Thực tế mà nói, họ và tên cá nhân chưa phải là yếu tố quyết định để phân biệt cá nhân này với cá nhân khác trong mọi trường hợp, phải có các yếu tố như tuổi, giới tính, dân tộc, quê quán
Trang 1GIỚI THIỆU CHUNG
Như chúng ta đã biết, Họ là một phần trong tên gọi đầy đủ của một người để chỉ ra rằng người đó thuộc về dòng họ nào Trong các ngôn ngữ như tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Hà Lan và tiếng Pháp, người ta thường có hai tên hoặc nhiều hơn (tên
và tên đệm), và họ thông thường đứng ở cuối, điều này giải thích tại sao đôi khi
người ta gọi họ là last name (tên cuối) (Đôi khi nó được gọi không chính xác
là second name – tên thứ hai – điều này có thể gây nhầm lẫn với tên đệm)
Trong tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha người ta thông thường có một (hoặc nhiều) tên và hai họ
Việc đặt họ trong tên gọi hoàn chỉnh của một người nào đó không phải là hiện tượng phổ biến trên toàn thế giới Cụ thể, tên gọi đầy đủ của những người dânIceland, Tây Tạng và người dân trên đảo Java thông thường không có họ – những người nổi tiếng không có họ có thể kể đến là Suharto và Sukarno (xem Họ tên của người Indonesia) Ngoài ra, nhiều hoàng tộc cũng không sử dụng họ
Theo quan niệm của các quốc gia theo văn hóa pháp lý la tinh như Việt Nam thì họ, tên là một yếu tố trong thành phần lý lịch dân sự của một cá nhân
Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 quy định: Cá nhân có quyền có họ, tên Họ, tên của một người được xác định theo họ, tên khai sinh của người đó (Điều 26 Khoản 1)
Có thể nói, họ, tên và dân tộc là những đặc điểm nhân thân cơ bản, có tính ổn định, thể hiện nguồn gốc và huyết thống của mỗi cá nhân Do đó, đây là những đặc điểm nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân trong suốt cuộc đời, được xác định trên Giấy khai sinh và chỉ có thể thay đổi trong những trường hợp đặc biệt do pháp luật quy định
Việc nghiên cứu họ và tên của cá nhân cũng như những quy định của pháp luật xung quanh vấn đề họ và tên cá nhân có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc xác định được nhân thân của cá nhân và các thông tin khác liên quan đến cá nhân, góp phần quản lý kinh tế, chính trị, trật tự xã hội một cách hiệu quả
Trang 2NỘI DUNG
1 Họ và tên cá nhân
1.1 Khái niệm họ và tên cá nhân
Trước hết, cần hiểu cá nhân là gì?
Có thể hiểu, cá nhân là một thực thể sống, tồn tại trong xã hội loài người với tư cách thành viên Cá nhân được nhận biết về mặt vật chất bằng hình hài con người cụ thể và về mặt xã hội bằng các hoạt động giao tiếp trong khuôn khổ sinh hoạt xã hội hàng ngày
Về mặt pháp lý, cá nhân là thực thể có năng lực hưởng quyền, là chủ thể quan
hệ pháp luật
Trong cuộc sống dân sự, mỗi cá nhân đềucó quyền nhân thân và quyền tài sản;
sự hiện hữu vật chất của cá nhân là điều kiện duy nhất để cá nhân được hưởng tất cả các quyền đó [tài liệu tham khảo (TLTK) 2.2, trang 34]
Mỗi cá nhân trong xã hội là những thực thể khác nhau, có những đặc trưng khác nhau hình thành nên đặc điểm nhận dạng của họ Những điểm khác biệt đó hình thành nên “muôn hình vạn trạng” con người trong xã hội, tạo nên cuộc sống đầy màu sắc, phong phú, đa dạng mà pháp luật cần phải nhận dạng và điều chỉnh, nhằm đảm bảo quyền và nghĩa vụ chung nhất của con người, chủ thể xã hội
Vậy, làm sao để phân biệt được cá nhân này với cá nhân khác, cụ thể hơn là xác định địa vị pháp lý của họ trong xã hội?
Địa vị pháp lý của cá nhân được hình thành từ nhiều yếu tố Theo quan niệm được chấp nhận rộng rãi ở các nước theo truyền thống pháp luật dân sự thì những tếu
tố chính xếp thành hai nhóm: Nhóm yếu tố nhận dạng và Nhóm yếu tố thiết lập nhân thân pháp lý [TLTK 2.2, trang 34]
Như đã đề cập, họ và tên là một trong những yếu tố nhận dạng xác định đặc điểm nhân thân của một cá nhân
Khái niệm họ và tên: Họ và tên là những từ ngữ dùng để chỉ định một người
Đó là danh xưng bắt buộc mà một cá nhân phải có để phân biệt những cá nhân khác, nhất là khi được xướng lên ở nơi công cộng, để xưng hô trong các hoạt động giao tiếp
xã hội [TLTK 2.3, trang 23]
Họ và tên bao gồm hai phần:
- Họ: Để chỉ định nguồn gốc gia đình;
Trang 3- Tên: Để chỉ định một người là chủ thể duy nhất.
