QUY TẮC CHUNG Đái tháo đường cũng phải ăn uống để đảm bảo đủ năng lượng cho cơ thể hoạt động Chế độ ăn đái tháo đường cũng cần phải bảo đảm đủ cả về số lượng lẫn chất lượng, người đá
Trang 2CHẾ ĐỘ ĂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
TS BS TRẦN BÁ THOẠI
Trang 3Ô VUÔNG THỨC ĂN
Trang 4QUY TẮC CHUNG
Đái tháo đường cũng phải ăn uống để đảm bảo đủ năng lượng cho cơ thể hoạt động
Chế độ ăn đái tháo đường cũng cần phải bảo đảm đủ
cả về số lượng lẫn chất lượng, người đái tháo đường cũng cần phải ăn đủ no và cũng có quyền được ăn ngon,
ăn hợp khẩu vị miễn là phải theo đúng chế độ riêng của bệnh.
Không cần kiêng khem quá đáng và tuyệt đối không được nhịn hoặc bỏ bữa ăn
Nguyên tắc bắt buộc trong điều trị đái tháo đường là " có " có
ăn cơm mới được dùng thuốc"
ăn cơm mới được dùng thuốc"
Trang 57 QUY ĐỊNH PHẢI THEO
2 Ngưng (cấm) toàn bộ các thức ăn, thức uống có đường ngọt (sugary carbohydrate)
3 Cần ăn đủ lượng đường bột (tinh bột) cần thiết
để đảm bảo đủ năng lượng Thức ăn đường bột trong ngày nên chia nhỏ vào 3 bữa ăn; nếu cảm thấy đói giữa 2 bữa ăn chính, có thể dùng thêm 1 bữa ăn
cách dùng xen kẽ các loại bột củ rễ, ngũ cốc
Trang 6 4 Giảm đến mức tối thiểu lượng thức ăn chứa nhiều chất béo như:
các loại thịt nguội làm từ thịt heo, thịt mỡ, phó mát, dầu, khoai tây chiên
5 Nên ăn cá 2-3 lần trong tuần
vì cá đạm nhiều nhưng chất béo lại ít
6 Hạn chế tối đa uống rượu, bia
7 Ăn thêm các thức ăn có các chất xơ
như rau, củ, trái cây không ngọt
Trang 7*Đây là những nguyên tắc quy định khái quát chung.
*Mỗi bệnh nhân đều cần nghiên cứu để điều chỉnh, sắp đặt một chế độ ăn đúng cho riêng mình để đảm bảo điều trị bệnh thành công.
Trang 8CÂU ĐỐ
1.Loại đường gì ăn không thấy ngọt ?
2.Loại gì ăn ngọt nhưng không phải là đường?
3.Người ĐTĐ ăn được loại nào trong hai thứ trên?
Đường bột (tinh bột, bột ngũ cốc).
Chất tạo ngọt (đường hóa học).
ĐTĐ ăn được cả hai thứ trên.
Trang 9PHỤ LỤC
Trang 11CHỈ SỐ ĐƯỜNG HUYẾT (GI)
Chỉ số đường huyết (GI) là gì?
Thức ăn khi vào cơ thể được tiêu hóa thành những phân tử nhỏ rồi được hấp thu vào máu về gan và đến các cơ quan trong cơ thể, tất cả mọi loại thức ăn đều làm tăng đường máu ít hay nhiều.
Chỉ số đường huyết GI (glycemic index) là khả năng làm gia tăng đường huyết của một loại thực phẩm Chỉ
số đường huyết càng cao đồng nghĩa thực phẩm tiêu hóa, hấp thu nhanh và làm tăng glucose máu nhanh và ngược lại.
Trang 12 Phân loại thức ăn theo chỉ số đường huyết GI
Với chuẩn là đường glucose có GI chuẩn là 100.
