Tính cấp thiết của đề tài Công ước Viên năm 1980 CISG về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là một trong những công ước quốc tế về thương mại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất hiện
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN THỊ MAI
C¤NG ¦íC VI£N N¡M 1980
VÒ HîP §åNG MUA B¸N HµNG HãA QUèC TÕ
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi
có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Nguyễn Thị Mai
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời
cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG ƯỚC VIÊN NĂM 1980 VÀ ĐẶC ĐIỂM HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ 5
1.1 Tổng quan về Công ước viên năm 1980 5
1.1.1 Định nghĩa và mục đích của Công ước 5
1.1.2 Sơ lược về lịch sử Công ước Viên 1980 6
1.1.3 Quá trình tham gia Công ước viên 7
1.1.4 Thành công của Công ước viên 1980 9
1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo các nguồn 16
1.2.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 16
1.2.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 19
1.2.3 Nguồn luật điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 20
Chương 2: NỘI DUNG CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG ƯỚC ĐẾN HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 23
2.1 Nội dung của Công ước viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế 23
2.1.1 Về phạm vi áp dụng của Công ước 23
Trang 42.1.3 Về mua bán hàng hóa 28
2.1.4 Các quy định cuối cùng 37
2.2 Ảnh hưởng của Công ước viên năm 1980 đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam 47
2.2.1 Luật áp dụng cho hợp đồng 47
2.2.2 Hiệu lực của hợp đồng 48
2.2.3 Giao kết hợp đồng 49
2.2.4 Đề nghị giao kết hợp đồng 50
2.2.5 Chấp Nhận giao kết hợp đồng 51
2.2.6 Hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng 52
2.2.7 Hình thức của hợp đồng 54
2.2.8 Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng 56
Chương 3: SỰ CẦN THIẾT CỦA VIỆC VIỆT NAM GIA NHẬP CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ ĐỀ XUẤT VIỆC GIA NHẬP CỦA VIỆT NAM 60
3.1 Sự cần thiết của việc Việt Nam gia nhập Công ước viên 1980 60
3.1.1 Những lợi ích của việc Việt Nam gia nhập CISG 63
3.1.2 Bất lợi của Việt Nam khi tham gia Công ước Viên 73
3.2 Những đề xuất, kiến nghị về việc Việt Nam gia nhập Công ước viên năm 1980 76
3.2.1 Đề xuất Việt Nam nên tham gia Công ước Viên 1980 76
3.2.2 Đề xuất thời gian chuẩn bị phù hợp cho việc gia nhập CISG 79
3.3 Kiến nghị một số giải pháp cho việc Việt Nam gia nhập CISG 81
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
Trang 5Ủy ban châu Âu Hợp đồng mua bán hàng hóa Phòng Thương mại quốc tế Trung tâm Thương mại Quốc tế
Bộ luật thương mại thống nhất UNCITRAL: Ủy ban của Liên Hợp Quốc về Luật
thương mại quốc tế UNIDROIT:
XHCN:
Viện nghiên cứu quốc tế về thống nhất luật tư
Xã hội chủ nghĩa
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công ước Viên năm 1980 (CISG) về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc
tế là một trong những công ước quốc tế về thương mại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất hiện nay, với 83 nước thành viên (tính đến thời điểm hiện nay), ước tính CISG điều chỉnh khoảng 3/4 giao dịch thương mại quốc tế Công ước này đã thống nhất hóa và khắc phục được nhiều mâu thuẫn giữa các hệthống pháp luật khác nhau trên thế giới, đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết các xung đột pháp luật trong thương mại quốc tế và thúc đẩy thương mại quốc tế phát triển, đem lại sự công bằng cho các thương vụ mua bán quốc
tế
Đáng tiếc Việt Nam hiện nay vẫn chưa phải thành viên của CISG, hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam được tiếp xúc chưa nhiều, chưa có nhiều thông tin về CISG, và chưa được hưởng nhiều lợi ích rõ ràng từ Công ước này trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế của mình Việc nghiên cứu về Công ước này là hết sức cần thiết trong thời điểm hiện tại, khi mà nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới
Do đó, việc nghiên cứu đề tài: "Công ước Viên năm 1980 (CISG) về
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế" là cần thiết và có ý nghĩa lý luận, thực
tiễn quan trọng trong thời điểm hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu
Trên thế giới, hầu hết các cường quốc thương mại trên thế giới trong đó
có nhiều quốc gia là bạn hàng lớn và lâu dài của Việt nam đều đã gia nhập Công ước Viên như Pháp, Mỹ, Italia, Liên bang Nga, Canada, Đức, Hà Lan, Australia, Trung Quốc… còn tại khu vực châu Á là các quốc gia mới gia nhập như Hàn Quốc và Nhật Bản Việc Công ước Viên 1980 trở thành nguồn luật
Trang 7của tất cả những quốc gia này và được khuyến khích sử dụng cho mọi giao dịch thương mại quốc tế có thể thấy có ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam
Do đó, tác giả nghiên cứu luận văn mong muốn nghiên cứu, phân tích những nội dung cơ bản của CISG và đưa ra những đề xuất, kiến nghị về việc Việt Nam gia nhập Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và các giải pháp cụ thể cho việc Việt Nam gia nhập Công ước Viên năm
1980 thông qua đó thúc đẩy việc gia nhập Công ước viên năm 1980 của Việt Nam trong thời gian tới
3 Mục đích, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Mục đích nghiên cứu của luận văn: Nghiên cứu lãm rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ bản về ký kết hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, hàng hoá trong hợp đồng, việc chuyển rủi ro, bồi thường thiệt hại,…; Những đề xuất và kiến nghị về vấn đề Việt Nam gia nhập Công ước
viên năm 1980
- Về phạm vi nghiên cứu: Trong phạm vi đề tài thuộc chuyên ngành luật Tư pháp quốc tế, tác giả chủ yếu tập trung nghiên cứu những vấn đề cơ bản sau đây: Nghiên cứu những nội dung cơ bản của „Công ước Viên năm
1980 (CISG) về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế"; sự cần thiết của việc Việt Nam gia nhập Công ước viên 1980 (CISG) về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng như đề ra các giải pháp, những kiến nghị thúc đẩy việc gia nhập CISG của Việt Nam
4 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận chung của Luận văn là chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử Trên nền tảng phương pháp luận đó, tác giả áp dụng các phương pháp cụ thể như: Phương pháp hệ thống, thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp
Trang 85 Những đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Trong quá khứ, ngay tại thời điểm Công ước Viên bắt đầu có hiệu lực (năm 1989), ở Việt Nam những chuyên gia và các nhà nghiên cứu pháp luật
đã bắt đầu có những nghiên cứu về Công ước này và những lợi ích của Việt Nam khi tham gia Công ước Từ góc độ các cơ quan quản lý Nhà nước, cần phải kể đến nghiên cứu của TS Đinh Thị Mỹ Loan và các cán bộ nghiên cứu thuộc Vụ Pháp chế Bộ Ngoại thương (nay là Bộ Công Thương) về vấn đề này Nghiên cứu đã cho thấy những lợi ích nổi trội mà Công ước có thể mang lạicho hoạt động thương mại quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam cũng như cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam về lĩnh vực này Từ đó, nghiên cứu đã khuyến nghị Chính phủ Việt Nam nhanh chóng tham gia Công ước này Tiếc rằng sau đó, trong bối cảnh đổi mới kinh tế khó khăn, phức tạp, Chính phủ
đã không dành ưu tiên cho công việc này Gần đây hơn, năm 2007, trong khuôn
khổ Dự án "Nâng cấp Hệ thống pháp lý thương mại đa phương của Việt Nam" do Bộ Thương mại (nay là Bộ Công Thương) tiến hành với sự hỗ trợ
của Ủy ban châu Âu (EC), Trung tâm Thương mại Quốc tế (ITC), phối hợp vớicác Bộ ngành liên quan (Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp, Tổng Cục Hải quan, Đoàn Luật sư Hà Nội, Đại học Luật Hà Nội và Đại học Ngoại thương), nhóm nghiên cứu đã tiến hành rà soát khoảng 200 Điều ước thương mại quốc tế quantrọng trên thế giới và đánh giá khả năng Việt Nam tham gia các Công ước này Tuy nhiên, khi nghiên cứu CISG, học viên tiếp cận ở một góc độ
hoàn toàn mới cụ thể như:
Thứ nhất, Việt Nam vẫn cần tăng cường tham gia vào các điều ước
quốc tế đa phương quan trọng trong lĩnh vực thương mại Công ước Viên về mua bán hàng hóa quốc tế là một trong số các điều ước quốc tế đa phương quan trọng nhất mà Việt Nam được khuyến nghị phê chuẩn trong thời gian sớmnhất có thể
