1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Bo cau hoi on thi mon Van-1

118 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 3,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề 1:Câu 1: Khái niệm ca dao - Là một thể loại quan trọng trong kho tàng văn học dân gian của các dân tộc, có từ xa xưa là một trong những thể loại sớm nhất.. Đề 2: Câu 1: Khái niệm truy

Trang 1

MỤC LỤ

Đề 1: 1

Câu 1: Khái niệm ca dao 1

Câu 2: Trình bày khái quát đặc điểm lịch sử văn học trung đại Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV 1

Câu 3: Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt 3

Đề 2: 5

Câu 1: Khái niệm truyện cổ tích 5

Câu 2: Đặc điểm lịch sử và tình hình văn học từ thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XVIII? 6

Câu 3: Bình giảng hai câu thơ sau trong bài “ Văn tế thập loại chúng sinh” (Văn chiêu hồn) của Nguyễn Du: 8

ĐỀ 3 10

Câu 1: Khái niệm ngụ ngôn 10

Câu 2: Đặc điểm lịch sử và văn học giai đoạn giữa thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX 11

Câu 3: Phân tích bài thơ “Sông lấp” - Tú Xương 13

ĐỀ 4: 15

Câu 1: Truyện cười 15

Câu 2: Đặc điểm lịch sử và văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX 16

Câu 3: Bình giảng khổ đầu bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu 17

ĐỀ 5 20

Câu 1: KN văn học lãng mạn? 20

Câu 2: ( giống câu 1 đề 8) 23

Câu 3: Phân tích bài thơ : “Chiều tối” (HCM) trong tập “ Nhật kí trong tù” ? 23

ĐỀ 6: 26

Câu 1: Khái niệm giá trị nhân đạo của tác phẩm văn học? 26

Câu 2: Những đặc điểm lớn thời kì văn học VN thời kì cận đại? 27

Câu 3: Hình tượng của vua bù nhìn Khải Định trong truyện ngắn “Vi hành”… ? 29

ĐỀ 7: 31

Câu 1: So sánh nhan đề Đoạn Trừng Tân Thanh của Nguyễn Du và Kim Vân Kiều truyện của thanh Tam tài nhân để thấy rõ ý đồ sáng tạo mới của ND? 31

Câu 2: Đặc điểm nội dung và nghệ thuật của khuynh hướng VH HIỆN THỰC giai đoạn 1chín30-1chín45 ? 32

Câu 3: Vẻ đẹp mùa thu trong bài thơ Thu Vịnh của Nguyễn Khuyến 33

ĐỀ 8: 35

Trang 2

Câu 1: những biểu hiện của yêu nước trong tác phẩm văn học 35

CÂU 2:Đặc điểm nội dung và nghệ thuật của khuynh hướng VH lãng mạn 30-45 36

CÂU 3: điển hình văn học Chí Phèo… 38

ĐỀ 9 42

Câu 1: Cuộc đời và sự nghiệp sáng tác văn học của Nam Cao 42

Câu 2: Trình bày những nguyên nhân khiến cho trào lưu VH cách mạng giai đoạn 1930-1945 chỉ thành công ở lĩnh vực thơ ca và trào lưu VH hiện thực giai đoạn này chỉ thành công trong lĩnh vực văn xuôi? 43

Câu 3: Phân tích bài thơ “Chạy Giặc” Nguyễn Đình Chiểu sáng tác 1939? 45

ĐỀ 10 48

Câu 1: Khái niệm nhân vật điển hình trong văn học ? 48

Câu 2: Hoàn cảnh sáng tác và giá trị tư tưởng nghệ thuật trong tâp thơ nhật ký trong tù - Hồ Chí Minh? 48

Câu 3: Hình tượng nhân vật Huấn Cao trong Chữ Người Tử Tù? 50

ĐỀ 11 52

Câu 1: Ý Nghĩa nhan đề truyện ngắn “ Chiếc thuyền ngoài xa ’’ của Nguyễn Minh Châu? 52

Câu 2: Vì sao từ thế kỉ XVI nhân vật phụ nữ lại trở thành hình tượng trung tâm trong văn học viết Việt Nam? 53

Câu 3: Phân tích bài thơ “ Tràng Giang” của Huy Cận? 54

ĐỀ 12 57

Câu 1: ý nghĩa nhan đề btho Đây mùa thu tới của Xdieu 57

Câu 2: Nêu nguyên nhân thành công trong lĩnh vực thơ ca của dòng văn học năm 1945 Kể tên một số tác phẩm ? 58

Câu 3: Phân tích nhân vật Mị trong “Vợ chồng A Phủ” của Tô hoài 59

ĐỀ 13 63

CÂU 1 Vẽ sơ đồ diễn tiến thời kì văn học trung đại 63

CÂU 2 Nội dung chính 3 phần trong tập thơ TỪ ẤY 63

CÂU 3 Mới ra tù tập leo núi 65

ĐỀ 14 68

CÂU 1 68

CÂU 2 Hai nguyên nhân cơ bản khiến văn học viết Việt Nam xuất hiện vào tk X 69

CÂU 3 Bình giảng 9 câu thơ cuối bài thơ “vội vàng” 69

ĐỀ 15 72

Câu 1: Kể tên 10 bài thơ và 10 nhà thơ nổi tiếng trong phong trào thơ mới 72

Câu 2: Niềm tự hào dân tộc của Nguyễn Trãi trong phần mở đầu bài thơ “Bình Ngô Đại Cáo” 73

Câu 3: Phân tích bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” _Hàn Mạc Tử 76

Trang 3

ĐỀ 16 79

Câu 1: Giải thích và làm sáng tỏ câu nói của Mác “ Truyện cổ tích luôn chiếu rọi ánh sáng vào một thế giới khác 79

Câu 2 : Cuộc đời và sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu 79

Câu 3 : Phân tích vẻ đẹp tâm hồn người lĩnh trong bài thơ “ Tây Tiến” _Quang Dũng 80

ĐỀ 17 85

Câu 1: Khái niệm truyện thần thoại? 85

Câu 2: Lý giải vì sao những nhà thơ lãng mạn đã từng nổi tiếng ở gđ 1930-1945 lại hầu như… .85

Câu 3: Bình giảng đoạn thơ : 87

ĐỀ 18: 91

Câu 1: Những đặc trưng của câu đố dân gian 91

Câu 2: Tội ác của quân Minh trong Bình Ngô Đại Cáo - Nguyễn Trãi 92

Câu 3: Phân tích hình tượng nhân vật Tnú – Nguyễn Trung Thành 94

ĐỀ 19 97

Câu 1 Nêu đặc điểm cơ bản của truyện cổ tích 97

Câu 2 Phát biểu cảm nghĩ về nhân vật Vũ Nương Vũ Thị thiết trong "Truyện người con gái Nam Xương" (Truyền Kì Mạn Lục) của Nguyễn Dữ 98

Câu 3 Phân tích bài thơ "Cảnh Khuya" của Chủ tịch Hồ Chí Minh 99

ĐỀ 20 102

Câu 1: Làm rõ tính tập thể, tính truyền miệng của VHDG .102

Câu 2: Giải thích vì sao Nguyễn Bỉnh Khiêm lại trở thành nhà thơ giáo huấn đạo lý? 103

Câu 3: Phân tích hình tượng “sóng” trong bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh .104

Trang 4

Đề 1:

Câu 1: Khái niệm ca dao

- Là một thể loại quan trọng trong kho tàng văn học dân gian của các dân tộc,

có từ xa xưa là một trong những thể loại sớm nhất

- Ca da thuộc thể loại trữ tình, xuất hiện để phô diễn và biểu hiện thế giới nội

tâm phong phú và sâu sắc của con người Ca dao gắn liền với tình cảm, cảm xúc củangười sáng tạo nhằm thể hiện tâm tư, nguyện vọng của thế giới trước thiên nhiên, xãhội và cuộc sống Vì vậy nhiều tác giả cho rằng: Ca dao là khúc hát tâm tình sâu thẳmđược vang lên từ cây đàn trái tim của người nghệ sĩ dân gian

- Ca dao theo quan niệm chung của nhân loại thường là phần lời của các bài

ca cổ Từ xưa, người ta đã dùng ca dao để hát hoặc để diễn xướng theo các giai điệutruyền thống của mỗi dân tộc Trải qua sự thanh lọc của thời gian, phần lời của nhữngbài hát ấy còn lại có giá trị ngôn ngữ nghệ thuật rất cao, biểu hiện và khái quát đượctình người cao quý, giá trị sâu sắc rất cao

- Ca dao thường được sáng tác bằng thơ Ở Việt Nam chủ yếu là thơ lục bát,

một số trường hợp là thơ song thất lục bát và lục bát biến thể Hầu hết những bài cadao là những bài thơ hay, ngắn gọn, ngôn từ giàu cảm xúc, giàu ý nghĩa Nhiều bài cadao trong kho tàng văn học dân gian Việt Nam đã trở thành viên ngọc quý sống mãivới VN, như:

Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

Trong đầm gì đẹp bằng sen

Lá xanh, bông trắng, lại chen nhị vàng Nhị vàng, bông trắng, lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Câu 2: Trình bày khái quát đặc điểm lịch sử văn học trung đại Việt Nam từ thế

kỷ X đến thế kỷ XV.

- Văn học trung đại là thời kỳ văn học viết đầu tiên trong lịch sử văn chương

dân tộc được tính từ thế kỷ X (năm 938) kéo dài đến hết thế kỷ XIX, chia làm 4 giaiđoạn chính:

Trang 5

- Từ thế kỷ 10 đến hết thế kỷ 15 là giai đoạn đầu tiên trong thời kỳ văn học

trung đại(văn học cổ, văn học phong kiến), kéo dài hơn 5 thế kỷ, tạo ra tiền đề quantrọng cho sự phát triền của nền văn học viết Việt Nam

- Đặc điểm lịch sử:

+ Đây là giai đoạn phát triển hung thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam, bắtđầu từ triều đại Ngô Quyền đến triều Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Lê, đạt tới đỉnh caohưng thịnh dưới triều vua Lê Thánh Tông(cuối thế kỷ 15)

+ Các triều đại phong kiến đều thương dân, yêu nước đoàn kết dân tộc xâydựng quốc gia Đại Việt hùng mạnh Đây cũng là những tháng năm đất nước cũng trảiqua các cuộc chiến tranh xâm lược:

Thế kỷ 10 – Cuộc xâm lăng của quân Nam Hán

Thế kỷ 11 – Cuộc xâm lăng của quân Tống

Thế kỷ 13 – Ba lần xâm lăng của quân Nguyên – Mông

Thế kỷ 15 – Cuộc xâm lăng của quân Minh

+ Các đội quân xâm lược đã tàn phá đất nước chúng ta gây bao đau thương,tang tóc cho đất nước ta, các triều đại phong kiến đã đoàn kết toàn dân anh dũngđứng lên chống xâm lược đã đánh bại mọi kẻ thù hung bạo, giữ vững cõi bờ tổ quổc,lập nên những võ công hiển hách chói ngời trong lịch sử dân tộc

- Tình hình văn học:

+ Văn học giai đoạn từ thế kỷ 10 đến hết thế kỷ 15 phát triển mạnh mẽ cùngvới sự hưng thịnh của phong kiến Việt Nam Bân đầu văn học được sáng tác bằngchữ Hán, theo các thể loại văn học cổ Trung Quốc Đến thế kỷ 13, chữ Nôm xuấthiện nhưng phải đến thế kỷ 15 mới thành ngôn ngữ Việt Nam, kết tinh trong tácphẩm lớn như: Quốc âm thi tập – Nguyễn Trãi (Hồng Đức Quốc âm thi tập của cáctác giả dưới thời vua Lê Thánh Tông)

+ Văn học giai đoạn này có nội dung chủ đạo là chủ nghĩa yêu nước Các nhàvăn tập trung vào phản ánh những vấn đề lớn lao, trọng đại của quốc gia, dân tộc, ítngười quan tâm đến những vấn đề riêng tư, nhỏ bé Hình tượng nhân vật trung tâmtrong văn học là những người anh hung phong kiến Những con người nhỏ bé nhưngười nông dân, đặc biệt là người phụ nữ còn vắng bóng trong các tác phẩm Văn họccháy bỏng, hào khí đông a, là khúc ca của tinh thần kháng chiến chống xâm lăng, của

ý chí bảo vệ vững chắc nền độc lập dân tộc của tổ quốc

Một số tác giả tác phẩm tiêu biểu:

+ Nam quốc sơn hà – tương truyền của Lý Thường Kiệt, xuất hiện năm 1076.+ Bài thơ: Tụng giá hoàng kinh sư (dịch theo xe vua về Thăng Long) – thượngtướng Trần Quang Khải – thế kỷ 13

+ Bài “Bạch Đằng giang phú” (Phú sông Bạch Đằng) của Trương Hán Siêu,thế kỷ 14

Trang 6

+ Bình Ngô đại cáo ( Bài cáo lớn về công cuộc bình định quân Minh) củangười anh hung dân tộc Nguyễn Trãi – 1428 – Bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiêntrong lịch sử nước ta.

Câu 3: Phân tích bài thơ Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt.

