Trải qua gần 2000 năm, người dân Campuchia đã phát triển một tín ngưỡng Khmer độc đáo với các tín ngưỡng hỗn hợp gồm tín ngưỡng thuyết vật linh bản địa và các tôn giáo Ấn Độ như Phật giá
Trang 2Bru-nây 1
Campuchia 5
Đông-ti-mo 9
Inđônêsia 12
Lào 16
Malaysia 22
Mi-an-ma 25
Phi-líp-pin 29
Sin-ga-po 32
Thái Lan 35
Việt Nam 38
Trang 3Brunei (phiên âm tiếng Việt: "Bờ-ru-nây"), tên chính thức là Quốc gia Brunei Darussalam (tiếng Mã Lai: Negara Brunei Darussalam) , là một quốc gia có chủ
quyền nằm ở bờ biển phía bắc của đảo Borneo tại Đông Nam Á Ngoại trừ dải bờ biển giáp biển Đông, quốc gia này hoàn toàn bị bang Sarawak của Malaysia bao quanh Huyện Limbang của bang Sarawak phân chia Brunei thành hai phần Đây
là quốc gia có chủ quyền duy nhất nằm hoàn toàn trên đảo Borneo, Malaysia
và Indonesia phân chia phần lãnh thổ còn lại của đảo Dân số Brunei là 408.786 vào tháng 7 năm 2012
Trang 4Tôn giáo
Brunei, Vương quốc Hồi giáo nằm trên đảo Borneo (hòn đảo lớn thứ ba và cao thứ ba trên thế giới với điểm cao nhất là đỉnh núi Kinabalu có độ cao 4.095m) Brunei có được trọn vẹn hệ sinh thái nhiệt đới xích đạo phong phú và đa dạng Thêm vào đó, lịch sử Brunei đã trải qua nhiều thăng trầm, thể hiện rõ trên đặc thù văn hoá, tôn giáo, chủng tộc, lãnh thổ của Brunei ngày nay Cho nên khi đến Brunei, bạn sẽ có được những trải nghiệm thú vị rất khác biệt so với các quốc gia khác trong khu vực
Có hai Thánh đường Hồi giáo nổi bật nhất Brunei mà du khách không thể bỏ qua là Thánh đường Hồi giáo Jame'Asr Hassanil Bolkiah và Umar Ali Saifuddien.Jame'Asr Hassanil Bolkiah là Thánh đường Hồi giáo lớn nhất Brunei
Thánh đường Hồi giáo Jame'Asr Hassanil Bolkiah được xây dựng để kỷ niệm 25 năm ngày quốc vương Hassanal Bolkiah lên ngôi Kiến trúc tinh tế và nổi bật nhất phải kể đến là những mái vòm bằng vàng ròng làm cho nhà thờ luôn nổi bật trên nền trời, bất kể là ngày hay đêm Xung quanh Thánh đường, những đài phun nước và khu vườn xanh mát được xếp đặt xen kẽ nhau một cách khéo léo, tạo nên một khung cảnh bình yên Bạn có thể chọn một chỗ ngồi bất
kỳ trong khuôn viên Thánh đường, ngắm nhìn mây trắng lảng bảng trôi qua tháp Thánh đường
và những đàn chim vừa thủng thẳng kiếm mồi vừa hót ríu rít Từ bên trong, tiếng cầu nguyện vang vọng Tất cả tạo nên một khung cảnh huyền ảo đậm màu sắc tôn giáo
Trang 5Omar Ali Saifudien Mosque lại nổi tiếng vì là Thánh đường Hồi giáo đầu tiên của Brunei (được hoàn thành năm 1958), nằm ở ngay trung tâm thủ đô Brunei Toàn bộ khuôn viên Thánh đường nằm trên một hồ nước nhân tạo
ở ven bờ sông Brunei, ngay bên cạnh làng nổi
Kampong Ayer Hầu hết các nội thất bên trong
Thánh đường đều được mang về từ nước ngoài:
cẩm thạch nhập từ Ý, granit từ Thượng Hải, đèn
pha lê từ Anh, và toàn bộ thảm lót được nhập từ
Arập Cả hai Thánh đường đều mở cửa cho khách
tham quan vào các ngày, giờ nhất định trong tuần
và luôn yêu cầu du khách phải mặc áo choàng
(được nhân viên Thánh đường phát) khi vào bên
trong Thánh đường