Mỗi quốc gia, dân tộc có hệ thống họ và tên khác nhau Ví dụ: Dân tộc BaNa không có họ; Dân tộc Vân Kiều trước đây không có họ, sau này lấy họ Hồ; Dân tộc Gié – Triêng họ và tên đàn ông khác đàn bà…[TLTK 2.1]
Thực tế mà nói, họ và tên cá nhân chưa phải là yếu tố quyết định để phân biệt
cá nhân này với cá nhân khác trong mọi trường hợp, phải có các yếu tố như tuổi, giới tính, dân tộc, quê quán…nhưng họ và tên là “phương tiện” phổ biến nhất mà một người sử dụng để giao tiếp và thực hiện các giao dịch giản đơn hàng ngày
Một số hình thức khác của họ và tên:
Khoản 3 BLDS 2005 quy định: Việc sử dụng bí danh, bút danh không được gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của người khác
Vậy bí danh, bút danh là gì?
- Bí danh: Là tên dùng thay tên thật để giữ bí mật Bí mật, hiểu theo nghĩa rộng nhất là tình trạng của một người được che giấu tung tích không chỉ đối với nhà chức trách hoặc với đối phương, kẻ thù địch trong quan hệ chính trị, quân sự, ngoại giao mà có thể cả đối với những đối tác bình thường trong giao tiếp xã hội
- Bút danh: Là tên ghi vào tác phẩm, bài viết, dùng làm tên tác giả Nói chung, gọi là bút danh, tên mà một người sử dụng trong sang tác văn học, nghệ thuật dùng để xác định tác giả của tác phẩm văn học, nghệ thuật được tạo ra [TLTK 2.3, trang 24]
Bên cạnh hai hình thức được quy định cụ thể trong BLDS 2005, cá nhân còn
có tên gọi khác như Biệt danh, nghệ danh
Trong hồ sơ lý lịch của cá nhân bao giờ cũng có một mục bên cạnh Họ và tên chính là “tên gọi khác” Đây chính là Biệt danh, là tên riêng khác với tên vốn có
Đây là tên gọi thông thường mà cá nhân sử dụng để giao tiếp trong xã hội mà không được sử dụng để thực hiện các giao dịch mà pháp luật có quy định như ký kết hợp đồng kinh tế; Tòa án cũng không được phép sử dụng biệt danh để tuyên án với một cá nhân nào đó…
Biệt danh thường hay gắn liền với đặc điểm của cá nhân như ngoại hình, nghề nghiệp, biệt tài…ví dụ như: Tư béo, Dũng xe ôm hay…
Đối với hoạt động nghệ thuật hay những công việc đòi hỏi kỹ năng nghề nghiệp hay kỹ xảo, biệt danh của cá nhân được gọi là nghệ danh Ví dụ: Nghệ danh của ca sĩ, diễn viên, nghệ nhân…
Trang 41.2 Việc sử dụng họ và tên ở một số quốc gia trên thế giới
1.2.1 Đối với các quốc gia dùng Tiếng Anh:
Một điều đáng ngạc nhiên là tất cả các họ có nguồn gốc Anh chỉ có một trong
4 dạng sau:
- Nghề nghiệp (ví dụ: Smith, Baker, Archer)
- Các đặc điểm cá nhân (ví dụ: Short, Brown, Goodman, Whitehead)
- Các đặc điểm về địa phương hay địa lý (Ví dụ: Scott, Hill, Rivers, Windsor)
- Lấy theo tổ tiên, thông thường dựa trên tên (Ví dụ: Richardson, James) hay
- nếu tính cả họ của những người có nguồn gốc Scotland - thị tộc (Ví dụ: Macdonald).Các dạng họ này miêu tả một cách tương ứng nghề nghiệp, đặc điểm cá nhân, khu vực/nguồn gốc và tổ tiên (thông thường là tên cha) của tổ tiên xa của những người mà cách đặt họ lần đầu tiên được áp dụng Tất nhiên, ý nghĩa nguyên thủy của tên gọi có thể ngày nay không còn ý nghĩa như thế (Ví dụ: Cooper = người làm thùng) Một vấn đề còn gây tranh luận là thể loại họ thứ 5 có liên quan đến tôn giáo, mặc dù một số họ trong đó cũng là nghề nghiệp (Ví dụ: Bishop)