Trang 9Thứ hai, Khẳng định bản chất tiến bộ, dân chủ và ngày càng phù hợp
với thông lệ quốc tế của pháp luật dân sự Việt Nam điều chỉnh các quan hệ hợpđồng mua bán hàng hoá quốc tế Thông qua đó, đề cao vai trò của pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, góp phần ổn định các quan hệ xã hội dân sự, phục vụ tích cực công cuộc đổi mới đất nước
Thứ ba, Gia nhập Công ước không chỉ góp phần hiện thực hóa chủ
trương hội nhập quốc tế một cách tích cực, chủ động và toàn diện của Đảng vàNhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển nội tại của quan hệ kinh tế, thương mại
có yếu tố nước ngoài mà còn nâng cao vai trò của Việt Nam trong hoạt động hài hóa hóa pháp luật trong lĩnh vực tư pháp quốc tế
6 Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn:
Luận văn đã đã phân tích và làm rõ những nội dung cơ bản của Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và ảnh hưởng của Công ước đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của các doanh nghiệp Việt Nam Trên cơ sở đó, học viên đã đưa ra những đề xuất, kiến nghị về việc Việt Nam gia nhập Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và các giải pháp cụ thể cho việc Việt Nam gia nhập Công ước Viên năm 1980 thông qua
đó thúc đẩy việc gia nhập Công ước viên năm 1980 của Việt Nam
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương sau:
- Chương 1: Tổng quan về Công ước Viên 1980 và đặc điểm hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế
- Chương 2: Những nội dung của Công ước Viên 1980 về hợp đồng
mua bán hàng hóa quốc tế và ảnh hưởng của Công ước đến hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
- Chương 3: Sự cần thiết của việc Việt Nam gia nhập công ước Viên
1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và một số giải pháp cho việc gia nhập
Trang 10Chương 1
TỔNG QUAN VỀ CÔNG ƯỚC VIÊN NĂM 1980 VÀ
ĐẶC ĐIỂM HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ
1.1 Tổng quan về Công ước viên năm 1980
1.1.1 Định nghĩa và mục đích của Công ước
- Định nghĩa: Theo ngôn ngữ tập quán, Công ước Liên Hợp Quốc về mua bán hàng hóa quốc tế ("Công ước" hay là "CISG") là một hiệp ước hay bản hợp đồng có tính chất ràng buộc giữa các nước Nó thiết lập một loạt những quy tắc điều chỉnh những mặt cụ thể trong việc ký kết và thực hiện các hợp đồngthương mại giữa người bán và người mua mà trụ sở thương mại của họ ở các nước khác nhau Bằng việc thừa nhận nó, một nước sẽ cam kết với các nước khác cũng thừa nhận Công ước này sẽ thừa nhận các quy tắc của Công ước như một phần của pháp luật nước đó
- Mục đích: Mục đích của CISG là tạo thuận lợi và hiệu quả cho việc mua bán nguyên liệu thô, hàng tiêu dùng, hàng chế tạo trong thương mại quốc
tế Nếu không có Công ước sẽ có nhiều nguy cơ dẫn đến sự không chắc chắn và các tranh chấp Luật mua bán hàng hóa ở các nước khác nhau thì thường là khácnhau Trong giao dịch quốc tế, thường xảy ra vướng mắc về vấn đề luật nước nào sẽ điều chỉnh Khi vướng mắc này xảy ra, các bên sẽ không chắc chắn về quyền và nghĩa vụ của mình Sự không chắc chắn này tạo nên sự không hiệu quả và ý chí không tốt CISG chứa đựng các quy tắc điều chỉnh quá trình tạo lập và giải thích hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế Nó cũng cung cấp các quy tắc điều chỉnh nghĩa vụ và các biện pháp khắc phục của các bên trong giao dịch nói trên CISG không hạn chế sự tự do của người bán và người mua trong việc soạn thảo hợp đồng cho phù hợp với điều kiện của họ Nhìn chung, bạn được tự do sửa đổi các quy tắc của Công ước hoặc chấp nhận có áp dụng Công ước hay không
Trang 111.1.2 Sơ lược về lịch sử Công ước Viên 1980
Công ước Viên 1980 của Liên Hợp Quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (viết tắt theo tiếng Anh là CISG - Convention on Contracts for the International Sale of Goods) được soạn thảo bởi Ủy ban của Liên Hợp Quốc
về Luật thương mại quốc tế (UNCITRAL) với nỗ lực hướng tới việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế Việc thống nhất nguồn luật áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế đã được khởi xướng từ những năm 30 của thế kỷ 20 bởi UNIDROIT (Viện nghiên cứu quốc tế về thống nhất luật tư) Unidroit đã cho ra đời hai Công ước La Haye năm 1964 là:
- Công ước thứ nhất "Luật thống nhất về thiết lập hợp đồng mua bán quốc tế các động sản hữu hình", điều chỉnh việc hình thành hợp đồng (chào hàng, chấp nhận chào hàng);
- Công ước thứ hai "Luật thống nhất cho mua bán quốc tế các động sản hữu hình", đề cập đến quyền và nghĩa vụ của người bán, người mua và các biện pháp được áp dụng khi một hay các bên vi phạm hợp đồng
Tuy nhiên, trên thực tế hai Công ước La Haye năm 1964 rất ít được áp dụng Theo các chuyên gia, có 4 lý do chính sau đây:
- Hội nghị La Haye chỉ có 28 nước tham dự, có rất ít đại diện từ các nước XHCN và các nước đang phát triển, vì thế người ta cho rằng các Công ước này được soạn có lợi hơn cho người bán từ các nước tư bản;
- Các Công ước này sử dụng các khái niệm quá trừu tượng và phức tạp nên rất dễ gây hiểu nhầm;
- Các Công ước này có xu hướng thiên về thương mại giữa các quốc gia cùng chung biên giới hơn là thương mại quốc tế liên quan đến vận tải biển;
- Quy mô áp dụng của hai Công ước trên quá rộng, được áp dụng bất kể
có xung đột pháp luật hay không
Trang 12Năm 1968, trên cơ sở yêu cầu của đa số các thành viên Liên Hợp Quốc, UNCITRAL đã khởi xướng việc soạn thảo một Công ước thống nhất về pháp luật
áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế nhằm thay thế cho hai Công ước La Haye năm 1964 Công ước Viên ra đời, được soạn thảo dựa trên hai Công ước La Haye, song có những điểm đổi mới và hoàn thiện cơ bản Công ước được thông qua tại Viên (Áo) ngày 11 tháng 04 năm 1980 tại Hội nghị của
Ủy ban của Liên hợp quốc về Luật thương mại quốc tế với sự có mặt của đại diện của khoảng 60 quốc gia và 8 tổ chức quốc tế và có hiệu lực từ ngày
01/01/1988
1.1.3 Quá trình tham gia Công ước viên
Kể từ khi được ký kết vào năm 1980 đến nay, Công ước Viên đã trải qua 30 năm với nhiều dấu mốc trong việc mở rộng các nước thành viên Có thể tạm chia các làn sóng gia nhập CISG của các nước theo 4 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1 (1980-1988): Đây là giai đoạn 10 nước đầu tiên phê chuẩn
Công ước để đủ số lượng cho phép Công ước có hiệu lực 10 nước này là: Ai Cập, Argentina, Cộng hòa Ả Rập, Syrian, Hoa Kỳ, Hungary, Italy, Lesotho, Pháp, Trung Quốc, Zambia Có thể thấy trong số 10 nước thành viên đầu tiên Hoa Kỳ và Trung Quốc là hai thành viên rất đáng chú ý, vì Hoa Kỳ là nền kinh tế lớn nhất thế giới, và Trung Quốc là quốc gia đầu tiên của Châu Á tham gia CISG Tuy nhiên cả hai quốc gia này đều tuyên bố bảo lưu Điều 1.1(b), khiến mức độ áp dụng và ảnh hưởng của CISG tại hai quốc gia này giảm đáng kể
Giai đoạn 2 (1989-1993): Đây là làn sóng thứ 2 của việc gia nhập
Công ước, với 29 quốc gia, trong đó hầu hết là các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu, lần lượt hoàn thành các thủ tục phê chuẩn để tham gia Công ước Thời gian này cũng đánh dấu sự sụp đổ của hệ thống XHCN tại Nga và Đông
Âu, các nước này sau khi chuyển đổi nền kinh tế cũng đã nhanh chóng hòa
Trang 13nhập với xu thế chung của các nước Tây Âu gia nhập Công ước Viên (trong quá trình đàm phán Công ước Viên, Nga và các nước Đông Âu cũng đóng vai trò lớn trong việc soạn thảo, góp ý kiến tại các hội nghị, vì vậy việc tham gia nhanh chóng của các quốc gia này cũng không đáng ngạc nhiên) Đáng chú ý trong thời gian này có hai thành viên mới là Úc và Canada, hai nước có nền kinh tế khá phát triển và áp dụng hệ thống Thông Luật Việc tham gia của hai nước này đã khiến đại diện hệ thống Thông Luật trong CISG tăng lên và thu hút
sự chú ý của nhiều quốc gia khác
Giai đoạn 3 (1994-2000): Trong giai đoạn này rất nhiều nước đang
phát triển ở châu Phi và châu Mỹ, cũng như những quốc gia cuối cùng của EU (trừ Anh) như Bỉ, Ba Lan, Luxembourg, Hy Lạp đã hoàn thành các thủ tục phê chuẩn và gia nhập Công ước Singapore là nước ASEAN đầu tiên gia nhập CISG vào năm 1995 Luật pháp Singapore dựa trên cở sở nền tảng Thông luật của Anh, từ lâu đã được xem là luật quốc gia có tính chất trung dung, quy định chặt chẽ đầy đủ, và được nhiều doanh nhân ưa thích áp dụng cho hợp đồng thương mại quốc tế của mình Vì vậy, mặc dù khi gia nhập Singapore có bảo lưu điều 1.1(b) nhằm hạn chế áp dụng Công ước, việc tham gia CISG đánh dấu nỗ lực to lớn trong việc tham gia thống nhất hóa luật pháp thương mại quốc tế của quốc gia có nền kinh tế phát triển chủ yếu dựa trên thương mại quốc tế này
