1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên

81 900 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 2,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giống gà Đông Tảo từ lâu đã nổi tiếng là chất lượng thịt, trứng rất thơm và ngon, ngoại hình của nó rất đặc biệt với khối lượng trưởng thành đạt từ 3,0 đến 4,5 kg và có đôi chân to nên n

Trang 1

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN SAO MAI

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ

NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 2

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN SAO MAI

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG SẢN XUẤT CỦA GÀ

NUÔI TẠI THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Chăn nuôi

Mã số: 60.62.01.05

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHĂN NUÔI

Người hướng dẫn khoa học: TS TRẦN THỊ HOAN

THÁI NGUYÊN - 2016

Trang 3

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn hoàn toàn trung thực do chúng tôi, cũng như sự hợp tác của các

cá nhân tập thể trong và ngoài trại chăn nuôi gia cầm và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn gốc

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về những số liệu trong luận văn này

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016

Tác giả luận văn

Nguyễn Sao Mai

Trang 4

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn, ngoài

sự nỗ lực của bản thân tôi còn nhận được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ quý

báu của Nhà trường, các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn trân trọng tới TS Trần Thị Hoan và PGS.TS

Từ Trung Kiên đã hướng dẫn và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt thời gian

làm đề tài luận văn thạc sĩ

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới cán bộ quản lý trại Chăn nuôi gia

cầmkhoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp

đỡ tạo mọi điều kiện về thời gian và vật chất cho tôi học tập, triển khai đề

tài luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm,

các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y, phòng Đào tạo trường Đại học Nông

Lâm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi nghiên cứu và hoàn thành luận văn

này

Nhân dịp hoàn thành luận văn, một lần nữa tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn

chân thành tới các thầy cô giáo, các bạn bè đồng nghiệp cùng người thân đã động

viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện

đề tài và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 9 năm 2016

Tác giả

Nguyễn Sao Mai

Trang 5

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU vi

DANH MỤC CÁC HÌNH vii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 3

1.1.1.Cơ sở khoa học về đặc điểm ngoại hình của gia cầm 3

1.1.2 Tính trạng sản xuất của gia cầm 4

1.1.3 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản 5

1.1.4 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng 10

1.1.5 Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm 13

1.1.6 Cơ sở khoa học của lai tạo 13

1.1.7 Ưu thế lai 15

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 19

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 19

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 20

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 22

2.1 Đối tượng, địa điểm thời gian nghiên cứu 22

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 22

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 22

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 22

Trang 6

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

2.2 Nội dung nghiên cứu 23

2.3 Phương pháp nghiên cứu 23

2.4 Phương pháp xử lý số liệu 30

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 31

3.1 Kết quả theo dõi gà giai đoạn hậu bị 31

3.1.1 Đặc điểm ngoại hình 31

3.1.2 Tỷ lệ nuôi sống ở giai đoạn hậu bị 34

3.1.3 Khối lượng cơ thể và khối lượng tuyệt đối gà hậu bị qua các tuần tuổi 35

3.1.4 Lượng thức ăn thu nhận qua các tuần tuổi(g/con/ngày) 38

3.1.5 Tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng(kg/kg) 39

3.2 Kết quả theo dõi gà giai đoạn đẻ trứng 39

3.2.1 Một số chỉ tiêu chung của gà mái đẻ 39

3.2.2 Tỷ lệ đẻ của gà 42

3.2.3 Kết quả khảo sát một số chỉ tiêu sinh học của trứng 45

3.2.4 Chất lượng trứng ấp 48

3.2.5 Kết quả theo dõi sử dụng thức ăn của gà mái đẻ 50

3.3 Kết quả khảo sát khả năng sản xuất thịt của gà F2 (♂ĐTLV x ♀ ĐTLV) nuôi thịt 51

3.3.1 Sinh trưởng của gà 51

3.3.2 Thu nhận và sử dụng thức ăn của gà 53

3.3.3 Kết quả khảo sát khả năng cho thịt 56

3.3.4 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt 57 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 60 TÀI LIỆU THAM KHẢO

MỘT SỐ HÌNH ẢNH CỦA ĐỀ TÀI

Trang 7

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

cs Cộng sự CSHTT Chỉ số hình thái trứng

ĐT Đông Tảo F1 Tổ hợp lai (Đông Tảo x Lương Phượng) F2 Tổ hợp lai (♂ĐTLV x ♀ ĐTLV)

Trang 8

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1 Giá trị dinh dưỡng thức ăn của gà hậu bị 23

Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 25

Bảng 2.3 Định mức thức ăn cho gà trong giai đoạn đẻ trứng 25

Bảng 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3 28

Bảng 3.1 Đặc điểm ngoại hình của đàn gà F1 (Đông Tảo x Lương Phượng) lúc 1 ngày tuổi 31

Bảng 3.2 Đặc điểm ngoại hình của đàn gà F1 (Đông Tảo x Lương Phượng) lúc 266 ngày tuổi 32

Bảng 3.3 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà hậu bị F1 (Đông Tảo x Lương Phượng) 34

Bảng 3.4 Khối lượng của gà thí nghiệm ở các giai đoạn tuổi 36

Bảng 3.5 Tăng khối lượng của gà hậu bị ở các giai đoạn tuổi 37

Bảng 3.6 Tiêu thụ thức ăn của gà ở giai đoạn hâ ̣u bi ̣ (N=3n) 38

Bảng 3.7 Tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng (N=3n) 39

Bảng 3.8 Ngày tuổi, khối lượng gà và khối lượng trứng gà ở các giai đoạn đẻ 40

Bảng 3.9 Tỷ lệ đẻ của gà từ 20 - 38 tuần tuổi 43

Bảng 3.10 Một số chỉ tiêu sinh học của trứng 46

Bảng 3.11 Một số chỉ tiêu ấp nở của đàn gà thí nghiệm 49

Bảng 3.12 Tiêu tốn và chi phí thức ăn cho sản xuất trứng 50

Bảng 3.13 Sinh trưởngtích lũy và tuyệt đối của gà thí nghiệm 51

Bảng 3.14 Thu nhận và hiệu suất sử dụng thức ăn 54

Bảng 3.15 Kết quả mổ khảo sát của gà thí nghiệm lúc 15 tuần tuổi 56

Bảng 3.16 Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt 57

Trang 9

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.lrc.tnu.edu.vn

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1 Biểu đồ khối lượng của gà thí nghiệm ở các giai đoạn tuổi 36

Hình 3.2 Biểu đồ tỷ lệ đẻ của gà từ 20 - 38 tuần tuổi 44

Hình 3.3 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm 52

Hình 3.4 Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm 52

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi gia cầm ở nước ta có truyền thống từ lâu đời, đã và đang góp phần quan trọng cải thiện sinh kế của hàng triệu nông dân Hàng năm, ngành chăn nuôi gia cầm cung cấp 18 - 20 % tổng khối lượng thịt, đứng thứ hai sau thịt lợn, bên cạnh đó chăn nuôi gia cầm còn cung cấp nguồn thực phẩm có dinh dưỡng khá hoàn chỉnh đó là trứng gia cầm

Vốn có truyền thống trong chăn nuôi, song song với quá trình hội nhập của cả nước, ngành chăn nuôi gia cầm nói chung và chăn nuôi gà nói riêng ở Việt Nam ngày càng phát triển Tuy nhiên, với tình hình chăn nuôi diễn biến phức tạp, dịch bệnh nhiều, do yếu tố thích nghi nên một số giống gà nhập nội thường có sức chống chịu bệnh kém và không phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Để đáp ứng nhu cầu của thị trường, một số giống gia cầm địa phương đang được chú trọng khôi phục và phát triển, trong đó có giống gà Đông Tảo

Gà Đông Tảo có nguồn gốc ở Khoái Châu, Hưng Yên Đây là giống gà

đã được đưa vào chương trình bảo tồn quỹ gen vật nuôi từ năm 1992 khi chúng được xếp vào danh sách có nguy cơ tuyệt chủng do năng suất thấp Giống gà Đông Tảo từ lâu đã nổi tiếng là chất lượng thịt, trứng rất thơm và ngon, ngoại hình của nó rất đặc biệt với khối lượng trưởng thành đạt từ 3,0 đến 4,5 kg và

có đôi chân to nên nó trở thành giống gà đặc sản dùng để biếu và sử dụng trong những ngày lễ, tết với giá bán cao hơn so với các giống gà khác Do vậy, gà Đông Tảo hiện nay đang được người chăn nuôi cũng như tiêu dùng ưa chuộng Tuy nhiên, gà Đông Tảo khả năng sản xuất rất thấp không đáp ứng được với nhu cầu của người tiêu dùng Hiện nay, Việt Nam đã nhập nội và chọn tạo thành công một số giống gà có năng suất cao như gà Lương Phượng, Sasso… (Vũ Ngọc Sơn, 2006) [46] Để tận dụng ưu điểm của các giống gà nội và tiềm năng

về năng suất của các giống gà nhập nội, góp phần nâng cao năng suất của đàn

gà nói riêng và đàn gia cầm nói chung Năm 2007, Trung tâm Nghiên cứu và

Trang 11

Huấn luyện chăn nuôi đã triển khai thực hiện cho lai giữa gà trống Đông Tảo

và mái Lương Phượng (LV) tạo ra con lai F1 Để nuôi thích nghi và đánh giá khả năng sản xuất của tổ hợp lai này tại Thái Nguyên, chúng tôi tiến hành đề

tài: “Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà F 1 (Đông Tảo x Lương Phượng) nuôi tại Thái Nguyên”

2 Mục tiêu của đề tài

- Xác định khả năng sinh trưởng của gà hậu bị F1 (Đông Tảo x Lương Phượng)

- Xác định được khả năng sản xuất của gà sinh sản F1 (Đông Tảo x Lương Phượng)

- Xác định được khả năng sản xuất thịt của gà lai F2 (♂ ĐTLV x ♀ ĐTLV)

3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở của lý luận ưu thế lai luận văn đã triển khai lai giữa giống gà kiêm dụng với giống gà hướng thịt để tạo tổ hợp lai có năng suất cao và chất lượng thịt, trứng tốt, góp phần làm phong phú thêm nguồn thực phẩm chất lượng cao và đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng

Kết quả của đề tài nhằm đánh giá khả thích nghi và khả năng sản xuất của tổ hợp lai mới, nhằm khuyến cáo cho các trang trại và nông hộ chăn nuôi

để cung cấp loại gà đặc sản chất lượng cao cho người tiêu dùng

Trang 12

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

1.1.1 Cơ sở khoa học về đặc điểm ngoại hình của gia cầm

Các đặc điểm ngoại hình của gia cầm đặc trưng cho từng giống gia cầm

Đó là những đặc điểm bên ngoài của vật nuôi có thể quan sát được như: Màu lông, da, hình dáng, mào tích

Hình dáng, kích thước cơ thể: Gia cầm thường được chia thành 3 loại

hình chính: Hướng thịt, hướng trứng và hướng kiêm dụng Gà hướng thịt có thân hình to thô, cổ dài trung bình, ngực nở, dáng đi nặng nề, khối lượng lớn