Phiên âm Hán-Việt:

Nam quốc sơn hà Nam đế cư Tiệt nhiên phận định tại thiên thư Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Dịch thơ:

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Vằng vặc sách trời chia xứ sở

Giặc dữ cớ sao phạm đến đây

Chúng bay nhất định phải tan vỡ.

Cuối năm 1076, ba mươi vạn quân Tống dưới sự chỉ huy của hai viên tướng làQuách Quỳ và Triệu Tiết rầm rộ tràn sang xâm lược nước ta Chúng bị chặn lại ởphòng tuyến sông Như Nguyệt (đoạn sông Cầu chảy giữa hai huyện Yên Phong –Bắc Ninh và Hiệp Hòa – Bắc Giang) Vào đêm trước xảy ra cuộc chiến ác liệt, LýThường Kiệt (tổng chỉ huy quân đội triều Lý) sai người đến đền thờ Trương Ông,Trương Hát (hai anh em theo Hai Bà Trưng đánh giặc lập được công to, nhân dândựng đền thờ ở bờ nam sông Như Nguyệt) đọc nhiều lần bài thơ này

Giữa đêm khuya thanh vắng, âm hưởng trầm hung của bài thơ vang vọng cứngỡ cho quân sĩ cho rằng lời của thần linh truyền dạy Bài thơ “ Nam quốc sơn hà”còn được gọi là “Bài thơ thần”

Hai câu thơ đầu tác giả khẳng định chủ quyền cương vực cõi bờ tổ quốc:

Sông núi nước Nam vua Nam ở

Vằng vặc sách trời chia xứ sở.

Trong nguyên văn chữ Hán, chữ “đế” trong câu thơ đầu được coi là “nhãn tự”của cả bài thơ Theo truyền thống quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, phong kiếnTrung Quốc luôn coi nước ta là nhược điểm Vì thế chỉ có vương quốc mới đượcphép xưng “đế”, vua Việt Nam chỉ được phép xưng “vương” và chỉ được hợp phápkhi vua Trung Quốc sắc phong

Trang 7

Do đó, việc tác giả dùng chữ “đế” đã cho thấy tư thế ngang bằng, bình đẳngcủa nước ta trước quân xâm lược nước khác Một chữ “đế” đã bộc lộ thái độ ngạonghễ, khí phách oai hùng của nước ta ngay từ những năm đầu lập quốc Đó là chữ

“đế” của bản lĩnh Đại Việt, của chủ nghĩa yêu nước, lòng tự cường dân tộc Đất nướcViệt Nam do hoàng đế Việt Nam làm chủ Điều này được ghi rõ trong “thiên thư” –một cơ sở pháp lý có giá trị tâm linh rất thiêng liêng Việt Nam không hề xâm phạmcác quốc gia khác Ngay cả trời đất thần linh còn xác định và khẳng định một cách rõràng Lời tuyên bố hào hùng này đã nêu bật lập trường chính nghĩa của quân dân tatrong cuộc đối đầu với quân xâm lược nhà Tống

Gần bốn thế kỷ sau, người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi một lần nữa khẳngđịnh lại chủ quyền dân tộc thiêng liêng trong áng “thiên cổ hùng văn” –“Bình Ngôđại cáo”

“Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sông bờ cõi đã chia Phong tục Bắc – Nam cũng khác Trải qua Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nền dựng nước Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên làm đế một phương

Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau Song hào kiệt đời nào cũng có ”.

Nguyễn Trãi lại sử dụng từ “đế” – con chữ oai hùng đã vang vọng từ trong bàithơ “Nam quốc sơn hà” Rõ ràng, “những tư tưởng lớn bao giờ cũng gặp nhau” khiếncho “Bài thơ thần” và “ Bình Ngô đại cáo” được mệnh danh là hai bản Tuyên ngônđộc lập trong lịch sử dân tộc

Câu thơ thứ ba là lời kết tội quân xâm lược:

“Giặc dữ cớ sao phạm đến đây”

Vua Trung Quốc cai quản Trung Quốc, vua Việt Nam cai quản Việt Nam Mỗiquốc gia đều có chủ quyền, lãnh thổ riêng, cớ sao quân Tống lại qua biên giới tấncông xâm lược Việt Nam Tác giả trong tư cách là quan tòa phán xét và kết tội quânthù, khẳng định chúng là đội quân phi nghĩa Bọn chúng đã chà đạp lên cả những tínđiều thiêng liêng được ghi rõ trong “sách trời” Chúng đã vi phạm công lý, bất chấpluật pháp đã tiến công xâm lược một quốc gia có chủ quyền Bài thơ khép lại bằng

một lời khẳng định đanh thép về sự thất bại thảm hại của quân thù “Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời!”.

Trang 8

Ba chữ “ thủ bại hư” không phải là một thất bại bình thường mà là một thấtbại nặng nề và đau đớn Cuộc chiến chưa diễn ra mà Lý Thường Kiệt đã biết trướcđược kết cục của nó Lời khẳng định này không hề ảo tưởng mà có cơ sở vững chắc

từ thực lực và sức mạnh của quân dân Đại Việt, từ quy luật muôn đời chính nghĩathắng phi nghĩa Đó là cái giá phải trả của đội quân xâm lược hung bạo, là kết cục bithảm của những kẻ bất chấp lẽ phải và đạo lý, chà đạp lên chủ quyền của dân tộckhác Sau này, thực tế đã diễn ra đúng như lời khẳng định của người anh hùng LýThường Kiệt Sau nhiều ngày tiến công phòng tuyến dữ dội, quân Tống vẫn khônglàm sao chọc thủng được phòng tuyến sông Như Nguyệt Đại quân ta vượt sông phảncông, quân Tống tan vỡ, ôm đầu máu chạy về bên kia biên giới dưới sự truy kíchmãnh kiệt của quân ta Về đến Lạng Sơn, quân Tống kiểm điểm binh mã, ba mươivạn quân chỉ còn lại chưa đầy ba vạn Đúng là “chúng bay sẽ bị đánh tơi bời” Đâychính là dự cảm thiên tài của danh tướng Lý Thường Kiệt, là có công giữ nước bất hủcủa quân dân Đại Việt, là trận đánh kết tinh về mặt quân sự và chủ nghĩa yêu nướcViệt Nam

Gần 1000 năm đã trôi qua, võ công oai hung ấy vẫn còn âm vang trong tâmhồn mỗi con người Việt Nam yêu nước Bài thơ “Nam quốc sơn hà” với giá trị tưtưởng đặc sắc, với âm điệu hào hung, với sự hội tụ và kết tinh giá trị đỉnh cao của chủnghĩa yêu nước vẫn còn sống mãi trong tâm hồn các thế hệ “Nam quốc sơn hà” xứngđáng là áng văn chương yêu nước vĩ đại – bản Tuyên ngôn độc lập đầu tiên trong lịch

sử dân tộc

Đề 2:

Câu 1: Khái niệm truyện cổ tích

- Truyện cổ tích là một thể loại văn học được tự sự dân gian sáng tác có xuthế hư cấu, bao gồm cổ tích thần kỳ, cổ tích thế sự, cổ tích phiêu lưu và cổ tích loàivật Đây là loại truyện ngắn, chủ yếu kể về các nhân vật dân gian hư cấu, như tiên,yêu tinh, thần tiên, quỷ, người lùn, người khổng lồ, người cá, hay thần giữ của, vàthường là có phép thuật, hay bùa mê Truyện cổ tích có thể được phân biệt với truyệndân gian thần thoại khác như truyền thuyết (thường liên quan đến niềm tin vào tínhxác thực của các sự kiện được mô tả) cũng như các câu chuyện về bài học đạo đức,bao gồm truyện ngụ ngôn về động vật

- Truyện cổ tích khác biệt cơ bản với các loại truyện khác ở phương diện người

kể chuyện kể lại nó và người nghe thì tiếp nhận trước hết như một sự hư cấu thẩm

mỹ, một trò chơi của trí tưởng tượng

- Bên cạnh yếu tố hư cấu, tưởng tượng như một đặc điểm chủ yếu của thể loại,truyện cổ tích vẫn bộc lộ sự liên hệ với đời sống hiện thực, thông qua những đặcđiểm về nội dung, ngôn ngữ, tính chất của cốt truyện, motip, hình tượng nghệ thuật

Trang 9

v.v Nhiều truyện cổ tích xuất xứ từ xa xưa phản ánh được các quan hệ xã hội nguyênthủy và các biểu tượng, tín ngưỡng vật tổ, tín ngưỡng vạn vật hữu linh Trong khi đó,các truyện cổ tích hình thành giai đoạn muộn hơn, như thời phong kiến, thường cónhững hình tượng vua, hoàng hậu, hoàng tử, công chúa Sang thời tư bản chủ nghĩa,truyện cổ tích thường chú ý hơn đến thương nhân, tiền bạc và các quan hệ xã hội liênquan đến mua bán, đổi chác, sự tương phản giàu nghèo v.v.

- Về nội dung tư tưởng, truyện cổ tích thường mang tinh thần lạc quan, có hậu,trong đó kết thúc truyện bao giờ cái thiện cũng chiến thắng hoặc được tôn vinh, cái ác

bị tiễu trừ hoặc bị chế giễu

- Là một thể loại truyền miệng, truyện cổ tích thường có nhiều dị bản Sự dịbản hóa tác phẩm có thể được nhìn nhận do các dân tộc trên thế giới có những điểmchung nhất về văn hóa, lịch sử, sinh hoạt, lối sống; đồng thời cũng có những đặcđiểm riêng trong nếp sống, đặc điểm lao động, sinh hoạt, điều kiện tự nhiên tùy từngdân tộc Thêm vào đó những người kể truyện cổ tích thường mang vào các truyện họ

kể những nét cá tính riêng, sự thêm thắt nội dung theo những ý đồ nhất định

- Tùy thuộc vào đề tài của tác phẩm, truyện cổ tích có thể được chia ra:

+ Truyện cổ tích thần kỳ: Truyện cổ tích thần kỳ giai đoạn đầu thường gắnvới thần thoại và có ý nghĩa ma thuật Có thể bắt gặp các đề tài như dũng sĩ diệt trăntinh (rắn, rồng v.v.) cứu người đẹp; quan hệ dì ghẻ và con riêng; đoạt báu vật thầnthông; người con gái đội lốt thú kỳ dị bí mật giúp đỡ chồng; v.v

+ Truyện cổ tích phiêu lưu: Truyện cổ tích phiêu lưu thường trình bày cáccuộc phiêu lưu kỳ lạ của nhân vật chính, và việc giải thích các cuộc phiêu lưu nàythường mang tính giả tưởng

+ Truyện cổ tích loài vật: Có nhân vật chính là các loài vật, truyện cổ tíchloài vật là một trong những thể loại truyện cổ tích phổ biến nhất, có ở hầu hết các dântộc trên thế giới Nhiều tác phẩm trong số đó xuất xứ từ giai đoạn xã hội chưa phânchia giai cấp, còn gắn với tín ngưỡng vật tổ Truyện cổ tích loài vật, theo thời gian,dần dần mất đi tính chất thần thoại và ma thuật, tiệm cận với thể loại truyện ngụ ngôngiáo huấn ở giai đoạn về sau

Ngoài 3 nhóm truyện cổ tích nói trên, có thể bắt gặp các truyện bịa, tức loại cổtích mang tính quấy đảo, trêu chọc v.v

Câu 2: Đặc điểm lịch sử và tình hình văn học từ thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XVIII?