Giai đoạn 4 (2001-2010): Đây là giai đoạn mà nền kinh tế thế giới đã
chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ và sự tăng cường vai trò của các nước đang phát triển mới nổi, trong đó nổi bật là Trung Quốc, Braxin, và Ấn Độ CISG đã chứng kiến một thời kỳ trầm lắng từ năm 2001-2004 khi mà các vòng đàm phán trong khuôn khổ WTO đang diễn ra hết sức căng thẳng với sự xung đột về lợi íchgiữa các nước đang phát triển với nhiều đại diện mới nổi và các nước đã phát triển Trong giai đoạn này chỉ có 5 thành viên mới phê chuẩn
Trang 14Công ước là Saint Vincent và Grenadines, Colombia, Iceland, Honduras và Israel Năm 2005 chứng kiến sự gia nhập quan trọng của thành viên châu Á mới là Hàn Quốc, một trong 4 nước công nghiệp mới tại châu Á Sau nhiều năm tranh cãi về sự khác biệt giữa luật quốc gia và CISG, trong bối cảnh tại nước láng giềng Nhật Bản, phong trào vận động Nhật Bản tham gia Công ước ngày càng mạnh mẽ, các nhà làm luật tại Hàn Quốc cuối cùng đã được thuyết phục là việc áp dụng CISG sẽ giảm bớt tính không dự đoán trước của các giao dịch thương mại quốc tế của mình khi phải áp dụng luật của các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ và Đức Việc gia nhập của Hàn Quốc đã khởi động lại làn sóng nghiên cứu việc tham gia CISG tại các nước đang phát triển khác như Cyprus,Gabon, Liberia, Montenegro, El Salvador, Paraguay, Lebanon, Albania, Armenia Cuối cùng, năm 2009 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của CISG tại châu Á khi Nhật Bản, quốc gia có nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới và lớn nhất tại châu Á, cuối cùng đã trở thành thành viên chính thức của CISG mà không có bảo lưu nào Với sự kiện này, Anh sẽ là quốc gia phát triển thuộc khối G7+1 cuối cùng chưa gia nhập Công ước Viên Sau Nhật Bản, chắc chắn nhiều quốc gia khác ở châu Á và khu vực ASEAN sẽ cân nhắc việc sớm tham gia Công ước, để có thể áp dụng CISG cho các giao dịch thương mại quốc tế của mình một cách chủ động, khi mà các bạn hàng lớn đều đã là thành viên củaCông ước này
1.1.4 Thành công của Công ước viên 1980
Có hiệu lực từ ngày 01/01/1988, cho đến nay, CISG đã trở thành một trong các công ước quốc tế về thương mại được phê chuẩn và áp dụng rộng rãi nhất Trong phạm vi hẹp hơn, so với các công ước đa phương khác về mua bán hàng hóa (như các công ước Hague 1964), CISG là Công ước quốc tế có quy
mô lớn hơn hẳn về số quốc gia tham gia và mức độ được áp dụng Với 74 quốc gia thành viên, ước tính Công ước này điều chỉnh các giao dịch chiếm đến ba
Trang 15phần tư thương mại hàng hóa thế giới Trong danh sách 74 quốc gia thành viên của CISG, có sự góp mặt của các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau, các quốc gia phát triển cũng như các quốc gia đang phát triển, các quốc gia
tư bản chủ nghĩa cũng như các quốc gia theo đường lối xã hội chủ nghĩa nằm trên mọi châu lục Hầu hết các cường quốc về kinh tế trên thế giới (Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Canada, Australia, Nhật Bản…) đều đã tham gia CISG
Sự thành công của CISG được khẳng định trong thực tiễn với hơn 2500
vụ tranh chấp đã được Tòa án và trọng tài các nước/quốc tế giải quyết có liên quan đến việc áp dụng và diễn giải Công ước Viên 1980 được báo cáo Điểm cầnnhấn mạnh là 2500 vụ việc này không chỉ phát sinh tại các quốc gia thành viên Tại các quốc gia chưa phải là thành viên, Công ước vẫn được áp dụng, hoặc
do các bên trong hợp đồng lựa chọn CISG như là luật áp dụng cho hợp đồng, hoặc do các tòa án, trọng tài dẫn chiếu đến để giải quyết tranh chấp Nhiều doanh nhân tại các quốc gia chưa phải là thành viên CISG đã tự nguyện áp dụng CISG cho các giao dịch thương mại quốc tế của mình, bởi vì họ thấy được những ưu việt của CISG so với luật quốc gia
Vai trò của CISG còn thể hiện ở chỗ CISG là nguồn tham khảo quan trọng của Bộ nguyên tắc UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế (PICC)
và Các nguyên tắc của Luật Hợp đồng Châu Âu (PECL) Trên cơ sở nền tảng của CISG, các nguyên tắc này đã trở thành các văn bản thống nhất luật quan trọng về hợp đồng, được nhiều quốc gia và doanh nhân tham khảo và sử dụng trong các giao dịch thương mại quốc tế
Năm 2008 đánh dấu sự thành công mới của CISG tại Châu Á, khi mà Nhật Bản tham gia Công ước này Với ảnh hưởng mạnh mẽ và rộng lớn về thương mại hàng hóa của Nhật Bản ở Châu Á và trên thế giới, các chuyên gia
dự báo việc Nhật Bản, nền kinh tế hùng mạnh nhất Châu Á gia nhập CISG sẽ kéo theo nhiều hồ sơ gia nhập hay phê chuẩn từ các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia Châu Á
Trang 16Theo các chuyên gia và các doanh nghiệp, có nhiều yếu tố lý giải tại sao CISG lại là một trong những Công ước thống nhất về luật tư thành công nhất:
Thứ nhất, CISG được soạn thảo và thực thi dưới sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc- tổ chức quốc tế liên chính phủ lớn nhất hành tinh
Được Liên Hợp Quốc bảo trợ soạn thảo và thực thi, CISG không chỉ tạo được sự tin cậy từ phía các quốc gia (trong quá trình soạn thảo) mà còn nhận được sự tin tưởng từ đông đảo doanh nghiệp (trong quá trình thực thi) Đây là yếu tố rất cần thiết đối với một văn bản nhất thể hóa pháp luật về một vấn
đề quan trọng và vốn có nhiều khác biệt giữa các quốc gia, chủ thể có tập quán khác nhau
Thứ hai, cách thức soạn thảo CISG cho thấy những nỗ lực thực sự trong việc tạo ra các quy phạm thực chất thống nhất về mua bán hàng hóa quốc tế
Đại diện của các quốc gia thuộc các hệ thống pháp luật khác nhau (Dân luật, Thông luật - đặc biệt là đại diện của Hoa Kỳ và Anh), tại các châu lục khác nhau, có chế độ kinh tế- chính trị khác nhau (các nước xã hội chủ nghĩa và
tư bản chủ nghĩa, các nước phát triển và các nước đang phát triển) đã được mời tham gia vào việc soạn thảo các điều khoản của Công ước này
Các tài liệu lịch sử về các phiên làm việc khác nhau của UNCITRAL cho thấy quá trình đàm phán để soạn thảo CISG đã trải qua rất nhiều khó khăn do
sự khác biệt của pháp luật của các quốc gia cũng như những mối quan tâm khác nhau của các quốc gia này khi tham gia vào việc soạn thảo một công ước thống nhất luật thực chất như CISG Mỗi quy định trong văn bản cuối cùng đều là kết quả của quá trình thảo luận chi tiết, với việc xem xét đầy đủ và hợp lý các yêu cầu, tập quán thương mại của các bên
Ví dụ như một chào hàng có bắt buộc phải có giá xác định trước hay không? Đây là câu hỏi mà các đại diện của Civil Law và Common Law đã có
Trang 17những tranh cãi rất gay gắt Đại diện của Pháp và CHLB Đức cho rằng giá cả cần phải được xác định trước hoặc có thể xác định trước (có các yếu tố để xác định giá) Trong khi đó, theo luật các nước Common law (Anh, Hoa Kỳ), nếu bên chào hàng chưa đưa ra giá trong hợp đồng thì điều này không ảnh hưởng đến hiệu lực của chào hàng Giá của hợp đồng sẽ được xác định theo giá hợp lýtrên thị trường vào thời điểm giao hàng
Để hài hóa hóa các quy phạm xung đột của hai hệ thống Civil law và Common law, các nhà soạn thảo CISG đã phải rất khéo léo bằng cách đưa ra 2 điều khoản về xác định giá trong hợp đồng mua bán Điều 14 đòi hỏi giá cả phải được quy định rõ ràng hay cần phải xác định được theo các điều khoản trong chào hàng, trong khi đó, điều 55 lại quy định rằng nếu các điều kiện về giá cả theo điều 14 không được thỏa mãn thì hợp đồng vẫn có hiệu lực và giá của hợp đồng được hiểu là giá trên thị trường vào thời điểm giao hàng, tại địa điểm giao hàng Như vậy, Công ước Viên 1980, một mặt, yêu cầu một chào hàng bắt buộc phải có giá có thể xác định được, mặt khác, đưa ra quy định căn cứ xác định giá cho các hợp đồng mà giá cả chưa được xác định Quy định này là phù hợp với thực tiễn thương mại quốc tế khi mà các hợp đồng có giá mở (open price contract) ngày càng phổ biến
Một điều đáng lưu ý khác là trong quá trình soạn thảo Công ước cũng như ngay trong nội dung Công ước, các soạn giả luôn nêu cao tính chất quốc tếcủa Công ước và vì thế, cố gắng dùng ngôn ngữ trung tính, đơn giản, tránh sử dụng các khái niệm riêng của từng hệ thống luật của các quốc gia Để tránh tối đaviệc tham chiếu luật pháp quốc gia, ngay trong Điều 7 của Công ước các soạn giả cũng đưa yêu cầu việc diễn giải và áp dụng CISG phải cân nhắc tính chất quốc tế của nó và yêu cầu thúc đẩy sự thống nhất hóa trong việc diễn giải Công ước và tuân thủ nguyên tắc "thiện chí" trong thương mại quốc tế