Gà hướng trứng có thân hình thon nhỏ, cổ dài, nhẹ cân, dáng nhanh nhẹn

Gà kiêm dụng có hình dáng trung gian, cơ thể có hướng kiêm dụng trứng thịt hoặc thịt trứng Schuberth L, Ruhland R., (1978)[45] cho rằng có mối tương quan thuận giữa khối lượng cơ thể với tất cả các chiều đo Siegel P.B và Dumington (1978)[85] cho biết tương quan giữa góc ngực và khối lượng cơ thể từ 0,4 đến 0,68 trung bình là 0,42

Đầu: Gà trống có ngoại hình đầu giống đầu gà mái sẽ có tính sinh dục

kém, gà mái có ngoại hình đầu giống gà trống sẽ không cho năng suất cao, Brandsch H., Biilchel H (1978)[4] Do vậy, cấu tạo của xương đầu được coi như có độ tin cậy cao nhất trong việc đánh giá đầu gia cầm Da mặt và các phần phụ của đầu cho phép rút ra kết luận về sự phát triển của mô liên kết

và mô đỡ

Mào: Mào là đặc điểm sinh dục thứ cấp nên có thể phân biệt trống mái

Mào gà rất đa dạng về hình dạng, kích thước, màu sắc, có thể đặc trưng cho từng giống Mào là dẫn xuất của da theo Phan Cự Nhân (1971)[40], khi có mặt gen

Ab gà sẽ có dạng mào hoa hồng, khi có mặt gen aB gà sẽ có dạng mào nụ và khi

có mặt gen ab thì gà sẽ có dạng mào cờ Theo tính trạng mào người ta phân biệt các loại: mào cờ (mào đơn), mào hoa hồng, mào nụ, mào hạt đậu

Mỏ: Mỏ là sản phẩm của da, được tạo thành từ lớp sừng (Stratumcorneum) Mỏ

gà phải ngắn, chắc Những con mỏ dài và cong là những con không đạt tiêu chuẩn

về phẩm giống Mỏ có nhiều loại màu khác nhau: Vàng đỏ, đen, hồng… Màu sắc của mỏ thường phù hợp với màu của chân

Bộ lông: Khi mới nở, gia cầm con được lông tơ che phủ, trong quá

Trang 13

trình phát triển lông tơ sẽ dần được thay thế bằng lông vũ

Tốc độ mọc lông là sự biểu hiện khả năng mọc lông sớm hay muộn, nó

có quan hệ mật thiết với cường độ sinh trưởng của gia cầm Theo Brandsch H., Biilchel H (1978)[4], những gia cầm có tốc độ mọc lông nhanh thì có tốc độ sinh trưởng nhanh Hayer J.F and Mc Carthy J.C (1970)[77] cho biết gà mái mọc lông đều hơn gà trống trong cùng một dòng và ảnh hưởng của hormon có tác dụng ngược với gen liên kết qui định tốc độ mọc lông

Chân: Ở loài gia cầm chân có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân

và da Chân có vuốt và cựa, cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài Gà giống tốt phải có chân chắc chắn, không thô Đặc điểm chân cao có liên quan tới khả năng cho thịt thấp và phát dục chậm, (theo Brandsch H., Biilchel H (1978)[4] Những con gà có chân hình chữ bát, các ngón cong, xương khuyết tật không nên sử dụng làm giống

1.1.2 Tính trạng sản xuất của gia cầm

Hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh trưởng, sinh sản, mọc lông, tăng trưởng thịt, đẻ trứng đều là các tính trạng số lượng Cơ

sở di truyền của các tính trạng số lượng cũng là do các gen nằm trên nhiễm sắc thể qui định Theo Nguyễn Ân và cs (1983)[2], các tính trạng sản xuất là các tính trạng số lượng, thường là các tính trạng đo lường như khối lượng cơ thể, sản lượng trứng, khối lượng trứng,

Các tính trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều gen Các gen này hoạt động theo ba phương thức:

- Cộng gộp (A) hiệu ứng tích luỹ của từng gen

- Trội (D) hiệu ứng tương tác giữa các gen cùng một lô cút

- Át gen (I) hiệu ứng do tương tác, của các gen không cùng một lô cút Hiệu ứng cộng gộp A là các giá trị giống thông thường (general breeding value) có thể tính toán được, có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần Hiệu ứng trội D và át gen I là những hiệu ứng không cộng tính và là giá trị giống đặc biệt (special breeding value) có ý nghĩa đặc biệt trong các tổ hợp lai Ở các tính trạng số lượng giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di truyền) và sai lệch môi trường qui định, nhưng giá trị kiểu gen của tính trạng số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gen) cấu tạo thành Đó là các gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp lại sẽ ảnh hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, tính trạng sinh sản là một ví dụ (Nguyễn Văn

Trang 14

Thiện, 1996)[65]

Khác với tính trạng chất lượng, các tính trạng số lượng được qui định bởi kiểu gen và chịu ảnh hưởng nhiều của điều kiện ngoại cảnh, mối tương quan đó được biểu thị như sau:

P = G + E Trong đó P là giá trị kiểu hình (phenotypic value), G là giá trị kiểu gen (genotypic value), E là sai lệch môi trường (environmental deviation)

Giá trị kiểu gen (G) hoạt động theo ba phương thức: cộng gộp, trội và át gen Từ đó cũng có thể hiểu:

G = A + D + I Trong đó G là giá trị kiểu gen (genotypic value), A là giá trị cộng gộp (additive value), D là giá trị sai lệch trội (dominance deviation value), I là giá trị sai lệch tương tác (Interaction deviation value)

Ngoài ra các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi trường hay điều kiện ngoại cảnh (E) và được chia làm 2 loại chính:

- Sai lệch môi trường chung Eg (General environment) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động lên toàn bộ các cá thể Loại yếu tố này có tính chất thường xuyên như: thức ăn, khí hậu,

- Sai lệch môi trường riêng Es (Special Environment) là sai lệch do các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật nuôi, hoặc ở một giai đoạn nhất định trong cuộc đời con vật Nếu bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại cảnh thì quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G)

và môi trường (E) của một cá thể biểu thị cụ thể:

P = A + D + I + Eg + Es Người ta có thể xác định các tính trạng số lượng qua mức độ tập trung (g), mức độ biến dị (Cv%), hệ số di truyền của các tính trạng (h2), hệ số lặp lại của các tính trạng (R), hệ số tương quan (r) giữa các tính trạng,

1.1.3 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản

* Khả năng sinh sản ở gia cầm

Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện bởi các chỉ tiêu về sản lượng, khối lượng, hình dạng, chất lượng trứng, khả năng thụ tinh và ấp nở

* Sản lượng trứng

Sản lượng trứng được tính trong 365 ngày kể từ khi gà đẻ qủa trứng đầu tiên Lượng trứng mà gia cầm mái đẻ ra trong một vòng đời, phụ thuộc vào tuổi

Trang 15

thành thục, cường độ đẻ trứng, tần số thể hiện bản năng đòi ấp, thời gian nghỉ

đẻ và thời gian đẻ kéo dài (Brandsch H., Biilchel H1978)[4]

* Năng suất trứng

Năng suất trứng là số lượng trứng một gia cầm mái sinh ra trên một đơn

vị thời gian Đối với gia cầm đẻ trứng thì đây là chỉ tiêu quan trọng nhất, nó

phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục

+ Cơ sở giải phẫu của trứng

Cấu tạo của trứng bao gồm: lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ Buồng trứng có chức năng tạo lòng đỏ, còn ống dẫn trứng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, lòng trắng loãng, màng vỏ, vỏ mỏng và lớp keo mỡ bao ngoài vỏ trứng Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20-24 giờ

Các tài liệu nghiên cứu đều cho rằng, hầu hết vật chất lòng đỏ trứng gà được tạo thành trước khi đẻ trứng 9-10 ngày Trong 1- 3 ngày đầu, tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ chậm, khi đường kính đạt 6 mm bắt đầu vào thời kì sinh trưởng cực nhanh và có thể tăng 4 mm trong 24 giờ cho tới khi đạt 40 mm Thời gian từ lúc

đẻ trứng đến khi rụng quả trứng tiếp theo kéo dài từ 15 -75 phút

+ Cơ sở di truyền của năng suất trứng

Theo các công trình nghiên cứu của nhiều tác giả, việc sản xuất trứng của gia cầm có thể do 5 yếu tố ảnh hưởng mang tính di truyền

- Tuổi thành thục sinh dục là một yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng và

có liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm Tuổi thành thục sinh dục sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, loài, giới tính, thời gian nở ra trong năm… Gà hướng trứng tuổi thành thục sớm hơn gà hướng thịt Theo Đặng Hữu Lanh và cs (1999) [24] cho biết, hệ số di truyền của tính trạng này là h2 = 0,32

- Cường độ đẻ: yếu tố này do hai cặp gen R và r, R’ và r’ phối hợp cộng lại để điều hành

- Bản năng đòi ấp do 2 gen A và C điều khiển, phối hợp với nhau Đây

là phản xạ không điều kiện có liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm Bản năng đòi ấp rất khác giữa các giống và các dòng Các dòng nhẹ cân có tần số thể hiện bản năng đòi ấp thấp hơn các dòng nặng cân Gà Leghorn và Goldline hầu như không còn bản năng đòi ấp

- Thời gian nghỉ đẻ (đặc biệt là nghỉ đẻ vào mùa đông) do các gen M và

m điều khiển Gia cầm có gen mm thì về mùa đông vẫn tiếp tục đẻ đều

- Thời gian kéo dài của chu kỳ đẻ, do cặp gen P và p điều hành

Trang 16

Yếu tố thứ 5 và yếu tố thứ nhất là hai yếu tố kết hợp với nhau, cũng có nghĩa là các cặp gen Pp và Ee có phối hợp với nhau Tất nhiên ngoài các gen chính tham gia vào việc điều khiển các yếu tố trên, có thể còn có nhiều gen khác phụ lực vào

+ Tuổi đẻ quả trứng đầu

Tuổi đẻ quả trứng đầu được xác định bằng số ngày tuổi của gà mái kể từ khi nở ra đến khi đẻ quả trứng đầu Đây là một chỉ tiêu đánh giá sự thành thục sinh dục, cũng được coi là 1 yếu tố cấu thành năng suất trứng (Khavecman, 1972)[23] Các gen trên nhiễm sắc thể giới tính cùng tham gia hình thành tính trạng này (Khavecman, 1972)[23] Theo Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường (1992)[36], có ít nhất hai cặp gen cùng quy định về tuổi đẻ quả trứng đầu, cặp thứ nhất gen E và e liên kết với giới tính, cặp thứ hai gen E’ và e’

Tuổi đẻ quả trứng đầu phụ thuộc vào bản chất di truyền, chế độ nuôi dưỡng, các yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng, thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm (Khavecman, 1972) [23]

+ Năng suất trứng và tỷ lệ đẻ

Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất lượng thức ăn, phụ thuộc vào mức năng lượng, hàm lượng protein và các thành phần khác trong khẩu phần thức ăn, cho gà ăn hạn chế trong giai đoạn gà dò, gà hậu bị để đảm bảo năng suất trứng trong giai đoạn sinh sản (Bùi Thị Oanh, 1996) [43] Năng suất trứng có

hệ số di truyền không cao và dao động lớn Theo Nguyễn Văn Thiện (1995)[64],

hệ số di truyền năng suất trứng của gà là 12- 30%

Sản lượng trứng/năm của một quần thể gà mái cao sản, được thể hiện theo qui luật cường độ đẻ trứng cao nhất vào tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần đến hết năm đẻ Để tiến hành chọn giống về sức đẻ trứng Hutt F B (1978)[18]