- Đây là giai đoạn thứ 2 trong thời kỳ văn học trung đại, kéo dài hơn 2 thế kỷ,

từ thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XVIII Về phương diện lịch sử, giai đoạn này chứngkiến sự suy tàn của chế độ phong kiến Việt Nam

Trang 10

Sau hơn 5 thế kỷ hưng thịnh và đỉnh cao dưới triều vua Lê Thánh Tông, LêHiền Tông, bước sang thế kỉ XVI bắt đầu đi vào thời kì suy tàn, tan rã, phản động.Nhiều đời vua Lê chỉ chăm chú ăn chơi hưởng lạc, ít quan tâm đến chính sự, dẫn tới

sự rối loạn trong triều đình, quan lại địa phương thì cứ đè đầu cưỡi cổ nhân dân.Chính quyền biến động, xã hội rối ren Tiêu biểu là sự kiện nhà Mạc cướp ngôi nhà

Lê lập nên triều Mạc Nhà Lê nổi dậy ở Thanh Hóa, thế lực dần dần lớn mạnh dẫn tớicuộc nội chiến Lê – Mạc kéo dài gần cả trăm năm

Khi nhà Lê dành được quyền lợi thì lại nãy sinh mâu thuẫn vua Lê – chúaTrịnh cũng gây ra những hỗn loạn, rối ren Sau khi Nguyễn Hoàng mở mang đất nước

về phía Nam lại tạo thành một thế lực mới dẫn tới cuộc nội chiến Trịnh – Nguyễnphân tranh kéo dài hơn 200 năm, trải qua 7 đời chúa Đến lúc này đất nước chia làm

2 miền, lấy sông Gianh ở Quảng Bình làm giới tuyến chia đôi đất nước Bờ bắc sôngGianh trở ra gọi là Bắc Hà – Đàng Ngoài Bờ nam sông Gianh trở vào được gọi làNam Hà – Đàng Trong

Đó là những cuộc nội chiến đẫm máu mà lịch sử gọi là các cuộc “huynh đệtương tàn” khiến cho đất nước tan hoang, đời sống nhân dân vô cùng cơ cực

Văn học giai đoạn này tiếp tục phát triển trên đà của hơn 5 thế kỉ trước cả bộphận văn học chữ Hán và bộ phận văn học chữ Nôm đều đạt được những thành tựumới Khi phong kiến suy tàn, hình tượng người anh hùng phong kiến không còn làmột nhân vật lí tưởng, hình tượng trung tâm tỏa sáng trong văn học nữa Văn họcchuyển sang phản ánh đời sống cơ cực của các tầng lớp nhân dân, quan tâm đến sốphận khổ đau bất hạnh của “những con người nhỏ bé” Hình tượng nhân vật ngườinông dân đặc biệt là người phụ nữ bắt đầu xuất hiện và dần dần trở thành hình tượngtrung tâm – nhân vật chính trong các tác phẩm

Nội dung chủ đạo trong văn học đi theo khuynh hướng chính là: khuynhhướng đạo đức và khuynh hướng nhân đạo

Khuynh hướng đạo đức (còn được gọi là giáo huấn đạo lí) thế kỷ XVI gắnliền với tên tuổi quan Trạng Trình , Nguyễn Bỉnh Khiêm Ông sinh năm 1490 – 1585,người Vĩnh Bảo – Hải Phòng, đỗ Trạng nguyên làm quan Đại thần được phong đếntước Trình Quốc công, làm quan được vài năm, Nguyễn Bỉnh Khiêm dâng sớ chémđầu 8 tên quan lộng thần , vua không nghe, ngay lập tức ông từ quan về ở ẩn, mởtrường dạy học , học trò theo học rất đông

Nguyễn Bỉnh Khiêm là người có trình độ học vấn và tầm nhân cách vào loạicao nhất đương thời Ông còn đặc biệt tinh thông về bí học(khoa học thần bí) đượcchính sử triều Thanh – Trung Quốc phong là “nhà tiên tri vĩ đại nhất lịch sử châu Á”.Ông đau lòng trước cảnh nội chiến nên sáng tác thơ văn khuyên nhủ giai cấp thống trịchớ nên lao vào các cuộc tranh giành quyền lợi chém giết lẫn nhau Ông còn khuyênnhủ mọi người sống nhân hậu và lương thiện, giữ gìn đạo lí Nguyễn Bỉnh Khiêm đề

Trang 11

cao triết lí sống “nhàn” , theo ý “nhàn tâm hướng thiện”, con người phải yêu quý, tôntrọng , vui hòa với thiên nhiên , chấp nhận cuộc sống bình dị, đạm bạc nhưng trontrong sạch và thanh thản:

“ Thu ăn măng trúc đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp

Nhìn xem phú quí, tựa chiêm bao”.

Xu hướng nhân đạo xuất hiện từ thế kỉ XVI gắn liền với tên tuổi của Nguyễn

Dữ với tác phẩm “Truyền kỳ mạn lục” (ghi chép tản mạn những truyện kì lạ đượclưu truyền ở trên đời) Tác phầm gồm 20 truyện, truyện nào cũng có yếu tố hoangđường, ma quái Trong đó có 10 truyện viết về người phụ nữ với tất cả khổ đau, bấthạnh, cay đắng và khát vọng hạnh phúc của họ Tuyên biểu nhất là truyện “ Ngườicon gái Nam Xương” Nguyễn Dữ là nhà văn Việt Nam đầu tiên đã đặt ra và giảiquyết vấn đề số phận người phụ nữ trong văn học đồng thời ông cũng là người khởinguồn cảm hứng nhân đạo trong nền văn học viết Việt Nam

Bắt đầu từ đây, người phụ nữ trở thành nhân vật chính – hình tượng trungtâm tỏa sáng trong văn học Khi người phụ nữ xuất hiện, hình ảnh người đàn ông đặcbiệt là người quân tử trở nên nhỏ bé, mờ nhạt và xấu xí đến thảm hại Người phụ nữhội tụ những giá trị tinh thần truyền thống dân tộc biểu hiện cho vẻ đẹp tâm hồn, sứcsống mãnh liệt của con người Việt Nam Người phụ nữ còn là biểu hiện của quêhương xứ sở, chính quyền giang sơn Tổ quốc, đại diện cho những gì bền vững, thiêngliêng và cao quý nhất

Câu 3: Bình giảng hai câu thơ sau trong bài “ Văn tế thập loại chúng sinh” (Văn chiêu hồn) của Nguyễn Du:

“ Có những kẻ đi về buôn bán

Đòn gánh tre chín rạn hai vai”

Nguyễn Du tự là Tố Như, hiệu là Thanh Hiên, sinh năm 1765 tại Thăng Long.Cha ông là Nguyễn Nghiễm, tể tướng triều Lê – Trịnh Anh là Nguyễn Khản cũng là

tể tướng đời sau, còn mẹ là bà Trần Thị Tần người xứ Kinh Bắc nay là Bắc Ninh.Quê gốc của Nguyễn Nghiễm là Tiên Điền, Nghê Xương, Hà Tĩnh Dòng họ Nguyễn

Du là dòng họ đại quý tộc, nhiều người nổi tiếng đỗ đạt làm quan to, sinh ra trongnhung lụa nhưng Nguyễn Du lại bất hạnh từ nhỏ Cha mất sớm rồi mẹ mất, mấy anhem ông phải nương cậy anh cả, có một thời gian Nguyễn Du sống ở Thái Nguyêngiữ một chức quan kế tập cho người cha nuôi họ Hà

Trang 12

Thế rồi Tây Sơn ra Bắc, gia đình Nguyễn Du lâm vào cảnh tan tác Nguyễn Du trở

về quê vợ ở Thái Bình rồi về quê cha ở Hà Tĩnh, luân lạc suốt 13 năm, ốm đau bệnh tật có hết, có lúc phải đi ăn xin Năm 1802 Gia Long ra Bắc, triều Tây Sơn sụp đổ, Nguyễn Du bắt đầu làm quan triều Nguyễn, ông được Gia Long tin dùng liên tục thăng chức Năm 1802, Nguyễn Du qua đời khi mới 55 tuổi

Nguyễn Du là nhà thơ lớn được xếp hàng đại thi hào dân tộc để lại một sựnghiệp thơ ca đồ sộ, nổi bật nhất là kiệt tác “Truyện Kiều” Bài “Văn tế thập loạichúng sinh” cũng là tác phẩm lớn viết theo thể thơ song thất lục bát để tế mười loại

cô hồn chất đường, chất chợ không người thăm viếng, không kẻ khói hương Bài văn

tế xuất phát từ lòng thương cảm mênh mông của Nguyễn Du nói với lớp người bấthạnh, ông cầu mong cho linh hồn họ được siêu thoát Hai câu thơ:

“ Có những kẻ đi về buôn bán

Đòn gánh tre chín rạn hai vai”.

Được xếp loại vào những câu thơ nổi tiếng nhất trong bài văn tế này Câu thơđầu chỉ có giá trị thông báo về nghề nghiệp của những người đàn bà

Có những kẻ đi về buôn bán

Thời phong kiến, nền kinh tế của nước ta chủ yếu là tự cung tự cấp, từ việcgiao thông giữa các vùng miền còn rất khó khăn Nhu cầu đó làm xuất hiện một loạingười chuyên gánh gồng buôn bán ngược xuôi đem những sản vật ở địa phương nàysang trao đổi, mua bán và chiếc đòn gánh trên vai Họ phải gánh gồng trong một cuộcmưu sinh bằng vất vả Bất ngờ một hôm trái gió trở trời, họ gục ngã bên đường trởthành một cô hồn lang thang, thất thểu nơi đất khách quê người

Sức mạnh của hai câu thơ dồn tụ vào câu thơ sau:

Đòn gánh tre chín rạn hai vai

Để “Chín rạn hai vai” người đàn bà ấy thì trọng lượng ở hai đầu đòn gánhphải rất nặng và đặc biệt nó thường xuyên , liên tục đè trĩu đôi vai người đàn bà này

Nó đi qua ngày, qua tháng, qua năm tạo thành những vết chai dày và cứng Thế rồinhững lớp chai ấy lại sung tấy lên, chín đỏ và rạn vỡ để hình thành những lớp chaimới Biết bao đau đớn và rát bỏng đã hiện ra từ câu thơ bình dị này Vậy mà ngườiđàn bà ấy có được nghỉ ngơi đâu, chị vẫn cứ phải gánh gồng lê bước trong một cuộcmưu sinh vô cùng nghiệt ngã

Nguyễn Du đã cảm nhận vô cùng sâu sắc những cơ cực gian nan trong kiếpsống cuộc đời của chị Giờ thấy hiện lên trước mắt hình ảnh một người đàn bà nhỏ

bé, cô đơn với đôi chân trần nứt nẻ đang nặng nề lê bước trên con đường tồn sinh vôđịnh của cuộc đời mình

Trang 13

Không biết những con đường chị đi qua có biết bao bụi bờ hẻo lánh, biết baomảnh sành đá nhộn, có bao vực sâu dốc hiểm Ta cũng không biết bao nhiêu nắng lửatrưa hè , bao mưa gió tơi bời và cả những làn sương muối mùa đông lạnh buốt đã quấtvào gương mặt chị? Đã níu bước chân chị? Nhà thơ không nói , câu thơ không kể chitiết nhưng hình ảnh giúp cho người đọc hình dung ra tất cả Ta cũng không biết baonhiêu mồ hôi, nước mắt thậm chí cả máu đỏ của người đàn bà ấy đã rơi xuống trêncon đường tịch mịch này Nhà thơ không khóc, câu thơ thứ hai có nước mắt nhưng tacảm nhận được trái tim Nguyễn Du đang nức nở trong một niềm cảm thương về thânphận con người Dường như dòng lệ nghẹn ngào của ông đã thấm ướt cả hàng thơ,làm xúc động sâu sắc đến từng tế bào tâm hồn người đọc Ta cảm thấy hiện nhiềuhình ảnh của nhà thơ đang lặng im đã nhìn theo bóng dáng người đàn bà ấy Ánh nhìncủa Nguyễn Du tự hút dính vào bước chân trần và đôi vai gầy của chị Ánh nhìn ấyxuyên qua thấy rõ hai bờ vai xưng tấy và chín đỏ của chị Không hiểu đời, trải đời vàthương đời sâu sắc , không thể nào viết nổi một câu thơ như thế Đây là một câu thơ

vĩ đại của một tâm hồn Việt Nam vĩ đại khi yêu thương con người và nỗi đau đấy đãcháy bùng lên , hòa quyện với tài nghệ ngôn từ kiệt xuất để tạo thành những con chữ

có hồn sống mãi với thời gian

Bao cơ cực, đau thương của một kiếp đời bất hạnh được nén chặt trong mộtcâu thơ 7 chữ gợi mở biết bao liên tưởng và suy tư, xúc động trong tâm hồn các hệ Đây là hai câu thơ được xếp vào loại đỉnh cao trong nền thơ Việt

Năm tháng cứ qua đi, đất nước hôm nay đã đổi thay tươi đẹp Thế nhưng, bất

cứ nơi nào, lúc nào còn có những nỗi đau, những kiếp đời bất hạnh thì những câu thơcủa Nguyễn Du vẫn sống, vẫn tiếp tục đồng hành trong tình yêu và niềm xúc độngsâu sắc của các thế hệ Việt Nam

ĐỀ 3 Câu 1: Khái niệm ngụ ngôn

Truyện ngụ ngôn là những truyện kể dân gian chứa đựng những quan niệm vềtriết lí, đạo đức, những bài học đấu tranh giai xã hội hay những kinh nghiệm ứng xử

đã được tổng kết trong một cốt truyện hoàn toàn tưởng tượng

Truyện ngụ ngôn gồm hai phần Phần cốt truyện — phần xác, đóng vai trò phụ.Cốt truyện thường được tưởng tượng, hư cấu Phần quan trạng là phần ý nghĩa, phầnhồn của câu chuyện Đó là nội dung ẩn ý, nói bóng đằng sau cốt truyện, là giá trị cơbản của truyện Truyện ngụ ngôn mang tính triết lí cao, thể hiện kinh nghiệm sốngcủa nhân dân Cùng với tục ngữ, truyện ngụ ngôn hợp thành nhóm những thể loại

Trang 14

triết lí dân gian Do tính triết lí của nó mà có một số nhà nghiên cứu cho rằng ngụngôn thuộc văn học bác học Được lưu truyền trong dân gian theo quy luật dân gianhoá, được nhân dân yêu quý và tiếp nhận, được sáng tạo dưới ánh sáng quan điểmcủa nhân dân, nên dù rằng những trí thức có vai trò rất lớn trong quá trình sáng tạptruyện ngụ ngôn nhưng thể loại này vẫn thuộc văn học dân gian.

