• WHO đã phát hành tài liệu mang tên “Loại bỏ các bệnh liên quan đến amiang”, cung cấp các cơ sở khoa học củng cố nhận định của WHO rằng có khoảng 107.000 ca tử vong liên quan đến amiang
Trang 1WHO và 107.000 ca tử vong do
amiang
Nguyên nhân và tính đúng đắn
Trang 2• WHO đã phát hành tài liệu mang tên “Loại bỏ các bệnh liên quan đến amiang”, cung cấp các cơ sở khoa học củng cố nhận định của WHO rằng có khoảng 107.000 ca tử vong liên quan đến amiang
• Trên website của WHO có nhận định: “Theo ước tính của
WHO, hơn 107.000 người tử vong hàng năm vì các bệnh ung thư phổi, ung thư trung biểu mô, bụi phổi liên quan tới amiang đến từ phơi nhiễm nghề nghiệp”
Trang 3Nhận định trong tài liệu này cũng như trong tài liệu của WHO
“Chương trình thử nghiệm quốc gia về loại bỏ các bệnh liên quan đến amiang” chỉ ra rằng amiang trắng được sử dụng ngày nay liên quan rất nhiều đến các ca tử vong kể trên
Trang 4Quan điểm chính thức của WHO
Quan điểm chính thức của WHO được quyết định bởi Hội đồng
Y tế thế giới (WHA)
Trang 5Hội đồng Y tế thế giới là cơ quan quyết định tối cao đối với
WHO Chức năng chính của WHA là quyết định các chính sách của tổ chức, chỉ định Giám đốc điều hành, giám sát các chính sách tài chính, xem xét và phê duyệt ngân sách các dự án
Trang 6Hội đồng Y tế Thế giới của WHO vào
tháng 5/2007
•Cách tiếp cận có sự phân biệt trong việc loại bỏ các
bệnh amiang được mô tả trong “Sức khỏe người
lao động: Kế hoạch hành động toàn cầu”
(WHA60.26)
•Cách tiếp cận này chỉ ra rằng:
“Các hành động sẽ bao gồm những chiến dịch để loại bỏ bệnh liên quan đến amiang và phải ghi nhớ rằng cần có sự phân biệt về các loại sợi trong cách tiếp cận sao cho phù hợp với các văn kiện quốc tế
và bằng chứng mới nhất để can thiệp hiệu quả.”
Trang 7Tuy nhiên
Văn bản của WHO về “Loại bỏ các bệnh liên quan đến amiang” đưa ra đề xuất để phòng tránh các bệnh liên quan đến amiang Các đề xuất này chỉ trích dẫn Nghị quyết 58.22 của WHA năm
2005 mà không đề cập đến quyết định được đưa ra vào tháng 5/2007 bởi cơ quan quyết định tối cao này!
Trang 9Có bằng chứng khoa học nào cho nhận
định này?
“Theo ước tính của WHO, có hơn 107.000 người tử vong hàng năm vì các bệnh ung thư phổi, ung thư trung biểu mô và bụi phổi liên quan đến amiang trong phơi nhiễm nghề nghiệp”
Phơi nhiễm ở đây là phơi nhiễm với amiang chrysotile
Trang 10Cơ sở khoa học được cung cấp bởi
WHO
•“Loại bỏ các bệnh liên quan đến amiang”
•Trong tài liệu này, một số nguồn tham khảo được đưa ra để củng
cố cho nhận định của WHO
•Hãy cùng kiểm chứng những nguồn này:
Trang 13Gộp cả 2 loại sợi để gọi chung là
amiang là sai lầm
Thường xuyên chỉ ra rằng amiang chrysotile nguy hiểm, nhưng bằng chứng thì là từ phơi nhiễm amiang amphibole
Trang 14Tính không nhất quán trong báo cáo của WHO với cách tiếp cận có sự phân
Trang 15Nguồn tham khảo số 1 của WHO
đo lường, và bởi vì chuyển đổi những cách đo amiang trong lịch sử theo triệu bụi/foot khối sang đơn vị trọng lượng là cả một vấn đề Tuy nhiên, với mức phơi nhiễm thấp, sự gia tăng về ung thư phổi được kỳ vọng rất thấp.