-Thực phẩm có GI ≤ 55 là chỉ số đường thấp
Ví dụ: Nước táo, Đậu trắng, Đậu nành, Đậu phộng, Cà rốt, Fructose (có nhiều trong trái cây ít ngọt như Nho, Táo Bưởi, Xoài ).
-Thực phẩm có GI 56- 69 chỉ số đường trung bình
Ví dụ: Khoai tây nướng, Bánh sừng trâu, Dứa (thơm),
Mỳ sợi, Cam, Sữa chua…
-Thực phẩm có GI ≥ 70 là chỉ số đường cao
Ví dụ: Chà là, Mạch nha, Mật ong, Nước mía, Chuối, Bánh quy ngọt, Bánh mì trắng, Bánh gạo trắng….
Trang 14ĂN CHAY VÀ ĐTĐ
Bốn cách ăn chay
(1) chay tuyệt đối hoàn toàn thực vật (vegans),
(2) chay có sữa (lacto-vegetarians),
(3) chay có sữa và trứng (lacto-ovo-vegetarians) và
(4) chay linh hoạt hay chay tương đối (flexitarians, semivegetarians) cho phép ăn thêm thịt, cá
Trang 15
Ăn chay tốt cho ĐTĐ hay không?
*ĐTĐ là bệnh rối loạn chuyển hóa bột đường
phì và tăng huyết áp
“tuyệt vời”: vừa dinh dưỡng vừa hỗ trợ điều trị
khi chuyển sang chế độ ăn chay tuyệt đối đều có giảm lượng thuốc men điều trị và giảm cân Trong thức ăn chay thực vật nhờ có nhiều chất xơ, chất sợi, nhiều khoáng và vitamin nên có thêm khả năng giảm các biến chứng của đái tháo đường, đặc biệt biến chứng tim mạch và thận
Trang 16ĂN CHAY “ĐÚNG SÁCH”
trợ hay thực phẩm chức năng, không phải là thuốc nên không thể thay thuốc chữa bệnh
chất vi lượng cần thiết như vitamin B12, thiếu vitamin D và canxi, thiếu chất sắt và kẽm (các axít phytic, oxalic, tannic trong thực vật sẽ ngăn cản sự hấp thu sắt) Người ăn chay dễ dàng khắc phục bằng thực phẩm chay có trứng sữa, chay linh hoạt hoặc
bổ sung các vitamin và khoáng chất này
Trang 17 Ba là nếu ăn chay tuyệt đối, tránh sát sinh, với thực phẩm hoàn toàn là chất đường bột, cơ thể sẽ không thích ứng được với chế độ ăn “méo mó” này và bệnh đái tháo đường tăng lên GS.TS Nguyễn Hải Thủy và cộng sự nghiên cứu trên 328 nhà tu hành đạo Phật, những vị này ăn trường chay, loại chay tuyệt đối (vegans) với những thức ăn toàn thực vật như ngũ cốc, đậu phụ, các loại rau, trái cây, nấm thấy tỉ lệ bệnh đái tháo đường ở các nhà tu hành này cao gấp hai lần người bình thường Kết quả được giải thích:
do chế độ ăn chay không cân đối, toàn thực vật, không kiêng giảm chất đường bột là nguyên nhân gốc
rễ gây ra bệnh đái tháo đường.