b Nghệ thuật Nói bóng, ngắn gọn xúc tích mỗỉ truyện có‘ thể là một ẩn dụ.Truyện thường mượn một con vật, một đồ vật (đôi khi cũng có thể là một con người)

‘để ám chỉ về một botì hgười nhằm nêu lên một bài học luân lí, triết lí hay một kinhnghiệm sống

- c Nội dung Truyện ngụ ngồn thể hiện cuộc đấu tranh xã hội nhằm chống lạicái ác, cái phi lí, vạch trần bản chất củà bọn thống trị trong xằ hội có người thống trị

và ngựời bị trị Nếu truyện cười mục đích chủ ỷếu là phát hiện vằ phê pháh cấi vố lí,cái bất cồng thì vớỉ truyện ngụ ngôn đấu tranh chổng lại cải ẵc, cái bất cống mới làmục đích cơ bản Tiêu biểu như các truyện: Con cọp bị thương, Nhện tơ phất ngọn cờđào, Nỗi oan cửa nàng ngoe cốm, Pon hổ ằn chay, Chèo bẻo và ác là, Bồ câu và consáo… Truyện ngụ ngôn cồn nêu lên những bài hoc ứng xử, những bài học triết lí vàkính nghiệm sống khá sâu sắc.Chẳng hạn các truyện: Mèo lợi hoàn meo, đời chuột,Đẽo cày giữa đường, Thầy bói xem voi, Phù du và đom đóm, Thả mồi hắt hóng… Dĩnhiên, ranh giới giữa truyện ngụ ngôn và truyện cười không phải lúc nào cũng thật rõràng Bằng cách nêu lên những tai hại do nhận thức sai lầm gây ra, truyện ngụ ngôn

đã dẫn dắt người nghe đến với những nhận thức đúng đắn Đây là cách chứng minhbằng phản chứng rất độc đáo của truyện ngụ ngôn, giúp người nghe tự rút ra bài họccho bản thân mình một cách dễ dàng, tự nhiên mà không có cảm giác bị áp đặt

Ví dụ: truyện Phù du và đom đóm phê phán cách nhìn đời theo lối chủ quan,chật hẹp, theo kinh nghiệm của phù du Vì kiếp sống của nó quá ngắn ngủi, vẻn vẹn

có một ngày nên phù du không thể biết những điều tưởng rất giản đơn là trong cuộcsống có mặt trời và có cả bóng đêm Trong Bồ câu và con sáo, qua việc phê phán consáo nịnh hót, phản bội đổng loại, tác giả dân gian đã vạch mặt bọn người hèn hạ, camtâm bán rẻ bạn bè để kiếm cái lợi cỏn con Ngược lại, bồ câu chính là tấm gương củakhát vọng tự do, tiêu biểu cho những con người có bản lĩnh, dám tìm cách tự giảiphóng mình Mèo lại hoàn mèo là bài học về mối quan hệ giữa danh và thực, giữahình thức với nội dung, giữa hiện tượng và bản chất Ở đời chớ lầm tưởng rằng chỉcần thay đổi tên gọi (danh) là thay đổi được bản chất (thực) Cái hình thức hàonhoáng bề ngoài làm sao có thể thay thế được cái nội dung đích thực ở bên trong

Câu 2: Đặc điểm lịch sử và văn học giai đoạn giữa thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX

Trang 15

Đây là giai đoạn thứ 3 trong thời kì văn học trung đại kéo dài 1 thế kỉ từ giữa thế kỉXVIII đến giữu thế kỉ XIX

* Đặc điểm lịch sử:

- Chế độ phong kiến Việt Nam tụt xuống đáy của quá trình suy tàn, tan rã,phản động Thế kỉ XVIII là thế kỉ đầy biến động của xã hội Việt Nam, đặc biệt là nửasau thế kỉ XVIII, các cuộc nội chiến càng ngày càng khốc liệt, đất nước loạn lạc, tanhoang, khởi nghĩa nông dân nổ ra khắp nơi Tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa TâySơn do người anh hùng Nguyễn Huệ lãnh đạo Cuộc khởi nghĩa này đãnh tan tậpđoàn chủa Nguyễn ở Đàng Trong và đánh sập tập đoàn chúa Trịnh ở Đàng Ngoài,Đành bật 20 vạn quân Thanh lập nên triều đại mới Năm 1789, lần đầu tiên trong lịch

sử xuất hiện 1 cuộc khởi nghĩa nông dân lật nhào ngai vàng phong kiến và thay thếbằng vương triều hợp pháp Từ năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại Tây Sơn mở ra triềuNguyễn Nửa đầu thế kỉ XIX chế độ phong kiễn Việt Nam tương đối ổn định, đấtnước thống nhất và có sự phát triển mạnh mẽ cả về kinh tế, chính trị, xã hội

* Đặc điểm văn học:

Đây là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của văn học thời kì trung đại cả văn họcchữ Hán và văn học chữ Nôm đều đạt được những thành tựu to lớn Xuất hiện hàngloạt tác giả, tác phẩm ưu tú Vì vậy, giai đoạn này còn mệnh danh là “thế kỉ văn học

cổ điển” Nội dung chủ đạo của văn học là chủ nghĩa nhân đạo Các tác phẩm tậptrung phản ánh những khổ đau bất hạnh của nhân dân, lên án chiến tranh Khẳng địnhquyến sống, quyền hạnh phúc chân chính của con người Đây cũng là giai đoạn màvăn học bắt đầu xuất hiện ý thức cá nhân, tinh thần dân chủ Hầu hết các tác phẩmđều chứa chan niềm thương cảm, nỗi xót xa của con người Hình tượng người phụ nữtrở thành nhân vật trung tâm tỏa sáng

* Một số tác giả tác phẩm tiêu biểu

- “Cung oán ngâm” (Khúc ngâm ai oán của người cung nữ) - Nguyễn Gia Thiều

Trang 16

“Chinh phụ ngâm” (Khúc ngâm của người vợ có chồng đi kháng chiến nơi xa) Đoàn Thị Điểm (Hông Hà Nữ Sĩ)

“Đoạn trường tân thanh” (Tiếng kêu mới về nỗi đau đứt ruột) Nguyễn Du

- “Qua Đèo Ngang” và “Thăng Long thành hoài cổ” - Bà huyện Thanh Quan(Nguyễn Thị Hinh)

- “Mời trầu”, “Bánh trôi nước” và “Tự tình” - Hồ Xuân Hương

“Hoàng Lê nhất thồng trí ( Lịch sử công cuộc thống nhất đất nước của vua Lê) Ngô Gia Văn Phái (Trường phái văn học của dòng họ Ngô ở Thanh Oai, Hà Đông)

Thơ ca Cao Bá Quát

- Thơ ca Nguyễn Công Trứ

Câu 3: Phân tích bài thơ “Sông lấp” - Tú Xương

Trần Tế Xương - Tú Xương (1870 - 1907) là một trong hai nhà thơ lớn cuốicùng của thời kì văn học trung đại Ông sinh ra và lớn lên trong hoàn cảnh đất nướcđang bị thực dân Pháp xâm lược, các cuộc kháng chiến chống Pháp dần dần suy yếuthất bại Thực dân Pháp càng ngày càng mở rộng địa bàn chiếm đóng Năm 1883, khi

Tú Xương 13 tuổi, đất nước ta đã trở thành thuộc địa của Pháp qua hiệp ước Măng Quê hương Nam Định yêu dấu của nhà thơ đã chuyển hóa nhanh chóng theo

Hác-mô hình xã hội thực dân nửa phong kiến Đô thị, giao thông mở mang, phát triển, vănhóa thực dân ảnh hưởng nặng nề, những giá trị đạo đức, văn hóa cổ truyền rạn vỡ vàmất dần giá trị

Bài thơ “Sông lấp” của Tú Xương đã ghi lại một phần sự thay đổi đáng buồn

ấy Bài thơ còn bộc lộ tâm trạng u uất của một người trí thức phong kiến yêu nướcnhưng lực bất tòng tâm chỉ còn biết thở dài đau xót cho vận nước bẽ bàng

Đầu thể kỉ XX thực dân Pháp lấp con sông Vị Hoàng để mở rộng thành phốNam Định Bài thơ “Sông lấp” được khơi gợi nguồn cảm hứng từ sự kiện ấy

Câu thơ đầu tiên kể lại sự thay đổi này:

“Sông kia rày đã lên đồng”

Trang 17

Không chỉ là lời kể mà trong sâu thẳm lời thơ còn chứa đựng một tâm trạngđau buồn, xót xa Nói đến “sông” là nói đến hình tượng gần gũ, gắn bó thiêng liêngvới mỗi người dân đất Việt Nó gợi lên những tình cảm về giang sơn xã tắc, về sơn hà

Tổ quốc, sông biểu tượng cho một điều gì đó bền vững, linh thiêng, rất khó đổi thay.Vậy mà cái tưởng chừng như bền vững bất di bất dịch ấy đã đổi thay nhanh chóng

“rày đã lên đồng”

“Sông” là quá khứ, “đồng” là hiện tại Hiện tại phá vỡ quá khứ Qúa khứ bịhiện tại hủy diệt Cái ngày xưa thiêng liêng bền vững đã biến mất nhanh chóng tỏngcái hôm nay Một nỗi buồn hoài cổ đã xuất hiện

Sự thay đổi này diễn ra còn đáng buồn hơn:

“Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai”

Nghệ thuật liệt kê: “chỗ này , chỗ kia ” đã cho thấy cái ngổn ngang, xô bồ củathực tại “Nhà cửa” tượng trưng cho phố thị, “ngô khoai” tượng trung cho ruộng đồng

Sự đan xen thật là nhốn nháo, không theo hệ thống nào cả Đó là cảnh tượng nửa nôngthôn nửa thành thị, nửa phố nửa làng, nửa quê nửa tỉnh thật là bát nháo, tạp nham

Đặt câu thơ vào thời đại Tú Xương khi xã hội Việt Nam đang dịch chuyển sang

mô hình thực dân nửa phong kiến ta thấy câu thơ đã khái quát được bức tranh lịch sửtoàn cảnh của đất nước ta những năm cuối thế kỉ XIX và những năm đầu thế kỉ XX.Một câu thơ hay nói về một điều nhỏ bé, cụ thể nhưng lại có sức khái quát lớn mang

âm vang lịch sử một thời đất nước đau thương Những gì thiêng liêng bền vững ngàyxưa giờ đã tan nát hết cả rồi, đã thay đổi bát nháo lộn xộn hết cả rồi Một nỗi buồnthương, xót xa đã ngấm đọng từ 2 câu thơ tưởng chừng như lời kể bình dị ấy

Hai câu thơ sau chuyển sang đặc tả tâm trạng chữ tình của chính nhà thơ:

“Vẳng nghe tiếng ếch bên tai Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”

“Vẳng nghe” chứ không phải “nằm nghe” “Nằm nghe” là chủ động nghe có ý thứcđón nhận mọi âm thanh, thức đêm để mà nghe “Vẳng nghe” là không có ý thức nghenhững bất ngờ nghe thấy, bỗng nhiên nhận được âm thanh ấy “Tiếng ếch” là thanh âmcủa sông nước mang hồn sông nước Việt Nam “Tiếng ếch bên tai” là tiếng ếch vang lênrất rõ, nó gây đọng cả đêm khuya, nó làm cho con người phải sững sờ bừng tỉnh

Trang 18

Thì ra sự thay đổi tạp nham, hỗn loạn ở 2 câu thơ trên đã làm cho biết baongười bị cuốn vào cái vòng xoáy hiện tại mà quên đi quá khứ Nhiều người trí thứctỏng thời buổi hỗn độn ấy nhiều khi đã không còn tâm trạng hoài cổ nữa Tú Xương

là một trong những người như thế Ông nói rất thật về bản thân mình, nói thẳng cảnhững hạn chế, yếu kém của mình Ông không thuộc loại người “nằm nghe” luônthao thức, trăn trở về vận nước như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh Ông chỉ là mộtngười dân thường phố thị sống nhờ bà vợ buôn bán tảo tần ở mom sông bị cuốn vàocuộc sống thị thành bát nháo

Tuy nhiên, những suy tư về quá khứ, tâm trạng buồn thương về tổ quốc khôngbao giờ chết, nó vẫn lản khuất đâu đó trong nơi sâu kín tâm hồn của nhà thơ Độtnhiên nó bất ngờ sống lại tạo ra cái “giật mình” bừng tỉnh đầy chua xót:

“Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò”

Thì ra Tú Xương vẫn nhớ về thời con sông còn nguyên vẹn, tiếng gọi đò còn

âm vọng trong đêm, đó là thuở đất nước còn độc lập, con sông còn chảy êm đềm giữađôi bờ Một cái “giật mình” xúc động của một nỗi niềm yêu nước sâu kín Bề ngoài,

Tú Xương là một con người tường chừng như bị cuốn vào lối sóng thị thành:

“Vị Xuyên có Tú Xương

Dơ dở lại ương ương Cao lâu thường ăn quỵt Thổ Nhĩ lại chơi lừa”