Omar Ali Saifuddin Mosque là Thánh đường Hồi giáo hoàng gia của Vương quốc Hồi giáo Brunei Thánh đường Hồi giáo này được nhận định là một trong những Thánh đường Hồi giáo tuyệt vời nhất châu Á Thái Bình Dương và một điểm thu hút khách du lịch lớn trong toàn Vương quốc Brunei Đặt tên theo Sultan 28 của Brunei, các Thánh đường Hồi giáo, được xem như là một biểu tượng của đức tin Hồi giáo ở Brunei Tòa nhà là minh chứng ấn tượng của kiến trúc Hồi giáo hiện đại Kiến trúc của Thánh đường có ảnh hưởng của cả hai phong cách Hồi giáo và người Ý Thiết kế bởi một kiến trúc sư người Ý, Thánh đường Hồi giáo được xây dựng trên một đầm phá nhân tạo ở gần bờ sông Brunei Thánh đường Hồi giáo Omar Ali Saiffuddin được xây dựng bao gồm đá cẩm thạch và vòm bằng vàng, sân vườn với nhiều vòi phun nước làm nổi bật công trình kiến trúc này
Trang 6Phong tục tập quán
Xưng hô trong giao tiếp
Brunei là nước Hồi giáo với 70% dân số theo đạo Hồi Việc sử dụng tước vị là thể hiện sự trọng thị trong xưng hô ở Brunei Một nam giới thông thường được gọi là Awang và nữ giới
là Dayang Tước hiệu Pengiran thuộc dòng dõi Hoàng tộc Những người có công lớn đóng góp cho đất nước trên các lĩnh vực khác nhau được nhà Vua ban tặng các chức danh Pehin và Dato Người Brunei thường dùng chức danh trên trong giao tiếp hàng ngày thay thế cho tên gọi Người Brunei không dùng tên họ, con trai thường có đệm là bin, con gái là binti, tiếp theo là tên của người cha Phụ nữ có chồng không gọi theo tên chồng mà vẫn giữ tên của mình
Những hành vi và cử chi cần lưu ý trong giao tiếp
- Dùng ngón tay cái của bàn tay phải hoặc trái khi chỉ vào ai đó thay cho ngón tay trỏ
- Sau khi bắt tay, thường áp bàn tay phải lên ngực phía bên trái để tỏ lòng chân thành, thân thiện
- Khi tặng quà nên đưa bằng tay phải hoặc để tay trái đưới cổ tay phải để nhận khi được tặng quà
- Khi vào thăm nhà thờ Hồi giáo phải bỏ giày, dép phía ngoài, rửa chân tay, lau mặt, tránh đi trước mặt những tín đồ trong lúc họ đang cầu nguyện hoặc đụng chạm vào sách Kinh Koran Nếu là phụ nữ phải dùng khăn che đầu, không để lộ đầu gối và cánh tay
- Nghiêm cấm mang súng, vật dụng nổ, và các loại hung khí khác
- Không được uống rượu, bia, đồ uống có cồn nơi công cộng trừ khi ở một số khách sạn được cho phép hoặc ở nhà riêng
- Khi dự bữa ăn với người Hồi giáo dùng tay trái để ăn sẽ là thiếu lịch sự (bị coi là tay không sạch), nên dùng cả hai tay trong khi ăn
- Theo luật Hồi giáo, tín đồ Hồi giáo bị nghiêm cấm ăn thịt lợn và uống rượu, bia, đồ có cồn
- Phụ nữ không được ăn mặc hở hang khi tham dự các hoạt động xã hội như: chiêu đãi, tiệc tùng nhất là trong các hoạt động tôn giáo
- Tặng phẩm dùng tặng người Hồi giáo tránh mua những tranh ảnh có hình phụ nữ, con vật, đặc biệt là lợn Đồ thủ công mỹ nghệ, gốm, sứ, vàng bạc, đá quý là những đồ được ưa thích
- Là thiếu lịch sự nếu ăn, uống ở những nơi công cộng, trừ những khu vực dành cho dã ngoại, các hội chợ ẩm thực Trong tháng ăn chay của người Hồi giáo hay còn gọi là tháng Ramadhan (vào tháng 9 hàng năm), người Hồi giáo không được ăn, uống từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn Và sẽ là thiếu tôn trọng, thiếu lịch sự nếu ăn, uống trước mặt mọi người trong tháng
ăn chay này
- Brunei không cho phép kinh doanh các dịch vụ: quán rượu, bia; hộp đêm, vũ trường hay karaoke Luật pháp Brunei cấm tụ tập đông người ở các nơi công cộng Nếu có phải xin phép cảnh sát trước
Trang 7Campuchia (Kampuchea, IPA: [kɑmpuˈciə], tên chính thức: Vương quốc Campuchia), cũng còn gọi là Cam Bốt là một quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương ở vùng Đông Nam Á, giáp với vịnh Thái Lan ở phía Nam, Thái Lan ở phía Tây, Lào ở phía Bắc và Việt Nam ở phía Đông Campuchia có ngôn ngữ chính thức là tiếng Khmer, thuộc nhóm Môn-Khmer trong hệ Nam Á.