Tại Mỹ, họ của nhiều người da đen có nguồn gốc từ sự chiếm hữu nô lệ Rất nhiều người trong số đó có họ là do trước đây các chủ nô đã đặt họ cho tổ tiên của những người đó Ngoài ra nhiều nô lệ sau khi được giải phóng đã tự đặt họ hay lấy họ của chủ cũ Rất nhiều người, chẳng hạn như Muhammad Ali và Malcolm X, thay đổi
họ của mình hơn là sống cùng với những cái họ mà chủ nô đã đặt cho tổ tiên của mình
Truyền thống bỏ họ của mình của người phụ nữ sau khi kết hôn để sử dụng họ của chồng có lịch sử lâu dài Trong những năm gần đây, nhiều phụ nữ đã giữ lại họ của mình kể cả sau khi đã lấy chồng Tuy nhiên, trong những gia đình như vậy thì con cái đa phần vẫn lấy theo họ của người cha Tại Mỹ, người phụ nữ thông thường
trở thành Mrs X (hay Bà X, với X là họ của người chồng) sau khi cưới, mặc dù gần đây các bà này còn được gọi như là Mrs Y X nhiều hơn (với Y là tên và X là họ của
chồng)
1.2.2 Các quốc gia dùng tiếng Pháp:
Tại các quốc gia dùng tiếng Pháp có những sự tương đồng với những quốc gia dùng tiếng Anh trong việc sử dụng họ Tuy nhiên, tại Pháp và Québec việc thay đổi
Trang 5họ sau khi kết hôn không còn được thừa nhận Những người muốn đổi họ sau khi kết hôn phải tuân theo cùng một thủ tục pháp lý như những trường hợp muốn đổi họ khác Nói cách khác, mặc dù một người có thể sử dụng họ kết hôn nhưng "họ luật định" của người đó là không thay đổi.
Họ của người Pháp thông thường được viết hoa, giống như là thông thường được viết cho họ của người Trung Quốc
Tại Pháp, cho đến ngày 1 tháng 1 năm 2005, trẻ em phải mang họ của người cha theo luật định Từ ngày này trở đi, Khoản 311-21 của Luật dân sự Pháp cho phép cha mẹ lấy họ cho con theo họ bố, mẹ hay kết hợp cả hai họ - nhưng không cho phép quá hai họ được kết hợp Trong trường hợp không thỏa thuận được thì họ của người cha được sử dụng Điều này làm cho luật pháp của Pháp phù hợp với tuyên ngôn năm 1978 của Liên minh châu Âu về việc yêu cầu các chính phủ thành viên có các biện pháp để chấp nhận quyền bình đẳng trong việc đặt họ, biện pháp này cũng được Liên hiệp quốc ủng hộ năm 1979 Các biện pháp tương tự cũng đã được chấp thuận ở Đức (năm 1976), Thụy Điển (năm 1982), Đan Mạch (năm 1983) và Tây Ban Nha (năm 1999)
1.2.3 Ireland (phiên âm tiếng Việt là Ai Len):
Nhiều họ ở Ireland có nguồn gốc Gaelic được biến đổi từ tên của cha hay tổ tiên, tên hiệu, hay các tên miêu tả
Trong nhóm thứ nhất có thể đưa vào các họ như Mac Murrough, Maguire, MacDermott, MacCarthy (tất cả đều biến đổi từ tên cha) hay O'Brian, O'Neill, O'Donnell, O'Toole (tên tổ tiên)
Các họ biến đổi từ tên hiệu gồm có: Docherty (dortach - gây tổn thương), Garvery (garbh - thô), Manton (mantach - sún), Duffy (dubh - đen, giống như tóc đen), Bane (ban - trắng, giống như tóc trắng), Finn (fionn - vàng hoe, giống như tóc vàng hay tóc hung), Kennedy (cennidie - đầu thô).
Các họ miêu tả gồm có: Carr (gearr - ngắn hay nhỏ), Joyce/Seoige (từ tiếng Wales sais có nghĩa là Saxon hay English), Kearney (ceithearnach - người có đôi chân vững chắc), Brehony (mac an Brehon - con trai của người am hiểu), Ward (mac
an Bard - con trai của thi sĩ).
Trang 6Ngược lại với nước Anh, rất ít họ Gaelic được biến đổi từ tên gọi của một khu vực Trong số những họ như vậy có thể nhóm lại thành một nhóm nhỏ, một số họ có thể là sự lai tạp của tên riêng hay họ Gaelic.