Thế nhưng đó chỉ là cái bề ngoài, còn nới sâu kín nhất trong tâm hồn ông vẫn

ấp ủ tình yêu tổ quốc, nỗi nhớ khôn nguôi về thuở đất nước thanh bình

Bài thơ “Sông lấp” nói về sự biến mất của dòng sông nhưng lại dựng lên sự hồisinh của một tâm sự yêu nước thầm kín, Giặc Pháp lấp sông nhưng làm sao lấp đượclòng người Biết bao tâm hồn Việt vẫn ấp ủ tình yêu quê hương đất nước Đó chính lànguồn sống diệu kì tạo ra những thi từ đầy xúc động

ĐỀ 4:

Trang 19

Câu 1: Truyện cười

- Truyện cười là một thể loại đặc biệt của văn học dân gian, xuất hiện khi xã hội

đã phân chia giai cấp, phán ánh cuộc sống bằng phương thức tự sự theo hình thức vănxuôi hài hước, mỉa mai hoắc châm biếm

- Truyện cười về dung lượng thường ngắn, có ít nhân vật, chủ yếu là 2 hoặc 3nhân vật, được đặt vào một tình huống đặc biệt có tác dụng gây cười

- Nghệ thuật gây cười của truyện cười VN cũng giống như nghệ thuật gây cười củavăn học các dân tộc trên thế giới Trước hết, nó phải được xây dựng từ 1 tình huống có

sự xung đột, mâu thuẫn giữa: hình tượng và bản chất, cái bên ngoài và cái bên trong, lờinói và hành động, hình thức và nội dung, suy nghĩ và mục đích, bất tài và tài năng tiếng cười chỉ xuất hiện khi tác giả xé toang bức màn hào nhoáng, phơi bày bản chất xấu

xa, giả dối, tham lam, độc ác, ngu dốt, tầm thường bên trong của đối tượng

- Truyện cười bao giờ cũng đặt ra tình huống đặc biệt có xung đột, mâu thuẫn,kịch tính giữa hai nhân vật hoặc hai lực lượng để bạn đọc nhận thức được cái xấu, cái

ác, cái giả dối

Ví dụ: Lợn cưới áo mới, Cây tre trăm đốt, Thầy bói xem voi, Đeo nhạc cho mèo

Câu 2: Đặc điểm lịch sử và văn học giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX

- 1862, Triều đình Huế kí Hàng ước cắt 3 tỉnh miền đông Nam Bộ cho Pháp

- 1867, Triều đình Huế lại kí Hàng ước cắt nốt 3 tỉnh miền tây Nam Bộ cho Pháp

Trang 20

Như vậy, sau 10 năm tấn công Nam Bộ là mảnh đất đầu tiên của nước ta trởthành thuộc địa của Pháp

- 1873, Pháp tấn công Hà Nội lần thứ nhất Hà Nội thất thủ, Nguyễn Tri Phương

- 1882, Pháp tấn công Hà Nội lần thứ 2 Hoàng Diệu hi sinh

- 1883, kí hiệp ước Hác-Măng

- 1884, kí hiệp ước Pa-tơ-nốt công nhận Việt Nam là thuộc địa của Pháp, Pháp

là quốc gia bảo hộ Việt Nam

- Sau 2 hiệp ước trên thức dân Pháp xây dựng chế độ cai trị ở 3 miền đất nước,dần dần biến xã hội Việt Nam thay đổi theo mô hình thực dân nửa phong kiến Cuốithế kỉ XIX chúng bắt đầu tiến hành khai thác thuộc địa biến triều Nguyễn thành chínhquyền tay sai làm xã hội Việt Nam thay đổi dữ dội như trong một trận động đất lớn.Các cuộc khởi nghĩa chống Pháp rât sanh dũng, kiên cường nhưng do không có sựủng hộ của triều đình cho nên dần dần tan rã, thất bại

* Đặc điểm văn học:

- Văn học giai đoạn nửa cuối thể kỉ XIXlà sự tiếp tục không bình thùng vănmạch dân tộc, nội dung chủ đạo chuyển từ chủ nghĩa nhân đạo (giai đoạn 3) sang chủnghĩa yêu nước chống Pháp

- Văn học yêu nước chống Pháp bùng nổ và phát triển mạnh mẽ ở những nơiPháp đặt chân đến Ban đầu từ Nam Bộ rồi đến Bắc Bộ, Trung Bộ Các nhà văn yêunước giai đoạn này như Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu, Nguyễn Hữu Huân, PhanĐình Phùng, Hoàng Hoa Thám tiêu biểu nhất là Nguyễn Đình Chiểu (1822-1888) -nhà thơ mù yêu nước đất Nam Bộ với hàng loạt tác phẩm nổi tiếng như: “Chạy giặc”,

“Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”, “Lục Vân Tiên”, “Ngư Tiều y thuật”

- Vào 2 thập kỉ cuối thế kỉ XIX khi thực dân Pháp đã hình thành công cuộcchinh phục và bình định nước ta, các cuộc khởi nghĩa nước Pháp dần dần thất bại,

Trang 21

văn học yêu nước chống Pháp cũng suy yếu dần, chuyển sang văn học hiện thực tràophúng Hai tác giả lớn tiêu biểu cho khuynh hướng này là:

+ Nguyễn Khuyến (1835-1909) với hàng loạt các bài thơ nổi tiếng như: “Chùmthơ mùa thu”, “Hội Tây”, “Cuốc kêu cảm hứng”, “Than già”

+ Tú Xương - Trần Tế Xương (1870-1909) với những bài thơ trào phúng và trữtình đặc sắc như: “Thương vợ”, “Sông lấp”, “Đất Vị Hoàng”

Câu 3: Bình giảng khổ đầu bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu

Xuân Diệu tên đầy đủ là Ngô Xuân Diệu, ông sinh năm 1916 tại Quy Bình Định Ông là nhà thơ lãng mạn nổi tiếng giai đoạn 1930-1945 được coi là “ôngHoàng của thơ tình Việt Nam”, “thi sĩ mới nhất trong những nhà thơ mới”

Cách mạng tháng Tám thành công, kháng chiến chống Pháp bùng nổ XuânDiệu hăm hở, nhiệt tình tham gia cách mạng và kháng chiến Sau 1954, ông sống ở

Hà Nội, hoạt động văn học chuyên nghiệp trở thành 1 nhà thơ lớn, 1 nhà văn hóa lớnthời kì hiện đại Xuân Diệu qua đời năm 1985 Năm 1986 ông được trao tặng giảithưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

“Đây mùa thu tới” là 1 bài thơ đặc sắc được xếp loại thi phẩm đỉnh cao trongđời thơ Xuân Diệu Bài thơ viết về mùa thu Việt Nam qua cảm quan nghệ thuật độcđáo của nhà thơ Xuân Diệu đặt hình ảnh mùa thu vào sự trôi chảy của dòng thời giantuyến tính Mùa thu trong bài thơ là mùa thu đang “tới” tức là đang bước đi theo quyluật thời gian tự muôn đời của nó Mùa thu đang vận động và chuyển động với tất cảnhững gì đẹp nhất và quyến rũ nhất theo quy luật thời gian

Đại từ “Đây” trong cấu trúc “Đây mùa thu tới” còn nói về 1 mùa thu đang hiệnhữu rất cụ thể, sinh động; đang bày ra, hiện ra trước mắt chúng ta khiến chúng ta cóthể cảm nhận trực tiếp được Điều này đem đến nguồn cảm hứng sáng tạo mới mẻcho bài thơ khác hẳn với kiểu bài thơ tượng trưng ước lệ khi viết về mùa thu tronghàng nghìn năm thơ trước đó

Trang 22

Bài thơ viết theo thể thơ 7 chữ chia làm 4 khổ, mỗi khổ 4 câu Khổ thơ đầu tiên

đã cho thấy tài nghệ thi ca kiệt suất của Xuân Diệu:

Đây mùa thu tới

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng Đây mùa thu tới, mùa thu tới Với áo mơ phai nhạt lá vàng”

Hai câu thơ đầu mở ra 1 khung cảnh thiên nhiên nhuốm màu tang tóc:

“Rặng liễu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng”

“Rặng liễu” được nhìn như những thiếu nữ đang ủ rũ đưa tang ai đó Cành liễu

rủ được nhìn như mái tóc buồn đang tuôn hàng ngàn dòng lệ Nghệ thuật nhân hóa đãbiến thiên nhiên trở thành những sinh thể có tâm hồn, trở lại nỗi buồn thương, u uấtcủa con người

Hình ảnh “Rặng liễu” mở đầu bài thơ mùa thu là 1 bất ngờ mới mẻ Do tínhchất ước lệ tượng trưng, thơ cổ nói đến mùa thu thường nói đến lá vàng rơi, bầu trờixanh ngắt hoặc cây ngô đồng xao xác hoặc gió heo may se lạnh Xuân Diệu là “thi sĩmới nhất trong các nhà thơ mới” cho nên ông chọn hình ảnh rặng liễu làm tín hiệunghệ thuật đón mùa thu

Phải chăng 1 mùa hè chói chang và nóng bỏng đã qua đi, mùa thu còn chưa tới,rặng liễu bơ vơ, cô đơn trong khoảnh khắc giao mùa - rặng liễu buồn - rặng liễu khóctiễn biệt mùa hè - rặng liêu chịu tang Hai câu thơ đã khắc họa 1 cách sinh động giâyphút giao mùa từ hạ sang thu Khoảnh khắc này thường rất ngắn, không chú tâmkhông thể nào phát hiện ra Chỉ có những hồn thơ tinh tế, mẫn cảm mới đặc tả đượckhoảnh khắc giao mùa kì diệu đó

Hai câu thơ đầu đạt tới 1 nghệ thuật tạo âm vô cùng đặc sắc Nhà thơ rất có ýthức sắp xếp những âm tiết gần giống nhau đứng cạnh hoặc liền kề kết hợp tạo thành

Trang 23

3 nhóm thanh âm độc đáo : “liễu-đìu-hiu-chịu”, “buồn-buông-xuống”, hàng” 3 nhóm thanh âm này kết liền lại tạo thành 1 chuỗi thanh âm ngân dài, mênhmang và lan tỏa như nỗi buồn hiu hắt của rặng liễu ven hồ đang đón đợi mùa thu tới Hai câu thơ sau lời thơ bỗng vút lên rộn rã trong 1tiếng reo thầm náo nức chàođón mùa thu xuất hiện:

“tang-ngàn-“Đây mùa thu tới, mùa thu tới Với áo mơ phai dệt là vàng”

Mùa thu đã tới rồi! Mùa thu đã tới thật rồi! Rặng liễu không còn cô đơn, hiuhắt “đừng chịu tang nữa” Không gian bừng sáng trong màu huyền mơ của là vàngrơi một tiếng reo rộn rã, một niềm vui đón đợi bừng lên không gain mùa thu đượcnhìn như tấm “áo mơ phai” của con người Nếu không yêu mùa thu, không hết lòngđón đợi mùa thu không thể nào có được tâm trạng và tiếng reo vui ấy

Bốn câu thơ đầu đặc tả 2 thời điểm quan trọng : Thời điểm giao mùa hạ sangthu và thời điểm mùa thu xuất hiện Từ thời điểm trước đến thời điểm sau là quy luậtvận động của thời gian tuyến tính được biểu hiện bằng những hình ảnh thơ độc đáo

và tài hoa Đằng sau khổ thơ người đọc cảm nhận được vẻ đẹp của mùa thu ViệtNam, vẻ đẹp của tâm hồn Xuân Diệu Nhà thơ yêu màu thu biết bao và chính tình yêu

ấy đã làm cho thi tài của ông phát sáng tạo thành những hình tượng thơ đặc sắc sốngmãi trong nền rung cảm với tất cả chúng ta

ĐỀ 5 Câu 1: KN văn học lãng mạn?