Trang 16Nguồn tham khảo của số 2 của WHO
Driscoll và cộng sự (2005)
Trong tài liệu của Driscoll và cộng sự, các tác giả đã sử dụng nhiều ấn phẩm mới và hoàn thiện hơn của Hodgson và Darnton (2000) về nguy cơ của amiang, trong đó có phân biệt amiang chrysotile với amphibole
Trang 17Driscoll và cộng sự nhận định rằng:
Ước tính kết hợp này dựa trên những ước tính tốt nhất về rủi ro của
•400 trên 100.000/sợi.năm/ml crocidolite
•65 trên 100.000/sợi.năm/ml amosite
•2 trên 100.000/sợi.năm/ml chrysotile
•Và hỗn hợp thay đổi gồm amphibole và chrysotile thường thấy ở phơi nhiễm cách đây 20 đến 50 năm (Hodgson and Darnton,
2000)
Trang 18Một ấn phẩm khác gần đây từ WHO
Pruss-Ustiln và cộng sự: Xem xét hệ thống những gì chúng ta đã biết và chưa biết về gánh nặng bệnh do hóa chất Environmental Health.2011, 10:9
Các tác giả chỉ ra:
“Gánh nặng bệnh tật do amiang trên toàn cầu ước tính gây ra
107.000 ca tử vong và 1.523.000 DALYS với 3 bệnh kể trên vào năm 2004”
Trong tài liệu của Pruss-Ustiln và cộng sự (2011), chrysotile cũng không hề được đề cập đến
Trang 19Cơ quan quốc tế nghiên cứu về ung thư (IARC
Monograph 100c)
Nhận định rằng tất cả các loại amiang (chrysotile, crocidolite,
amosite, tremolite, actinolite và anthophylite) có khả năng gây ung thư cho con người (Nhóm 1) dựa trên:
•Nồng độ phơi nhiễm diễn ra trong cách đây 20 – 50 năm
•Sử dụng các nghiên cứu về riêng amiang chrysotile nhưng thực
tế có cả amiang amphibole
•Bảng xếp loại của IARC là xếp hạng mối nguy dựa trên bất cứ nghiên cứu nào báo cáo về một ảnh hưởng tại bất cứ thời điểm và
ở mọi nồng độ phơi nhiễm
•Không có đánh giá rủi ro được đưa ra ngày nay về các phơi
nhiễm chỉ với chrysotile(không có mặt amphibole) ở nồng độ
phơi nhiễm của việc sử dụng có kiểm soát
Trang 21Kết quả về “Tử vong do ung thư trung biểu mô trên toàn cầu” dựa trên cơ sở dữ liệu về ung thư trung biểu mô của WHO
“Từ năm 1994, dữ liệu về tử vong do ung thư trung biểu
mô đã có trong cơ sở dữ liệu về tỷ lệ tử vong của WHO, tổng hợp tử vong tại các nước thành viên hàng năm Dữ liệu được cụ thể hóa trong mục bệnh tật, giới tính và
quãng tuổi 5 năm, tích hợp qua các nước sử dụng một format chung Việc so sánh dữ liệu được cải thiện với việc giới thiệu Danh mục bệnh tật quốc tế (ICD), mặc
dù mục “ung thư trung biểu mô ác tính” chỉ có trong
năm 1993 với bản sửa đổi thứ 10 (ICD-10)
Trang 22Kết quả về “Tử vong do ung thư trung biểu mô trên toàn cầu” dựa trên cơ sở dữ liệu về ung thư trung biểu mô của WHO