đã áp dụng ổ đẻ có cửa sập tự động để kiểm tra số lượng trứng của từng gà mái Các tác giả cho rằng sản lượng trứng 3 tháng đẻ đầu và sản lượng trứng cả năm

có tương quan di truyền chặt chẽ (0,7 - 0,9)

Hutt F.B (1978)[18] đề nghị tính sản lượng trứng từ khi gia cầm đẻ quả trứng đầu tiên Trong khi đó, Brandsch H., Biilchel H dẫn theo Nguyễn Chí Bảo (1978)[4] cho rằng sản lượng trứng được tính đến 500 ngày tuổi Trong thời gian gần đây, sản lượng trứng được tính theo tuần tuổi Nhiều hãng gia cầm nổi tiếng như Shaver (Canada), Lohmann (Đức), sản lượng trứng được tính đến 70 - 80 tuần tuổi

Trang 17

Năng suất trứng của gà Đông Tảo/ 36 tuần đẻ đạt 67,71 quả/mái (Nguyễn Đăng Vang và cs, 1999)[69] Năng suất trứng của gà Lương Phượng Hoa/48 tuần

đẻ đạt trung bình 158,63 quả/mái (Vũ Ngọc Sơn và cs, 1999)[47] Phùng Đức Tiến và cs (2001)[55] nghiên cứu trên gà Ai Cập, công bố năng suất trứng từ

22 - 61 tuần đạt 175,36 quả/mái

+ Khối lượng trứng

Tính trạng khối lượng trứng mang tính đặc trưng của từng loài có hệ số di truyền cao, do đó có thể đạt được nhanh chóng thông qua con đường chọn lọc (Kushner K.F 1974 [22]) Khi cho lai hai dòng gia cầm có khối lượng trứng lớn và

bé, trứng của con lai thường có khối lượng trung gian,nghiêng về một phía (Khavecman, 1972) [23] Ngoài các yếu tố về di truyền, khối lượng trứng còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố ngoại cảnh như chăm sóc, nuôi dưỡng, mùa vụ, tuổi gia cầm Trứng của gia cầm mới bắt đầu đẻ nhỏ hơn trứng gia cầm trưởng thành 20 - 30% Hệ

số di truyền của tính trạng này từ 48 - 80% (Brandsch H., Biilchel H, dẫn theo Nguyễn Chí Bảo, 1978)[4] Theo Nguyễn Văn Thiện (1995)[64], hệ số di truyền về khối lượng trứng của gà là 60 - 74% Trứng gia cầm non cho tỷ lệ nở thấp, khối lượng trứng lớn thì sẽ kéo dài thời gian ấp nở Ý kiến của nhiều tác giả cho rằng trong cùng một giống, dòng, cùng một đàn, nhóm trứng có khối lượng lớn nhất hoặc bé nhất đều cho tỷ lệ

nở thấp, Orlov (1974)[83] cho biết, trứng ấp nhận được từ một nhóm gà mái đẻ có khối lượng trứng trung bình sẽ cho kết quả ấp tốt

+ Chất lượng trứng:

Tỷ lệ các phần/khối lượng trứng thì vỏ chiếm 10 - 11,6%; lòng trắng chiếm

57 - 60%; lòng đỏ chiếm 30 - 32% Thành phần hoá học của trứng không vỏ: nước chiếm 73,5 - 74,4%; protein 12,5 - 13%; mỡ 11 - 12%; khoáng 0,8 - 1,0%

Hình dạng trứng: Trứng gia cầm thường có hình ô van và được thể hiện qua

tỷ số giữa chiều dài và chiều rộng của trứng hay ngược lại Chỉ số này không biến đổi theo mùa (Brandsch và Bilchel, 1978 dẫn theo Nguyễn Chí Bảo) [4]

Màu sắc trứng: Màu sắc trứng là tính trạng đa gen, ở gà khi lai dòng trứng vỏ trắng với dòng trứng vỏ màu, gà lai sẽ có trứng vỏ màu trung gian, hệ

số di truyền tính trạng này là 55 - 75% (Brandsch và Bilchel, 1978)[4]

Bề mặt vỏ trứng: Thông thường trứng gia cầm đẻ ra có bề mặt trơn, đều, song bên cạnh đó cũng có một số cá thể thường đẻ ra những trứng có bề mặt xấu,

xù xì, có vệt canxi hay đường gờ lượn sóng, loại trứng này có ảnh hưởng xấu đến tỷ lệ ấp nở cũng như thị hiếu của người tiêu dùng (Schuberth L Ruhland R.,

Trang 18

1978) [45]

Chỉ số hình dạng: chỉ số hình dạng có thể tính bằng hai cách:Tỷ số giữa chiều dài và chiều rộng trứng hoặc tỷ lệ phần trăm (%) giữa chiều rộng so với chiều dài của trứng

Trứng của mỗi giống gia cầm đều có chỉ số hình dạng riêng, chỉ số này ở

gà trong khoảng 1,34 -1,36 Nếu lệch quá tiêu chuẩn này sẽ ảnh hưởng đến tỷ lệ

nở và khó khăn trong bao gói vận chuyển (Nguyễn Hoài Tao và cs, 1993) [50]

Độ dày và độ bền của vỏ trứng: Độ dày, độ bền hay độ chịu lực của vỏ trứng biểu hiện nguồn dự trữ khoáng Độ dày vỏ trứng được xác định bằng thước

đo độ dày khi đã bóc màng vỏ, ở gà độ dày vỏ khoảng 0,32mm Theo Auaas R., Wilke R (1978) [1], độ dày vỏ trứng chịu ảnh hưởng của yếu tố di truyền dao động trong khoảng giới hạn lớn Theo Nguyễn Văn Thiện (1995)[63], hệ số di truyền độ dày vỏ trứng là 30%

Ngoài ra độ dày vỏ trứng còn chịu tác động của môi trường như: thức ăn, tuổi gà, nhiệt độ xung quanh, stress và nhiều yếu tố khác

Độ chịu lực của vỏ trứng được xác định bằng lực kế ép của Nhật Bản + Chỉ số lòng đỏ, lòng trắng và đơn vị Haugh:

Khi đánh giá chất lượng trứng, cần đặc biệt chú ý đến chỉ số lòng đỏ, lòng trắng và đơn vị Haugh Các chỉ số này càng cao thì tỷ lệ nở càng lớn và chất lượng trứng càng tốt (Tạ An Bình, 1973) [2]

Chỉ số lòng đỏ: chất lượng lòng đỏ được xác định bởi chỉ số lòng đỏ Chỉ

số lòng đỏ là tỷ số giữa chiều cao lòng đỏ so với đường kính của nó Chỉ số lòng đỏ của trứng gà tươi nằm giữa 0,40 - 0,42

Chỉ số lòng trắng: chỉ số này được tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng trắng đặc so với trung bình cộng đường kính lớn và đường kính nhỏ của nó Chỉ số này càng lớn, chất lượng lòng trắng càng cao Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thành Đồng (2001) [11] cho biết, trứng gà Lương Phượng Hoa có chỉ số lòng trắng và lòng đỏ ở 38 tuần tuổi tương ứng là 0,14 và 0,53; ở 60 tuần tuổi tương ứng là 0,091 và 0,49

Đơn vị Haugh: Đơn vị Haugh được sử dụng để đánh giá chất lượng trứng,

nó phụ thuộc vào khối lượng và chiều cao lòng trắng đặc Đơn vị Haugh càng cao thì chất lượng trứng càng tốt Theo Uyterwal cs (2000)[86], đơn vị Haugh

bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm mái (gà mái càng già đơn vị Haugh của trứng càng thấp), tình trạng bệnh, nhiệt độ,

Trang 19

giống gia cầm, Theo Peniond Jkevich và cs (dẫn theo Bạch Thị Thanh Dân, 1999)[7], chất lượng trứng rất tốt có chỉ số Haugh 80 - 100, tốt: 79 - 65, trung bình: 64 - 55 và xấu < 55 Nguyễn Huy Đạt và cs (2001)[11] cho biết, trứng gà Lương Phượng Hoa có chỉ số Haugh ở 38 tuần tuổi đạt 94,4 và 60 tuần tuổi đạt 91,1

+ Khả năng thụ tinh và ấp nở:

Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tuổi, tỷ lệ trống mái, mùa

vụ, dinh dưỡng, chọn đôi giao phối, Tỷ lệ nở là một chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của phôi, sức sống của gia cầm non Đối với những trứng có chỉ số hình thái chuẩn, khối lượng trung bình của giống sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao nhất Hệ số di truyền

về tỷ lệ trứng thụ tinh là 11 - 13%, hệ số di truyền của tỷ lệ ấp nở 10 - 14% (Nguyễn Văn Thiện, 1995) [63]

Nguyễn Đăng Vang và cs (1999)[69] cho biết ở gà Đông Tảo tỷ lệ trứng có phôi đạt 89,54 % và tỷ lệ nở loại 1/trứng ấp đạt 70,08 % Theo Nguyễn Văn Thạch (1996) [61] gà Ri nuôi bán thâm canh tỷ lệ phôi đạt 93,42% và nở/phôi đạt 90,51%

1.1.4 Cơ sở khoa học về khả năng sinh trưởng

* Khả năng sinh trưởng

Từ khi trứng thụ tinh cho đến khi cơ thể trưởng thành và được chia làm hai giai đoạn chính: giai đoạn trong thai và giai đoạn ngoài thai (Trần Đình Miên, Nguyễn Kim Đường, 1992) [36] Cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm hai quá trình,

tế bào sản sinh và tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính

Khi nghiên cứu về sinh trưởng, không thể không nói đến phát dục Phát dục là quá trình thay đổi về chất, tức là tăng thêm và hoàn chỉnh các tính chất chức năng của các bộ phận cơ thể Phát dục diễn ra từ khi trứng thụ thai, qua các giai đoạn khác nhau đến khi trưởng thành

* Cách đánh giá khả năng sinh trưởng

Sinh trưởng tuyệt đối: là sự tăng lên về khối lượng cơ thể trong khoảng

thời gian giữa hai lần khảo sát (TCVN 2.39, 1997) [57] Sinh trưởng tuyệt đối còn được gọi là năng lực sinh trưởng, đồ thị sinh trưởng tuyệt đối có dạng parabol, đơn vị tính thường bằng g/con/ngày hoặc g/con/tuần

Sinh trưởng tương đối: là tỷ lệ phần trăm tăng lên của khối lượng cơ thể

từ lúc kết thúc khảo sát so với lúc bắt đầu khảo sát (TCVN 2.40, 1997)[58] Đơn vị tính là % Đường cong biểu diễn sinh trưởng tương đối có dạng hình hypecbol cho thấy sinh trưởng tương đối giảm theo lứa tuổi

Trang 20

Đường cong sinh trưởng: Đường cong sinh trưởng biểu thị tốc độ sinh

trưởng của vật nuôi Theo Chambers J.R (1990)[73], đường cong sinh trưởng của gà có 4 điểm chính gồm 4 pha sau:

- Pha sinh trưởng tích luỹ tăng tốc độ nhanh sau khi nở

- Điểm uốn của đường cong tại thời điểm có tốc độ sinh trưởng cao nhất

- Pha sinh trưởng có tốc độ giảm dần sau điểm uốn

- Pha sinh trưởng tiệm cận với giá trị khi gà trưởng thành

Thông thường người ta sử dụng khối lượng cơ thể ở các tuần tuổi, thể hiện bằng

đồ thị sinh trưởng tích luỹ và nó được thể hiện đơn giản theo đường cong sinh trưởng