Với cách thức soạn thảo như vậy, các điều khoản của CISG thể hiện
Trang 18được sự thống nhất, hài hòa các quy phạm khác nhau trong pháp luật của các
quốc gia tham gia soạn thảo, phản ánh được mối quan tâm chung của các quốc gia này
Thứ ba, nội dung của CISG được đánh giá là hiện đại, linh hoạt, phù hợp với thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế
Nhìn chung, các chuyên gia đánh giá CISG là tập hợp các quy phạm khá hiện đại, thể hiện được sự bình đẳng giữa bên mua và bên bán trong quan hệ mua bán hàng hóa quốc tế
Các quy phạm này cũng phù hợp với thực tiễn mua bán hàng hóa quốc tế
do được soạn thảo dựa trên một nguồn luật quan trọng là các tập quán thươngmại quốc tế, trong đó có các Incoterms của ICC
Điều này được thể hiện, ví dụ, ở các điều khoản từ Điều 66 đến Điều 69 quy định rất chi tiết về chuyển rủi ro- một câu hỏi đặc biệt quan trọng trong mua bán hàng hóa quốc tế Những giải pháp mà Công ước Viên 1980 đưa ra là khá hợp lý, hiện đại Hoặc các quy định về thời hạn hiệu lực của chào hàng, về các điều khoản chủ yếu của hợp đồng, về các trường hợp được hủy hợp đồng, về khái niệm vi phạm cơ bản…, đều được soạn thảo nhằm tạo sự phù hợp ở mức cao nhất với thực tiễn hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Đặc biệt, tính linh hoạt của các quy phạm là một trong yếu tố tạo nên
sự thành công của CISG Sự linh hoạt này thể hiện trước hết ở quy định tại Điều 6 CISG, theo đó, hầu hết các điều khoản của CISG đều là các điều khoản tùy nghi, nghĩa là các bên trong hợp đồng có thể thỏa thuận khác so với các quy định tại các điều khoản đó Hơn nữa, Điều 6 cho phép các bên loại trừ việc áp dụng Công ước cho hợp đồng của mình, ngay cả khi các bên là doanh nghiệp tại các quốc gia thành viên của Công ước Quy định "mềm dẻo" này tạođiều kiện để các thương nhân có quyền tự do thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng cũng như lựa chọn cho mình nguồn luật áp dụng phù hợp nhất
Trang 19trong trường hợp họ thấy rằng một/một số các quy định của CISG là chưa phù hợp đối với họ (ví dụ trong những lĩnh vực đặc thù, đối với những hàng hóa đặc thù).Ngoài ra, nhiều điều khoản cụ thể của Công ước cũng có cách tiếp cận rất linh hoạt để phù hợp với thực tiễn rất phong phú về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Ví dụ về thời hạn hiệu lực của chào hàng, CISG quy định tại Điều 18 khoản 2 rằng nếu trong đơn chào không quy định thì thời gian hiệu lực được xác định là một thời gian hợp lý (reasonable time) Đó là thời gian cần thiết thông thường để chào hàng đến tay người được chào hàng và thời gian để người này trả lời chào hàng đó, tuỳ theo tính chất của hợp đồng, khoảng cách giữa hai bên và có tính đến các phương tiện chào hàng khác nhau (thư, telex, fax, thư điện tử…) Thật vậy, sẽ là không hợp lý nếu đưa ra một thời hạn chào hàng chung cho các loại chào hàng với tính chất phức tạp khác nhau, với các mặt hàng khác nhau (từ các sản phẩm nhanh hỏng như rau hoa quả cho đến máy móc thiết bị), cũng như cho các giao dịch khác nhau mà khoảng cách địa lý giữa các bên là khác nhau Việc đưa ra một thời hạn hợp lý thể hiện sự linh hoạt và khả năng phù hợp của quy phạm này với các giao dịch mua bán hàng hóa có tính chất khác nhau
Thứ tư, CISG có được sự ủng hộ rất lớn từ phía các trọng tài quốc
tế đối với CISG trong nhiều vụ tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế thể hiện chủ yếu thông qua việc dẫn chiếu CISG như một lựa chọn ưu
Trang 20tiên cho việc giải quyết các tranh chấp này khi các bên không lựa chọn luật áp dụng Điều này cho thấy trong đánh giá của nhiều trọng tài,CISG là một nguồn luật thích hợp để giải quyết thỏa đáng tranh chấp Thêm nữa, CISG cũng thường được các trọng tài áp dụng theo Điều 1.1.b của Công ước Sự ủng hộ này của các trọng tài quốc tế khiến cho việc áp dụng Công ước ngày càng rộng rãi hơn,đặc biệt khi mà phương thức giải quyết tranh chấp bằng trọng tài ngày càng phố biến hơn
ICC thể hiện sự ủng hộ của mình đối với văn bản thống nhất luật này bằng việc đưa CISG vào điều khoản luật áp dụng mẫu có trong Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế mẫu của ICC Điều 1.2 của phần "Những điều khoản chung" (General Conditions) về luật áp dụng đã dẫn chiếu trực tiếp đến CISG Nhờ việc dẫn chiếu đến CISG mà khi soạn thảo hợp đồng, các bên chỉ cầnthống nhất các nội dung tại phần "Những điều khoản riêng" (Specific
Conditions), bao gồm các vấn đề liên quan trực tiếp đến từng giao dịch mua bán cụ thể (hàng hóa, giá cả, điều kiện giao hàng, phương thức thanh toán, các chứng từ cần cung cấp) và một số vấn đề mà CISG chưa đề cập tới (như điều khoản phạt vi phạm hợp đồng, điều khoản quy định giới hạn trách nhiệm của các bên, điều khoản quy định về thời hiệu hay dự kiến một nguồn luật bổ sung cho CISG đối với những vấn đề không nằm trong phạm vi điều chỉnh của CISG) Tất cả những vấn đề khác đều được điều chỉnh bởi CISG ICC cũng nêu nêu rõ khuyến nghị của mình đối với các bên soạn thảo hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế là không nên lựa chọn một luật quốc gia làm luật
áp dụng thay cho CISG
Hợp đồng mẫu này cung cấp một khung pháp lý có thể áp dụng đối với mọi giao dịch mua bán hàng hóa, đặc biệt là các hàng hóa được sản xuất nhằm mục đích bán lại Mục đích của Hợp đồng mẫu của ICC là đơn giản hóa quá trình soạn thảo hợp đồng cũng như giải quyết các tranh chấp liên quan
Trang 21Qua nghiên cứu của các chuyên gia, với sự ảnh hưởng và uy tín của ICC đối với các doanh nghiệp, các hợp đồng mẫu này đã được tham khảo và sử dụng rấtrộng rãi trong mua bán hàng hóa quốc tế Hầu hết các vặn phòng tư vấn luật
và các luật chuyên gia pháp lý trong các doanh nghiệp đều có mẫu hợp đồng này của ICC để tham khảo và tư vấn cho doanh nghiệp Điều này là một yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy việc áp dụng CISG tại các doanh nghiệp
1.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo các nguồn
1.2.1 Khái niệm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Cơ sở pháp lý của việc mua bán hàng hoá chính là hợp đồng Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế (MBHHQT) trước hết là một hợp đồng mang đầy đủ đặc trưng của một hợp đồng mua bán hàng hoá, nhưng có thêm yếu tố quốc
tế Tính quốc tế của hợp đồng MBHHQT có thể được xác định bằng nhiều cách, được công nhận cả trên phạm vi luật pháp quốc tế và phạm vi luật pháp quốc gia Việc xác định yếu tố quốc tế này căn cứ vào nơi kinh doanh hoặc nơi thường trú của các đối tác, hay những tiêu chuẩn tổng quát hơn như việc đánhgiá hợp đồng "có quan hệ quan trọng tới nhiều quốc gia", "liên quan đến sự lựa chọn giữa luật của các nước khác nhau", hoặc "có ảnh hưởng đến các quyền lợi trong buôn bán quốc tế" Theo giả định của nguyên tắc hợp đồng thương mại quốc tế (PICC- Principles of International Commercial
Contracts) thì quan điểm về các hợp đồng "quốc tế" nên được giải thích theo nghĩa rộng nhất, để loại trừ những trường hợp không liên quan đến yếu tố quốc tế, ví dụ khi tất cả các yếu tố cơ bản của hợp đồng chỉ liên quan đến một quốc gia cụ thể
Điều 1 Công ước La Haye 1964 về mua bán hàng hoá quốc tế những tài sản hữu hình, hợp đồng MBHHQT được định nghĩa: "Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là hợp đồng, trong đó các bên ký kết có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau, hàng hoá được chuyển từ nước này sang nước khác, hoặc
Trang 22việc trao đổi ý chí kí kết hợp đồng giữa các bên ký kết được thiết lập ở các nước khác nhau" Công ước Viên 1980 của Liên hợp quốc về hợp đồng
MBHHQT đã gián tiếp định nghĩa loại hợp đồng này khi quy định trong Điều 1:
"Công ước này áp dụng đối với những hợp đồng mua bán hàng hoá được
ký kết giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau"
Ở Việt Nam, Luật Thương mại 1997 đề cập đến "hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài" ở Điều 80, và chỉ đề cập đến những điểm khác biệt của loại hợp đồng này thông qua sự khác biệt trong quốc tịch củacác chủ thể tham gia hợp đồng: "hợp đồng mua bán hàng hoá với thương nhân nước ngoài là hợp đồng mua bán hàng hoá được ký kết giữa một bên là