Trong những khu vực mà một họ nào đó là quá phổ biến, các tên gọi bổ sung được thêm vào mà đôi khi chúng tuân theo các mẫu cổ xưa Ví dụ, tại Ireland,
"Murphy" là một tên gọi cực kỳ phổ biến, các gia đình Murphy cụ thể nào đó có thể thêm tên hiệu, vì thế gia đình Denis Murphy được gọi là "những người thợ dệt" và Denis tự gọi mình là Murphy "thợ dệt" Xem thêm O'Hay
Vì những lý do như vậy, các tên hiệu (the Fada Burkes, có nghĩa là Burkes dài/cao), tên cha (John Morrissey Ned) hay họ thời con gái của mẹ (Kennedy trở thành Kennedy-Lydon) có thể trở thành các họ thông thường hay luật định Các gia đình người Ireland của "de Courcy Ireland" đã gọi mình như thế để phân biệt họ với những người họ hàng đã chuyển tới Pháp trong thế kỷ 17-18
Ngoài ra, những khu vực dùng Tiếng Ireland vẫn còn tuân theo các truyền thống cũ về việc đặt tên, họ theo tên, họ của cha, ông, cụ, kỵ v.v Ví dụ: Mike Bartly Pat Reilly (có nghĩa là Mike- con trai của Bartholomew- con trai của Pat Reilly), John Michel John Oge Pat Breanach (John-con trai của Michael- con trai của John trẻ- con trai của Pat Breanach), Tom Paddy-Joe Seoige (Tom- con trai của Paddy-Joe Seoige), Mary Bartly Mike Walsh (Mary- con gái của Bartly- con trai của Mike Walsh) v.v Thậm chí ngay những vùng dùng tiếng Anh, đặc biệt ở vùng nông thôn, đôi khi truyền thống này vẫn còn tồn tại
1.2.4 Iceland (phiên âm tiếng Việt là Ai – xơ – len)
Tại Iceland, phần lớn người dân không có họ; phần tên gọi cuối cùng trong tên gọi đầy đủ của một người được đặt theo tên người cha của người đó Ví dụ, ông Karl
có con gái tên là Anna và con trai tên là Magnús, thì tên gọi đầy đủ của hai người này
sẽ là Anna Karlsdóttir ("con gái của Karl") và Magnús Karlsson ("con trai của Karl")
1.2.5 Tây Ban Nha và các khu vực dùng tiếng Tây Ban Nha
Trong thời trung cổ, hệ thống lấy tên cha tương tự như hệ thống sử dụng
ở Iceland Ví dụ, Álvaro - con trai của Rodrigo - có tên gọi là Álvaro Rodríguez Con trai của ông ta - Juan - không phải là Juan Rodríguez, mà là Juan Álvarez Theo thời gian rất nhiều tên gọi theo kiểu này trở thành họ và chúng là những họ phổ biến trong thế giới dùng tiếng Tây Ban Nha Các nguồn khác của các họ là các đặc trưng hay
Trang 7thói quen cá nhân, nghề nghiệp, khu vực địa lý hay đặc trưng dân tộc: Delgado (mỏng), Moreno (sẫm); Molina (chủ cối xay), Guerrero (chiến binh); Alemán (Đức).
Tại Tây Ban Nha và một số quốc gia chịu ảnh hưởng của nền văn hóa này (các cựu thuộc địa của Tây Ban Nha), mỗi người có 2 họ (mặc dù trong một số hoàn cảnh chỉ có họ đầu tiên được dùng): họ thứ nhất là họ thứ nhất của người cha, họ thứ hai là
họ thứ nhất của người mẹ Phụ thuộc vào từng quốc gia, các họ này có thể (hoặc không) nối với nhau bằng chữ cái "y" (và) hay "de" (của) Tuy vậy, hiện nay nhiều người ở các nước Nam Mỹ chấp nhận cách đặt tên-họ theo kiểu Anh, vì thế họ có hai tên và một họ duy nhất
Ngày nay, ở Tây Ban Nha, phụ nữ khi lấy chồng vẫn giữ nguyên vẹn 2 họ của mình Trong một số tình huống người phụ nữ đó có thể được gọi đầy đủ như sau: tên + họ cha đẻ + họ cha chồng (thông thường được liên kết bằng chữ "de") Ví dụ, Ana García Díaz, khi lấy Juan Guerrero Macías, có thể gọi là Ana García de Guerrero, nhưng tập quán này (có từ thời trung cổ), đang bị suy tàn, và nó không có giá trị pháp
lý Các cặp vợ chồng có thể tự lựa chọn trật tự cho họ của con cái của mình: chúng hoặc giữ cách đặt họ truyền thống, như đã nói trong ví dụ (Guerrero García) là cách phần lớn mọi người đều theo, hay theo trật tự ngược lại (García Guerrero) Quyết định này phải duy trì cho tất cả mọi người con của cặp vợ chồng đó