Ở nước ta, tác giả Nguyễn Đăng Vang (1983)[69], nghiên cứu đường cong sinh trưởng của ngỗng Rheiland, Phùng Đức Tiến (1996)[53], nghiên cứu đường cong sinh trưởng của gà broiler lai giữa giống Ross 208 và HV 85 đều cho các kết quả phù hợp với sinh trưởng của gia cầm nói chung

Trần Long (1994)[27], nghiên cứu đường cong sinh trưởng của các dòng V1, V3, V5 trong giống gà Hybro (HV85), đường cong sinh trưởng của

3 dòng có sự khác nhau và trong mỗi dòng giữa gà trống và gà mái cũng có

sự khác nhau: Sinh trưởng cao ở 7 - 8 tuần tuổi đối với gà trống và 6 - 7 tuần tuổi đối với gà mái

- Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà:

+ Ảnh hưởng của dòng, giống: Trong cùng một loài các giống, các dòng khác nhau cũng có sinh trưởng khác nhau Theo Phùng Đức Tiến (1996)[53] thì hệ số di truyền về tốc độ sinh trưởng của gia cầm ở giai đoạn 3 tháng tuổi

là 26 - 50% Theo Kushner (1978) [21], hệ số di truyền gà 1 tháng tuổi là 33%; 2 tháng tuổi là 46%; 3 tháng tuổi là 43% Nguyễn Huy Đạt (1991)[8] xác định hệ số di truyền về khối lượng ở gà 6 tuần tuổi là 40%

+ Tính biệt:

Về giới tính ở các loại gia cầm khác nhau thì có tốc độ sinh trưởng khác nhau, con trống lớn nhanh hơn con mái (ngoại trừ chim cút: con trống nhỏ hơn con mái) Theo Jull (dẫn theo Phùng Đức Tiến, 1996[53]), gà trống có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái 24 - 32%; Sự sai khác này do gen liên kết với giới tính, những gen này ở gà trống (2 nhiễm sắc thể giới tính) hoạt động mạnh hơn gà mái (1 nhiễm sắc thể) Sự sai khác về mặt sinh trưởng do giới tính còn thể hiện rõ hơn đối với các dòng gà phát triển nhanh so với các dòng gà phát triển chậm (Champers J.R 1990)[73]

Trang 21

North M.O., Bell P.D (1990)[82] cho biết, khối lượng gà con 1 ngày tuổi tương quan dương với khối lượng trứng, song không ảnh hưởng đến khối lượng

cơ thể gà lúc thành thục và cường độ sinh trưởng ở 4 tuần tuổi Lúc mới nở gà trống nặng hơn gà mái 1%, tuổi càng tăng sự khác nhau càng lớn, ở 2 tuần tuổi hơn 5%; 3 tuần tuổi hơn 11%; 8 tuần tuổi hơn 27%

+ Tốc độ mọc lông:

Theo Kushner K F (1974)[22], tốc độ mọc lông có quan hệ chặt chẽ tới tốc

độ sinh trưởng, thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và đều hơn ở gà chậm lớn

+ Chế độ dinh dưỡng:

Mức độ dinh dưỡng không chỉ ảnh hưởng tới sự phát triển các bộ phận khác nhau của cơ thể mà còn ảnh hưởng tới sự phát triển của từng mô này đối với mô khác Tỷ lệ sinh trưởng các phần này phụ thuộc vào độ tuổi, tốc độ sinh trưởng và phụ thuộc vào mức độ dinh dưỡng (Chambers J R 1990) [73]

+ Năng suất thịt:

Năng suất thịt hay là tỷ lệ thân thịt chính là tỷ lệ phần trăm của khối lượng thân thịt so với khối lượng sống của gia cầm Năng suất của các thành phần thân thịt là tỷ lệ phần trăm của các phần so với thân thịt và năng suất có

là tỷ lệ phần trăm của cơ so với thân thịt (Chambers J R 1990)[73] Ở gà thịt thường tính tỷ lệ thịt đùi, thịt ngực và mỡ bụng Mối tương quan giữa khối lượng sống và khối lượng thịt xẻ là khá cao (0,9), còn giữa khối lượng sống và

mỡ bụng thấp hơn (0,2 đến 0,5) (Nguyễn Thị Thuý Mỵ, 1997) [38]

Các giống, các dòng khác nhau thì năng suất thịt cũng khác nhau Giữa các dòng luôn có sự khác nhau di truyền về năng suất thịt xẻ hay năng suất các phần như thịt đùi, thịt ngực và từng phần thịt, da, xương (Chambers J R 1990)[73]

+ Chất lượng thịt:

Chất lượng thịt được phản ánh qua thành phần hoá học, thành phần vật lý

và giá trị dinh dưỡng của thịt như nước, protein, mỡ, hydratcacbon, vitamin,

Trang 22

khoáng và một số chất cần thiết khác Thành phần hoá học của thịt được xác định qua phân tích các lượng chất trong thịt

Theo Chambers J R (1990)[73], khi xác định thành phần thịt xẻ của gà Cornish, gà Plymouth Rock và con lai giữa chúng cho thấy: thịt của các dòng

gà khác nhau có sự khác nhau về tỷ lệ nước, protein, mỡ và cũng cho thấy tốc

độ sinh trưởng có tương quan âm với tỷ lệ mỡ (-0,39) và tương quan dương với phần trăm protein (0,53), với độ ẩm (0,32) và khoáng tổng số (0,14) Tác giả cũng cho biết rằng hệ số di truyền về thành phần hoá học thịt gà là: ẩm độ 38%; protein 47%; mỡ 47%; khoáng 25%

1.1.5 Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm

Để đánh giá sức sống của gia cầm thì chỉ tiêu chủ yếu là tỷ lệ sống của gà con khi nở Tỷ lệ sống được xác định bằng tỷ lệ phần trăm (%) số cá thể còn sống

ở cuối giai đoạn, so với các cá thể ở đầu giai đoạn Ở giai đoạn hậu phôi, sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai đoạn sinh trưởng (Brandsch H., Biilchel H dãn theo Nguyễn Chí Bảo, 1978)[4] Khavecman (1972)[23] cho rằng cận huyết làm giảm tỷ lệ sống, ưu thế lai làm tăng tỷ lệ sống

Khả năng thích nghi: khi điều kiện sống của gia súc, gia cầm bị thay đổi như thức ăn, thời tiết, khí hậu, qui trình chăn nuôi, môi trường vi sinh vật xung quanh, thì chúng có khả năng thích ứng nhanh, rộng rãi đối với môi trường sống mới (Phan Cự Nhân và Trần Đình Miên, 1998)[42]

Khi nghiên cứu về sức sống của gia cầm Marco A S (1982)[81] cho biết, sức sống được thể hiện ở thể chất và được xác định trước hết bởi khả năng

có tính di truyền của động vật, có thể chống lại những ảnh hưởng không thuận lợi của môi trường, cũng như ảnh hưởng khác của dịch bệnh Hill F., và cs (1954)[78] đã tính được hệ số di truyền về sức sống là 6% Sức sống được tính theo các giai đoạn nuôi dưỡng khác nhau Theo Gavora J F (1990)[74], hệ số

di truyền của sức kháng bệnh là 25% Tỷ lệ nuôi sống phụ thuộc rất lớn vào yếu tố dinh dưỡng, chăm sóc nuôi dưỡng, khí hậu thời tiết, mùa vụ

1.1.6 Cơ sở khoa học của lai tạo

* Lai kinh tế

Lai kinh tế là lai giữa hai cơ thể thuộc hai dòng khác nhau cùng giống, khác giống hoặc hai giống khác loài (chủng)… để sử dụng con lai F1 làm sản phẩm, nên sản phẩm có thể sản xuất nhanh, hàng loạt, có chất lượng trong một thời gian tương đối ngắn (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện, 1995)[37]

Trang 23

Hiện nay, để tăng năng suất vật nuôi trong công tác giống người ta thường cho lai tạo Theo Trần Đình Miên (1981) [34], lai tạo nhằm mục đích lay động tính bảo thủ sẵn có trong từng cá thể, từng dòng, từng giống, phát huy những bản chất di truyền tốt của con lai tạo, nên những tổ hợp lai mới có năng suất cao hơn, hiệu quả chăn nuôi tốt hơn

Bên cạnh đó, mục đích của lai tạo còn nhằm sử dụng hiện tượng sinh học quan trọng đó là ưu thế lai (Heteorosis) làm cho sức sống của con vật, sức miễn kháng đối với bệnh tật và các tính trạng kinh tế được nâng cao, đồng thời thông qua các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật của tổ hợp lai, ưu thế lai làm căn cứ cho việc chọn lọc giống gia súc (Lê Đình Lương và Phan Cự Nhân, 1994) [30]

Trong quá trình nghiên cứu di truyền, nguyên tắc hoàn toàn mới được Mendel đưa vào để nghiên cứu, đó là phương pháp lai, liên quan đến việc nghiên cứu đặc điểm di truyền của từng tính trạng và đặc tính riêng rẽ Phương pháp này do ông phát hiện và hình thành lên những qui luật cơ bản của di truyền (Petrop D Ph., 1984) [6]

Từ những nguyên lý trên, ngày càng nhiều các nhà khoa học cải tiến bản chất di truyền bằng công tác lai tạo theo nhiều hướng khác nhau Theo Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992) [36], căn cứ vào mục đích của lai tạo, người ta thường áp dụng những phương pháp lai khác nhau như: Lai kinh tế, lai luân chuyển, lai cải tiến (lai hai máu), lai cải tạo, lai phối hợp (lai tạo thành) Song lai kinh tế là phương pháp sử dụng phổ biến nhất Người ta

có thể lai giữa các loài hay tạo ra cả dòng đồng huyết và cho chúng lai với nhau (Giang Misengu, 1982) [14]

Để lai kinh tế có hiệu quả phải chọn lọc tốt các dòng thuần Trong quần thể dòng thuần các cá thể dị hợp tử sẽ giảm đi và các cá thể đồng hợp tử sẽ tăng lên (Nguyễn Ân và cs, 1983) [2]

Theo tài liệu của Aggarwal C.K và cs (1979) [74], chỉ ra rằng muốn đạt được ưu thế lai siêu trội thì phải cho giao phối giữa các dòng gà xuất phát khác nhau về kiểu gen nhưng lại phải có khả năng kết hợp tốt với nhau

Hiệu quả của phương pháp lai giữa dòng cao hơn nhiều so với phương pháp nhân giống thuần chủng Lai giống chủ yếu được dùng để có những cá thể có tính

di truyền pha trộn, có mức ưu thế lai cao nhất, tức là đạt được hiệu quả của ưu thế lai (Branudsch A và Biichel H., 1978) [4] Theo phương pháp nhân giống thuần

Trang 24

chủng, công tác chọn giống được kỹ càng, đàn giống sinh sản được chọn lọc ở những cá thể có năng suất cao hơn năng suất bình quân toàn đoàn

Theo Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên (1998)[42], gà lai là một phương pháp phổ biến ở nhiều nước vì người ta đã xác định rõ về mặt di truyền: gà mang gen dị hợp tử có năng suất cao hơn gà mang gen đồng hợp tử