•Tuy nhiên, như đã được thừa nhận bởi WHO, tính chính xác trong chẩn đoán nguyên nhân tử vong của mỗi nước khác nhau
•Vào ngày 30/1/2011, số liệu tử vong ung thư trung biểu
mô được hoàn thành cho giai đoạn 15 năm
•Mục đích của nghiên cứu là để cải thiện sự hiểu biết và quản lý ung thư trung biểu mô ác tính bằng việc tiến hành phân tích mô tả các dữ liệu quốc tế về tử vong do bệnh tật
Trang 23Cơ sở dữ liệu ICD-10 của WHO
“
Chúng tôi đã lấy số liệu về tử vong do ung thư trung
biểu mô ghi nhận trong cơ sở dữ liệu về tử vong của
WHO về ung thư trung biểu mô ác tính (cụ thể ICD-10 mục C45 hoặc bất cứ tiểu mục nào trong đó) giữa năm
1994 và 2008 Thêm vào đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu tài liệu trên PubMed để xác định các tài liệu xuất bản bằng tiếng Anh có thể cung cấp các thông tin hữu ích về dữ liệu ung thư trung biểu mô quốc gia Tuy
nhiên, dữ liệu tìm được còn thiếu các chi tiết về số
lượng ca tử vong ( ví dụ về năm, nhóm tuổi, giới tính)
Cuối cùng, chúng tôi chỉ dùng cơ sở dữ liệu về tử
vong của WHO để phân tích”
Trang 24•Liệu cơ sở dữ liệu của WHO có ủng hộ cho những nhận định
này?
Trang 25Tuy nhiên
•Các tác giả WHO không báo cáo về nguồn của bất
cứ dữ liệu thô nào được sử dụng để phân tích
•Các tác giả đưa ra “Tỷ suất chết theo độ tuổi (trên triệu dân)” Họ nói rằng đường kính của hình tròn tỷ
lệ thuận với dân số gánh chịu rủi ro.
•Không hề nói dân số gánh chịu rủi ro là cụ thể bao nhiêu người.
•Không có thông tin về độ lệch chuẩn của các trung bình và không có thông tin về ý nghĩa thống kê của các nhận định
Trang 26Cơ sở dữ liệu ICD-10 của WHO
Dữ liệu hiện tại có 4.342 mục nhập về ung thư trung biểu mô tại
103 quốc gia trong 19 năm từ 1994 đến 2012
Với ung thư trung biểu mô, có 6 mục về bệnh như sau:
•C45 Ung thư trung biểu mô (Không báo cáo)
•C45-0 là mã chẩn đoán ICD-10-CM cụ thể: Ung thư trung biểu
mô màng phổi
•C45-1 là mã chẩn đoán ICD-10-CM cụ thể: Ung thư trung biểu
mô màng bụng
•C45-2 là mã chẩn đoán ICD-10-CM cụ thể:Ung thư trung biểu
mô màng ngoài tim
•C45-7 là mã chẩn đoán ICD-10-CM cụ thể:Ung thư trung biểu
mô khác
•C45-9 là mã chẩn đoán ICD-10-CM cụ thể: Ung thư trung biểu
mô không xác định
Trang 27Bao nhiêu ca tử vong liên quan đến ung thư
trung biểu mô đã thực sự xảy ra?
•Trong cơ sở dữ liệu đã được cập nhật, trong vòng 19
năm, tổng số trường hợp ung thư trung biểu mô (từ các
danh mục trên) là 169,537 trong 19 năm.
