, hiểm nguy nhưng không ngăn nổi bước chân người lính
“Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi”
• Địa danh: những vùng đất xa xôi, hoang sơ
“Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây, súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”
• Địa hình: Dốc khúc khuỷu, thăm thẳm, ngàn thước cao, ngàn
thước sâu
• Thời tiết: sương lấp, mưa xa khơi
“Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”
• Âm thanh: tiếng gầm của cọp, beo nơi rừng thiêng nước độc
- Thiên nhiên Tây Bắc bên cạnh cái hùng vĩ, hiểm trở là những nét vẽ đầy thơ mộng trữ tình
“…Mường Lát hoa về trong đêm hơi…”
“…Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi…”
+ Khung cảnh đậm đà tình quân dân
“Nhớ ôi Tây tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”
Trang 13Bài 3: Cảm nhận và bình luận ý niệm đất nước trong đoạn thơ sau
“Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa ” mẹ thường hay kể
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
Tóc mẹ thì bới sau đầu
Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn
Cái kèo, cái cột thành tên
Hạt gạo phải một nắng hai sương xay, giã, giần, sàng
Đất Nước có từ ngày đó ”
(Nguyễn Khoa Điềm – Đất Nước)
Trang 14+ Tác giả diễn tả sự ra đời của đất nước:
+ Gợi ý:
- Một thế giới cổ tích, truyền thuyết như ùa về sống dậy trong tâm
hồn người đọc
- Chẳng ai trong chúng ta biết đất nước có tự bao giờ Nhưng mỗi người đều cảm nhận thấy Đất Nước không phải là hình người khổng
lồ xa lạ hay một khái niệm trừu tượng chung chung
Trang 15+ Đất nước lớn lên theo những phong tục tập quán :
- Lịch sử lâu đời của đất nước được tác giả nhìn từ chiều sâu văn hóa dân gian với những phong tục tập quán
- Các động từ “xay, giã, dần, sàng” không chỉ là quy trình vất vả làm ra hạt gạo mà đó còn là lòng biết ơn đối với người làm ra nó, bởi “dẻo thơm một hạt dắng cay muôn phần”
- Cấu trúc câu thơ đất nước đã có, đất nước bắt đầu, đất nước có từ…cho chúng ta hình dung cả quá trình sinh ra, lớn lên, trưởng thành của đất nước trong trường kỳ, trong tâm thức của con người Việt Nam bao nhiêu thế hệ
Trang 16Bài 4: Phân tích, bình luận hình tượng người chiến sĩ Giải phóng quân trong đoạn văn (SGK, trang 182,183)
+ Gợi ý:
Đây là đoạn văn viết theo lối độc thoại nội tâm nhằm trình bày chuỗi ý nghĩ, cảm giác của Việt - một người đã bị thương, hỏng mắt, nhưng trong lòng vẫn sục sôi ý chí chiến đấu Các ý nghĩ liên tục nhưng phân tán, có nhiều chủ đề thay thế nhau, nhưng mạch trung tâm, xuyên suốt vẫn là tinh thần chiến đấu Qua đó, ta thấy được hình ảnh người Giải phóng quân trẻ tuổi, hồn nhiên mà kiên cường, dũng cảm