thương nhân Việt Nam với một bên là thương nhân nước ngoài" Luật
Thương mại Việt Nam 2005 cũng chỉ đưa ra quy định hình thức hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là "thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương" (Điều 27.2)
Việc đưa ra một khái niệm rõ ràng, chính xác cho hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế chưa được quan tâm thích đáng trong khoa học pháp lý Việt Nam Điều này có thể do Việt Nam mới tham gia vào các hoạt động thương mạiquốc tế và trong thực tiễn chưa có vụ tranh chấp nào liên quan đến việc xác định luật áp dụng, căn cứ vào tính quốc tế cuả hợp đồng Một số tác giả đã đưa
ra khái niệm cho hợp đồng này trên tinh thần của các công ước quốc tế, các vănbản pháp luật mà Việt Nam đề cập Tiến sỹ Phan Thị Thanh Hồng
- Đại học KT Đà Nẵng đưa ra khái niệm:
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thoả thuận ý chí g i
ữa c á c t h ư ơ n g n h â n c ớ t r ụ s ở k i n h d o a n h đ ặ t ở c á c q u ố c g i a khácnhau, theo đó một bên gọi là Bên xuất khẩu có nghĩa vụ g i a o h à n g
v à c h u yể n q u yề n s ở h ữ u h à n g h o á c h o b ê n k h á c g ọ i l à B ên n h ập k h
ẩu v à n h ận t h an h t o án Bên n h ập k h ẩu có n g h ĩ a v ụ t h a n h t o á n c h o
b ê n x u ấ t k h ẩ u , n h ậ n h à n g v à q u yề n s ở h ữ u h à n g h o á t h eo t h o ả t h u
ận
Trang 23Một khái niệm khá phổ biến nữa là của ông Vũ Hữu Tửu-giảng viên cao cấp, già giáo ưu tú Đại học Ngoại Thương Hà Nội thì:
Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, còn gọi là hợp đồng xuất nhập khẩu hoặc hợp đồng mua bán ngoại thương là sự thoả thuận giữa các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là bên xuất khẩu (Bên bán) có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của một bên khác gọi là bên nhập khẩu (Bên mua) một tài sản nhất định gọi là hàng hoá; bên mua có nghĩa
vụ nhận hàng và trả tiền hàng …
Như vậy, ta có thể hiểu hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là sự thống nhất về ý chí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá có yếu tố nước ngoài mà thông qua đó, thiết lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền và nghĩa
vụ pháp lý giữa các chủ thể đó với nhau
Yếu tố nước ngoài trong hợp đồng mua bán hàng quốc tế được biểu hiện:
- Các bên tham gia giao kết hợp đồng MBHHQT là các thương nhân có quốc tịch khác nhau (nếu chỉ xác định tính quốc tế bằng cách này thì gặp nhiều khó khăn và đôi khi không xác định được do pháp luật của nhiều quốc gia khác nhau xác định quốc tịch của pháp nhân không giống nhau) và có trụ sở thương mại ở các nước khác nhau (đây là cách xác định theo Công ước
Viên 1980 được áp dụng rất phổ biến);
- Hàng hóa - đối tượng của hợp đồng được dịch chuyển qua biên giới quốc gia hoặc giai đoạn chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được thiết lập ở các nước khác nhau;
- Nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc chuyển giao quyền sở hữu về hàng hoá từ người bán sang người mua ở các nước khác nhau;
- Đồng tiền thanh toán trong hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế là ngoại tệ đối với ít nhất là một bên trong quan hệ hợp đồng;
Trang 24- Luật điều chỉnh hợp đồng là luật quốc gia, các điều ước quốc tế và các tập quán quốc tế khác về thương mại và hằng hải
1.2.2 Đặc điểm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
- Bản chất của hợp đồng là sự thoả thuận có ý chí giữa các bên giao kết Đây là đặc trưng rất cơ bản của một hợp đồng nói chung
- Chủ thể của hợp đồng là bên bán và bên mua là các thương nhân có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau Nếu các bên không có trụ sở kinh doanh thì sẽ căn cứ vào nơi cư trú của họ Việc căn cứ vào quốc tịch của cá nhân ít được sử dụng do không phổ biến và đôi khi gặp khó khăn ví dụ hai người trực tiếp ký vào hợp đồng đều mang quốc tịch Việt Nam nhưng đại diện cho các bên có trụ sở kinh doanh đặt tại các quốc gia khác nhau, và hợp đồng này vẫn là hợp đồng MBHHQT
- Đối tượng của hợp đồng là hàng hoá phải qua biên giới quốc gia (biên giới hải quan) hay giai đoạn chào hàng và chấp nhận chào hàng có thể được thiết lập ở các nước khác nhau; hoặc hàng hoá không phải qua biên giới nhưng hàng được các tổ chức quốc tế dùng ở lãnh thổ Việt Nam (sứ quán, công trình đầu tư nước ngoài…) Thuật ngữ "biên giới hải quan" được sử dụng xuất phát từ thực tiễn hình thành các kho ngoại quan, các khu chế xuất, các đặckhu kinh tế, và những quy chế hải quan đặc biệt dành cho sự hoạt động của các khu vực này làm cho biên giới lãnh thổ không thật chính xác để xác định ranh giới di chuyển của hàng hoá xuất nhập khẩu
- Nội dung của hợp đồng bao gồm các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ việc chuyển giao quyền sở hữu của hàng hoá từ người bán sang người mua ở các nước khác nhau;
- Đồng tiền tính giá hoặc thanh toán không còn là đồng nội tệ của một quốc gia mà là ngoại tệ đối với ít nhất một bên ký kết Phương thức thanh toán thông qua hệ thống ngân hàng
Trang 25- Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng đa dạng và phức tạp Không chỉ còn luật quốc gia mà còn bao gồm các điều ước quốc tế về thương mại, luật nước ngoài và các tập quán thương mại quốc tế
- Cơ quan giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng là toà án, hay trọng tài thương mại có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp trong lĩnh vực kinh tế đối ngoại là cơ quan nước ngoài đối với ít nhất một trong các chủ thể
1.2.3 Nguồn luật điều chỉnh của hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Hợp đồng MBHHQT có thể chịu sự điều chỉnh của nhiều nguồn luật khác nhau như các điều ước về MBHHQT, các tập quán quốc tế về thương mại, pháp luật của các quốc gia… Việc nguồn luật nào điều chỉnh còn tuỳ vào từng trường hợp cụ thể
1.2.3.1 Điều ước quốc tế
Theo Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế: "Điều ước quốc
tế là tất cả các văn bản được ký kết giữa các quốc gia và do Luật quốc tế điều chỉnh" Vậy có thể nói, điều ước quốc tế về thương mại là sự thoả thuận bằng văn bản giữa hai hoặc nhiều quốc gia ký kết phù hợp với những nguyên tắc cơ bản của Luật quốc tế, nhằm ấn định, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụđối với nhau trong quan hệ thương mại quốc tế
Trong lĩnh vực mua bán hàng hoá quốc tế có một số điều ước quốc tế tiêu biểu:
- Điều kiện chung về giao hàng giữa các tổ chức kinh tế của các nước thành viên Hội đồng tương trợ kinh tế (ĐKCGHSEV 1968/1988) điều chỉnh quyền lợi và nghĩa vụ của các bên ký kết hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
- Một điều ước quốc tế quan trọng trong lĩnh vực MBHHQT là công ước Viên về mua bán hàng hoá quốc tế ngày 1/1/1980 Đến nay đã có 74 nước phê chuẩn công ước này
Trang 26- Quy tắc La Hay ngày 15/6/1955 về Luật áp dụng vào hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
- Công ước Rôma về luật áp dụng đối với các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng được ký tại Rôma ngày 19/6/1980
- Công ước Liên Mỹ về luật áp dụng đối với hợp đồng quốc tế được ký ở Mehico City ngày 17/5/1994, được thông qua bởi Hội nghị quốc tế Liên Mỹ về tư pháp quốc tế tổ chức tại Mehico City
Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết hơn 60 Hiệp định thương mại song phương Trong đó phải kể đến: Hiệp định Buôn bán hàng dệt may Việt Nam -
EU là hiệp định thương mại chứa đựng những điều khoản liên quan đến xuất
xứ của hàng hoá, điều khoản liên quan đến hạn ngạch (quota) và quy định danh mục mặt hàng Việc ký kết các hiệp định thương mại, là thành viên của các công ước quốc tế sẽ tạo cơ sở pháp lý thuận lợi và thống nhất cho hoạt động MBHHQT giữa các thương nhân Việt Nam với các thương nhân nước ngoài
1.2.3.2 Luật quốc gia
Trong hoạt động thương mại quốc tế, luật quốc gia áp dụng thông thường là luật của nước bên bán, nhưng cũng có thể là luật của nước bên mua,
có thể là luật của nước thứ ba, luật nơi ký hợp đồng, luật quốc tịch, luật nơi nghĩa vụ hợp đồng được thực hiện…Luật quốc gia trở thành luật áp dụng cho hợp đồng MBHHQT trong các trường hợp:
- Các bên ký hợp đồng về việc chọn luật của một bên để điều chỉnh hợp đồng Việc thoả thuận áp dụng luật của một bên để điều chỉnh hợp đồng phải được ghi trong hợp đồng MBHHQT