Trang 8Tôn giáo
Nền văn hóa Campuchia có lịch sử phong phú đa dạng trải qua nhiều thế kỷ và chịu ảnh hưởng nặng của Ấn Độ Nền văn hóa Campuchia cũng gây ảnh hưởng mạnh lên Thái Lan, Lào và ngược lại Trong lịch sử Campuchia, tôn giáo có vai trò lớn trong các hoạt động văn hóa Trải qua gần 2000 năm, người dân Campuchia đã phát triển một tín ngưỡng Khmer độc đáo với các tín ngưỡng hỗn hợp gồm tín ngưỡng thuyết vật linh bản địa và các tôn giáo Ấn Độ như Phật giáo và Hindu giáo Nền văn hóa và văn minh Ấn Độ bao gồm cả nghệ thuật và ngôn ngữ đã vươn đến lục địa Đông Nam Á khoảng vào thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên Người ta cho rằng, những nhà buôn đi bằng đường biển đã mang phong tục và văn hóa Ấn Độ đến các cảng dọc theo Vịnh Thái Lan và vùng Thái Bình Dương khi họ buôn bán với Trung Quốc Quốc gia đầu tiên hấp thụ nền văn hóa và văn minh này là Phù Nam Vào những thời điểm nhất định, Cao Miên cũng hấp thụ các yếu tố của văn hóa Java, Trung Hoa, Lào và Thái Lan
Đa số dân Campuchia (gần 90%) là người Khmer và một tỷ lệ lớn hơn thế nói tiếng Khmer Các ngôn ngữ khác được sử dụng ở Campuchia có: tiếng Pháp, tiếng Hoa, tiếng Việt và tiếng Anh (đang ngày càng trở nên phổ biến)
Campuchia có 90% dân số theo Phật giáo Thượng toạ bộ, và phần đa số còn lại theo Hồi giáo, thuyết vô thần, hoặc thuyết vật linh
Trang 9Phong tục tập quán
Văn hóa Campuchia mang đậm dấu ấn của các tôn giáo du nhập từ Ấn Độ đặc biệt là Hindu giáo và Phật giáo Suốt chiều dài lịch sử của Campuchia các luồng tư tưởng tôn giáo này chi phối cũng như ảnh hưởng mạnh mẽ vào mọi mặt của đời sống cả vật chất lẫn tinh thần
Từ những công trình kiến trúc nguy nga lộng lẫy nổi tiếng thế giới như quần thể Angkor – di sản văn hóa thế giới cho đến các kiến trúc nhà ở, trường học; từ những điệu nhảy truyền thống trong các ngày lễ hội trọng đại của quốc gia cho đến những bài hát ru con ngủ của các
bà các mẹ cũng đậm đà “hương vị” của tôn giáo
Bên cạnh những nét văn hóa du nhập từ Ấn Độ, Trung Hoa qua tư tưởng tôn giáo thì người dân Campuchia cũng có những nét văn hóa riêng rất đặc sắc, rất “Campuchia” tạo nên một thứ văn hóa vừa quen, vừa lạ, rất gần gũi nhưng cũng rất lạ lẫm với du khách
Tín ngưỡng
Campuchia là một trong những đất nước mà người dân có một niềm tin vào tôn giáo mạnh
mẽ nhất và tuyệt đối nhất trên thế giới này Tôn giáo du nhập vào Campuchia từ rất sớm Đạo Hindu có mặt tại Campuchia từ thời kỳ sơ khai và nhanh chóng đã chiếm được sự tín ngưỡng của người dân Campuchia Cho đến thế kỷ thứ VII thì đạo Phật du nhập vào đất nước của những con người có bản chất hiền lành này và nhanh chóng trở thành quốc giáo với trên 90% người dân Campuchia là Phật tử Và cũng từ đó đến nay đạo Phật ảnh hưởng đến mọi mặt đời sống của người dân Campuchia từ các chuẩn mực đạo đức xã hội cho đến cách ứng giữa các thành viên trong gia đình
- Ở Campuchia, để gọi người khác một cách lịch sự và kính trọng, người ta thường thêm từ
"Lok" đối với đàn ông và "Lok Srey" đối với phụ nữ trước họ hoặc họ và tên đầy đủ
Tặng quà
- Người Campuchia chỉ thường tặng quà cho nhau vào dịp tết cổ truyền của dân tộc
- Không giống các nền văn hóa khác, người dân Campuchia không tổ chức sinh nhật và sinh nhật không được coi là một dịp kỷ niệm đáng nhớ giống người phương Tây, rất nhiều người
ở thế hệ trước thường không nhớ chính xác ngày sinh của mình
- Khi được mời đến nhà bạn bè hoặc người khác dự tiệc, người dân thường mang theo một số món quà nhỏ
- Quà tặng thường được gói cẩn thận trong những tờ giấy gói quà đầy màu sắc
Trang 10 Ăn uống
- Cách ứng xử tại bàn ăn của người Campuchia khá trang trọng
- Nếu bạn không nắm chắc về những điều nên hay không nên làm tại bàn ăn cùng với người dân nước này, thì cách đơn giản nhất là làm theo những người bên cạnh;
- Khi được mời đến dự bất cứ bữa ăn nào, hãy chờ cho đến khi bạn được xếp chỗ để tránh phạm phải những quy tắc sắp xếp theo tôn ti trật tự;
- Người lớn tuổi nhất thường là người ngồi vào bàn ăn đầu tiên, tương tự như thế đây cũng là người sẽ bắt đầu ăn trước tiên;
- Tuyệt đối không nói chuyện làm ăn hay kinh doanh trong những dịp như thế này
sẽ khỏe mạnh, cường tráng (thường lễ này làm chung với lễ đi tu)
LỄ LÊN NHÀ MỚI : sau khi làm nhà xong với mục đích cầu cho gia đình sống mạnh khỏe, hạnh phúc trong căn nhà mới xây dựng Chủ nhà đi mời hai người già có tuổi, sống hạnh phúc thành đạt đóng vai làm “chủ nhà”, còn chủ nhà đóng vai “khách” đi đường cùng vợ con đến xin ăn ở nhờ Sau đó”chủ nhà giả” nhường nhà lại cho “khách” ở