1.2.6 Bồ Đào Nha và Brasil
Cách đặt họ của người Bồ Đào Nha ngược lại với cách đặt của người Tây Ban Nha Mỗi người có ít nhất 2 họ: họ đầu tiên là họ thứ hai của mẹ; họ thứ hai là họ thứ hai của cha Tên gọi đầy đủ của mỗi người có thể có nhiều nhất là 6 (2 tên và 4 họ -
có thể có 2 họ từ cha và 2 họ từ mẹ)
Tại Brasil quy tắc là tương tự, ngoại trừ duy nhất là hiện nay rất phổ biến đối với mỗi người là chỉ có một họ: họ thứ hai của cha
1.2 7 Khu vực Scandinavia
Tại khu vực Scandinavia các họ thông thường có nguồn gốc từ tên của cha Ví
dụ: họ của người Thụy Điển Karlsson (lưu ý là có 2 chữ s), có nghĩa là "con trai của
Karl" nhưng ngày nay Karlsson là một họ và cha của người mang họ này không nhất
thiết phải có tên là Karl Ở Đan Mạch và Na Uycác họ kết thúc với cụm từ -sen là phổ biến Ví dụ: Karlsen có nghĩa là "con trai của Karl" Các họ này ngày nay tương
tự như các họ khác ở nhiều quốc gia phương Tây khác
Trang 8Trước thế kỷ 19 đã tồn tại một hệ thống đặt tên-họ ở Scandinavia giống như ở Iceland ngày nay Tuy nhiên, các gia đình quý tộc, về nguyên tắc đã chấp nhận họ, có thể được nói đến như là tổ tiên thực sự hay được coi là như thế (ví dụ Earl Birger
Magnusson Folkunge) hay là phù hiệu của gia đình (ví dụ vua Gustav Eriksson Vasa)
Trong nhiều tên gọi của các dòng họ quý tộc còn tồn tại, chẳng hạn Cederqvist ("cành tuyết tùng") hay Stiernhielm ("mũ ngôi sao"), việc diễn giải theo kiểu ngày xưa đã lỗi
thời, nhưng tên gọi thì không thay đổi
Sau này, những người dân từ tầng lớp trung lưu của Scandinavia, chủ yếu là thợ thủ công và dân thành thị, đã lấy họ tương tự như của tầng lớp quý tộc
Các họ của người Thụy Điển như là Bergman, Holmberg, Lindgren,
Sandström và Åkerlund là rất hay gặp và phổ biến tới ngày nay Điều tương tự cũng
đúng với người Na Uy hay Đan Mạch
Các họ như thế thông thường chỉ tới nơi cư ngụ của gia đình Vì lý do này, Đan Mạch có tỷ lệ cao các tên gọi các họ được biến hóa từ các trang trại, được kèm
theo bằng hậu tố -gaard – cách phát âm hiện đại là gård, nhưng ở Thụy Điển, cách
phát âm thời cổ vẫn còn trong tên gọi của các họ
Cần phải nói thêm rằng, cho dù các họ là có nguồn gốc từ nguyên quán của chủ sở hữu, quyền sở hữu họ như thế không phải là chỉ thị của mối quan hệ họ hàng với những người khác cũng mang họ đó
1.2.8 Nga, Ukraina, Belarus và các nước cộng hòa Xô viết cũ:
Tại Nga, phần đuôi của họ phụ thuộc theo giới tính của người mang họ Tên gọi đầy đủ của người Nga, nói chung, gồm tên, họ và phụ danh (một dạng thức có biến đổi của tên người cha) Ví dụ, trong tên gọi "Aleksei Ivanovich Chekhov",
"Chekhov" là họ và "Ivanovich" là phụ danh; ta có thể suy ra cha của ông Aleksei này
có tên là "Ivan" Điều tương tự cũng đúng đối với Ukraina, Belarusvà các nước cộng hòa Xô viết cũ
Tại Nga, ngoài các thể loại họ như của người Anh, còn có một thể loại lớn về
họ khác: các họ có liên quan tới tôn giáo Các họ này dựa theo tên gọi của nhà thờ (ví
dụ Uspensky, Kazansky), hay biệt ngữ của các sinh viên trong các tu viện hoặc thậm chí là các từ trong tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp (ví dụ Gilyarov, có nguồn gốc từ tiếng Latinh hilarius).
Trang 91.2.9 Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Hungary và Việt Nam
Tại các nền văn hóa của người Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam và Hungary thì họ được đặt trước tên Vì thế các thuật ngữ trong tiếng Anh
như first name và last name dùng để chỉ tên, họ có khả năng gây nhầm lẫn.