- Khi điều khoản về luật áp dụng cho hợp đồng MBHHQT được quy định trong các điều ước quốc tế liên quan xác định luật của một quốc gia đương nhiên trở thành luật áp dụng cho các hợp đồng đó Thông thường, luật quốc gia áp dụng sẽ là luật của nước bên bán, nhưng cũng có thể là luật của
Trang 27nước bên mua, có thể là luật của nước thứ ba, luật nơi ký kết hợp đồng, luật của nước mà các bên mang quốc tịch,…
1.2.3.3 Án lệ
Án lệ hay tiền lệ pháp về thương mại cũng được các thương nhân tham gia ký kết hợp đồng thương mại quốc tế coi trọng và lựa chọn, đặc biệt là ở các quốc gia theo hệ thống thông luật (Common law) Trong thương mại quốc
tế, việc công nhận và sử dụng các phán quyết của toà án cũng như thừa nhận vai trò tích cực của án lệ đang ngày một gia tăng tại các nước có hệ thống pháp luật khác nhau Cơ quan xét xử có thể vận dụng án lệ tương tự để giảm nhẹ những khó khăn phức tạp trong việc tra cứu, mà các tranh chấp trong hoạt động thương mại quốc tế thường tập trung vào một số vấn đề và có nhiều trường hợp tương đồng
1.2.3.4 Tập quán thương mại quốc tế
Các tập quán thương mại quốc tế hình thành từ rất lâu đời Các tập quán này sẽ trở thành nguồn luật đìều chỉnh các hợp đồng MBHHQT nếu các chủ thể tham gia ký kết hợp đồng chấp nhận các tập quán thương mại quốc tế
sẽ là nguồn luật điều chỉnh
Khi được dẫn chiếu vào hợp đồng MBHHQT, các tập quán thương mại
sẽ có hiệu lực bắt buộc áp dụng đối với các chủ thể ký kết, chúng được chia thành nhóm: Các tập quán có tính chất nguyên tắc; các tập quán thương mại quốc tế chung và các tập quán thương mại khu vực Ví dụ, một tập quán thông dụng trong mua bán quốc tế được Phòng Thương mại quốc tế (The
International Chamber of Commerce - ICC) soạn thảo và ban hành một tập quán thông dụng trong mua bán quốc tế là Incoterms
Trang 28Chương 2
NỘI DUNG CỦA CÔNG ƯỚC VIÊN 1980 VỀ HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÔNG ƯỚC ĐẾN
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA QUỐC TẾ CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 2.1 Nội dung của Công ước viên năm 1980 về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
Công ước này được ký kết ngày 11/4/1980 tại Viên (Áo) Ban đầu ký kết chỉ có 6 quốc gia thành viên Số lượng các quốc gia phê chuẩn Công ước ngàycàng tăng lên và đến nay đã có trên 83 quốc gia thành viên
Công ước Viên là nguồn luật chủ yếu để điều chỉnh hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế hiện nay
Kết cấu của Công ước Viên 1980 gồm 101 Điều, được chia làm 4 phần với các nội dung chính sau:
2.1.1 Về phạm vi áp dụng của Công ước
Phạm vi áp dụng và các quy định chung (Điều 1- 13) Phần này quy định trường hợp nào Công ước Viên 1980 được áp dụng và trường hợp nào Công ước Viên 1980 không được áp dụng (từ Điều 1 đến Điều 6), đồng thời nêu rõ nguyên tắc trong việc áp dụng Công ước viên 1980, nguyên tắc diễn giải các tuyên bố, hành vi và xử sự của các bên, nguyên tắc tự do về hình thức của hợp đồng Ngoài ra, Công ước cũng nhấn mạnh đến giá trị của tập quán trong các giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế
Công ước Viên được áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hoá giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau Theo Điều 1, Công ước Viên chỉ coi trọng nơi đặt trụ sở thương mại chứ không chú ý tới quốc tịch của các bên tham gia hợp đồng
Công ước được áp dụng khi các bên tham gia hợp đồng có trụ sở ở các
Trang 29quốc gia là thành viên của Công ước Công ước cũng được áp dụng nếu chỉ có một bên có trụ sở tại nước phê chuẩn Công ước, nhưng quy định xung đột về luật điều chỉnh đã dẫn tới việc áp dụng luật của nước này ví dụ như khi các bên thoả thuận áp dụng luật của nước bên bán, mà nước bên bán là thành viên của Công ước; hoặc trường hợp các bên thoả thuận áp dụng luật của nước thứ
ba, mà nước này là thành viên của Công ước Ngoài ra, Công ước cũng có thể được áp dụng khi hai bên không có trụ sở thương mại tại nước thành viên Công ước nhưng lại thoả thuận áp dụng Công ước Trường hợp này, Công ước cũng cho phép các bên có thể thoả thuận không áp dụng hoặc không áp dụng hoàn toàn một điều khoản nào đó của Công ước trên cơ sở nguyên tắc tự dohợp đồng
2.1.2 Về xác lập hợp đồng trong Công ước
Xác lập hợp đồng (trình tự, thủ tục ký kết hợp đồng) (Điều 14- 24) Trong phần này, với 11 điều khoản, Công ước Viên đã quy định khá chi tiết, đầy đủ các vấn đề pháp lý đặt ra trong quá trình giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế
+ Điều 14 của Công ước định nghĩa chào hàng, nêu rõ đặc điểm của chào hàng và phân biệt chào hàng với các "lời mời chào hàng":
(1) Một đề nghị giao kết hợp đồng gửi cho một hay nhiều bên xác định được xem là một chào hàng nếu nó đầy đủ và thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng của người đề nghị trong trường hợp chào hàng được chấp nhận Một đề nghị được coi là đầy đủ nếu có nêu rõ hàng hóa và - ngầm định hoặc rõ ràng - xác định hoặc quy định cách thức xác định giá cả và số lượng hàng hóa của hợp đồng
(2) Một đề nghị không gửi tới một hoặc nhiều bên xác định thì chỉ được xem
là lời mời chào hàng, trừ trường hợp bên đưa ra đề nghị đó tuyên bố rõ ràng sẽ chịu ràng buộc trách nhiệm
Trang 30Như vậy khoản 1 Điều 14 điều chỉnh một vấn đề hết sức cơ bản trong hợp đồng mua bán - đó là vấn đề chào hàng Trước hết có thể khẳng định Công ước Viên, thông qua quy định tại khoản 1 Điều 14, đã chọn sử dụng phương thức truyền thống của việc kết lập hợp đồng thông qua mô thức chào hàng - chấp nhận chào hàng Theo đó, bên chào hàng - thông qua đề nghị giao kết hợp đồng - thể hiện ý định giao kết hợp đồng, đưa ra các điều kiện của giao dịch cho bên được chào hàng Dựa trên các điều kiện này, bằng quyết định chấp nhận chào hàng, bên được chào hàng kết lập nên hợp đồng với các điều khoản đưa ra trong chào hàng Trong mô thức này, việc thể hiện ý định giao kết hợp đồng của bên chào hàng trước hết được xác định thông qua các điều kiện đưa ra trong chào hàng Trong trường hợp được chấp thuận thì các điều kiện trong chào hàng trở thành những điều khoản cốt lõi của hợp đồng Khoản 1 Điều 14 đã đưa ra các tiêu chí để xác định nội dung chủ yếu cần có của một chào hàng
Xét trên phương diện thực hiện hợp đồng, chào hàng không chỉ là sự thể hiện ý định giao kết hợp đồng của người đưa ra chào hàng Chào hàng còn thể hiện các yếu tố cơ bản cần thiết để các bên dựa vào đó thực hiện các nghĩa vụ của mình và qua đó đáp ứng quyền của bên kia Tùy thuộc vào từng loại hợp đồng cụ thể mà yêu cầu về điều kiện cơ bản của hợp đồng có thể khác nhau Với hợp đồng mua bán, khoản 1 Điều 14 quy định nội dung chào hàng phải thể hiện tối thiểu ba điều kiện Đó là: hàng hóa mua bán, số lượng và giá cả Về giá cả,
đó có thể là giá cả cụ thể hoặc phương thức xác định giá cả, được nêu ra rõ ràng hoặc ngầm định trong chào hàng
N h ư t h ế , t h e o q u y đ ị n h t ạ i k h o ả n 1 Đi ề u 1 4 , b ê n c ạ n h n h ữn g đ i ề u k i
ệ n k h á c , mộ t c h à o h à n g b ắ t b u ộ c p h ả i t h ể h i ệ n đ i ề u k i ệ n v ề g i á c ả t h ì mớ i đ
ư ợ c x e m l à đ ầ y đ ủ đ ể k ế t l ậ p n ê n h ợ p đ ồ n g t r o n g t r ư ờ n g h ợ p c h à o h à n g đ
ượ c c h ấ p n h ậ n
Trang 31+ Các vấn đề hiệu lực của chào hàng, thu hồi và hủy bỏ chào hàng được quy định tại các điều 15, 16 và 17: Hiệu lực chào hàng chỉ phát sinh khi chào hàng tới nơi người được chào hàng (Điều 15 khoản 1) Chào hàng cũng có thể bịhuỷ nếu thông báo của người chào hàng về việc huỷ chào hàng gửi đến tới nơi người được chào trước hoặc cùng lúc với chào hàng (Điều 15 khoản 2), Một chào hàng có thể bị thu hồi khi cho tới khi hợp đồng được giao kết người chào hàng vẫn có thể thu hồi chào hàng nếu như thông báo về việc thu hồi đó tới nơi người được chào hàng trước khi người này gửi thông báo chấp nhận chào hàng, tuy nhiên chào hàng cũng không thể bị thu hồi khi nếu nó chỉ rõ bằng cách ấn định một thời hạn xác định để chấp nhận hay bằng cách khác rằng nó không thể bị thu hồi hoặc nếu một cách hợp lý người nhận coi chào hàng là không thể bị thu hồi và đã hành động theo chiều hướng đó (điều 16); Một chào hàng sẽ mất hiệu lực khi người chào hàng nhận được thông báo về việc từ chối chào hàng (Điều 17)
+ Đặc biệt, tại các Điều 18, 19, 20 và 21 của Công ước có các quy địnhrất chi tiết, cụ thể về nội dung của chấp nhận chào hàng: khi nào và trong điều kiện nào, chấp nhận chào hàng là có hiệu lực và cùng với chào hàng cấu thành hợp đồng; thời hạn để chấp nhận, chấp nhận muộn; kéo dài thời hạn chấp nhận Ngoài ra, Công ước còn có quy định về thu hồi chấp nhận chào hàng và thời điểm hợp đồng có hiệu lực