“Chủ nhà giả” nói nhờ “khách” ở lại trông dùm nhà, rồi cột tay các vị “khách” như công nhận
họ là người giữ nhà và cầu cho họ sống lâu, hạnh phúc, thành đạt trong ngôi nhà mới này Buổi lễ kết thúc Sau lễ đọc kinh cầu an
LỄ TỐNG PHONG : thường thấy tổ chức ở vùng biển có nhiều gió, nhằm đuổi gió độc, ôn dịch, ốm đau v.v… Người ta làm một chiếc bè nhỏ ghép bằng thân cây chuối, trên đặt những hình nộm cầm chèo, còn lễ vật là đầu heo, xôi chè, bánh trái trên có dán những lá bùa của thầy cúng Sau đó, bè được thả trôi xuôi dòng nước để xua tan ôn dịch, dân cư sẽ bình yên
Lễ này không chỉ có người Khmer mới tổ chức, các làng quê Nam bộ trong dịp cúng Kỳ yên cũng vẫn thường tổ chức, gọi là “lễ tống ôn hoàng dịch vật” hay “lễ tống ôn”
LỄ XIN NƯỚC MƯA : mỗi năm sau khi đã cúng ông Tà rồi mà vẫn gặp hạn hán Người Khmer mời mười vị sư sãi già đến cầu kinh dưới ánh nắng cho động lòng trời Bên cạnh có một chiếc chậu khô, trong chậu để một con cá lóc Việc này liên quan đến tích cá lóc là hậu thân của Phật Thích Ca Trời đại hạn cá lóc đội bùn lên kêu cứu với Ngọc Hoàng, thấy cá lóc
là hiện thân của Phật Thích Ca nên ông Trời làm mưa xuống để cứu nạn
Trang 11Đông Timor (tiếng Việt: Đông Ti-mo) cũng được gọi là
Timor-Leste (từ tiếng Malaysia timor và tiếng Bồ Đào Nha leste, đều có
nghĩa là "phía đông", phiên âm Tiếng Việt: Ti-mo Lex-te[1]), tên đầy đủ: Cộng hòa Dân chủ Đông Timor, là quốc gia ở khu vực Đông Nam Á, bao gồm nửa phía Đông của đảo Timor, những đảo lân cận gồm Atauro và Jaco và Oecussi-Ambeno, một phần nằm ở phía Tây Bắc của đảo, trong Tây Timorcủa Indonesia Đông Timor là một đất nước nhỏ bé với 15.410 km² cách thành phố Darwin, Úc khoảng 640 km về phía tây bắc
Trang 12Tôn giáo
Sau khi độc lập, Đông Timor trở thành nước thứ hai ở Châu Á mà số người theo Công giáo Rôma chiếm đa số (cùng với Philippines) Đa số dân chúng được xác định là theo Công giáo Rôma (90%), mặc dù truyền thống duy linh địa phương có một tác động vững chắc và mạnh
mẽ lên văn hóa Các tôn giáo khác bao gồm Hồi giáo(5%), là tôn giáo của cựu Thủ tướng Đông Timor Mari Alkatiri, và Tin Lành (3%) Còn lại là đạo Hindu (0,3%), đạo Phật (0,1%)
và tín ngưỡng duy linh truyền thống Số người theo Công giáo tăng nhanh chóng dưới thời
trị vì của Indonesia, vì tư tưởng quốc gia của Indonesia Pancasila không công nhận đức tin
truyền thống và yêu cầu tất cả công dân phải tin vào Chúa trời Mặc dù sự đấu tranh không phải về tôn giáo, nhưng với tư cách là bộ phận ăn sâu vào nhân dân, Giáo hội Công
giáo không chỉ tượng trưng cho sự khác biệt của Đông Timor với đa số Hồi giáo của
Indonesia, mà còn đóng một vai trò quan trọng trong các phong trào phản kháng, đại diện
là Linh mục Carlos Filipe Ximenes Belo, người đoạt giải Nobel Hòa bình[39] Hiến pháp hiểu được vai trò của Giáo hội trong nhân dân Đông Timor mặc dù họ cũng quy định nguyên tắc không đổi là đảm bảo tự do tôn giáo cho
mọi người
Trang 13Các phong tục tập quán
Sự đón tiếp rất quan trọng đối với người Đông Timor Nếu bạn được mời ăn uống khi bạn gặp ai đó, điều rất quan trọng là bạn nên nếm đồ ăn uống được mời, nhưng tốt nhất là luôn đợi cho người chủ dùng trước Bắt tay là văn hóa được chú trọng ở đây như là kết quả của một thời thuộc địa Bồ Đào Nha Phụ nữ thương hôn lên má hoặc hôn gió, thường là hôn lên
cả hai má Chào nhau trên đường là văn hóa được coi trọng
Luôn luôn hỏi xin phép trước khi chụp ảnh hay quay phim người khác, nhưng thường người Timor rất vui vẻ khi được chụp hình Hãy nói “Bele?” (nghĩa là “Tôi có thể?” trong ngôn ngữ Tetun) và gần như là bạn sẽ nhận được nụ cười và câu trả lời “bele, bele” nghĩa là
“được, được”, ngược lại “Labele” nghĩa là không được và bạn không được chụp ảnh
Timor Leste là một nền văn hóa truyền thống lớn, bảo thủ với các giá trị Kito Giáo mạnh mẽ Người lớn tuổi, nhà thờ và các lãnh đạo được kính trọng cao Như một quy luật chung, tên (first name) chỉ được sử dụng trong các mối quan hệ thân thiết, nếu không, chỉ sử dụng
“Senhor” cho đàn ông và “Senhora” cho phụ nữ
Likurai là một điệu nhảy của người Tetun sử dụng chủ yếu để chào đón các chiến binh trở về
từ các cuộc chiến Phụ nữ nhảy múa với một cái trống nhỏ và vòng quanh làng nơi những cái đầu kẻ thù lấy về trong trận chiến được trưng bày
Trang 14Indonesia (tên chính thức: Cộng hòa Indonesia, tiếng
Indonesia: Republik Indonesia) trước đó trong tài liệu tiếng Việt quốc gia này từng được gọi là Nam Dương, là một quốc
gia nằm giữa Đông Nam Á và Châu Đại Dương Indonesia
gồm 13.487 hòn đảo và với dân số khoảng 237 triệu người,
đứng thứ tư thế giới về dân số Đất nước này được mệnh
danh là "Xứ sở vạn đảo".