Trang 18THỰC PHẨM CHỨC NĂNG VÀ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG
Thực phẩm chức năng là gì
là dinh dưỡng bổ sung (dietary supplement) là thực phẩm có liên quan, hỗ trợ cho công việc chữa bệnh,
hỗ trợ cho thuốc hay dinh dưỡng, nâng cao thể trạng trong khi chữa bệnh, còn bản thân lại không phải là thuốc
chất mà ranh giới giữa thực phẩm và dược phẩm không rõ ràng, ví dụ: bia, rượu vang, một số loại nấm, vitamin, khoáng chất…
Trang 19 Nguồn gốc của thực phẩm chức năng có thể là:
lớn: dầu gan cá omega 3, vitamin A; thực vật nhiều chất xơ, rong biển có nhiều iode …
“chế biến” ra thực phẩm chức năng được gọi là thực phẩm thuốc (alicaments, medical foods) hay dược phẩm dinh
dưỡng (nutraceutics)
Trang 20 Hội đồng Khoa học và Sức khỏe Hoa Kỳ đã chia thực phẩm chức năng ra 3 mức: đáng tin cậy nhất,
đủ độ tin cậy và chưa đủ tin cậy cần nghiên cứu thêm
đã có hơn 3.000 loại thực phẩm chức năng được cấp đăng ký và Cục Quản lý dược cấp đăng ký
nhờ công nghệ mới: sinh tổng hợp, enzym, công nghệ gien …tạo ra thức ăn cũng chính là vị thuốc
để bảo vệ sức khỏe
Trang 21 Bộ Y Tế đã có 3 định nghĩa rõ ràng:
(1) Thuốc: là chất hoặc hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vắc xin, sinh phẩm y tế Thuốc Tây (tân dược) hay thuốc Nam (đông dược) đều phải được sản
xuất tại các nhà sản máy sản xuất thuốc đạt tiêu chuẩn WHO (sản xuất thuốc tốt - chuẩn Tổ chức Y Tế Thế giới ) Thuốc không phải là thực phẩm, nên phải cẩn trọng khi dùng, phải đúng liều đúng lượng,
Trang 22
(2) Mỹ phẩm: một chất hoặc chế phẩm được sử
dụng để tiếp xúc với những bộ phận bên ngoài cơ
thể con người (da, hệ thống lông tóc, móng tay,
móng chân, môi và cơ quan sinh dục ngoài) hoặc
răng và niêm mạc miệng với mục đích chính là để làm sạch, làm thơm, thay đổi diện mạo, hình thức, điều chỉnh mùi cơ thể, bảo vệ cơ thể hoặc giữ cơ thể trong điều kiện tốt Mỹ phẩm không hề có tác dụng chữa bệnh hoặc thay thế thuốc chữa bệnh và
Trang 23(3) Thực phẩm chức năng: là thực phẩm dùng để
hỗ trợ chức năng của các bộ phận trong cơ thể người Thực phẩm chức năng có tác dụng dinh dưỡng, tăng sức đề kháng, hổ trợ cho thuốc điều trị Cũng như mỹ phẩm, thực phẩm chức năng chỉ hổ trợ và hoàn toàn không có tác dụng chữa bệnh hoặc thay thế thuốc
Trang 24Các giai đoạn của đái tháo đ ờng type 2
Taờng Glucose huyeỏt
Dung naùp glucose baỏt thửoứng
Giaỷm nhaùy caỷm vụựi Insulin
Taờng Insulin maựu, sau ủoự laứ suy teỏ baứo
Trang 25CÁC CHẾ ĐỘ ĂN
1 Kiểu châu Âu, giàu có: “Bia- Bơ-Thịt ”
nhiều Tăng huyết áp - Béo phì - Đái tháo đường
2 Kiểu Địa Trung Hải “Rượu chát-Dầu ôliu-Hải sản”
3 Kiểu các nước châu Á: “Trà - Cơm” Kiểu các nước châu Á: “Trà - Cơm”
4 Chế độ ăn Việt Nam đề nghị
ngũ cốc + dầu thực vật +cá và hải sản+rau xanh
giảm Huyết áp - Béo phì - Đái tháo đường
Trang 26CHẾ ĐỘ “NỘI ĐỊA” ĐẨY LÙI ĐTĐ
1.Đúng chế độ ĐTĐ