Về vấn đề xác lập hợp đồng mua bán, Công ước Viên 1980 thừa nhận quy tắc Chào hàng - Chấp nhận chào hàng (offer-acceptance rule): Một lời tuyên bố hay một hành vi khác của người được chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào hàng cấu thành chấp nhận chào hàng Sự im lặng hoặc bất hợp tác vì không mặc nhiên có giá trị một sự chấp nhận (điều 18)
Khoản 1 Điều 19 Công ước Viên quy định rằng "Một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng những điểm bổ
Trang 32sung, bớt đi hay các sửa đổi khác thì được coi là từ chối chào hàng và cấu
thành một hoàn giá" Quy định này phản ánh quy tắc "hình ảnh trong
gương"theo đó một hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế được giao kết khi nội
dung của chào hàng được bên kia chấp nhận một cách đầy đủ, chính xác về mọiđiều kiện nêu trong chào hàng Điều này có nghĩa là nếu một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có bất kỳ sự sửa đổi, bổ sung tạo nên sự khác biệt giữa chào hàng và chấp nhận chào hàng thì sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng đó sẽ cấu thành một chào hàng mới hoặc một hoàn giá Quy định này của Công ước Viên được áp dụng cho cả những điều khoản soạn sẵn trong các hợp đồng hoặc trong các mẫu chào hàng và chấp nhận chàohàng mẫu
Trong thực tiễn giao dịch mua bán hàng hóa quốc tế, cả người bán và người mua đều có những mẫu chào hàng và/hoặc chấp nhận chào hàng riêng chứa đựng những điều khoản soạn sẵn nhằm phục vụ cho lợi ích của họ Do
đó, một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng lại làm thay đổi hoặc bổ sung chào hàng là điều dường như khó tránh khỏi Nếu theo quy
tắc "hỉnh ảnh trong gương" thì hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế khó có thể
được coi là giao kết
Tuy nhiên, khoản 2 điều 19 CISG quy định rằng:
Một sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng
có chứa đựng các điều khoản bổ sung hay những điều khoản khác
mà không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng
thì được coi là chấp nhận chào hàng, trừ phi người chào hàng ngay lập tức không biểu hiện bằng miệng để phản đối những điểm khác biệt đó hoặc gửi thông báo về sự phản đối của mình cho người được chào hàng Nếu người chào hàng không làm như vậy, thì nội dung của hợp đồng sẽ là nội dung của chào hàng với những sự sửa đổi
nêu trong chấp nhận chào hàng
Trang 33Khoản 2 điều 19 của CISG chính là ngoại lệ của quy tắc "hình ảnh trong gương" và làm dịu bớt "sự khe khắt" của quy tắc này, theo đó, yêu cầu một
sự chấp nhận toàn bộ của khoản 1 điều 19 Theo quy định tại khoản 2 điều 19 Công ước Viên thì không phải mọi sự trả lời có khuynh hướng chấp nhận chào hàng đều được coi là sửa đổi hoặc bổ sung chào hàng Tuy nhiên, những sửa
đổi hoặc bổ sung "không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung chào hàng"
và người chào hàng không có bất kỳ hành động nào (bằng lời nói hoặc thông báo) biểu hiện sự phản đối "ngay lập tức" với những sửa đổi hoặc bổ sung đó thì
hợp đồng xem như được giao kết Từ đó, có thể thấy rằng, vấn đề quan trọng của việc xem xét hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có được giao kết hay không tùy thuộc vào sự trả lời chào hàng của người được chào hàng có chứa đựng những điều khoản làm biến đổi (sửa đổi hoặc bổ sung) cơ bản hay không
cơ bản chào hàng
2.1.3 Về mua bán hàng hóa (Điều 25 - 88) Nội dung của phần 3 này là
các vấn đề pháp lý trong quá trình thực hiện hợp đồng Phần này được chia thành 5 chương với những nội dung cơ bản như sau:
2.1.3.1 Những quy định chung (Điều 25 - 29)
Khái niệm vi phạm cơ bản hợp đồng được quy định tại Điều 25 Công ước Viên, theo đó:
Một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự
Từ quy định trên, xét về mặt lý thuyết, có thể thấy vi phạm cơ bản hợp đồng được xác định dựa trên các yếu tố: (1) Phải có sự vi phạm nghĩa vụ hợp
Trang 34đồng; (2) Sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng đó phải dẫn đến hậu quả là một bên mất đi điều mà họ chờ đợi (mong muốn có được) từ hợp đồng; (3) Bên vi phạm hợp đồng không thể nhìn thấy trước được hậu quả của sự vi phạm đó
Công ước Viên không đưa ra định nghĩa về vi phạm nghĩa vụ hợp đồng Tuy nhiên, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng có thể hiểu là việc một bên giao kết hợp đồng không thực hiện nghĩa vụ mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng hoặcthực hiện không hết nghĩa vụ hợp đồng hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụhợp đồng Ví dụ, các bên thỏa thuận cụ thể về nghĩa vụ giao hàng trong hợp đồng nhưng người bán không giao hàng hoặc giao hàng thiếu, giao sai hàng hoặc giao hàng không đúng chất lượng như đã thỏa thuận trong hợp đồng Như vậy, nếu người bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng, ví dụ như hàng hóa được giao thiếu về số lượng và/hoặc không phù hợp về chất lượng hoặc giao sai chủng loại hàng mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng, thì được coi là người bán đã có sự vi phạm nghĩa vụ hợp đồng
Ngoài ra, vi phạm nghĩa vụ hợp đồng phải là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại đáng kể cho bên bị vi phạm Thế nào là thiệt hại đáng kể? Công ước Viên cho rằng thiệt hại đáng kể là những thiệt hại làm cho bên bị vi phạm mất đi cái mà họ chờ đợi (mong muốn có được) từ hợp đồng Công ước Viên không giải thích rõ cái mà người này chờ đợi là gì Vì vậy, việc xác định mức độ thiệt hại là đáng kể hay không đáng kể sẽ do tòa án (hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp) quyết định căn cứ vào từng trường hợp, từng vụ tranh chấp cụ thể Ví dụ, phải căn cứ vào giá trị kinh tế của hợp đồng, sự tổn hại
về mặt tiền bạc do hành vi vi phạm hợp đồng hoặc mức độ mà hành vi vi phạm hợp đồng gây cản trở đến các hoạt động khác của bên bị vi phạm
Tuy nhiên, mặc dù hành vi vi phạm hợp đồng dẫn đến thiệt hại cho bên
bị vi phạm nhưng hành vi vi phạm hợp đồng đó sẽ không bị coi là vi phạm cơ
bản hợp đồng nếu bên vi phạm "không thể nhìn thấy trước hậu quả của hành
Trang 35vi vi phạm đó và người ở vào hoàn cảnh tương tự cũng không thể tiên liệu được" Chính xác hơn, khả năng nhìn thấy trước hậu quả của hành vi vi phạm
hợp đồng là yếu tố cần thiết để xác định hành vi vi phạm đó có phải là một sự vi phạm cơ bản hợp đồng hay không Khả năng tiên liệu trước được những thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra sẽ phụ thuộc vào kiến thức của bên vi phạm về những sự kiện xoay quanh giao dịch như kinh nghiệm, mức độ tinh
tế và khả năng tổ chức của bên vi phạm
Có thể nói rằng, nội hàm khái niệm "vi phạm cơ bản hợp đồng" theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 cũng như của Công ước Viên
là rất rộng Tuy nhiên, qua thực tiễn giải quyết một số vụ tranh chấp liên quan đếnhợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế có áp dụng Công ước Viên, tòa án các nước thành viên cũng đã đưa ra được một số căn cứ thực tiễn làm cơ sở cho việc giải thích nhằm làm rõ khái niệm này Mặc dù vậy, Tòa án của các nước khác nhau có quan điểm không giống nhau hoàn toàn khi gặp vấn đề liên quan đến
2.1.3.2 Quy định về quyền và nghĩa vụ của người bán
- Quyền của bên bán
Công ước nêu rõ, bên bán có quyền được thanh toán theo những quy định trong hợp đồng Trường hợp bên mua vi phạm nghĩa vụ của mình thì bên bán có quyền thực hiện những biện pháp bảo hộ pháp lý cũng theo quy định của Công ước như sau:
+ Yêu cầu bên mua trả tiền, nhận hàng hay thực hiện các nghĩa vụ khác
Trang 36của người mua, trừ phi họ sử dụng một biện pháp bảo hộ pháp lý khác không thích hợp với các yêu cầu đó (Điều 62)
+ Có thể chấp nhận cho người mua một thời gian bổ sung hợp lý để thực hiện nghĩa vụ của họ (Điều 63 khoản 1)
+ Tuyên bố huỷ hợp đồng trong các trường hợp quy định tại Điều 64 +Yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của Điều 74
+ Ngoài ra, bên bán có thể yêu cầu trả tiền lãi khi bên mua chậm thanh toán, theo quy định Điều 78 của Công ước
- Nghĩa vụ giao hàng và chuyển giao chứng từ liên quan đến hàng hoá