Những người Trung Quốc sống tại Mỹ tự động sắp xếp lại tên, họ của mình khi viết bằng tiếng Anh để tránh hiểu nhầm
Tên gọi của người Triều Tiên và Việt Nam nói chung được sắp xếp theo trật tự Đông Á (họ trước, tên sau) ngay cả khi viết trong tiếng Anh Viết trong tiếng Anh, tên gọi của người Nhật Bản hiện nay thường theo kiểu phương Tây (tên trước, họ sau) trong khi tên gọi của những nhân vật lịch sử trước đây thì vẫn viết theo kiểu Đông Á Tên gọi của người Hungary khi viết trong tiếng Anh thì được viết theo kiểu phương Tây
Nói tóm lại, phương thức đặt tên họ cho cá nhân phụ thuộc văn hóa của mỗi vùng miền trên thế giới Để điều chỉnh quan hệ này, mỗi quốc gia đều có hệ thống pháp lý quy định về cách thức đặt họ, tên và những vấn đề liên quan đến họ và tên cá nhân dựa trên đặc điểm văn hóa và thực tiễn khách quan
1.3 Quy định của pháp luật Việt Nam về họ và tên
Luật về họ và tên là tập hợp các quy tắc chi phối việc đặt, thay đổi, sử dụng và bảo vệ họ và tên
Thực tiễn cho thấy, họ và tên là yếu tố quan trọng để xác định nhân thân, giá trị của một cá nhân Do đó, ngày nay, các nhà làm luật ở các nước tiên tiến có xu hướng can thiệp sâu vào việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về họ và tên
Có thể nói, hệ thống pháp luật về họ và tên ở Việt Nam, như đã nói ở trên mang nặng dấu ấn tục lệ Các quy định về họ và tên xuất hiện khá nhiều trong BLDS
1995 Từ khi xuất hiện chế định hộ tịch trong Luật Việt Nam, một số quy tắc quan trọng liên quan đến họ và tên đã bị cắt bỏ trong BLDS 2005, chỉ giữ lại một vài nguyên tắc trong khuôn khổ xác định nội dung của hệ thống quyền nhân thân
Như chúng ta đã biết, mỗi cá nhân đều có các quyền nhân thân và quyền này không thể tách rời khỏi chính bản thân cá nhân đó
Trang 10Về phương diện hộ tịch, quyền nhân thân bao gồm các quyền đối với họ, tên, quyền khai sinh khai tử, quyền đối với quốc tịch, quyền kết hôn, ly hôn, quyền xác định lại giới tính
Về phương diện tinh thần, đây là các quyền tự do tín ngưỡng, quyền tự do nghiên cứu sáng tạo, quyền đối với hình ảnh, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín, bí mật đời tư
Về phương diện xã hội, đó là các quyền tự do kinh doanh, quyền tự do đi lại,
cư trú, quyền lao động…
Vì sự gắn bó thiết thân trong đời sống hằng ngày của mỗi cá nhân như vậy, có thể nói quyền nhân thân gắn với mỗi con người như hình với bóng Do đó, quyền nhân thân luôn có hai tính chất:
Một là, không thể chuyển nhượng, bao gồm cả mua bán, tặng cho, thừa kế
(ngoại trừ trường hợp có sự thừa kế về quyền bảo vệ uy tín, danh dự và sự toàn vẹn tác phẩm của người quá cố hoặc đối với các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ, theo đó người thừa kế của người được bảo hiểm có quyền lãnh một số tiền bồi thường khi người được bảo hiểm chết;
Hai là, không thể tịch biên, nghĩa là, khác với quyền tài sản, quyền nhân thân
không bao giờ bịch tích thu hay kê biên Điều 24 BLDS quy định: “Quyền nhân thân được quy định trong bộ luật này là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho người khác, trừ trường hợp luật có quy định khác”
Họ và tên của một con người cũng không nằm ngoài đặc điểm của quyền nhân thân
Sau đây là một số quy định liên quan đến họ và tên cá nhân trong hệ thống pháp luật hiện hành:
1.3.1 Quyền và nghĩa vụ có họ và tên
Quyền có họ và tên: Nguyên tắc này được chính thừa nhận trong Khoản 1
Điều 26 BLDS 2005, quyền có họ và tên được hiểu như quyền được gọi, được xưng
hô, quyền tự xưng bằng họ và tên, trong quan hệ với người khác; quyền được phân biệt của một với các cá nhân khác bằng họ và tên Để thực thi quyền đó, cá nhân tự xưng bằng họ và tên của mình trong các hoạt động giao tiếp xã hội
Trang 11Việc sử dụng họ và tên còn được thực hiện trong cuộc sống dân sự phổ thông, không mang tính pháp lý, như trong quan hệ gia đình, quan hệ bè bạn, quan hệ xã giao.