Trang 15Tôn giáo
80-88% dân số của Indonesia tuyên bố tôn giáo của họ như là Hồi giáo (Sunni) khiến nó là
số lượng đến nay là tôn giáo lớn nhất trên toàn quốc và Indonesia nước Hồi giáo lớn nhất trên thế giới
Tuy nhiên, Indonesia chính thức vẫn là một nhà nước thế tục Mặc dù chính thống tôn giáo làm khác nhau trên quần đảo Indonesia thực hiện đúng các quy tắc ăn mặc Hồi giáo rõ ràng ở một số nước nói chung là vắng mặt Ở các thành phố lớn hơn chiếc khăn đầu và biểu hiện công khai của đức tin là trường hợp ngoại lệ hơn là quy tắc Ở một số vùng trong khu vực và tình trạng đạo đức của Aceh thứ có thể được chặt chẽ hơn đáng kể Trong thực tế, mặc dù trên danh nghĩa là người Hồi giáo, nhiều câu chuyện địa phương và hải quan là Ấn Độ giáo, Phật giáo hay duy linh trong xứ trung thành bảo quản bằng nhiều dân số
Bốn tôn giáo được nhà nước phê khác là đạo Tin lành (5%), Công giáo La Mã (3%), Ấn Độ giáo (2%) và Phật giáo (1%) Hindu tập trung ở Bali, trong khi các Kitô hữu được tìm thấy chủ yếu trong các khu vực Bắc Sumatra, Papua, Bắc Sulawesi và Đông Nusa Tenggara Phật giáo, mặt khác, chủ yếu là thực hiện bởi những người Trung Quốc tại các thành phố lớn hơn Ngoài ra còn có túi của vạn vật hữu linh trong cả nước, và nhiều người Hồi giáo nghiêm ngặt chê bai sự kết hợp ngẫu nhiên của Indonesia nghi lễ duy linh vào hoạt động của các tín hữu notionally Hồi giáo
Luật pháp quốc gia Indonesia qui định rằng tất cả các công dân của nước Cộng hòa phải khai báo tôn giáo của họ và tuyên bố rằng tôn giáo phải là một trong những năm được chính thức thừa nhận của nhà nước, nhưng sau khi cải cách Nho giáo được công nhận (trước đây nó đã được gộp vào với Phật giáo, Tin Lành và Công giáo La Mã), than ôi không cho Ahmadiyya Hồi giáo và Hồi giáo Shia Điều này dẫn đến biến dạng rõ ràng Ví dụ, nhiều học viên vật linh notionally tự gọi mình là người Hồi giáo hoặc Kitô giáo vì lợi ích của bộ máy hành chính nhà nước và nhiều người
Hồi giáo trong khu vực nông thôn cũng có cách truyền thống của họ về cuộc sống mà rất nhiều ảnh hưởng đến thực hành của đạo Hồi
Trang 16Phong tục tập quán
Văn hóa Indonesia đặc trưng chính là văn hóa tôn giáo Trong đó, Hồi giáo có ảnh hưởng lớn (khoảng 86% dân số là người Hồi giáo) Ở đây có khoảng 300 nhóm sắc tộc với nền văn hóa riêng biệt phát triển qua hàng thế kỷ nhờ ảnh hưởng từ Ấn Độ, Trung Quốc, Ả Rập, Malaysia
và châu Âu nhưng nét văn hóa của Indonesia lại có sự phân hóa sâu sắc Sự pha trộn này còn khiến Có hơn 700 thứ tiếng đang được nói ở Indonesia Nhưng ngôn ngữ chính thức là tiếng Indonesia, một phiên bản bị biến đổi của tiếng Malay, được sử dụng trong thương mại, hành chính, giáo dục và truyền thông,hầu hết người Indonesia nói các thứ tiếng địa phương, như tiếng Java, như là tiếng mẹ đẻ của họ
Văn hóa ở Indonesia còn được thể hiện trong những bộ trang phục của người dân nơi đây Đối với người nghèo có thể được chấp nhận thiếu thốn, Nhưng những người du khách ăn mặc thiếu thốn: không dép, quần sóc, áo dây bị coi là không lịch sự khi đi du lịch đến Indonesia Trong văn hóa của người Indonesia về cách ăn mặc có thể chấp nhận quần lửng,nhưng phải rộng và ít nhất là đến gối Mặc dầu những nơi thờ phụng được mở cửa cho tất cả mọi người, nhưng khi muốn vào cũng phải có sự cho phép, đặc biệt là khi những nghi lễ đang được tiến hành, và bạn phải bảo đảm rằng bạn đã ăn mặc chỉnh tề Bạn phải luôn luôn cởi giầy trước khi vào nhà thờ Hồi giáo và thông thường phải cởi giầy trước khi vào nhà ai đó Không nên có các cuộc hẹn vào lúc 11h sáng đến 1h chiều vào các ngày thứ 6 vì thời gian này hầu hết mọi người Hồi giáo đều đến nhà thờ
Trong giao tiếp của người Indonesia bạn nên chú ý không được vuốt đầu Bởi vì như thế là mất lịch sự Đối với người indonesia khi chào người lớn thường không ngẩng cao đầu mà hạ thấp cổ hay hạ thấp vai khi đi qua để thể hiện sự tôn trọng Khi đưa hay nhận một vật gì bạn nhớ dùng tay phải (không được dùng tay trái vì tay trái đối với phần lớn người Indonesia là không sạch sẽ) Để an toàn, bạn nên dùng cả hai tay khi trao hoặc nhận vật gì để sự kính trọng