Công ước Viên quy định về giao hàng và chuyển giao chứng từ liên quan đến hàng hoá từ Điều 31 đến Điều 34 của Công ước Theo đó, bên bán cónghĩa vụ giao hàng và các chứng từ liên quan đến hàng hoá cho bên mua đúng thời gian Thời gian này là thời điểm mà các bên đã thoả thuận, nếu không thoả thuận cụ thể trong hợp đồng thì có thể căn cứ vào hợp đồng để xácđịnh được Bên bán có nghĩa vụ giao hàng đúng số lượng, chất lượng, quy cách phẩm chất như mô tả trong hợp đồng Về địa điểm giao hàng, nếu các bên không thoả thuận thì bên bán phải giao hàng theo quy định tại Điều 31 Công ước
2.1.3.3 Quy định về quyền và nghĩa vụ của người mua
- Quyền của bên mua
Bên mua có quyền thực hiện một số biện pháp để bảo vệ lợi ích của mình khi bên bán vi phạm nghĩa vụ của họ Một số biện pháp được quy định trong Công ước là:
+ Yêu cầu bên bán phải thực hiện nghĩa vụ của họ theo thoả thuận trong hợp đồng Ở đây có thể là yêu cầu bên bán cung cấp hàng hoá đúng thoả thuận trong trường hợp hàng hoá chưa phù hợp; hoặc yêu cầu tiếp tục bổ sung hàng hoá nếu không đảm bảo đủ số lượng; hoặc sửa chữa…
Trang 37+ Bên mua có thể cho phép bên bán thêm một thời hạn nhất định để thực hiện hợp đồng nếu bên bán không đảm bảo được đúng thời hạn giao hàng (Điều 47)
+ Bên mua cũng có quyền tuyên bố huỷ hợp đồng trong các trường hợp bên bán không thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng tạo thành một vi phạm cơ bản hợp đồng hay khi bên bán không giao hàng trong thời hạn bên mua gia hạn thêm hoặc bên bán tuyên bố sẽ không giao hàng trong thời bạn bổ sung
đó (Điều 49)
- Nghĩa vụ của bên mua
Điều 53 Công ước Viên quy định: người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng theo quy định của hợp đồng
+ Về thanh toán tiền hàng: bên mua phải trả tiền vào ngày thanh toán đã quy định hoặc có thể được xác định theo hợp đồng và theo Công ước, mà không cần phải có một lời yêu cầu hay việc thực hiện một tục nào khác về phía người bán (Điều 59) Nghĩa vụ thanh toán tiền hàng bao gồm việc áp dụng các biện pháp và tuân thủ các biện pháp mà hợp đồng hoặc luật lệ đòi hỏi để có thể thực hiện được thanh toán
+ Về việc nhận hàng: Bên mua có các nghĩa vụ theo quy định của Công ước Viên tại Điều 60 Theo đó, bên mua phải thực hiện mọi hành vi tạo điều kiện cho bên bán giao hàng và tiếp nhận hàng hoá
2.1.3.4 Quy định về chuyển rủi ro (Điều 66 đến điều 70)
Trước đây theo Luật Thương mại năm 1997, vấn đề chuyển rủi ro trong mua bán hàng hóa được coi là đồng nhất với việc chuyển quyền sở hữu hàng
hóa, theo đó: "người mua phải chịu rủi ro đối với hàng hóa trên đường vận chuyển kể từ thời điểm quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua nếu không phải do lỗi của người bán hoặc người vận chuyển"
Trước hết các quy định này không cho các bên chủ thể có quyền được thỏa
Trang 38thuận - một vấn đề cốt lõi trong mọi quan hệ mua bán hàng hóa Thứ hai, việc quy định một cách chung chung như vậy không thể bao quát hết các tình huống thực tiễn trong quan hệ mua bán Và có nhiều quan điểm cho rằng, tinh thần chung của điều luật đi ngược lại với tinh thần của pháp luật thương mại
quốc tế về việc người mua nhận rủi ro về mình đối với những hàng hóa trên đường vận chuyển từ lúc hàng hóa được giao cho người chuyên chở là người
đã phát chứng từ xác nhận một hợp đồng vận chuyển Chính vì vậy Luật
thương mại 2005 đã có những quy định cụ thể hơn Các trường hợp chuyển rủi ro quy định từ Điều 57 đến Điều 61, trong mọi trường hợp này luật thương mại đều cho phép sự thỏa thuận giữa các chủ thể vì vậy ta sẽ xem xét theo hướng không có thỏa thuận
- Điều 68 Công ước Viên năm 1980 quy định về Chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định: Địa điểm giao hàng xác định ở
đây là phải xác định theo thỏa thuận từ trước Nếu có địa điểm giao hàng nhất định thì rủi ro về mất mát, hư hỏng hàng hóa được chuyển cho bên mua khi bên mua hoặc người được bên mua ủy quyền đã nhận hàng tại địa điểm giao hàng, kể cả bên bán được ủy quyền giữ lại các chứng từ xác lập quyền sở hữu đối với hàng hóa Đây cũng là một trường hợp mà thời điểm chuyển quyền sở hữukhông đồng nhất với thời điểm chuyển rủi ro Trong trường hợp này không nên coi người bán không có rủi ro, mà rủi ro này được ràng buộc bằng nghĩa vụ giao hàng Với bên mua, việc nhận hàng tại địa điểm giao hàng là một quyền quan trọng, đây chính là điều kiện quan trọng khi xác định việc bên mua đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng nên bên mua có quyền thực hiện việc kiểm tra hàng hóa và quyền định có nhận hàng hay không
VD: Công ty A thỏa thuận mua hàng với công ty B và thực hiện giao hàng tại kho hàng 1, tuy nhiên công ty B vận chuyển lại giao hàng tại kho hàng 2 cách kho hàng 1 20km Bên công ty A vẫn nhận hàng Trong trường
Trang 39hợp này mặc dù có địa điểm giao hàng xác định là kho hàng 1 nhưng khi giao tại kho hàng 2, công ty A vẫn nhận coi như đã đồng ý với việc thay đổi địa điểm Trường hợp này nếu có rủi ro công ty A vẫn phải chịu trách nhiệm theo trường hợp có địa điểm giao hàng xác định Nếu như bên A không nhận hàng thì bên B coi như chưa hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của mình và phải chịu rủi ro nếu có với hàng hóa
- Điều 68 Công ước Viên năm 1980 quy định về Chuyển rủi ro trong
trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định: Đây là trường hợp trong
hợp đồng mua bán không quy định về việc vận chuyển hàng hóa cũng như nghĩa vụ giao hàng tại một địa điểm nhất định Khi không có địa điểm giao hàng, việc chuyển rủi ro trong trường hợp này thuộc về bên mua sau khi hàng hóa
đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên
- Điều 68 Công ước Viên năm 1980 quy định về Chuyển rủi ro trong
trường hợp giao hàng cho người nhận hàng: Ở đây cần lưu ý người nhận
hàng ở đây không phải là người vận chuyển mà là người nhận hàng để giao nắm giữ hàng hóa Trong trường hợp này rủi ro về hàng hóa được chuyển cho bên mua trong các trường hợp sau:
+ Khi bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hóa Đây là trường hợp chuyển rủi ro đồng nhất với thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hóa
+ Khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu hàng hóa của bên mua
- Điều 68 Công ước Viên năm 1980 quy định về Chuyển rủi ro trong
trường hợp mua bán hàng hóa đang trên đường vận chuyển: Đây là trường
hợp mà đối tượng của hợp đồng là hàng hóa đang trên đường vận chuyển, khi đó rủi ro sẽ được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kết hợp đồng Đây là trường hợp có rất nhiều nhầm lẫn trong cách hiểu và áp dụng điều luật Phải lưu ý đối tượng của hợp đồng mua bán ở đây là hàng hóa đang trên
Trang 40đường vận chuyển chứ không là trong thời gian hàng hóa được mua bán đang trên đường vận chuyển
Ví dụ: Công ty A ở Hà Nội ký hợp đồng mua bán với công ty B ở Phú Thọ 20 tấn phân bón Hai bên thỏa thuận công ty A giao hàng tới kho hàng của công ty B bằng đường sông, nhưng khi đi qua sông Hồng thì hàng gặp mưa và
hư hỏng Vậy trường hợp này ai sẽ là người chịu rủi ro Có rất nhiều người nhầm lẫn cho rằng đây là trường hợp đối tượng của hợp đồng đang trên đường vận chuyển và cho rằng bên mua là công ty B phải chịu rủi ro Tuy nhiên cần hiểu rằng đối tượng của hợp đồng là hàng hóa đang trên đường vận chuyển tức là tại thời điểm kí hợp đồng, hàng hóa ấy vẫn đang trên đường vận chuyển Như trường hợp công ty C đang nhập khẩu 10.000 chiếc xe máy của Đức, công ty D biết tin và thỏa thuận kí hợp đồng mua lại toàn bộ số hàng Khi ấy đối tượng của hợp đồng mới là hàng hóa đang trên đường vận chuyển và khi có rủi ro thì công ty D mới phải chịu Còn trong trường hợp đầu tiên, giữa công ty A và B phải áp dụng theo quy định về việc chuyển rủi ro khi có địa điểm giao hàng xác định Vì vậy ở đây bên bán là công ty A mới phải chịu rủi ro
- Điều 68 Công ước Viên năm 1980 quy định về Chuyển rủi ro hàng
hóa trong những trường hợp khác
Với những trường hợp không nằm trong 4 trường hợp đã phân tích ở trên thì rủi ro được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm hàng hóa thuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàng Với những hàng hóa không được xác định rõ ràng bằng ký mã hiệu, chứng từ vận tại, không được thông báo cho bên mua hoặc không được xác định bằng bất kỳ cách thức nào thì rủi ro không được chuyển cho bên mua
2.1.3.5 Quy định về các điều khoản chung về nghĩa vụ của người bán
và người mua
Trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng mua bán hàng hoá