Tóm lại: cần lựa chọn những con giống có những giá trị di truyền cộng tính mạnh nhất Tuy nhiên, đối với một số tính trạng nhất là những tính trạng về sinh sản phần phương sai cộng tính trong phương sai tổng cộng là rất nhỏ, như vậy là có rất ít sai khác về giá trị cộng tính giữa những cá thể cấu thành quần thể

Trong chăn nuôi gia cầm khi lai kinh tế có thể lai đơn hoặc lai kép Lai đơn: Là phương pháp lai kinh tế để sử dụng ưu thế lai cao nhất Ở nước ta có nhiều công trình sử dụng phương pháp lai đơn để lai tạo giữa các giống: gà Rode Island Red, Sussex, Plymouth Rock, Leghorn với gà Ri (Tạ An Bình, 1973) [2], Trần Đình Miên (1981) [34], Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao (1985) [51] đã chứng minh hiệu quả của phương pháp này

Lai kép: Là phương pháp lai phổ biến để tạo gà thương phẩm trứng, thịt Đối với gà hướng trứng lai 4 dòng như Golline 54, Hisex, ISA Brown, Hyline Brown, Brownick, BB Cock B380, Lohman Brown, gà hướng thịt như BE88 Theo các tác giả thì lai 4 dòng là tốt nhất đối với gà hướng trứng

và hướng thịt Đối với gà broiler ngoài lai đơn giản, người ta còn có thể lai kép 3 - 4 dòng

1.1.7 Ưu thế lai

1.1.7.1 Khái niệm về ưu thế lai

Theo Lasley J.F (1974) [25], ưu thế lai là hiện tượng sinh học chỉ sự tăng sức sống của đời con so với bố mẹ khi có sự giao phối giữa những cá thể không thân thuộc Ưu thế lai không chỉ bao gồm sức chịu đựng, nó bao hàm sự giảm

tỷ lệ chết, tăng tốc độ sinh trưởng, tăng sức sản xuất và độ mắn đẻ, vì vậy người

ta xem hiện tượng đó như một sinh lực

Cũng có thể hiểu ưu thế lai theo nghĩa toàn bộ tức là sự phát triển toàn khối của cơ thể con vật, sự gia tăng cường độ trong quá trình trao đổi chất, sự tăng thêm của các tính trạng sản xuất,… Mặt khác có thể ưu thế lai theo từng mặt từng tính trạng một, có khi chỉ là một vài tính trạng phát triển còn các tính trạng khác giữ nguyên, có

Trang 25

tính trạng giảm đi (Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện,1995) [37]

Theo Lê Đình Lương và Phan Cự Nhân (1994) [30] khi các loài, chủng, giống hoặc các dòng nội khác nhau phối với nhau thì dạng lai F1 thường vượt các dạng bố mẹ ban đầu về tốc độ sinh trưởng, về khả năng sử dụng chất dinh dưỡng, tính chống chịu bệnh tật Ưu thế lai làm tăng sức sống, sức chịu đựng

và năng suất của đời con do giao phối không cận huyết và nuôi trong điều kiện khác nhau (Lebedev M.M (1972) [26]

Kushner K.F., (1978) [21] cho rằng ưu thế lai có nghĩa là sự tăng trưởng

và phát triển mạnh mẽ ở đời con, tính chịu đựng, năng suất của nó cao hơn so với các dạng bố mẹ

Theo Nguyễn Ân và cs (1983) [2], khi lai các cá thể khác dòng, khác giống, khác chủng nói chung đã có xuất hiện ưu thế lai ở các tính trạng sản xuất Ưu thế lai trong chăn nuôi thể hiện đa dạng, khó xếp loại thật rành mạch, nhưng một điều thể hiện rõ nhất là con lai F1 có ưu thế lai cao hơn so với bất

kỳ con lai nào ở các thế hệ tiếp theo là F2, F3, …Fn, song dựa vào sự biểu hiện của tính trạng mà người ta thấy ưu thế lai của động vật có thể phân thành các loại như sau:

- Con lai F1 vượt bố mẹ về khối lượng và sức sống

- Con lai F1 có khối lượng cơ thể ở mức độ trung gian giữa 2 giống song khả năng sinh sản và sức sống có thể hơn hẳn bố mẹ

- Một dạng ưu thế lai đặc biệt là từng tính trạng riêng rẽ có khả năng di truyền theo týp trung gian, song có khi liên quan đến sản phẩm cuối cùng thì lại khác

Để xác định mức độ biểu hiện ưu thế lai tác giả Trần Đình Miên, Nguyễn Văn Thiện (1995)[37] cho rằng, ưu thế lai là hiệu số giữa giá trị tính trạng của con lai với bố mẹ và thường là vượt lên trung bình của bố mẹ

Mcon lai> Mmẹ + Mbố

2 Theo Lasley J.F (1974)[37]: ưu thể lai thường được thể hiện bằng giá trị

% và tính theo công thức sau:

XF1- (XP1+XP2):2

H (%) = - x100

(XP1+XP2):2 Trong đó: H(%) là ưu thế lai của con so với bố mẹ

Trang 26

XF1 là giá trị trung bình của tính trạng ở con lai F1

XP1, XP2 là giá trị trung bình của tính trạng ở bố, mẹ

Theo Vũ Kính Trực (1973) [68] việc sử dụng ưu thế lai đúng ra được nghiên cứu chú ý từ lâu trên 200 năm nay Song, trong tài liệu khoa học danh

từ “Ưu thế lai” mới được làm quen từ năm 1914 do Sull (nhà di truyền học Mỹ)

đề nghị sử dụng

Trong lịch sử chăn nuôi ưu thế lai được biểu hiện trong việc lai Lừa với Ngựa tạo con La Kết quả con lai được tạo ra hơn hẳn gốc bố mẹ về nhiều mặt: tầm vóc, sức thồ, sức dẻo dai, sức chịu đựng (Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện, 1995) [37]

1.1.7.2 Bản chất di truyền của ưu thế lai

Theo Trần Đình Miên và Nguyễn Văn Thiện (1995) [37], để giải thích hiện tượng ưu thế lai có 3 thuyết chính: Thuyết trội, thuyết siêu trội và thuyết gia tăng tác động của các gen không cùng lô cút

Thuyết trội:

Trong điều kiện chọn lọc lâu dài các gen trội phần lớn là các gen có lợi và lấn

át sự hoạt động của các gen lặn, do đó qua tạp giao có thể đem các gen trội của hai bên

bố mẹ tổ hợp lại ở đời lai, làm cho đời lai có giá trị hơn bố mẹ (AA >Aa > aa)

Với những bố mẹ xa nhau trong quan hệ huyết thống (khác dòng, khác giống) thì sác xuất để mỗi cặp cha mẹ truyền cho con những gen trội khác nhau càng tăng lên, từ đó dẫn đến ưu thế lai càng tăng Các tính trạng số lượng như khả năng sinh trưởng, khả năng sinh sản… được nhiều gen điều khiển nên rất hiếm các gen đồng hợp tử Tuy nhiên bên cạnh những gen trội có lợi vẫn có những gen trội có hại, hay một hiện tượng thực tế là khi tạp giao giữa các cá thể dị hợp tử với nhau để có con lai

4 dòng thì chúng lại có ưu thế lai cao hơn khi lai giữa 2 dòng

Thuyết siêu trội:

Thuyết này cho rằng sự tác động của các alen dị hợp tử Aa lớn hơn tác động của các alen đồng hợp tử AA và aa (Aa > AA> aa)

Phản ứng sinh hóa ở con lai sẽ mạnh hơn ở con thuần, có tác dụng thúc đẩy quá trình trao đổi chất của cơ thể lai, tăng cường sức sống cho cơ thể lai Tuy vậy, theo thuyết này ưu thế lai được tạo nên do tác động của alen dị hợp

tử cho nên không thể cố định được, nếu thuần hóa ưu thế lai sẽ giảm vì ưu thế lai không có khả năng di truyền

Trang 27

Nguyễn Văn Thiện và Nguyễn Khánh Quắc (1988) [67] nêu thuyết gia tăng tác động tương hỗ Thuyết này cho rằng sự tác động tương hỗ của các gen không cùng lô cút (tác động át gen) cũng tăng lên

Khi nghiên cứu về khả năng phối hợp Lebedev M.N (1972) [26] cho rằng muốn đạt ưu thế lai siêu trội thì phải cho giao phối giữa các dòng gà xuất phát khác nhau về kiểu gen nhưng lại có khả năng phối hợp với nhau tốt

Trần Đình Miên và Nguyễn Kim Đường (1992) [36] cho biết mức độ biểu hiện của ưu thế lai cao hay thấp còn phụ thuộc vào sự tương quan âm hay dương giữa môi trường và kiểu di truyền

Khi nghiên cứu về ưu thế lai, nhiều nhà khoa học cho rằng ngoài quan niệm khả năng kết hợp chung còn có khả năng kết hợp đặc biệt, khả năng này

có được là do đặc tính của dòng bố mẹ được chọn đã có từ trước

* Một số yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai

- Nguồn gốc di truyền của bố mẹ:

Bố mẹ có nguồn gốc di truyền càng xa thì ưu thế lai lại càng cao Điều này giải thích tại sao khi lai giữa các dòng của các giống khác nhau lại có ưu thế lai cao hơn khi lai giữa các dòng trong cùng một giống

- Tính trạng xem xét:

Để cải thiện các tính trạng kinh tế trong chăn nuôi, nếu tính trạng đó có

hệ số di truyền thấp thì cần khai thác tối đa ưu thế lai, nếu tính trạng có hệ số

di truyền cao thì áp dụng chọn lọc kết hợp lai tạo Tuỳ thuộc vào bản chất của các tính trạng như tính trạng có hệ số di truyền thấp (tính trạng về sinh sản) thì các tổ hợp lai thường đạt ưu thế lai cao; tính trạng có hệ số di truyền cao (thân thịt) thì các tổ hợp lai thường đạt ưu thế lai thấp và các tính trạng sản xuất như khả năng tăng khối lượng có hệ số di truyền trung bình thì thể hiện ưu thế lai trung bình

- Công thức giao phối: Ngoài việc dựa vào khả năng sản xuất của giống người ta còn đặc biệt quan tâm đến việc lựa chọn dòng mái có sức đẻ cao, tỷ lệ nuôi sống và tỷ lệ ấp nở cao, thành thục sớm, khả năng vỗ béo cao; chọn dòng trống có khối lượng cơ thể lớn, sinh trưởng nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp

- Điều kiện nuôi dưỡng: Nếu chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng kém ưu thế lai sẽ thấp hoặc không thể hiện, ngược lại ở điều kiện nuôi dưỡng tốt sẽ thể hiện được hết tiềm năng của ưu thế lai và mang lại hiệu quả chăn nuôi cao

Trang 28

- Môi trường: Mức độ biểu hiện của ưu thế lai chịu ảnh hưởng rõ rệt của môi trường sống Ở những thay đổi mức độ ưu thế lai thường xảy ra ở những trường hợp có liên quan đến địa điểm nuôi, mức độ dinh dưỡng, vị trí địa lý…

- Tuổi: Ưu thế lai của một số tính trạng chịu ảnh hưởng của tuổi trong giai đoạn đầu và ảnh hưởng bởi chu kỳ đẻ Trong giai đoạn sinh trưởng đầu của

gà thịt, ưu thế lai đối với thể trạng tăng từ 0 (mới nở) lên 2-10 % (lúc giết thịt 6-10 tuần tuổi), ưu thế lai với sức sống từ 0-6 %, năng suất trứng/ mái từ 2-10