và lịch sự Nên nhớ, người Indonesia rất kính trọng người cao tuổi, vì vậy trong văn hóa giao tiếp với người cao tuổi cần thể hiện sự kính trọng, lịch sự.Không được chống nạnh, cũng không nên mang kính mát khi nói chuyện với người Indonesia vì như thế là không lịch sự và bị xem như là có thái độ coi khinh Không được bỏ tay vào túi quần, vì như thế bị xem là kiêu ngạo Bắt tay là thói quen của đàn ông lẫn phụ nữ khi được giới thiệu và chào hỏi Khi bắt tay cần vừa phải, không nắm chặt qúa cũng không buông lơi, không giữ tay quá lâu Trong các cuộc gặp đầu tiên, tặng các món quà nhỏ là một cách tốt nhất biểu thị sự quan tâm
và chân thành trong việc thiết lập các mối quan hệ lâu dài với người Indonesia
Nhờ có sự pha trộn độc đáo giữa các nền văn hóa này mà Indonesia trở thành quốc gia đa sắc màu, cũng như sự hài hòa mới lạ mang đến luồng gió mới cho du khách đến tham quan tại đây
Trang phục truyền thống là biểu trưng của quốc gia, gắn liền với giai đoạn xây dựng và phát triển của quốc gia đó Do đó, khi nhắc tới xứ vạn đảo Indonesia thì chúng ta không thể quên nhắc đến Kebaya
Trang 17Kebaya gồm một chiếc áo ôm sát cơ thể, cổ áo trước mở rộng, tay áo dài, chất liệu mỏng nhẹ như tơ lụa hay cotton mỏng… kèm theo đó là những họa tiết hoa lá được in hoặc dệt trên vải Kebaya truyền thống còn có
một dải vải choàng stagen
bằng chất liệu batik khoác lên
áo Áo được buộc bằng trâm
cài đầu – kerongsang
Kerongsang bằng vàng và
được xem là biểu tượng cho
tầng lớp quý tộc Thông
thường, Kebaya được mặc với
váy kain – một dải vải gồm
nhiều nếp xếp li sống động
quấn quanh phần cơ thể từ eo
xuống dưới Kebaya cũng là
trang phục cưới của nhiều phụ
nữ đầy quyền lực ở Indonesia
và được coi là “kiệt tác nghệ thuật” với những chi tiết và hoa văn được thêu may trên hai cánh tay
Đất nước Indonesia là đất nước của những lễ hội Hàng năm có rất nhiều lễ hội được tổ chức tại đây Người dân Indonesia tham gia lễ hội với tinh thần dân tộc nồng nhiệt làm cho du khách như bị níu chân cùng hòa mình vào không khí thân tình Một sỗ lễ hội nổi tiếng:
Thể thao:Các môn thể thao truyền thống gồm sepak takraw(cầu mây), chạy đấu bò tại Madura, Pencak Silat (một môn võ Indonesia)
Các môn thể thao tại Indonesia nói chung thường dành
cho phái nam và các khán giả cũng thường tham gia vào
hoạt động cá cược cờ bạc
Nhìn chung, cho dù thời đại có phát triển, lối sống truyền
thống ở Indonesia vẫn tồn tại và phát triển nhờ có sự
phong phú giữa các sắc tộc, sự giao thoa giữa các nền văn
minh và cả sự mới lạ của vị trí địa lý
Trang 18Lào (tên chính thức: Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào) là một quốc gia không giáp biển duy nhất tại vùng Đông Nam Á Lào giáp với nước Myanma và Trung Quốc phía tây bắc, Việt Nam ở phía đông, Campuchia ở phía nam, và Thái Lan ở phía tây Lào còn được gọi là "đất nước Triệu Voi" hay Vạn Tượng; ngôn ngữ của nước này là tiếng Lào Trước đây tại Việt Nam, Lào còn có tên là Ai Lao, Lão Qua.
Trang 19Tôn giáo
Phật giáo
Phật giáo là tôn giáo phổ biến nhất tại Lào, được 67% dân số nước này và gần như toàn bộ dân tộc Lào tin theo Con số "Phật tử" có thể còn cao hơn, do Phật giáo cũng có ảnh hưởng đến nhiều nhóm bộ tộc khác, song những nhóm
này lại thường tự xem mình là người
theo thuyết vật linh Phật giáo cũng là tôn giáo
chiếm ưu thế tại Isan và hầu hết các quốc gia
láng giềng của Lào Bên trong Phật giáo, hầu
hết người Lào theo phái tiểu thừa song vẫn có
ảnh hưởng lịch sử từ Đại thừa và đây cũng là
phái chính của những người Việt và người
Hoa thiểu số định cư giữa những người Lào
Trong một cộng đồng người Lào, đền chùa là
trung tâm của các hoạt động cộng đồng, nơi dân
làng tập hợp để thảo luận về các mối quan tâm hoặc thỉnh cầu nhà sư suy xét và hướng dẫn
cho họ, và hầu hết đàn ông sẽ vào chùa ở trong một số thời điểm nhất định để tiếp nhận thêm kiến thức tôn giáo và để làm công đức Ngũ giới của Phật giáo khuyên con người không được sát sinh, trộm cướp, tà dâm, gian dối, say sưa Văn hóa và cách cư xử của người Lào mang những nét tiêu biểu xuất phát từ niềm tin Phật giáo, bao gồm khoan dung, tôn trọng người lớn tuổi và cấp bậc trong gia đình, lòng vị tha, vô tư với thế gian, chu đáo với em ruột, lịch sự, tự phủ định, và khiêm tốn Các niềm tin căn bản là đầu thai và nghiệp