•Số lượng này ứng với trung bình 8.923 trường hợp ung thư trung biểu mô 1 năm ở tất cả 103 quốc gia trong cơ
sở dữ liệu (từ tất cả danh mục ung thư trung biểu mô ở trên)
•Đa số các trường hợp ung thư trung biểu mô được xếp vào C45.9, không xác định
Trang 28Tổng số các trường hợp ung thư trung biểu mô trong vòng 19
năm theo danh mục
Trang 29Tổng số các trường hợp ung thư trung biểu mô theo
quốc gia trong 19 năm
Trang 31Ung thư trung biểu mô màng phổi và màng bụng
•Hai loại u trung biểu mô này thường được gắn với phơi nhiễm amiang
•Các tác giả WHO nhận định rằng đây là các kết quả về ung thư trung biểu mô màng phổi và màng bụng
•Khi chỉ có 2 mã ung thư trung biểu mô này được chọn trong cơ
sở dữ liệu, thậm chí số trường hợp được báo cáo còn ít hơn
Trang 32Cơ sở dữ liệu của WHO về ung thư trung biểu mô màng phổi và
màng bụng
•Từ dữ liệu thực tế về ung thư trung biểu mô màng
bụng và màng phổi, có tổng cộng 73.375 ca tử vong
trong 19 năm tại tất cả các quốc gia hay trung bình là
3.862 ca tử vong/năm trên toàn thế giới
•Con số ca tử vong lớn nhất do ung thư trung biểu mô
màng phổi và màng bụng được báo cáo tại Đức là
16.044 trong 19 năm hay trung bình là 844 ca tử
vong/năm
•Các số liệu trong báo cáo của WHO có sự sai lệch khi không đưa ra con số thực tế của các trường hợp làm
bằng chứng
Trang 34Tóm tắt “Tử vong do ung thư trung biểu mô toàn cầu được báo cáo đến WHO từ 1994 đến 2008” (Delgermaa và cộng sự, 2011)
•Việc kiểm tra và phân tích cơ sở dữ liệu ICM-10 của WHO rõ ràng mâu thuẫn với những kết luận được báo cáo bởi các tác giả WHO:
•“Các phân tích của chúng tôi cho thấy gánh nặng bệnh tật vẫn tồn tại nổi bật ở thế giới phát triển Tuy nhiên, do thực trạng gia tăng sử dụng amiang ở các nước đang phát triển, chúng tôi dự báo số trường hợp bị bệnh sẽ tăng theo ở các quốc gia này”
Trang 35Tổng kết
•Cơ sở dữ liệu của WHO cho thấy ở các nước phát triển, số ca bệnh tật đang giảm
•Thêm vào đó, các kết quả theo nhóm thu nhập cho thấy không
có mối quan hệ đáng kể về mặt thống kê ở các công nhân thu nhập trung bình và thấp, những người làm việc phần lớn với amiang chrysotile ở các nước đang phát triển
Trang 36Tổng kết
•Cơ sở dữ liệu WHO ICM-10 với dữ liệu đến năm 2012 cho thấy với nam giới, số lượng ung thư trung biểu mô các loại trên toàn thế giới đã giảm ở nam giới từ nhiều nhất là 12.758 trường hợp xuống 6.070 trường hợp vào năm 2011 và 1.281 vào năm 2012
•Ở nữ giới, số lượng giảm từ nhiều nhất là 3.327 xuống 1.405 vào năm 2011 và xuống 365 vào 2012
Trang 41Giáo sư Peto nhận định rằng ung thư trung biểu mô ở Anh gắn với phơi nhiễm amiang amosite, không phải chrysotile
Trang 42Trình bày của Giáo sư Peto tại Hội nghị IMIG 2014
Trang 43Kết luận
•Công nhận sự khác nhau giữa 2 loại sợi khoáng là cần thiết để bảo vệ người lao động và sức khỏe hiệu quả
•Ngày nay, chỉ có chysotile được sử dụng với ứng dụng chính
trong sản phẩm ximang mật độ cao
•Tuy nhiên việc sử dụng tăng cường amphibole trong quá khứ
vẫn để lại hậu quả đến ngày nay
•Rủi ro ung thư do phơi nhiễm sợi amphibole dài là nghiêm trọng
•Khi không có sự công nhận loại sợi và sự khác nhau về khả năng gây bệnh, không thể đạt được việc phòng tránh sức khỏe và loại
bỏ các bệnh một cách hiệu quả
•Nếu amiang chrysotile được xử lý như amphibole thì việc ngăn chặn phơi nhiễm rất nguy hiểm từ amphibole trở nên gần như bất khả thi