%, tăng đáng kể ở chu kỳ 2 so với chu kỳ đầu

- Tính thích nghi của gia cầm đối với điều kiện ngoại cảnh:

Tính thích nghi của gia cầm chính là sự phản ứng của cơ thể đối với các kích thích trong cơ thể và ngoài môi trường Tính thích nghi của gia cầm liên quan đến sự thay đổi di truyền, sinh lý xảy ra ở gia cầm, tính thích nghi bao gồm:

+ Thích nghi về di truyền: Đề cập đến các đặc tính di truyền, các đặc tính này giúp cho quần thể động vật sinh tồn trong một môi trường nhất định, nó liên quan đến sự tiêu hóa qua nhiều thế hệ hay là sự biến đổi để có đặc tính di truyền riêng biệt

+ Thích nghi về sinh lý: Liên quan đến sự thay đổi của từng các thể Tính thích nghi sinh lý liên quan đến đặc điểm về sinh lý học, giải phẫu học và đặc điểm của con vật, giúp cho con vật củng cố sức khỏe nâng cao sức sống

1.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

1.2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước

Dẫn theo tài liệu của Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998)[16], gà Leghorn trắng ở Bắc Mỹ được tạo ra từ gà địa phương Italia lai với Yokohama,

gà Viandot màu trắng bạc và gà Dominick Ở tuổi trưởng thành, gà trống Leghorn trắng có khối lượng từ 2,0 - 2,6 kg, gà mái từ 1,6 - 2,2 kg, sản lượng trứng từ 250 - 270 quả/năm

Tại Pháp, hãng Sasso tạo ra bộ giống gà Sasso và đã đưa vào sản xuất gồm 16 dòng gà trống và 6 dòng gà mái, các dòng gà trống sử dụng rộng rãi hiện nay là: X44N, T55, T55N, T77, T88, T88N Dòng mái được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là: SA31, SA51 Gà SA31 có màu lông nâu đỏ, khối lượng lúc 20 tuần tuổi đạt 2,01- 2,29kg, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 2,38-2,46kg

Trang 29

Gà SA51 có khối lượng lúc 20 tuần tuổi là 1,42kg, sản lượng trứng đạt 188- 190 quả/mái/năm Hãng sử dụng trống X44 x mái SA31L tạo con lai thương phẩm nuôi thịt đến 63 ngày tuổi có khối lượng cơ thể đạt 2,55kg/con, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 2,46kg

Giống gà thương phẩm “Label Rouge” là tổ hợp lai bốn dòng có lông màu vàng hoặc màu nâu vàng của công ty gà Kabir Hiện nay công ty Kabir của Israel đã tạo ra được 28 dòng chuyên dụng thịt lông trắng và lông màu, trong đó có 13 dòng nổi tiếng trên thế giới được ưa chuộng như dòng trống

K100, K100N, K400, K400N, K600, K368, K66 và các dòng mái K14, K25, K123 và K156 Đặc tính của những dòng này là có lông màu, chân vàng, da vàng thích hợp nuôi chăn thả Hãng Kabir chicks L.t.d (Israel) sử dụng trống GGK x mái K227tạo con thương phẩm ở 63 ngày có khối lượng cơ thể 2460g, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 2,28 kg

Hãng Grimaud Freres Selection S.A.S sử dụng trống G99 x mái GF tạo con lai ở 63 ngày có khối lượng cơ thể 2100 g, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 2,22 kg Trống G99 x mái GF26 tạo con lai ở 63 ngày có khối lượng cơ thể 1900 g, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 2,49 kg Trống

L11 x mái GF86 tạo con lai ở 63 ngày có khối lượng cơ thể 2730 g, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 2,48 kg Trống L11 x mái GF26 tạo con lai ở

63 ngày có khối lượng cơ thể 2480 g, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể 2,47 kg

1.2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước

Những năm gần đây chăn nuôi gia cầm ở Việt Nam đã phát triển mạnh và vững chắc, có được thành tựu đó là do nhiều yếu tố trong đó yếu tố quan trọng góp phần quyết định là các tiến bộ khoa học kỹ thuật về di truyền giồng mà lai tạo

và chọn lọc là các biện pháp được các nhà chọn giống sử dụng rộng rãi

Kết quả nghiên cứu của Lê Hồng Mận và Đoàn Xuân Trúc (1984) [32] tạo con lai giữa dòng gà thịt cao sản giống Plymouth Rock là một ví dụ điển hình Bộ giống gà thịt Plymonth Rock gồm 3 dòng: Trống dòng TĐ8 x mái dòng

TĐ3, gà mái TĐ83 cho lai với trống TĐ9 tạo con lai TĐ983 thương phẩm có ưu thế lai rõ rệt hơn trung bình bố mẹ, ưu thế lai về khối lượng cơ thể ở 56 ngày tuổi đạt 5,97% Nước ta tiếp tục nhập một số giống gà như Hybro HV85 (1985), Goldline 54 (1990)

Nguyễn Huy Đạt (1991) [8] cho lai 2 dòng gà BVX và BVY trong giống

Trang 30

Leghorn Lê Hồng Mận và cs (1993) [33] cho lai gà Rhode Island Red với Leghorn

Gà lai chuyên thịt TĐ93, V1TĐ9, V1TĐ3 (Lê Hồng Mận và Đoàn Xuân Trúc, 1984) [32], cũng cho năng suất thịt và trứng tương đối cao Gà broiler Ross 208 được tạo ra

từ hai dòng gà Ross 208 cho năng suất thịt tương đương các nước trong khu vực (3090g

ở 63 ngày tuổi) (Bùi Quang Tiến và cs, 1994) [52]

Tạ An Bình (1973) [2] đã dùng phương pháp lai đơn giản, những công thức về thịt trứng: Plymouth x Ri; Cornish x Ri; Mía x Rhode Island; Phù Lưu

Tế x Susex Khối lượng con lai trong các công thức ở các giai đoạn 60, 90, 120 ngày tuổi đều nghiêng về phía bố, có ưu thế lai cao so với gà Ri thuần Nguyễn Hoài Tao, Tạ An Bình và cs (1984)[50], nghiên cứu lai kinh tế: Mía x Ri; Phù Lưu Tế x Ri; Chọi x Ri, kết quả cho thấy ở 2 công thức lai Mía x Ri và Phù Lưu Tế x Ri có khối lượng cơ thể, tiêu tốn thức ăn đều ở mức tốt hơn so với gà

Ri thuần Bùi Quang Tiến, Nguyễn Hoài Tao (1985) [51] tạo giống gà kiêm dụng Rhoderi có sản lượng trứng cao hơn gà Ri 27%, khối lượng trứng thấp hơn gà Rhode 11%, cao hơn gà Ri 8,6%

Ngày nay, nhiều giống gà lông màu chăn thả được nhập vào nước ta do có

ưu điểm màu lông, dễ nuôi, thịt ngon, khả năng cho thịt cao, sinh sản tốt như gà Lương Phượng Hoa nhập năm 1995 từ Quảng Tây (Trung Quốc), gà Sasso nhập năm 1996 từ Pháp, gà Kabir nhập năm 1997 từ Israel Các giống gà này đã góp phần tạo nguồn gen phong phú, là nguyên liệu cho công tác lai tạo giữa các giống

gà ngoại nhập với ngoại nhập; giữa các giống gà ngoại nhập với giống gà nội góp phần đẩy mạnh chăn nuôi gà thả vườn, tăng nguồn thực phẩm cho xã hội

Theo kết quả nghiên cứu tổ hợp lai 3/4 máu Lương Phượng và 1/4 máu Sasso X44 cho thấy gà lai nuôi thịt đến 70 ngày có tỷ lệ nuôi sống 96% Khối lượng cơ thể cao hơn gà Lương Phượng 11,67% Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể thấp hơn gà Lương Phượng nuôi thịt 0,19kg Các chỉ tiêu

tỷ lệ thân thịt, thịt đùi, thịt ngực đều cao hơn gà Lương Phượng (Phùng Đức Tiến và cs, 2003) [54]

Kết quả nghiên cứu của Trần Công Xuân và cs (2004) [71] cho thấy tỷ

lệ đẻ của đàn gà lai (Trống Sasso dòng X44 x Mái Lương Phượng) nuôi sinh sản đến 68 tuần tuổi trung bình đạt 52,3- 52,38%, năng suất trứng đạt 173,8 - 175,7quả/mái Tiêu tốn thức ăn/10 trứng là 2,99 - 3,0kg Tỷ lệ phôi 93,0 - 93,5% Gà lai nuôi thịt lúc 63 ngày tuổi khối lượng cơ thể đạt 2369,5 - 2377,39g/con cao hơn so với gà Lương Phượng 30,61 - 31,05%, tỷ lệ nuôi sống

Trang 31

cao 95,94 - 96,66%, tiêu tốn thức ăn 2,46 - 2,67 kg/ kg tăng khối lượng cơ thể Còn rất nhiều công trình nghiên cứu các công thức lai từ những giống gà lông màu nhập nội tạo con lai nuôi thịt phù hợp với điều kiện tự nhiên, vùng khí hậu

và kinh tế của từng vùng miền đã giúp người chăn nuôi có lợi nhuận và giải quyết nông nhàn

Kết quả nghiên cứu của Hồ Xuân Tùng (2004) [59] cho thấy đàn gà lai (7/8 Ri vàng rơm x 1/8 Lương Phượng) có tỷ lệ nuôi sống giai đoạn gà con dò, hậu bị đạt 90,17% và giai đoạn sinh sản đạt 96,12% Khối lượng cơ thể ở 19 tuần tuổi con trống đạt 1586,83g; con mái đạt 1304,50g; lượng thức ăn tiêu thụ của gà trống và mái ở cả giai đoạn mới nở - 19 tuần tuổi là 6,49 - 8,07 kg/con Năng suất trứng/mái/39 tuần tuổi đạt 56,15 quả/mái; tỷ lệ đẻ trung bình đạt 40,06%; tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng và tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng giống đạt 2,59 - 3,03 kg; tỷ lệ phôi đạt 91,24% và tỷ lệ gà loại 1/trứng ấp đạt 77,00%

Như vậy, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy con lai có ưu thế lai so với trung bình bố mẹ trên nhiều chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật (khối lượng cơ thể, tiêu tốn thức ăn, tỷ lệ nuôi sống, ) Các tổ hợp lai giữa các giống gà nhập nội và gà địa phương tạo ra con lai có chất lượng thịt ngon, màu sắc lông đa

dạng mang lại hiệu quả kinh tế

Chương 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm thời gian nghiên cứu

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

Gà lai F1 (Đông Tảo x Lương Phượng) giai đoạn hậu bị (1 -133 ngày tuổi)

Gà lai F1 (Đông Tảo x Lương Phượng) giai đoạn sinh sản 20 - 38 tuần tuổi (134 - 266 ngày tuổi)

Gà lai F2 (♂ ĐTLV x ♀ ĐTLV) nuôi thịt (1 - 105 ngày tuổi)

Ghi chú: ĐT là Đông Tảo, LV là Lương Phượng Việt Nam

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Trại chăn nuôi gia cầm khoa chăn nuôi thú y, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ tháng 6 năm 2015 đến tháng 7 năm 2016