Trang 20 Thuyết vật linh
Thuyết vật linh là tôn giáo bản địa của hầu hết những người Môn–Khmer và gần đây là thiểu
số H'Mông-Miền và Tạng-Miến, và cũng là tôn giáo truyền thống của các sắc tộc Thái trước khi họ tiếp nhận Phật giáo, thậm chí một số bộ tộc Thái nay vẫn là những người theo thuyết vật linh Đối với người dân tộc Lào, thuyết vật linh đan xen với Phật giáo và một số yếu tố
Ấn Độ giáo Mặc dù bị đàn áp vào các thời điểm khác nhau trong lịch sử, thuyết vật linh vẫn tiếp tục là một bộ phận lớn trong truyền thống tôn giáo của người Lào
Người Lào tin vào ba mươi hai vị thần linh được gọi là khwan bảo vệ thể xác con người, và các nghi lễ được thực hiện trong các sự kiện quan trọng hoặc trong những lúc lo lắng để trói buộc các linh hồn và thể xác, nếu thiếu vắng chúng thì người ta sẽ tin rằng đã mời bệnh tật hoặc tai họa đến Ngoài ra, có các thần linh khác, được gọi là phi; cụ thể là bảo vệ các ngôi nhà hoặc các lãnh thổ, chúng là các địa điểm, sự vật hoặc hiện tượng tự nhiên; linh hồn tổ tiên và các linh hồn khác bảo vệ con người; và các linh hồn độc ác Các thần linh bảo hộ của các địa điểm, như phi wat của các chùa và lak mueang của các đô thị được cộng đồng tổ chức cúng tế với thực phẩm
Trong cuộc sống hàng ngày, hầu hết người Lào phải cúng tế các
thần linh được cho là cư trú trong các điện thờ để mong được
bình an Đồ cúng gồm hoa, hương, và nến, và người ta sẽ cầu
nguyện các thần linh phù hộ Các thần linh tự nhiên bao gồm
các thần sống trong cây cối, đồi núi, hoặc trong rừng Các thần
linh bảo vệ người dân thường là tổ tiên hoặc các thánh thần đến
vào các thời điểm khác nhau trong cuộc sống, được gọi là
thewada Các thần linh ác độc bao gồm những người xấu xa
trong kiếp trước hoặc đã chết một cách bi thảm, chẳng hạn
như phi pob rùng rợn và phi dip hút máu Một số "phi" là các vị
thần bản địa và phi Ấn Độ giáo, như phi thaen
Các pháp sư tâm linh là những người địa phương được đào tạo
để thực hiện các lễ nghi và giao tiếp giữa linh hồn của họ với
các linh hồn nói chung Sử dụng thôi miên, các khách thể tinh thần thấm nhuần với sức mạnh thiên nhiên, hoặc saksit, các tài sản, và các nghi thức như lam phi
fa hoặc basi, pháp sư thường được người dân đến tham khảo ý kiến những lúc họ gặp rắc rối, bị ma ám ảnh, bị bệnh tật hoặc các bất hạnh khác mà họ cho rằng có thể
do các linh hồn độc ác hoặc không hạnh phúc gây ra Các pháp sư cũng thường hiện diện trong các lễ hội vật linh
Trang 21 Ấn Độ giáo
Ấn Độ giáo là tôn giáo có ảnh hưởng chủ yếu đến đế quốc
Khmer, đề tài Ấn Độ giáo có thể được tìm thấy trong các
đền chùa của họ, như Vat Phou.Các đền chùa thường
được xây dựng trên các địa điểm của các đền thời Ấn Độ
giáo cổ đại, và các bức tượng hoặc họa tiết của các vị thần
Ấn Độ giáo thường được tìm thấy bên ngoài các ngôi đền
Mặc dù các nghi lễ Ấn Độ giáo có ảnh hưởng lớn, song
người Lào không công khai chúng như những
người Xiêm láng giềng
Người Lào đã tiếp nhận và phỏng tác Ramayana thành một phiên bản địa phương, được gọi
là Phra Lak Phra Ram Phiên bản Lào của sử thi được xen vào những thần thoại của người Lào, và Bản sinh kinh cũng được coi trọng Nhiều điệu múa cung đình dựa trên các tình tiết của câu chuyện Ấn Độ giáo đã đan xen một cách dễ dàng vào cả thuyết vật linh và Phật giáo, do đó nhiều vị thần Ấn Độ giáo được coi là Thaen và các nhà sư Phật giáo đã kết hợp nhiều nghi thức Bà-la-môn Người dân Lào đặc biệt tôn kính Naga, các á thần giống
con rắn và cai trị các tuyến đường thủy
Trang 22Trong bữa cơm, dù thức ăn nhiều hay ít thì khách đều phải ăn mỗi thứ một ít cho hài lòng gia chủ nhưng cũng phải để lại một ít cơm, xôi để tượng trưng cho sự no đủ, thừa thãi cơm gạo
Về trang phục, trang sức