Quyền có họ và tên không mất đi do thời hiệu, cũng không được xác lập vĩnh viễn do thời hiệu Một người không sử dụng họ và tên của mình một cách liên tục trong thời gian dài vẫn bảo tồn đầy đủ quyền có họ và tên không được sử dụng đó Mặt khác, việc một người sử dụng họ và tên không phải là thật của mình liên tục trong một thời gian dài không thể tự nó làm cho họ và tên đó trở thành họ và tên thật
Không chỉ có quyền có họ và tên, mỗi người còn có quyền đối với họ và tên của mình Trong chừng mực nào đó, quyền đối với họ và tên có những đặc điểm của quyền sở hữu: Người có một họ và tên có thể yêu cầu được bảo vệ, trong trường hợp
họ và tên của mình bị một người khác sử dụng Họ và tên còn được bảo vệ như những giá trị tinh thần: Người có một họ và tên có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại trong trường hợp họ và tên của mình bị bôi nhọ
Nghĩa vụ có họ tên: Song song với quyền là nghĩa vụ, nghĩa vụ có họ và tên
được xác lập chủ yếu trong mối quan hệ của cá nhân và nhà nước: Cá nhân phải có họ
và tên, vì điều đó cần thiết cho việc quản lý dân cư, cho việc quản lý hộ tịch và lý lịch
tư pháp của cá nhân
Như đã đề cập, họ và tên của một người là công cụ phân biệt người đó với những người khác Việc phân biệt con người, về phần mình, là một trong những điều kiện cần thiết cho sự tồn tại và vận hành của xã hội có tổ chức Sự phân biệt chỉ có thể được thực hiện một khi mỗi người có họ và tên xác định Bởi vậy, mỗi người có trách nhiệm có họ và tên
1.3.2 Sử dụng họ và tên:
Sử dụng họ tên thật: Theo BLDS Điều 26 Khoản 1, họ tên của một người được
xác định theo họ tên khai sinh của người đó và có nghĩa rằng họ tên thật của một người là họ tên được ghi nhận trên giấy khai sinh của người này Điều 26 Khoản 2 quy định rằng cá nhân xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự theo họ tên của mình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận điều này cho phép nghĩ rằng việc ghi nhận họ và tên của một người trên giấy khai sinh mang ý nghĩa của việc Nhà nước (pháp luật) công nhận việc đương sự mang họ và tên ấy
Trang 12Nghĩa là, Họ và tên thật của một người là họ và tên được Cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền công nhận và được ghi nhận trên giấy khai sinh của người đó
Áp dụng phương pháp suy lý nghịch đối với định nghĩa đó, ta xây dựng định nghĩa về họ và tên giả: Đó là họ và tên không được ghi nhận trên giấy khai sinh hoặc không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận
Theo BLDS điều 26 khoản 2 cá nhân xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân
sự theo họ và tên của mình đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận
Thực ra, cá nhân có nghĩa vụ sử dụng họ và tên thật của mình không chỉ trong việc xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự Cá nhân chỉ được phép sử dụng họ và tên khác, không phải là họ và tên được ghi trong chứng từ khai sinh, trong những trường hợp mà luật không cấm Đặc biệt, họ và tên thật phải được sử dụng trong các giấy tờ giao dịch với cơ quan nhà nước
Song, nguyên tắc sử dụng họ và tên thật, được thiết lập như trên, không cứng nhắc
Tục lệ Việt Nam thừa nhận rằng, người phụ nữ có chồng sẽ mang họ và tên chồng trong quan hệ với người ngoài gia đình Tục lệ này có nguồn gốc trong chế độ phụ quyền áp dụng đối với gia đình Việt Nam cổ xưa: Người cha trong gia đình là người duy nhất có quyền đại diện cho gia đình trước người thứ ba
Tục lệ hiện đại không còn coi việc người vợ mang tên chồng như là một nghĩa
vụ, nhưng tiếp tục thừa nhận quyền của người vợ sử dụng tên chồng trong các giao dịch xác lập với người ngoài gia đình Có trường hợp người vợ mang tên chồng cả khi tham gia vào các hoạt động chính trị hoặc các hoạt động của bộ máy nhà nước, chứ không chỉ khi xác lập các giao dịch dân sự hoặc thương mại Một khi người phụ
nữ được xã hội biết đến dưới họ tên chồng nhiều hơn dưới họ tên thật, thì tục lệ chấp nhận rằng họ tên chồng cũng là họ tên thật của người phụ nữ đó trong quan hệ xã hội Trong một số trường hợp đặc biệt, người phụ nữ nổi tiếng dưới tên chồng có quyền xác lập các giao dịch pháp lý dưới tên đó
Sử dụng bí danh, bút danh, nghệ danh của người nổi tiếng: Sử dụng bút danh,
bí danh, nghệ danh suy cho cùng, chỉ là những trường hợp đặc thù của việc sử dụng
họ tên giả Đơn giản, bút danh, bí danh, nghệ danh không phải là tên thật
Có những nhân vật được xã hội nhận biết bằng bí danh, bút danh nhiều hơn bằng họ và tên thật