Xét từ phương diện tâm lý con người: Lãng mạn chỉ thức được thoát khỏi hiệntại đời sống bằng cái tôi duy cảm, duy nghĩ (chỉ biết chỉ tôn thờ cái đẹp)

- Khi con người ta sống ý chí tỉnh táo tôn trọng quy luật khách quan hình thànhcảm xúc suy nghĩ hoạt động chịu sự tác động hoàn cảnh thì khi đó tính chất hiện thựcxuất hiện

Trang 24

- Khi con người sống theo cảm xúc chủ quan của bản thân mình thoát khỏi hoàncảnh thực tại hướng tới 1 cái đẹp mơ hồ xa xôi nào đấy thì khi đó tính chất lãng mạnxuất hiện Bởi thế lãng mạn thường là những giấc mơ của tâm hồn giàu cảm xúc rấtriêng tư và hướng tới 1 giá trị thẩm mĩ nào đấy

- VH lãng mạn là khuynh hướng VH lấy cái tôi chủ quan duy cảm, duy nghĩ củangười nghệ sĩ, là bản chất mục đích và là trung tâm điểm của hành trình sang tạo.Nếu như VH hiện thực cắt nghĩa và phản ánh mọi cảm xúc hoạt động, tính cách, sóphận con người bằng quy luật khách quan của hoàn cảnh sống thì VH lãng mạn cắtnghĩa và phản ánh thế giới tâm hồn chủ quan giàu cảm xúc của con người đang vượtthoát khỏi hoàn cảnh sống, đang xa dời thực tại Bởi thế, VH lãng mạn là VH của cáitôi cá nhân Cái tôi ấy càng độc đóa, cô đơn, càng riêng tư thì lãng mạn càng đậm nét:

“Ta là Một là Riêng là thứ nhất Chẳng ai bè bạn nổi cùng ta”

Đề cao và tuyệt đối hóa cái tôi duy cảm, duy nghĩ trong hoàn cảnh XH khắcnghiệt tăm tối như thời thực dân phong kiến đã đem đến cho VH lãng mạn ý thức cánhân, tinh thần dân chủ và khát vọng nhân văn

Từ góc độ tác động ảnh hưởng đến đs XH có 3 loại lãng mạn chính:

 Lãng mạn tiêu cực:

Vượt thoát khỏi thực tại đời sống bằng cái tôi cực đoan ích kỉ bất chấp nhữnggiá trị Vh đạo đức truyền thống đến sự tha hóa về nhân cách, sự bẩn thỉu tăm tối vềtâm hồn và sự suy kiệt về thể lực tuyên truyền con người chống lại ND, Tổ quốc Giai đoạn 1930 – 1945 nhà thơ Vũ Hoàng Trương là 1 tác giả tiêu biểu chokháng mạn tiêu cực:

“Say đi em!

Say cho lơi lả ánh đèn Cho vũ trụ ngả nghiêng, cho điên rồ xác thịt Rượu! Rượu nữa! Và quên! Quên hết!

Trang 26

 Lãng mạn tích cực:

- Thoát khỏi hiện thực đời sống bằng cái tôi duy cảm, duy nghĩ nhưng vẫn tôntrọng giá trị văn hóa đạo đức truyền thống, vẫn gắn bó với những tình cảm bình dịthân thương của con người làm cho đời sống tinh thần thêm giàu có và đẹp đẽ.Dường như mỗi nhà văn, nhà thơ lãng mạn này đều có những con đường lãng mạnkhác nhau, đều từ góc độ của cái tôi cá nhân mình đã góp phần làm cho đời sống tinhthần của độc giả phong phú, độc đáo, tinh tế và đẹp đẽ

VD: Có con đường lãng mạn vừa thoát khỏi hiện thực XH chạy chốn vào cáitôi đang sống, ham yêu, lúc nào cũng vội vàng trong niềm khát khao giao cảm vớiđời, trong ý thức mở tung mọi giác quan của tâm hồn để yêu thương và hòa cảm nhưtrường hợp của nhà thơ Xuân Diệu

; Có con đường vừa thoát khỏi hiện tại bất công đau khổ tăm tối hôm nay lạitrở về vứi giá trị thẩm mĩ của quá khứ, tôn vinh những vẻ đẹp của 1 thời nay chỉ cònvang bóng như trường hợp Nguyễn Tuân và Vũ Đình Liên không chấp nhận thực tại ; Lại có con đường vượt thoát từ thành thị về nông thôn đến với “ dậu mồng tơi,cánh đồng làng, con bướm trắng” để quên đi cái nhem nhuốc hỗn tạp của phố phườngnhư trường hợp nhà thơ Nguyễn Bính (“ Chân quê ”)

; Lại có con đường chạy chốn thực tại trở về với cái mạch sầu đã chạm cõi vô

cùng như trường hợp nhà thơ Huy Cận nhà thơ buồn nhất trong thơ mới, “chàng là 1

kẻ hay sầu”

 Lãng mạn CM:

- Cũng là lãng mạn tích cực nhưng được rọi chiếu cho 1 lý tưởng XH tiên tiếnthể hiện niềm vui sống hồn nhiên, tình cảm yêu đời, niềm tin vào tương lai tốt đẹp.Lãng mạn CM trong chiến tranh vệ quốc, đề cao tinh thần ý chí của con người vượtlên chiến thắng mọi hoàn cảnh khó khan gian khổ, luôn rọi sang mọi sự vật từ gócnhìn thẩm mĩ Khẳng định sự thật bất diệt của cái đẹp của những giá trị tinh thầncao quý

Trang 27

Câu 2: ( giống câu 1 đề 8)

Câu 3: Phân tích bài thơ : “Chiều tối” (HCM) trong tập “ Nhật kí trong tù” ?

Mộ

“Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ

Cô vân mạn mạn độ thiên không Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”

Dịch thơ:

Chiều tối

“Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không

Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng ”

- Giới thiệu 1 số nét về HCM

- “ Nhật kí trong tù” của HCM đc viết từ 29-8-1942 đến 10-9-1943, khi Người

bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam một cách vô cớ, đầy đọa khắp nhà lao

tỉnh Quảng Tây ( TQ) Trong số 133 bài thơ “ Nhật kí trong tù” có nhiều bài ghi lại

những thời khắc đáng nhớ của một ngày bị đày ải Mỗi bài là một nỗi niềm trongnhững tháng ngày “ ác mộng”

“Chiều tối” ( Mộ ) là một trong số những bài thơ như thế, ghi lại cảm xúc của

người trước thiên nhiên và cuộc sống lúc ngày tàn trên con đường giải lao vào cuốitháng 10-1942 Trong hơn 13 tháng giam cầm bên TQ, BH thường xuyên bị chuyểnlao, bị giải tới, giải lui qua ba chục nhà tù thuộc 13 huyện thuộc tỉnh Quảng Tây(TQ) Bác thường bị giải đi trong tư thế 2 tay bị trói, cổ bằng gông, có 6 người línhmang sung áp giải Bác thường bị giải đi từ mờ sang đến tối mịt, có lần đi tới “ 53 câysố” Vất vả, cơ cực là như thế nhưng lần nào Bác cũng làm thơ, những vần thơ bay

Trang 28

lên tỏa sang trên con đường chuyển lao nghiệt ngã Trong chum thơ đi đường của tập

“ Nhật kí trong tù”, “Chiều tối” nổi lên như một thi phẩm xuất sắc

2 câu thơ đầu là hình ảnh thiên nhiên mang tính quy luật của khung cảnh hoànghôn, rừng núi:

“ Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không”

Chiều rồi, con chim sau một ngày bay lượn trong cuộc mưu sinh bây giờ đã

mệt mỏi muốn tìm về lùm cây quen thuộc để trú đêm Ngay cả đám mây vô tri trêntrời kia sau một ngày tự do du ngoạn, bây giờ cũng muốn dừng nghỉ giữa khôngtrung Thiên nhiên muốn tắt dừng mọi hoạt động lúc chiều buông Chứng tỏ người tùcũng đã rất mệt mỏi, đã xuất hiện nhu cầu muốn dừng lại để nghỉ ngơi

Điều lạ lùng là dù đã rất mệt mỏi mà BH vẫn nhận ra quy luật của thiên nhiên,vẫn mở rộng tâm hồn để dõi nhìn một cánh chim bay, 1 chòm mây trôi nhẹ Điều đóchứng tỏ 1 tình yêu thiên nhiên vô cùng sâu săc Yêu thiên nhiên lúc sung sướngthanh nhàn là điều rất bình thường, nhưng yêu thiên nhiên khi đang kiệt sức, mệtnhọc như BH lúc “ chiều tối” này mới là 1 tình yêu vĩ đại Người đã đến thiên nhiên,hòa cảm với thiên nhiên từ chính những giọt mồ hôi và sự mệt nhọc của mình

Đặc biệt thiên nhiên hiện ra ở tầng cao rộng của không gian chứng tỏ người tùvào giây phút ấy vẫn chuyển lao trong tư thế nghiêng đầu Đó là dáng đi kiêu hùngcủa một người chiến sĩ đầy ý chí và nghị lực Dáng đi ấy tạt vào hoàng hôn, tạt vàoniềm xúc động của thế hệ bạn đọc 2 câu thơ vừa lai láng ty thiên nhiên vừa sang ngờichất thép

Đến câu thơ thứ 3, ánh nhìn của Bác đã nhanh chóng chuyển từ bầu trời về mặtđất, phát hiện ra 1 hình ảnh rất đỗi mến thương của cs con người:

“ Cô em xóm núi xay ngô tối”

Hình ảnh đời thường bình dị đã toát lên vẻ đẹp khỏe mạnh của cô thôn nữ nơixóm núi xa xôi, cô gái vẫn đang cần mẫn trong công việc thường nhật quen thuộc của

Trang 29

mình Thì ra, thiên nhiên có quy luật của thiên nhiên, cs có quy luật của cs, khôngphải lúc nào 2 quy luật này cũng trùng với nhau Thiên nhiên mệt mỏi – Người tùmuốn dừng nghỉ nhưng nhìn cs đang tiếp diễn, cô thôn nữ đang lao động, người tù lạimuốn tiến bước Ta đọc đc một tiếng vọng nội tâm vang lên từ trong lòng Bác: Chiềurồi! cô thôn nữ kia đã nghỉ ngơi đâu? Mình là một chiến sĩ cách mạng cơ mà! Minhkhông được phép dừng lại, phải tiếp tục tiến lên!

Rõ ràng chính ty cs con người đã tiếp truyền cho BH một nguồn sinh lực mới

để Người vượt lên và chiến thắng cái mệt mỏi cuối chiều BH đc ví như : “một thỏi nam châm lớn có khả năng thu hút mọi nguồn năng lượng tồn sinh tốt đẹp của ngoại giới” Nghe tiếng giã gạo Bác học được bài học luyện rèn ý chí

Và chiều nay, Bác học được bài học lao động cần mãnh lặng lẽ của cô thôn nữ

ấy Chính vì vậy, bài thơ khép lại bằng một hình ảnh lộng lẫy:

“ Xay hết lò than đã rực hồng”

Hình ảnh “ lò than đã rực hồng” là một tín hiệu nghệ thuật đa tầm ý nghĩa:

Thứ nhất, nó cho biết cô thôn nữ kia sau khi xay ngô xong đã nhanh chóng

chuyển sang công việc khác liên quan đến bếp lửa

Thứ hai, hình ảnh “ lò than đã rực hồng” cho thấy đường vận động trong ánh

nhìn của BH luôn từ bóng tối hướng ra ánh sáng

Thứ ba, hình ảnh này cho biết “ chiều” đã hết và “tối” đã xuất hiện Chỉ có đặt

trong tương phản với bóng tối thì lò than mới hiện ra màu đỏ Điều đó cho thấy mộtniềm vui, một nguồn sinh lực mới đã xuất hiện trong con người Bác Bước chân củaNgười đã mạnh mẽ hơn ngay cả trong khi bóng tối đã về Có một quy luật vĩnh cửutrong sáng tạo thi ca là: Nếu trong sâu thẳm tâm hồn thi sĩ không có một nguồn điểmtựa, không có một ngọn lửa thì sẽ không bao giờ đến được với ánh lửa và hơi ấm củacuộc đời

Hình ảnh “ lò than đã rực hồng” là biểu hiện của niềm vui sống, của chủ nghĩa

lạc quan, của sức mạnh tinh thần vượt lên và chiến thắng hoàn cảnh ngục tù Bài thơ :

Trang 30

Chiều tối” có giá trị như một tấm chân dung tự họa, con người, tinh thần cao quý của

BH trong một buổi chiều đặc biệt Con người ấy yêu thiên nhiên vô cùng thắm thiết,yêu cuộc sống vô cùng nồng hậu, tâm hồn vừa tràn đầy cảm xúc trữ tình, vừa sángngời chất thép của nghị lực và ý chí cách mạng

Một bài thơ nhỏ của một tâm hồn lớn!

ĐỀ 6:

Câu 1: Khái niệm giá trị nhân đạo của tác phẩm văn học?

“Nhân đạo” theo nghĩa gốc của “ Từ điển Hán – Việt “ là: “ Đạo hàm theo lẽ phải” Khái niệm này dần dần được sd rộng rãi để chỉ “ Tình yêu thương con người

của con người” Ty thiên nhiên, ty các loài vật nuôi không nằm trong bản chất của

tình cảm nhân đạo, thậm chí nhiều khi còn đối lập và hủy diệt tình cảm nhân đạo Tình cảm nhân đạo đc biểu hiện với nhiều mức độ, cấp độ khác nhau Cấp độđầu tiên thể hiện ở sự đồng cảm, thông cảm, thấu hiểu, chia sẻ với những khổ đaumất mát, bất hạnh của con người

-Nhân đạo có mức độ cao hơn thể hiện ở hành động thiết thực nhằm cưu mang,giúp đỡ những con người thiếu thốn khó khăn bất hạnh Đây là truyền thống nhân đạo

cao quý và bền vững của dân tộc ta biểu hiện phong phú qua nếp sống “tối lửa tắt đèn”, “thương người như thể thương thân”, “lá lành đùm lá rách” thậm chí cao hơn

“lá rách ít đùm lá rách nhiều”

-Nhân đạo ở cấp độ cao hơn và sâu sắc hơn thể hiện ở ý thức và hành độngdũng cảm, dám đấu tranh chống lại áp bức bất công, chống lại cái xấu, cái cũ, cái giảdối để bảo vệ quyền sống, quyền hp chân chính của con người

-Nhân đạo đỉnh cao thể hiện ở niềm tin yêu tuyệt đối của con người, giúp đỡđộng viên con người để tới tương lai tươi đẹp Đây là đặc điểm của nhân đạo cộngsản chủ nghĩa

Trang 31

Nhân đạo dù ở cấp độ nào cũng đòi hỏi sự chân thành, trung thực, yêu chủ thểphải nhập cuộc và trong cuộc, phải hòa cảm với khổ đau bất hạnh để mở rộng tấm

lòng yêu thương chia sẻ Nhân đạo chân chính không chấp nhận kiểu “thương vay góc mướn”, “thương miệng thương môi”, hoặc “thương hại”, thương theo kiểu từ

trên nhìn xuống, có sự phân biệt đẳng cấp, hoặc yêu thương vụ lợi chạy theo danhtiếng…

-Tình cảm nhân đạo được biểu hiện trong văn học qua thái độ, tình cảm và cáchmiêu tả phản ánh con người của nhà văn Nhà văn đứng về phía khổ đau bất hạnh,

đứng về phía “những con người nhỏ bé”, đấu tranh chống áp bức bất công, tác phẩm

sẽ chứa đựng thấm đấm những giá trị nhân đạo

Câu 2: Những đặc điểm lớn thời kì văn học VN thời kì cận đại?