Thanh niên Lào thường cắt tóc ngắn, mặc áo cổ tròn, tay ngắn, quần đùi, bên ngoài quấn chiếc phạ-xạ-rông (khăn dài) màu hoặc kẻ ô Những ngày lễ hội quan trọng, họ mặc y phục dân tộc là chiếc áo sơ mi cổ tròn, khuy vải, cài về phía tay trái, quấn chiếc phạ-nhạo-nếp-tiêu màu sắc sặc sỡ và quàng chiếc phạ biềng (khăn) chéo qua ngực Trong cuộc sống hàng ngày, người Lào thường dùng loại khăn gọi là phạ-phe Đây là chiếc khăn vải kẻ ô màu trang nhã, thường dùng làm khăn tắm hay dùng che đầu, quàng cổ, gói quần áo buộc vào thắt lưng Với phụ nữ Lào, lúc còn nhỏ, họ có thể để tóc hoặc hớt tóc nhưng trên 10 tuổi thì phải bới tóc (chưa có chồng thì búi lệch, có chồng rồi thì búi thẳng), ngoài 50 tuổi, họ thường cắt tóc ngắn Theo tập quán cổ truyền, phụ nữ Lào thường mặc váy có cạp, có gấu, không quá ngắn hoặc quá dài
Váy có đường viền thêu hình hoa lá, chim muông, áo có đính khuy đồng hay khuy bạc; dây thắt lưng bằng bạc gọi là khểm-khắt cùng với đôi bông tai, dây chuyền, nhẫn, vòng tay là những kỉ vật mà người con gái được cha mẹ sắm cho từ lúc còn nhỏ
Phân công lao động
Trong gia đình, người chồng thường làm những công việc nặng nhọc như cày bừa, phát nương, đắp mương phai, săn bắt, sửa chữa nhà cửa Các em trai làm những việc nhỏ hơn như chăn trâu bò, trông coi ruộng rẫy, theo cha tập việc người lớn như câu cá, gài chông bẫy Những công việc nhẹ như gặt hái, trông nom vườn tược, chăn nuôi, hái lượm, nấu nướng, may vá, dệt vải, chăm sóc con cái đều do phụ nữ đảm nhiệm
Quan hệ gia đình, họ hàng, xóm giềng
Các bản mường thường có một số dòng họ Mỗi họ có nhiều gia đình Các gia đình gắn bó với nhau về truyền thống, tình cảm và kinh tế
Về họ hàng, người Lào có họ cha, họ mẹ, họ nhà chồng, nhà vợ Gửi rể là tập quán phổ biến của nông thôn Lào Chàng rể phải ở nhà vợ một thời gian nhất định, khi vợ chồng ra ở riêng
sẽ được cha mẹ chia cho một phần tài sản
Người Lào rất quý con và bình đẳng giữa con gái với con trai Cũng như con trai, con gái được tự do đi dự lễ hội, được hưởng phần tài sản của bố mẹ Chế độ một vợ một chồng là phổ biến trong các gia đình người Lào
Trang 23Ngoài họ hàng, bà con ra, mỗi thành viên trong bản làng còn có mối quan hệ với cộng đồng Tập quán đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau và mến khách là một tập quán tốt của người Lào Khách đến nhà, sẽ được chủ nhà cầu may và được chào hỏi thân tình, trang trọng
Tuy nhiên, khách cũng phải biết ý tứ theo đúng phong tục, tập quán để khỏi phật ý gia chủ
Cụ thể, người Lào rất kị sờ đầu, tránh chui qua gầm nhà, dây phơi quần áo Vì vậy, khách không được chạm vào đầu người khác hoặc xoa đầu trẻ em Khi đi cần tránh đụng vào hoặc bước qua chân người khác Khi đi qua mặt các cụ già phải xin lỗi và cúi thấp người xuống một chút Khi chào phải chắp tay trước ngực, đầu hơi cúi xuống
Lễ cầu yên (xù-khoẳn) và lễ buộc chỉ cổ tay (phục khẻn)
Xù-khoẳn là một nghi lễ đơn giản nhưng thiêng liêng, trang trọng, phổ biến trong nhân dân các bản mường Chỉ cần cây nến, bông hoa, bát gạo, sợi chỉ trắng là có thể làm lễ xù-khoẳn (vía trở lại) Mâm lễ (pha-khoẳn), người làm lễ (mỏ khoẳn) và nội dung cầu mong trong lễ (xụt-khoẳn) là các yếu tố có ý nghĩa có ý nghĩa cả về tâm linh và nghi lễ
Phục-khẻn chỉ cần lễ vật là quả trứng luộc, quả chuối chín, nắm gạo, sợi chỉ trắng nhưng với nghi lễ của mình, người Lào buộc chỉ vào cổ tay khách và thể hiện sự chân thành, thận trọng
và tin tưởng
Tục lệ cưới xin
Hình thức cưới xin ở Lào khá phong phú và phản ánh khá rõ nét một hình thức sinh hoạt tinh thần của người Lào và tích tụ nhiều tập quán cổ của mỗi nhóm dân tộc Tục cưới xin của người Lào từ trước đến nay thường theo trình tự từ dạm hỏi, lễ cưới và lại nhà như ở Việt Nam Chỉ có điều khác là đến giờ cưới, khi làm lễ, trưởng họ nhà trai chúc, vẩy nước và buộc chỉ cổ tay cho cô dâu, chú rể Sau lễ cưới, chàng trai ở rể và tham gia lao động với gia đình vợ
Việc cưới xin ở Lào còn có tục kan-xu (cho nợ lễ cưới) Vợ chồng nghèo có thể lấy nhau, sau khi làm ăn khá giả, sẽ tổ chức đám cưới theo tập tục của bản mường
Chọn vị trí chôn cất hay hoả táng trong bãi tha ma, người Lào thường dùng nắm xôi hay quả trứng tung lên Nếu quả trứng hay nắm xôi rơi ở đâu thì chôn hay hoả táng ở vị trí đó
Nếu hoả táng thì ba ngày sau, người thân mời bà con và các vị sư ra nhặt xương, đem bỏ vào
hũ sành, đưa về đặt ở các tháp trong chùa để tiện thờ cúng