* 15% chất đạm, 35% chất béo, 50% chất đường bột
* ăn nhiều thức ăn chưa chất xơ và
2.Thứ tự món ăn
Nên dùng cá và rau trước sau đó dùng chất bột
Trang 27Tài liệu tham khảo:
care in diabetes—2012 Diabetes Care 2012;35(Suppl 1):S11– S63
estimates of the prevalence of diabetes for 2011 and
2030 Diabetes research and clinical practice 2011, 94:311 – 321
of hyperglycemia in type 2 diabetes: a patient-centered approach Position statement of the American Diabetes Association (ADA) and the lth and Clinical Excellence, 2009
Trang 28
European Association for the Study of Diabetes (EASD) Diabetes Care 2012;35:1364–1379
Clinical Diabetes 2010, 28 (3): 132-136
of hyperglycemia in type 2 diabetes: A consensus algorithm for the initiation and adjustment of therapy A consensus statement from the American Diabetes Association and the European Association for the Study
of Diabetes Diabetes Care 2006; 29:1963–72
Diabetes: NICE Clinical Guideline 87 National Institute for Health and Clinical Excellence, 2009
Trang 29KHUYẾN CÁO 2012
ADA VÀ EASD
VỀ ĐTĐ
Trang 30 ADA (HỘI ĐÁI THÁO ĐƯỜNG HOA KỲ)
American Diabetes Association
European Association for the Study of Diabetes
Trang 31A Patient - Centered Approach
* ADA và EASD đã thành lập nhóm chuyên trách để đánh giá và phát triển khuyến cáo điều trị bệnh nhân ĐTĐ2 không phải ĐTĐ trong thai kỳ
* Khuyến cáo của 2 hiệp hội này đã được áp dụng
rộng rãi ở Hoa Kỳ, Châu Âu và nhiều nước khác
Trang 321 Những điểm chính
phải được cá nhân hóa (phù hợp từng người)
cho bất kỳ chương trình điều trị ĐTĐ2 nào
là thuốc chọn lựa đầu tiên, tối ưu cho việc điều trị
uống hoặc chích insulin thêm vào là hợp lý nhằm
hạn chế tác dụng phụ
Trang 33 Cuối cùng, nhiều bệnh nhân cũng sẽ cần điều trị
insulin đơn thuần hoặc kết hợp với những thuốc
dạng uống khác nhằm ổn định mức glucose máu
nên dựa vào bệnh nhân, theo sự ưa thích, nhu cầu và các giá trị cá nhân khác của họ
trong tiến trình điều trị tích cực bệnh ĐTĐ 2
Trang 342 Mức đường huyết đích
ADA khuyến cáo hạ HbA1c < 7% trong hầu hết bệnh nhân, nhằm làm giảm tần suất bị các biến cố mạch máu nhỏ
bình 150-160 mg/dl, đường huyết đói và trước ăn
lý tưởng nên duy trì < 130 mg/dl và đường huyết sau ăn < 180 mg/dl
Trang 35 Mức đích HbA1c kiểm soát chặt hơn (6 - 6 5%)
có thể được xem xét cho một số bệnh nhân nếu
không gây hạ đường máu hoặc tác dụng phụ khác
của điều trị (như thời gian mắc bệnh ngắn, đời sống mong đợi dài, không có bệnh tim mạch có ý
nghĩa )
Ngược lại, mức đích HbA1c ít chặt hơn (7.5-8%) hoặc hơi cao hơn sẽ thích hợp cho những bệnh nhân
có tiền sử bị hạ đường máu nặng, đời sống mong đợi
bị giới hạn, nhiều biến chứng, nhiều bệnh kèm và ở những người mức đích khó đạt được mặc dù đã tích cực giáo dục việc tự chăm sóc
Trang 373.Khuyến cáo chung về điều trị
điểm chẩn đoán hoặc sớm ngay sau chẩn đoán (trừ khi
có chống chỉ định).