Có 2 quan điểm phân kì văn học viết VN:

+ Qđiểm 1: Chia VH VN thành 3 thời kì lớn: Trung đại ( TKỉ X đến hết thế kỉ

XIX), Cận đại (1900-1945), Hiện đại ( 1945 đến nay và vẫn đang tiếp tục)

+ Qđiểm 2: Gộp văn học từ đầu thế kỉ đến nay thành thời kì lớn gọi là cận hiện

đại, VH viết VN chỉ có 2 thời kì là VH trung đại và VH cận đại

Theo qđ1 VH Cận đại chỉ kéo dài 45 năm ( từ 1900-1945) và có 1 số đặc điểmlớn sau đây:

-Về chính trị: đất nc đang chịu sự cai trị của thực dân Pháp, XH VN là XH thựcdân nửa pk Năm 1940, Nhật vào Đông Dương, ND ta chịu thêm 1 tầng áp bức bóclột nữa Từ đầu thế kỉ XX, các cuộc KN thực dân Pháp vẫn tiếp tục phát triển từ nềntảng những năm cuối thế kỉ XIX như : KN Yên Thế (Hoàng Hoa Thám), kn Tây Bắc( Nguyễn Quang Bích) Xuất hiện các phong trào yêu nước mới như: phong trào

“Đông Du” của P B Châu, phong trào “Cải lương tư sản” của P C Chinh và cácphong trào kháng Pháp mới như: KN Thái Nguyên (Đội Cấn), KN Yên Bái (NguyễnThái Học)

Trang 32

Đặc biệt từ những năm 20 của thế kỉ XX xuất hiện hoạt động của lãnh tụNguyễn Ái Quốc và các phong trào CM theo lí tưởng chủ nghĩa cộng sản 3/2/1930ĐCS VN ra đời đánh dấu 1 bước ngoặt vĩ đại trong LS dân tộc Các phong trào cáchmạng như: Xô Viết Nghệ Tĩnh ( 1930 – 1931), Mặt trận dân chủ Đông Dương ( 1936– 1939 ), KN Nam Kì ( 1940), sự xuất hiện của HCM từ 1941 về Pác Bó ( CaoBằng ) và sự ra đời của Mtrận Việt Minh đã dẫn tới CM T8 thành công, sự ra đời củanhà nước VN DCCH (1945)

-VH cận đại chứng kiến sự tàn lụi và kết thúc của bộ phận VH chữ Hán và bộphận VH chữ Nôm theo các thể loại VH cổ, đánh dấu sự ra đời của VH chữ Quốcngữ và các thể loại VH hiện đại theo xu hướng hội nhập trên thế giới như: truyệnngắn, tiểu thuyết, thơ mới, các thể loại kí, kịch nói, phê bình, tiểu luận, n/cứu VH, líluận VH…

- Do chính sách gd và phát triển của thực dân Pháp để khai thác thuộc địa chonên giao thông đô thị và kinh tế phát triển, xuất hiện 1 lớp người có trình độ văn hóacao Điều này dẫn tới sự phát triển mạnh mẽ của VH cận đại Xuất hiện 1 đội ngũ độcgiả đông đảo, chủ yếu ở thành thị Điều đó xuất hiện 1 đội ngũ nhà văn chuyênnghiệp có thể sống bằng nghề viết Hệ thống các nhà xuất bản và báo chí phát triểnnhanh chóng khiến cho VH vận hành theo cơ chế thị trường, đến với mọi miền tổquốc, đất nước

- Xuất hiện các trào lưu, các khuynh hướng VH khác nhau tạo ra sự phong phú

và đa dạng của VH dân tộc Các khuynh hướng VH lớn như: VH yêu nước ( P B.Châu, P C Chinh, Nguyễn Thái Học ) ; VH CM ( N Ái Quốc, Tố Hữu…) ; VHhiện thực ( Hồ Biểu Chánh, Phạm Duy Tốn, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Tô Hoài…) ; VHlãng mạn ( Khái Hưng, Thạch Lam, Nguyễn Tuân)

-VH cận đại xuất hiện bút chiến, các tranh luận về quan điểm văn chương tạo ra

sự sôi động kích thích phát triển Tiêu biểu như cuộc tranh luận giữa 2 trường phái:

“Nghệ thuật vì nhân sinh” và “Nghệ thuật vị nghệ thuật” hoặc cuộc tranh luận về tácphẩm của Vũ Trọng Phụng

Trang 33

-VH cận đại 1900 – 1945 đã thực sự đổi mới VH VN theo xu hướng hiện đạihóa, tạo ra những giá trị tư tưởng và nghệ thuật mang tính nền tảng đã tạo cho nền

VH hiện đại VN sau 1945 phát triển mạnh mẽ

Câu 3: Hình tượng của vua bù nhìn Khải Định trong truyện ngắn “Vi hành”… ?

Trong những năm sống và hoạt động ở Pháp, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã làm

nhiều nghề, nhiều công việc khác nhau, trong đó có công việc là trù bút báo “Người cùng khổ” Người còn là một nhà văn lớn, 1 nhà báo sắc xảo viết nhiều bài báo để lên

án chính sách cai trị tàn bạo của thực dân Pháp ở Đông Dương, đả kích bọn tay sai bùnhìn trong nước, tiêu biểu nhất là tên vua Khải Định Truyện ngắn “ Vi hành” là tácphẩm xuất sắc trong thời gian này

Năm 1922, chính phủ Pháp mở cuộc “ Đấu xảo thuộc địa” tại thành phố cảng

biển Mác – Xây để thu hút đầu tư của các nhà tư bản vào các nước thuộc địa trong đó

có VN Tên vua bù nhìn Khải Định cùng 1 phái đoàn rầm rộ sang Pháp vừa để tỏlòng trung thành với quan thầy với chính quốc, thắt chặt mối quan hệ, duy trì quyềnlợi của triều đình nhà Nguyễn, lại vừa để ăn chơi hưởng lạc

Tác giả Nguyễn Ái Quốc đã viết hang loạt bài báo và truyện ngắn để đả kíchchuyến sang Pháp của tên vua bù nhìn bán nước này Các tác phẩm tiêu biểu như : vở

kịch “ Con rồng tre”, truyện ngắn “Vi hành” ; “Lời than vãn của bà chúa Trắc” là

tác phẩm xuất sắc

Truyện ngắn “ Vi hành” được đăng báo “ Nhân đạo” – Cơ quan ngôn luận củaĐCS Pháp, số ra ngày 19/2/1923, đc giới phê bình văn học của Pháp đánh giá rất cao.Nhân vật trung tâm trong truyện là tên vua bù nhìn Khải Định trong chuyến sang

Pháp năm 1992 Hắn không ở yên 1 chỗ mà bí mật “ vi hành” để tìm hiểu tình hình

nước Pháp Nhà văn đã hư cấu hoàn toàn câu chuyện ấy để đả kích và vạch trầnnhững hành vi vô văn hóa, phản dân hại nước của tên vua bù nhìn này

Trang 34

Mở đầu truyện ngắn, tác giả bịa ra 1 câu chuyện nhầm lẫn giữa 1 đôi trai gáiPháp trên xe điện ngầm: nhầm Nguyễn Ái Quốc là Khải Định Từ sự nhầm lẫn chớtrêu này tác giả tả chân dung đầy tính chất trào phúng của tên vua Khải Định Da mặt

thì “ bủng như vỏ chanh”, “mũi tẹt”, “mắt sếch”, dáng đi thì “luồn cũi, hẹn hà”.

Đôi trai gái còn cho biết hôm gặp Khải Định ở hội chợ, tên vua này đã ăn mặc rất lố

lăng: “hắn đắp lên người đủ bộ lụa là, đủ bộ hạt cườm, các ngón tay đeo đầy những nhẫn” Rõ ràng theo con mắt của người Pháp, Khải Định chẳng khác gì 1 kẻ

đồng tính, 1 kiểu người dị hợp

Đôi trai gái còn cho rằng: họ đi xem các biểu diễn hài của các nước thuộc địa như

Công gô, Cam Pu Chia đều phải mất tiền, nhưng xem Khải Định lại “chẳng mất tí tiền nào” Hóa ra, Khải Định là 1 thằng hề, là 1 con rối trên sân khấu chính trị nước Pháp

Về đặc điểm bên ngoài: hắn là 1 tên vua đã góp phần “làm nhục quốc thể”, biểu tượng cho 1 thứ “ Văn hóa lùn” hết sức lố lăng và kịch cẫm

Về đặc điểm bên trong: tên vua này sang Pháp là để “ xem dân Pháp có đc uống nhiều rượu và đc hút nhiều thuốc phiện như dân Nam hay không?” Rõ ràng

hắn sang Pháp là để cấu kết chặt chẽ hơn với chính phủ Pháp trong việc kinh doanhrượu và thuốc phiện – 2 mặt hàng độc quyền mang lại lợi nhuận khủng khiếp cho bọnchúng Sau này trong “ Tuyên ngôn độc lập” chủ tịch HCM còn nhắc lại tội các nàycủa chúng:

“ Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn làm cho nòi giống ta suy nhược”

-Mục đích thứ 2 trong chuyến sang Pháp của Khải Định còn để: “ Đem cái liềm của nhà nông và cái búa của thầy thợ” để cai trị ND VN, những người dân “ chưa

hề đc hưởng một chút tự do dân chủ nào” Như vậy, tên vua này muốn Pháp tiếp tục

duy trì chính sách cai trị ND VN bằng bạo lực giã man thời trung cổ, xiết chặt tự dodân chủ, khủng bố và đàn áp man rợ các cuộc khởi nghĩa, duy trì bọn tay sai triềuNguyễn là công cụ cai trị cho chúng

Trang 35

Cuối cùng, Khải Định sang Pháp còn để ăn chơi hưởng lạc qua câu nói: “ Hay

là chán cảnh làm 1 ông vua to, bây giờ ngài lại muốn làm một công tử bé” “Công

tử bé” là nhóm từ Nguyễn Ái Quốc mỉa mai Khải Định sang Pháp để chính phủ Pháp

cưng chiều, đáp ứng mọi nhu cầu ăn chơi hưởng lạc của hắn Rõ ràng đặc điểm bêntrong Khải Định đã lộ tẩy 1 tên vua phản dân hại nước, không chỉ đi ngược lại lợi íchcủa dân tộc mà còn sẵn sàng chà đạp lên nhân dân, duy trì quyền lợi và cương triềucủa dòng họ mình Hắn là 1 tên vua bán nước, 1 tội phạm của LS dân tộc

Từ đặc điểm bên ngoài của 1 kẻ đồng tính, 1 con rối, thằng hề mạt hạ đến đặcđiểm bên trong 1 tên vua bù nhìn bán nước hại dân, chân dung Khải Định trongtruyện ngắn “ Vi hành” đã trở thành 1 hình tượng phản diện đặc sắc trong VH dântộc Nghệ thuật viết truyện điêu luyện, tài năng ngôn từ tiếng Pháp đỉnh cao cùng vớitình cảm yêu nước thương dân sâu sắc đã giúp cho nhà văn Nguyễn Ái Quốc sang tạođược 1 chân dung văn hóa sống mãi với thời gian

Thì ra, dù ở phương trời xa lắc, Nguyễn Ái Quốc vẫn đem ngày lo nghĩ về quêhương đất nước, xót thương vô hạn dân tộc VN lầm than khốn khổ dưới sự cai trị tànbạo của thực dân pk Đúng như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết về Bác trong nhữngtháng năm Người sống ở Pháp:

“ Đêm mơ nước, ngày thấy hình của nước Cây cỏ chiêm bao xanh sắc nước quê nhà

Ăn một miếng ngon cũng đứng lòng vì tổ quốc Chẳng yên lòng khi ngắm một nhành hoa”

“Người đi tìm hình của núi”

ĐỀ 7:

Câu 1: So sánh nhan đề Đoạn Trừng Tân Thanh của Nguyễn Du và Kim Vân Kiều truyện của thanh Tam tài nhân để thấy rõ ý đồ sáng tạo mới của ND?