Trang 32

2.2 Nội dung nghiên cứu

- Khảo sát khả năng sinh trưởng của gà hậu bị F1 (Đông Tảo x Lương Phượng)

- Khảo sát khả năng sản xuất của gà sinh sản F1 (Đông Tảo x Lương Phượng)

- Khảo sát khả năng sản xuất thịt của gà lai F2 (♂ ĐTLV x ♀ ĐTLV)

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Bố trí thí nghiệm

2.3.1.1 Bố trí thí nghiệm 1: Khảo sát khả năng sinh trưởng của gà hậu bị F 1 (Đông Tảo x Lương Phượng)

* Bố trí thí nghiệm

- Giai đoạn 1 - 35 ngày tuổi

Tổng số gà khảo sát ban đầu là 390 con trống mái hỗn hợp, chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm 130 con

- Giai đoạn 36 - 133 ngày tuổi: Tách trống mái ở 35 ngày tuổi

Gà mái được tiếp tục nuôi trong 3 nhóm nêu trên có sự điều chỉnh về

số lượng gà tương đồng giữa 3 nhóm Có khoảng trên180 gà mái, mỗi nhóm

sẽ có khoảng trên 60 gà mái

Gà trống chỉ chọn lại 30 con chia làm 3 nhóm, nuôi tách biệt với gà mái Những gà trống còn lại nuôi theo chế độ gà thịt để bán gà thịt

* Thức ăn và nuôi dưỡng

Sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh của công ty Japfa Comfeed cho gà lông màu nuôi hậu bị

Giai đoạn 1 - 56 ngày tuổi cho ăn tự do

Giai đoạn 57 - 133 ngày tuổi cho ăn hạn chế

Nuôi dưỡng theo quy trình do Cục Chăn nuôi Bộ NN và PTNT ban hành đối với gà lông màu

Bảng 2.1 Giá trị dinh dưỡng thức ăn của gà hậu bị Giai đoạn

Chỉ tiêu

1 - 56 ngày tuổi (gà con)

57 - 133 ngày tuổi (gà hậu bị)

Sau 133 ngày tuổi (trước đẻ)

Trang 33

- Đặc điểm ngoại hình của gà hậu bị ở các giai đoạn tuổi

- Tỷ lệ nuôi sống của gà hậu bị từ 1-19 tuần tuổi

- Sinh trưởng của gà hậu bị ở các giai đoạn tuổi

- Tiêu thụ và hiệu suất sử dụng thức ăn của gà hậu bị ở các giai đoạn tuổi

* Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu đối với gà hậu bị

- Đặc điểm ngoại hình: để đánh giá một cách cơ bản về ngoại hình của

gà F1 (Đông Tảo x LV) chúng tôi quan sát mô tả trực tiếp hình dáng, đặc điểm của đầu, cổ, mình, mào tích, mỏ và chân của từng cá thể gà, đối chiếu rút ra những nét đặc trưng nhất Phân biệt ngoại hình, tốc độ mọc lông, ảnh chụp

- Khối lượng cơ thể: được theo dõi từ 1 ngày tuổi và theo từng tuần Cân

gà 1 ngày tuổi bằng cân điện tử Nhật Bản có độ chính xác 0,1 g; từ 1 - 6 tuần tuổi cân bằng cân đồng hồ loại 1 kg có độ chính xác 1 g; từ 7 tuần tuổi trở đi cân bằng cân đồng hồ loại 5 kg có độ chính xác 10 g Thời gian cân vào lúc sáng sớm trước khi cho ăn của ngày đầu tiên tuần tiếp theo

- Sinh trưởng tuyệt đối (A): là sự tăng lên về khối lượng cơ thể trong một

đơn vị thời gian (tính bằng g/con/ngày)

A (gam/con/ngày) =

P2 - P1

T1-T2

Trong đó:A là sinh trưởng tuyệt đối (gam/con/ngày)

P1 là khối lượng cơ thể cân tại thời điểm T1 (g)

P2 là khối lượng cơ thể cân tại thời điểm T2 (g)

T1 là thời điểm khảo sát trước (ngày tuổi)

T2 là thời điểm khảo sát sau (ngày tuổi)

- Tiêu thụ thức ăn: Cân lượng thức ăn cho ăn và lượng thức ăn thừa để tính lượng thức ăn thu nhận của gà, sau đó tính lượng thức ăn thu nhận/gà theo công thức sau:

Tiêu thụ TĂ/ gà hậu bị

(g/con/ngày) =

 Thức ăn tiêu thụ trong kỳ (kg)

 Gà trong kỳ (con)

Trang 34

-Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng: Căn cứ vào lượng thức ăn tiêu thụ của gà và tăng khối lượng của gà trong kỳ để tính tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng theo công thức sau:

Tiêu tốn TĂ/ kg tăng KL

 Thức ăn tiêu thụ trong kỳ (kg)

 Khối lượng tăng trong kỳ (kg)

2.3.1.2 Bố trí thí nghiệm 2: Khảo sát khả năng sản xuất của gà sinh sản F 1 (Đông Tảo x Lương Phượng)

Ở 133 ngày tuổi gà hậu bị của 3 nhóm thuộc thí nghiệm 1 được chọn lại mỗi nhóm 45 con để theo dõi khả năng sản xuất

Ghép trống mái theo tỷ lệ 1trống/7,5 mái (mỗi nhóm có 45 gà mái và 6 gà trống) Tổng số gà theo dõi là 135 gà mái và 18 gà trống

Bảng 2.2 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2

18 ♂ (3 nhóm x 6) Thời gian theo dõi 20 - 38 tuần

Thức ăn Hỗn hợp hoàn chỉnh của công ty Japfa Comfeed Chế độ ăn Theo định mức của gà đẻ lông màu

Phương thứcnuôi Nhốt hoàn toàn, chuồng hở, đệm lót

* Thức ăn và nuôi dưỡng

Thức ăn của hãng Japfa Comfeed cho gà đẻ lông màu

Chế độ cho ăn: Cho ăn định lượng theo tuần tuổi (tuần đẻ) có sự điều chỉnh theo tỷ lệ đẻ của gà Định mức thức ăn của gà được trình bày tại bảng 2.3

Bảng 2.3 Định mức thức ăn cho gà trong giai đoạn đẻ trứng

Trang 35

28 (9) 104 38 (19) 97

Ghi chú: Định mức trên được điều chỉnh theo tỷ lệ đẻ thực tế của gà thí nghiệm

* Các chỉ tiêu theo dõi

Tỷ lệ nuôi sống

Tỷ lệ đẻ của gà ở các tuần tuổi (tuần đẻ)

Một số chỉ tiêu sinh học của trứng

Chất lượng trứng ấp: Tổng số lượng trứng âp là 782 quả

Theo dõi các chỉ tiêu: trứng có phôi, ấp nở, gà con loại I/ấp nở và gà con loại I / trứng ấp

Hiệu suất sử dụng thức ăn cho sản xuất trứng và gà con giống

* Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu trên gà mái sinh sản

Năng suất trứng/ mái bình quân (NST) là tổng số trứng đẻ ra (quả) chia cho tổng số gà mái bình quân nuôi đẻ trong thời gian khảo sát

NST/ mái BQ (quả) = Tổng số trứ ng đẻ ra trong kỳ (quả)

Số mái BQ có mặt trong kỳ (con)

- Tỷ lệ đẻ (%)

Tỷ lệ đẻ trứng(%) = Số trứng thu trong kỳ (quả) x 100

Số mái x Số ngày đẻ

* Phương pháp xác định một số chỉ tiêu sinh học của trứng

- Khối lượng trứng (g/ quả)

Tổng số trứng khảo sát là 60 quả, mỗi thời điểm khảo sát 15 quả tại 4 thời điểm: tỷ lệ đẻ đạt 5 %, 30 %, tỷ lệ đẻ đạt đỉnh cao và 38 tuần tuổi Cân bằng cân kỹ thuật có độ chính xác ± 0,1 mg

- Các chỉ tiêu về chất lượng trứng được khảo sát và đánh giá trên hệ thống của Nhật Bản kèm theo phương pháp Auaas R và Wilke R (1978) [1] Các chỉ tiêu về chất lượng trứng được đánh giá như sau:

- Chỉ số hình thái được xác định bằng dụng cụ đo của Nhật Bản, có độ chính xác 0,01 mm ở 38 tuần tuổi

Chỉ số hình thái = Đường kính lớn trứng (mm)

Đường kính nhỏ trứng (mm)

Trang 36

- Độ dày vỏ trứng (mm) được xác định bằng thước đo micromet có độ chính xác 0,01 mm (đo ở 3 phần: đầu tù, giữa và đầu nhọn của trứng, bóc lớp

bộ số trứng ấp ở ngày ấp thứ 6 Trứng có phôi được xác định bằng tổng số trứng

ấp trừ đi số trứng không phôi (Trần Đình Miên và cs, 1995) [37]

Trang 37

Số trứng đưa vào ấp (quả)

* Phương pháp xác định hiệu quả sử dụng thức ăn cho sản xuất trứng

Tiêu tốn thức ăn (TTTĂ)/ 10 trứng, 10 trứng giống (tính riêng giai đoạn sinh sản)

TTTĂ/ 10 trứng (kg)= Tổng số TĂ tiêu tốn trong kỳ (kg) x 10

Số trứng đẻ ra trong kỳ (quả)

TTTĂ/ 10 trứng giống (kg) = Tổng số TĂ tiêu tốn trong kỳ (kg) x 10

Số trứng giống trong kỳ (quả)

2.3.1.3 Bố trí thí nghiệm 3: Khảo sát khả năng sản xuất thịt của gà F 2 (♂ ĐTLV

x ♀ĐTLV)

* Bố trí thí nghiệm

Tổng số gà F2 (♂ ĐTLV x ♀ ĐTLV) nuôi khảo sát khả năng sản xuất thịt là 150 con (trống, mái hỗn hợp) chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm 50 con Thời gian khảo sát từ lúc gà 1 ngày tuổi đến 105 ngày tuổi

* Thức ăn, nuôi dưỡng

Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh của công ty Japfa Comfeed cho gà lông màu nuôi thịt, cho ăn tự do

Chuồng trại và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng theo quy trình nuôi dưỡng

gà lông màu nuôi thịt

Bảng 2.4 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 3

Trang 38

Số lượng gà 150 con (3 nhóm x 50)

Thức ăn Hỗn hợp hoàn chỉnh của công ty Japfa Comfeed

Phương thức nuôi Nhốt hoàn toàn, chuồng hở, đệm lót

Mật độ

* Chỉ tiêu theo dõi

Tỷ lệ nuôi sống

Sinh trưởng của gà (sinh trưởng tích lũy, tuyệt đối)

Tiêu thụ thức ăn và hiệu suất sử dụng thức ăn của gà

Khả năng cho thịt của gà

* Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu

- Tỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể, tiêu thụ, tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng giống như theo dõi trên gà hậu bị

* Mổ khảo sát chất lượng thịt của con lai F2, tính theo phương pháp giết

mổ khảo sát của Auaas và R Wilke, 1987 [1]

+ Khối lượng sống (kg) là khối lượng sau khi gà để nhịn đói 12 giờ + Khối lượng thân thịt (kg) là khối lượng gà sau khi cắt tiết, vặt lông, bỏ nội tạng, cắt đầu tại vị trí giữa xương chẩm và xương atlat, cắt chân ở đoạn khớp khuỷu