Trang 13Trong trường hợp này, luật (đúng ra là thực tiễn áp dụng pháp luật) cho phép
cá nhân sử dụng bí danh, bút danh khi thực hiện các hoạt động trong lĩnh vực mà do những hoạt động trong lĩnh vực đó đương sự trở nên nổi tiếng dưới bí danh, bút danh của mình bao gồm cả các hoạt động mang tính giao dịch pháp lý
Ví dụ: Nhà hoạt động chính trị, nhà hoạt động xã hội khi giữ một chức vụ quan
trọng trong bộ máy nhà nước hoặc trong các thiết chế chính trị, xã hội, có thể ký bí danh, bút danh của mình trong văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản giao dịch chính thức của tổ chức
Không sử dụng họ tên: Việc sử dụng họ tên được coi là một nghĩa vụ trong các
trường hợp mà danh tính của cá nhân cần được làm rõ, điều đó cũng có nghĩa là trong các trường hợp không bị rằng buộc vào một nghĩa vụ pháp lý nào, cá nhân có quyền giao dịch mà không cần làm rõ danh tính của mình
Ví dụ điển hình là trường hợp tặng cho quỹ từ thiện của người không muốn nêu họ tên
Suy cho cùng, chính việc giao dịch mà không sử dụng họ tên lại được cá nhân thực hiện trong cuộc sống hằng ngày nhiều hơn các giao dịch được sử dụng họ tên
Ví dụ: Khi vào siêu thị mua hàng, gọi taxi để di chuyển, vào hàng quan để ăn
uống…, cá nhân có thể hoàn toàn mua nhanh đối với người bán hàng, người lái taxi
dù các giao dịch được xác lập vẫn có đầy đủ tính pháp lý và vẫn phát sinh hiệu lực: Người mua, người yêu cầu dịch vụ trả tiền và người bán, người cung ứng dịch vụ giao hàng hoặc thực hiện dịch vụ Nếu giao dịch diễn ra suôn sẻ, các bên có thể không bao giờ (và cũng không cần) biết rõ lai lịch của nhau
Nói chung, cá nhân có quyền tự do không để lộ danh tính của mình trong các mối quan hệ mang tính kết ước hoặc trong việc công bố một tác phẩm, miễn là việc
đó không gây phương hại đến lợi ích chung và lợi ích chính đáng của người khác
1.3.3 Quy định về việc đặt họ cho cá nhân:
Theo quy ước truyền thống ở tất cả các nền văn hóa pháp lý, họ trên nguyên tắc, là dấu hiệu của gia đình Bởi vậy, việc đặt họ cho một người dựa vào việc trả lời câu hỏi người này là con của ai (hay nôm na hơn là con cái nhà ai?) do cơ sở của việc đặt họ là quan hệ cha mẹ - con là lai lịch của cha và mẹ là một phần nội dung giấy khai sinh của cá nhân
Trang 14Tục lệ phổ biến thừa nhận nguyên tắc lấy họ cha Không thể xác định chính xác thời điểm mà việc con mang họ cha trở thành quy tắc của tục lệ mang tính nguyên tắc Tuy nhiên, có thể coi đây là một trong những hệ quả cơ bản của sự thống trị của mô hình gia đình tộc họ - phụ hệ có cha chung và việc mỗi thành viên gia đình mang họ cha là biểu hiện của nguồn gốc chung của các thành viên đó, tục lệ lấy
họ cha được thừa nhận ở tất cả các xã hội áp dụng chế độ gia đình phụ hệ
Trong một số cộng đồng dân tộc ít người ở Việt Nam có thể tồn tại tục lệ cho con lấy họ mẹ, tương ứng với chế độ thống trị của mẫu hệ Dẫu sao, tục lệ lấy họ mẹ không phổ biến; điều đó có nghĩa rằng tục lệ lấy họ cha mang tính nguyên tắc
Do nguyên tắc lấy họ cha mà:
1 Tất cả các con cùng cha đều có cùng một họ;
2 Họ được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác bởi những người có giới tính Nam Con gái cũng mang họ cha, nhưng không thể chuyển giao họ đó cho con trai của mình, nêu không có thỏa thuận khác giữa cha và mẹ của đứa con trai đó
Người làm luật, về phần mình, có vẻ như muốn để cho tục lệ chi phối việc đặt
họ
Trong BLDS năm 1995, nguyên tắc lấy họ cha không được xếp vào nhóm các quy phạm của luật mệnh lệnh Họ của trẻ sơ sinh là họ của người cha hoặc họ của người mẹ theo tập quán hoặc theo thỏa thuận của cha và mẹ (Điều 55 khoản 1) trong trường hợp không xác định được người cha thì họ của trẻ sơ sinh là họ của người mẹ (cùng điều luật) Quy tắc sau này cho phép nghĩ rằng trong trường hợp xác định được người cha thì trẻ sơ sinh sẽ ưu tiên mang họ cha Ta nói ra Luật có xu hướng tôn trọng sự thống trị của tục lệ trong việc đặt họ của cá nhân
Tuy nhiên, tục lệ của các dân tộc vẫn được duy trì trong việc đặt họ tên
Ví dụ: Dân tộc Ê Đê sống theo chế độ mẫu hệ nên con cái mang họ mẹ trừ
trường hợp có thỏa thuận khác
BLDS năm 2005 loại bỏ các quy định về hộ tịch, do đó, không giải quyết vấn
đề đặt tên Điều đáng tiếc là khi xây dựng và ban hành hệ thống quy định mới về hộ tịch vào cuối năm 2005 (nghĩa là BLDS mới được thông qua), Chính phủ cũng không
đề cập đến việc đặt họ cho một người, đặc biệt là khi tiến hành thủ tục khai sinh Hậu quả là, trong khung cảnh của luật viết, vấn đề đặt họ bị bỏ ngỏ