Trang 36

ĐTTT có nghĩa là” tiếng kêu mới về nỗi đứt ruột”Kim vân Kiều truyện” nghĩa làtruyện về tràng Kim Trọng và nàng Thúy Vân, Thúy Kiều” ND đã dựa vào cốt truyệncủa Thanh, tâm, tôi, nhân, đời Thanh trung Quốc) để sáng tạo ra tác phẩm của mình -Nhan đề “KVKT” cho thấy chủ đề chính, sự quan tâm chính của tác phẩm gắnliền với cuộc đời và số phận của nhân vật: KT, TV, TK ĐTTT cho thấy chủ đềchính, mối quan tâm chính của ND gắn liền với kiêp sống doạn trường, với bi kịch sốphận con người

Việc chuyển dổi chủ đề từ số phận 3 nhăn vật sang bi kịch của kiếp người đãchứng tỏ “ĐTTT” k phải là tp dịch mà là sáng tạo mới của ND

- Mặt khác 2 chữ “Tân Thanh” tiếng kêu mới” còn cho thấy ND chỉ mượn chuyệnngày xưa dể nói chuyện hôm nay, mượn chuyện TQ để nói chuyện VN, mượn chuyện

cũ để nói chuyện mới diều đó càng góp phần chưng tỏ ý đồ sáng tạo mới của ND

Câu 2: Đặc điểm nội dung và nghệ thuật của khuynh hướng VH HIỆN THỰC giai đoạn 1chín30-1chín45 ?

-VH hiện thực giai doạn 30-45 là tiếng nói của giai cấp tiểu tư sản lớp dưới, ngsáng tác hầu hết là nhà giáo, nhà báo, viên chức nghèo… vì vậy họ cũng gặp nhiềukhó khăn, thiếu thốn thậm chí khổ đâu trong cuộc sống đời thường

Nhà thơ Xuân diệu đã viết:

Cuộc đời cay cực dơ nanh vuốt Cơm áo đùa với khách thơ

Vì thê cuộc sống của họ gần gũi với nhân dân lao động, với sự am hiểu, sựđồng cảm sâu sắc hơn so với những số phận khổ nghèo, những trang viết của họ thẫmđẫm chất hiện thực, thẫm dẫm mồ hôi nước mắt của ngườ lao động họ phản ánh chânthật và sâu sắc cuộc sống cơ cực của các tầng lớp nhân dân, dặc biệt là nông dân, bêncạnh sự phản ánh chặt chẽ ấy VH hiện thực giai đoạn này còn chứa chan niềm thươngcảm với những kiếp người khốn khổ bất hạnh, tác phẩm tràn đày giá trị nhân đạo

Trang 37

-Mặt khác các nhà vă cũng chịu sự áp bức bóc lột của bọn thực dân phongkiến, cho nên họ căm ghét xh TD nửa phong kiến tàn bạo, đày rẫy sự xấu xa giả dối,đểu cáng Do đó tác phẩm của họ tập trung phê phán, tố cáo và lên án XH cho nênVHHT gđ này chủ yếu thành công ở lĩnh vực văn xuôi, ít trong lĩnh vực thơ ca tácphẩm hiện hực phê phán những trang tư liệu, những bản cáo trạng chân thực về tội

ác của giai cấp thống trị về những khổ đau bất hạnh của nhân dân

-Mặc dù đạt đc rất nhiều thành công trong bộ phận những vấn đề XH, VHHT

gđ 30-45 vẫn có những hạn chế lớn các nhà văn thường nhìn dời rất bi quan trong 1chu trình khép kín của lối thoát, kết thúc tp thường bế tắc và tràn ngập nỗi buồn vôvọng số phận nhân vật thường bị đặt vào tương lai mù mịt thê thảm

-VD: kết thúc truyện ngắn Chí Phèo là hình ảnh THị Nở nghĩ đến một cái lògạch cũ bỏ không, vắng người qua lại, báo hiệu một thằng Chí Phèo con sắp sửa radời và tiếp tục lặp lại bi kịch đầy đau thương của bố nó Hoặc kết thúc tiểu thuyết

“Tắt đèn” là hình ảnh chị Dạu chạy ra bầu trời đêm tối đen như mực

-Điều này là do các nhà văn chưa đến dc vs lí tưởng CM, c/s và số phận củanhà văn chưa đến dc lí tưởng cách mạng cuộc sống và số phận nhà văn còn bế tắc thìlàm sao nhà văn chỉ Đc con đg giải thoát cho nhân vật của mình Dó là hạn chế mangtính tất yếu lijh sử gắn liền vs đội ngũ sáng tác

Câu 3: Vẻ đẹp mùa thu trong bài thơ Thu Vịnh của Nguyễn Khuyến

Nguyễn Khuyến 1835- 1chisn 0chisn tên thật là Nguyễn Thắng Quê ở thôn Vị

Hạ, xã yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam Ông đc tôn vinh là “tam nguyễn, yênđổ” từng làm tổng đốc Sơn-Hưng-Tuyên một thầy lang rồi từ quan về ở ẩn

NK chán ghét c/s đương thời khi bị bọn triều Nguyễn bán nước cho TDP,XHVN đảo lộn theo mô hình TD nửa phong kiến, ông sống thanh bạch hàn gắn vớiquê hương con người, sáng tác văn thơ để ghi lại những cảm nghĩ của mình về nhânthê thái

Trang 38

NK để lại cho đời 1 di sản thi ca đồ sộ “Thu vịnh- Thu điếu- Thu ẩm” trg 3 bàinày, bài thơ Thu vịnh Biểu hiện sâu săc cái thân, cái hồn của mùa thu xứ bắc hơn cả

Trời thu xanh ngát mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

Nước biếc trông như tầng khói phủ Song thưa để mặc ánh trăng vào

Mấy chùm trước dậu hoa năm ngoái, Một tiếng trên không ngỗng nước nào?

Nhân hứng cũng vừa toan cất bút, Nghĩ ra lại thẹn với ông Đào

Hai câu thơ đầu mở ra một không gian mùa thu tuyệt đẹp với bầu trời cao xanhthăm thẳm vs sự tĩnh lặng đầy gợi cảm của một vùng thôn quê đồng bằng bắc bộ

Trời xanh xanh ngát mấy tầng cao, Cần trúc lơ phơ gió hắt hiu

Hai câu thực chuyển nhanh sang cảnh buổi chiều tối

Nước biếc……

………… trăng vào

Mùa thu VN ở những nơi có nước vào buổi chiều và buổi sáng sớm bao giờcũng xuất hiện một làn hơi nước xanh bao phủ Điều đó khến khung cảnh trở nên hư

hư, thực thực… 1 vẻ đẹp dặc trưng của mùa thu xứ Bắc

Trăng mùa thu thường rất sáng rast trong, thuộc dạng đẹp nhất trong all cácmùa thu Ngôi nhà lá của nhà thơ với khuôn cửa sổ mở rộng như mời đón vầng trăngvào kết bạn, vẻ đẹp của trăng thu hòa cảm vs tâm hồn khoáng đạt của nhà thơ lm bứctranh thêm thu, thêm đặc sắc

Hai câu luân chuyển sang giọng điệu trầm ngâm, suy ngẫm về lẽ đời/

“ 2 câu luận”

Hoa ở đây có lẽ là hoa cúc, người về hưu ở ẩn thường trồng hoa cúc, loài hoanày đc biểu tượng cho khí tiết thanh cao như trog bộ tứ bình “tùng – cúc- trúc- mai”

Trang 39

nhà thơ băn khoăn nhiều hoa năm nay không biết còn giống hoa năm ngoái hay k, tức

là ông băn khoăn về phẩm tiết của mình

Một nhà thơ đầy tự trọng, luôn có ý thức giữ gìn phẩm tiết thanh cao Đángbuồn hơn nữa là nge thấy tiếng ngỗng trời vang lên trên bầu trời yên tiếng lưu luyến,

k biết đay là tiếng ngỗng nó trào nữa, 1 nỗi buồn sâu thẳm về vận nc, xuất hiện đất

nc đã rơi vào tay quân thù, thiên nhiên VN k còn mang hồn nam Việt nữa 1 tiếng thởdài 1 nỗi ngậm ngùi của 1 tâm hồn ẩn sĩ trc vận nc đau thương

2 câu kết đóng lại bài thơ 1 cách giật mh tự nhận thức dc đầy bất ngờ à đầy ámảnh, và ám ảnh của NK về bản thân mh

Ông Đào” là Đào Tiềm, cgl Đào Uyên Minh, 1 nhà thơ lớn đời đường bên TQ.Đào Tiềm học rộng dỗ cao, ra lm quan đc vài tháng, chán ghét cảnh quan trường bẩnthỉu, ông bỏ quan đi vào rừng sống suốt đời k bh liên hệ với cộng đồng

NK tức cảnh mùa thu quê hương đẹp đẽ, huyền ảo, tĩnh lặng cảm hứng sángtác, thơ nổi lên Ông muốn cầ bút lm thơ, nhưng lại giật mjnh hổ thẹn vs Đào Tiềm

NK lm quan nhiều năm hơn, về ở ẩn rồi vẫn còn phải bắt buộc ra giúp tên đạiViệt gian Hoàng Quanh Khải, lm gia sư dậy con hắn là Hoàng Mạnh TRí

NK còn fai tham gia chủ khảo cuộc thi Vịnh KIều do tên việt gian Lê Hoan tổchức, ông còn chịu sưc ép của lũ quan Pháp quan việt, nậm ngùi cho con trai mình làNguyễn Hoan ra lm sứ huyện để yên thân

NK xấu hổ với Đào Tiềm cảm thấy mình chưa đc trong sáng thanh cao nhưxưa Đó là cái giật mình của tâm hồn đầy tự trọng, dám nhìn thẳng vào gan ruộtmình Trc mùa thu, trc cái trong cái đẹp cái kì diệu của mùa thu, con người cần faribiết trug thực đến tận đáy hồn thì may ra mới có thể hòa cảm vs mà thu đất nc Đó là

vẻ đẹp sâu thẳm của VN tog bài thơ Thu Vịnh và cũng là thông điệp thẩm mĩ mà NKmốn gửi đến all các thế hệ

ĐỀ 8:

Trang 40

Câu 1: những biểu hiện của yêu nước trong tác phẩm văn học

-Yêu nước gắn liền với việc hoàn thành, thực hiện tốt, ý thức trác nhiệm côngdân với tổ quốc thực hiện đúng, nghiêm chỉnh, hiến pháp, pháp luật, k làm gì tổn hạihay đi ngược lại với quốc gia dân tộc trong những tình huống khẩn cấp nguy nan củaquốc gai, ng yêu nước chân chính sâu sắc và cao cả phải biết hi sinh quyền lợi riêng

tư của nhân dân tổ quốc

-Tình cảm yêu nước được bộc lộ trên rất nhiều phương diện nhiều cấp độ khácnhau: yêu nc từ phương diện công dân- chính trị, công dân- đạo đức, công dân- vănhóa và hiện nay trong kinh tế thị trường thời đất nước đang mở cửa hội nhập, còn cóthêm phương diện công dân- kinh tế có thời gian dài do đất nước liên tục trải quacuộc chiến tranh xâm lược và chống xâm lược, nta nghiêng lệch và chủ yếu đề caotình cảm yêu nước từ phương diện công dân –chính trị, tôn vinh và tuyệt đối hóanhững con người tham gia lực lượng vũ trang, trực tiếp gắn bó với……

Từ sự nghiêng lệch này nta coi thường phương diện yêu nước khác Từ Đổi mớiđến nay quan niệm yêu nước đã rộng mở hơn và đúng đắn 1 ng chiến sĩ anh dũng xôngpha ngoài mặt trận, tiêu diệt hàng trăm tên địch và một g dân quê bình dị đang laodộng cần cù hoàn thành nghĩa vụ công dân của mình, thậm chí hàng ngày gom nhặttừng mảnh vỡ của ngôi chùa cổ đều đc đánh giá cao được coi là những ng yêu nc Nhà thơ NK 1835- 1chín0chín k đủ dũng khí để cầm gương, súng như PhanĐình Phùng và Hoàng Hoa Thám, ông trở về quê nhà sống giản dị thanh bạch, dồn tàinăng sáng tạo vào thi ca trở thành “th nhân của làng gạch VN” cũng là một tâm hồnyêu nước

Đnc rất cần những HCM, Võ Ng Giáp, T H Đạo, Q Trung… nhưng đnc rấtcần những Văn Cao, Trịnh Công Sơn, NG Tuân, Ng Du… 1 dòng họ nhiều đời sốnglương thiện lao động cần cù chăm chỉ, giàu lòng nhân hậu đức hi sinh, k ai phạm tộicũng là 1 dòng họ yêu nước, đnc hnay càng có nhiều doanh nghiệp giỏi, nhiều nhàđạo đức… là 1 dnc giàu mạnh

Ngày đăng: 12/06/2017, 14:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w