Tỷ lệ thân thịt (%) = Khối lượng thân thịt (g) x 100

Khối lượng sống (g)

Tỷ lệ thịt đùi (%)= Khối lượng thịt đùi trái (g) x 2 x 100

Khối lượng thân thịt (g)

Tỷ lệ thịt ngực (%) = Khối lượng thịt ngực trái (g) x 2 x 100

Khối lượng thân thịt (g)

Tỷ lệ mỡ bụng (%) = Khối lượng mỡ bụng (g) x 100

Khối lượng thân thịt (g)

Trang 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Kết quả theo dõi gà giai đoạn hậu bị

3.1.1 Đặc điểm ngoại hình

Đối với gia cầm nói riêng và vật nuôi nói chung, đặc điểm ngoại hình là chỉ tiêu thường được chú ý đầu tiên để so sánh giữa các giống, dòng và phân biệt giới tính Trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng gia cầm, người chăn nuôi thường quan sát, theo dõi những biểu hiện bên ngoài của chúng để có biện pháp

xử lý kịp thời những biểu hiện không bình thường của ngoại hình góp phần

nâng cao hiệu quả chăn nuôi

Đặc điểm ngoại hình của loại gà lai F1 (Đông Tảo x LV) được quan sát vào hai thời điểm là khi đàn gà được 01 ngày tuổi (390 con) và khi đàn gà được

266 ngày tuổi (135 gà mái và 18 gà trống) Kết quả nghiên cứu về đặc điểm ngoại hình của gà thí nghiệm được trình bày ở bảng 3.1; 3.2

Bảng 3.1 Đặc điểm ngoại hình của đàn gà F 1 (Đông Tảo x LV)

Ngày đăng: 23/06/2017, 22:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Auaas R., Wilke R. (1978), Sản xuất và bảo quản trứng gia cầm, Cơ sở sinh học của nhân giống và nuôi dưỡng gia cầm (Nguyễn Chí Bảo, dịch), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, trang 486,524 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất và bảo quản trứng gia cầm
Tác giả: Auaas R., Wilke R
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1978
2. Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiện, Trần Xuân Thọ (1983), Di truyền học động vật, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, trang 86, 88, 185, 196,198, 200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học động vật
Tác giả: Nguyễn Ân, Hoàng Gián, Lê Viết Ly, Nguyễn Văn Thiện, Trần Xuân Thọ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1983
3. Tạ An Bình (1973), "Những kết quả bước đầu về lai kinh tế gà", Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp, trang 598 603 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những kết quả bước đầu về lai kinh tế gà
Tác giả: Tạ An Bình
Năm: 1973
4. Brandsch H., Biilchel H. (1978), Cơ sở của sự nhân giống và di truyền giống ở gia cầm, (Nguyễn Chí Bảo dịch), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, trang 129,158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở của sự nhân giống và di truyền giống ở gia cầm
Tác giả: Brandsch H., Biilchel H
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1978
5. Lê Công Cường (2007), Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Hồ và gà Lương Phượng, Luận văn thạc sĩ khoa học nông nghiệp,trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội, trang 6, 60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khả năng sản xuất của tổ hợp lai giữa gà Hồ và gà Lương Phượng
Tác giả: Lê Công Cường
Năm: 2007
7. Bạch Thị Thanh Dân (1999), Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở trứng ngan bằng phương pháp ấp trứng ngan nhân tạo , (Luận án tiến sỹ Nông nghiệp), Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả ấp nở trứng ngan bằng phương pháp ấp trứng ngan nhân tạo
Tác giả: Bạch Thị Thanh Dân
Năm: 1999
8. Nguyễn Huy Đạt (1991), Nghiên cứu một số tính trạng sản xuất của các dòng thuần bộ giống gà Leghorn trắng trong điều kiện Việt Nam, Luận án PTS. Nông nghiệp, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, trang 13,15, 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số tính trạng sản xuất của các dòng thuần bộ giống gà Leghorn trắng trong điều kiện Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt
Năm: 1991
9. Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Văn Đồng, Hồ Xuân Tùng, Nguyễn Thị Tuyết Minh, Vũ Chí Thiện, Hoàng Thị Nguyệt, Phan Hồng Bé và Nguyễn Huy Tuấn (2008), Nghiên cứu đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất của gà VP2 thế hệ I tại Trại thực nghiệm Liên Ninh, Báo cáo Khoa học năm 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm ngoại hình, khả năng sản xuất của gà VP2 thế hệ I
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Văn Đồng, Hồ Xuân Tùng, Nguyễn Thị Tuyết Minh, Vũ Chí Thiện, Hoàng Thị Nguyệt, Phan Hồng Bé và Nguyễn Huy Tuấn
Năm: 2008
11. Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thành Đồng (2001), Nghiên cứu đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của giống gà màu Lương Phượng hoa nuôi tại Traị thực nghiệm Liên Ninh, Báo cáo Khoa học chăn nuôi thú y tại thành phố Hồ Chí Minh, trang 62,70 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của giống gà màu Lương Phượng hoa nuôi tại Traị thực nghiệm Liên Ninh
Tác giả: Nguyễn Huy Đạt, Nguyễn Thành Đồng
Năm: 2001
12. Nguyễn Huy Đạt, Vũ Thị Hương, Hồ Xuân Tùng (2005) “Nghiên cứu chọn lọc nâng cao năng suất gà Ri vàng rơm”, Báo cáo khoa học năm 2005, Viện chăn nuôi 2006, trang 61, 203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chọn lọc nâng cao năng suất gà Ri vàng rơm”, "Báo cáo khoa học năm 2005
13. Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Văn Lưu (2006), “Một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Hồ”, Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I, số 4+5/2006, trang 64 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà Hồ”, "Tạp chí Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I
Tác giả: Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Văn Lưu
Năm: 2006
14. Giang Misengu (1982), Những ứng dụng di truyền học, (Người dịch: Nguyễn Quang Thái), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, trang 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những ứng dụng di truyền học
Tác giả: Giang Misengu
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1982
15. Nguyễn Thị Hòa (2004), Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, khả năng sinh sản và bảo tồn quỹ gen giống gà Đông Tảo, Luận văn thạc sĩ Khoa học sinh học, trường Đại học Sư phạm Hà Nội, trang 70, 73 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, khả năng sinh sản và bảo tồn quỹ gen giống gà Đông Tảo
Tác giả: Nguyễn Thị Hòa
Năm: 2004
16. Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998), Giáo trình chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội. trang 42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội. trang 42
Năm: 1998
17. Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai (1994), Chăn nuôi gia cầm, Nxb Nông nghiệp Hà Nội, trang 11,12, 15,17, 24,25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi gia cầm
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng, Hoàng Thanh, Bùi Hữu Đoàn, Nguyễn Thị Mai
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 1994
18. Hutt F.B. (1978), Di truyền học động vật (người dịch Phan Cự Nhân), Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, trang 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Di truyền học động vật
Tác giả: Hutt F.B
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1978
19. Từ Trung Kiên, Trần Thị Hoan, Nguyễn Mai Hoa (2016), “Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Đông Tảo lai tại Thái Nguyên” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của gà Đông Tảo lai tại Thái Nguyên
Tác giả: Từ Trung Kiên, Trần Thị Hoan, Nguyễn Mai Hoa
Năm: 2016
20. Kushner K, F. (1973), "Các cơ sở di truyền của sự lựa chọn giống gia cầm", Tạp chí Khoa học và kỹ Thuật Nông nghiệp, số 141, Tháng 3/1974, Phần Nông nghiệp nước ngoài, trang 222, 227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cơ sở di truyền của sự lựa chọn giống gia cầm
Tác giả: Kushner K, F
Năm: 1973
21. Kushner K. F. (1978), Những cơ sở di truyền học của việc sử dụng ưu thế lai trong chăn nuôi, Trích dịch cuốn “Những cơ sở di truyền và chọn giống động vật”, (Người dịch: Nguyễn Ân, Trần Cừ, Nguyễn Mộng Hùng, Lê Đình Lương), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, trang 248, 262 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những cơ sở di truyền và chọn giống động vật
Tác giả: Kushner K. F
Nhà XB: Nxb Khoa học và Kỹ thuật
Năm: 1978
22. Kushner K.F. (1974), "Các cơ sở di truyền học của sự lựa chọn giống gia cầm", Tạp chí Khoa học và Kỹ thuật Nông nghiệp, số (141), Phần thông tin khoa học nước ngoài, trang 21,28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các cơ sở di truyền học của sự lựa chọn giống gia cầm
Tác giả: Kushner K.F
Năm: 1974

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Bảng 2.2. Sơ đồ bố trí thí nghiệm 2 (Trang 34)
Bảng 3.4. Khối lượng của gà thí nghiệm ở các giai đoạn tuổi (N=3n) - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.4. Khối lượng của gà thí nghiệm ở các giai đoạn tuổi (N=3n) (Trang 45)
Bảng 3.5. Tăng khối lượng của gà hậu bị ở các giai đoạn tuổi (N=3n) - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.5. Tăng khối lượng của gà hậu bị ở các giai đoạn tuổi (N=3n) (Trang 46)
Bảng 3.9. Tỷ lệ đẻ của gà từ 20 - 38 tuần tuổi - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.9. Tỷ lệ đẻ của gà từ 20 - 38 tuần tuổi (Trang 52)
Hình 3.2. Biểu đồ tỷ lệ đẻ của gà từ 20 - 38 tuần tuổi - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Hình 3.2. Biểu đồ tỷ lệ đẻ của gà từ 20 - 38 tuần tuổi (Trang 53)
Bảng 3.10. Một số chỉ tiêu sinh học của trứng - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.10. Một số chỉ tiêu sinh học của trứng (Trang 55)
Bảng 3.11. Một số chỉ tiêu ấp nở của đàn gà thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.11. Một số chỉ tiêu ấp nở của đàn gà thí nghiệm (Trang 58)
Bảng 3.12. Tiêu tốn và chi phí thức ăn cho sản xuất trứng - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.12. Tiêu tốn và chi phí thức ăn cho sản xuất trứng (Trang 59)
Hình 3.3. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Hình 3.3. Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm (Trang 61)
Hình 3.4. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Hình 3.4. Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của gà thí nghiệm (Trang 61)
Bảng 3.15. Kết quả mổ khảo sát của gà thí nghiệmlúc 15 tuần tuổi(n = 3)  Chỉ tiêu  ĐV  Gà mái  Gà trống  TB (♀+ ♂) - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.15. Kết quả mổ khảo sát của gà thí nghiệmlúc 15 tuần tuổi(n = 3) Chỉ tiêu ĐV Gà mái Gà trống TB (♀+ ♂) (Trang 65)
Bảng 3.16. Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Bảng 3.16. Kết quả nghiên cứu một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng thịt (Trang 66)
Hình 1: Lô 1, 2, 3 Các lô gà thí nghiệm - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Hình 1 Lô 1, 2, 3 Các lô gà thí nghiệm (Trang 80)
Hình 3. Gà F 2   giai đoạn 28 ngày tuổi - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Hình 3. Gà F 2 giai đoạn 28 ngày tuổi (Trang 81)
Hình 4. Đàn gà sinh sản - Nghiên cứu khả năng sản xuất của gà f1(đông tảo x lương phượng) nuôi tại thái nguyên
Hình 4. Đàn gà sinh sản (Trang 81)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w