*Nếu mức đích HbA1c không đạt được sau 3 tháng, xem xét lựa chọn 1 trong 5 thuốc kết hợp với metformin đó là : sulfonylurea, TZD, ức chế DPP-4, đối kháng thụ thể GLP-1, hoặc chích insulin nền
*Những thuốc kích thích chế tiết insulin tác dụng nhanh (meglitinides) có thể sử dụng thay thế cho sulfonylureas
Những thuốc khác (ức chế α-glucosidase, colesevelam,
đồng vận dopamine, pramlintide) có thể sử dụng trên một
số bệnh nhân chọn lọc, tuy nhiên hiệu quả lại kém hơn
và/hoặc có các tác dụng phụ
Trang 38 Với những bệnh nhân không dung nạp hoặc bị
chống chỉ định dùng metformin, có thể chọn lựa
Trong trường hợp này, dù những thử nghiệm lâm sàng đã được đăng tải còn thiếu, nhưng việc xem xét kết hợp 3 thuốc khác ngoài metformin cũng được
cho phép Insulin hiệu quả hơn hầu hết các thuốc
khác và được xem như là thuốc lựa chọn hàng thứ 3, đặc biệt khi HbA1c rất cao ≥ 9%
Cần có chế độ điều trị insulin nền trước khi quyết định chuyển sang chế độ insulin phức tạp Có thể
điều trị tích cực, nhanh hơn bằng cách chuyển trực tiếp từ chế độ đơn trị hoặc kết hợp 2 thuốc sang chế
độ insulin nhiều liều một ngày ở những bệnh nhân có tăng đường huyết nặng HbA1c ≥ 10-12%
Trang 39 Điều trị kết hợp 2 thuốc có thể sử dụng ngay từ
Thuốc tác dụng nhanh kích thích chế tiết insulin không phải sulfonylureas (meglitinide) cần xem xét ở những bệnh nhân có chế độ ăn uống không đều đặn, giờ ăn không ổn định hoặc ở những bệnh
nhân có hạ đường huyết muộn sau ăn khi điều trị với nhóm thuốc sulfonylureas
Trang 40 Trong điều trị kết hợp 3 thuốc, chế độ insulin sử
dụng là insulin nền (Glargine, bán chậm NPH) kết hợp với các thuốc uống khác.
Chế độ này có thể dùng ngay từ đầu với những
bệnh nhân có tăng đường huyết nặng ≥ 300-350 mg/
dl, HbA1c ≥ 10-12% có hoặc không những
đặc điểm của tình trạng rối loạn chuyển hóa (sụt
cân, nhiễm toan ceton….)
Trang 424.Chiến lược dùng insulin trong ĐTĐ2
Insulin nền đơn thuần là chế độ ban đầu tối ưu,
nên bắt đầu với liều 0.1-0.2 UI/Kg tùy thuộc vào
mức độ tăng đường huyết
Thường dùng kết hợp với chế độ có 1-2 thuốc uống
Ở những bệnh nhân cần hơn 1 liều insulin mỗi ngày hoặc những người có HbA1c cao ≥ 9%, có thể xem xét chế độ insulin hỗn hợp (mixtard) được pha sẵn trước dùng 2 lần/ngày hoặc chế độ insulin nền kết
hợp với insulin trước bữa ăn (3 nhanh 1 chậm)
Khi insulin nền đã điều chỉnh đến mức đường máu đói ổn định nhưng HbA1c còn cao hơn mức đích,
cần xem xét dùng chế độ insulin nền kết hợp với 3 liều insulin nhanh ngay trước bữa ăn
Trang 43 Thuốc uống vẫn có thể tiếp tục điều trị kết hợp
ngoại trừ những thuốc kích thích tiết insulin
(sulfonylureas, meglitinide) phải ngưng một khi chế
độ insulin sử dụng đã vượt qua giai đoạn chỉ dùng insulin nền đơn thuần
độ ăn, vận động, tránh và nhận biết để xử trí nhanh
hạ đường huyết rất quan trọng cho tất cả bệnh nhân ĐTĐ đang được điều trị bằng insulin liệu pháp
Trang 45Nguồn tham khảo
Diabetes Care April 19, 2012
suckhoe.vn
dema-cvn.com