Máy xây dựng
Trang 1Chương 5
Hệ thống di chuyển và điều khiển của máy xây dựng
5.1 Hệ thống di chuyển
Hệ thống di chuyển của máy xây dựng dùng để di chuyển máy trong quá trình làm việc, di chuyển từ nơi này sang nơi khác, đồng thời truyền áp suất và tải trọng lên mặt đất hoặc mặt đường Ngoài ra, hệ thống di chuyển còn có tác dụng như bộ công tác (như máy đầm lăn ép)
Theo cấu tạo và công dụng, có thể phân hệ thống di chuyển của máy xây dựng ra các loại: hệ thống di chuyển xích, hệ thống di chuyển bánh lốp, hệ thống di chuyển trên ray, hệ thống di chuyển bằng phao nổi
5.1.1 Hệ thống di chuyển bằng xích
Hệ thống di chuyển bằng xích của máy xây dựng thường có một số bộ phận chính: bánh chủ động hình sao, dải xích, bánh dẫn hướng, cơ cấu căng xích, bánh hay con lăn đỡ xích và con lăn đè xích (hình 5-1)
1
Hình 5.1 Cấu tạo chung của xích di chuyển: 1) Xích, 2)Bánh sao chủ động, 3) Bộ phận căng xích, 4) Bánh tỳ dưới, 5)Bánh đõ trên, 6) bánh dẫn hướng
Trang 2Bánh sao chủ động: Bánh chủ động hình sao hay bánh chủ động của máy ủi
hoặc máy kéo, nhận chuyển động quay từ ly hợp lái, qua cặp bánh răng chuyển động cuối cùng để biến thành lực kéo dải xích và toàn bộ máy chuyển động tịnh tiến
Bánh sao chủ động làm việc trong điều kiện rất nặng, chịu tải trọng lớn, bùn, đất, nước bám vào, làm việc trong điều kiện ma sát nửa khô hay không có dầu mỡ bôi trơn nên vật liệu để chế tạo bánh sao chủ động, đặc biệt là vành răng cần phải có độ bền
và khả năng chịu mòn cao Bánh sao chủ động, thường được chế tạo bằng thép các bon với hàm lượng cácbon khá cao, khoảng 0,4 ÷ 0,45%
Để bánh sao không nằm trong vùng bùn đất chịu mài mòn, nhằm kéo dài tuổi thọ chi tiết, một số nhà sản xuất máy ủi đã bố trí bánh sao chủ động ở trên cao (hình 5-1)
Dải xích: Dải xích là một vòng kín bao gồm các mắt xích nối bản lề với nhau,
làm thành một đường ray vô tận để bánh chủ động quay hay chuyển động Phía trong mỗi dải xích có các đường gân để cho răng của bánh sao chủ động ăn khớp và để dẫn hướng chuyển động cho các bánh căng xích, đỡ xích và đè xích Phía ngoài mỗi mắt xích thường có vấu bám, để bám chắc với đất, bảo đảm chuyển động cho máy Các mắt xích được nối bản lề với nhau, nhờ chốt xích, vòng đệm và chốt hãm
Hình 5.3 Bánh xích di chuyển trên công trường
Trang 3Bánh dẫn hướng: Bánh dẫn hướng hay còn gọi là bánh căng xích, có tác dụng
dẫn hướng chuyển động cho dải xích và cùng với cơ cấu căng xích giữ cho xích ở độ căng nhất định, bảo đảm cho máy làm việc được bình thường
Cơ cấu căng xích: Cơ cấu căng xích, có tác dụng giữ cho bánh dẫn hướng hay
bánh căng xích ở một vị trí nhất định, bảo đảm độ căng của xích và có thể điều chỉnh độ căng của xích khi cần thiết, đồng thời còn làm giảm va đập (xóc) khi phần trước của xích va chạm phải vật cản trong khi làm việc Nguyên tắc làm việc của cơ cấu căng xích
là thay đổi hay điều chỉnh khoảng cách giữa bánh sao chủ động và bánh dẫn hướng bằng cách xê dịch bánh dẫn hướng
Bánh đỡ xích: Bánh đỡ xích hay con lăn đỡ xích có tác dụng đỡ phần trên của
dải xích khỏi bị võng xuống Các bánh đỡ xích làm việc trong điều kiện tải trọng nhỏ, nên có cấu tạo đơn giản và thường được đúc bằng gang Số lượng bánh đỡ xích phụ thuộc vào chiều dài và trọng lượng của dải xích
Bánh đè xích: Bánh đè xích hay bánh tì xích có tác dụng đè phần xích ở phía
dưới của dải xích, bảo đảm xích tiếp xúc với mặt đường Bánh đè xích làm việc trong
điều kiện tải trọng lớn, do trọng lượng của máy, lực tác dụng ngang của đường khi quay vòng hay chuyển động mặt đường nghiêng, nên thường được đúc hay dập bằng thép các bon Số lượng bánh đè xích, phụ thuộc vào chiều dài và trọng lượng của dải xích, thường mỗi dải xích có khoảng 2 đến 10 bánh đè xích Để áp suất phân bố đều lên dải xích và giảm chấn động khi chuyển động trên nền cứng gồ ghề, người ta chế tạo các bánh đè xích theo từng cặp xoay quanh một trục
Hình 5.2 Một loại bánh xích di chuyển máy ủi: 1) xích, 2) Bánh dẫm hướng, 3) Bộ điều chỉnh, 4) Bánh tỳ, 5) Bánh sao chủ động.
Trang 4Ưu điểm của bộ di chuyển xích là áp suất lên đất nhỏ (p = 0,04 ÷ 0,10MPa) và phân bố tương đối đều trên mặt tựa của xích (hình 5-4), nên có thể di chuyển trên đường đất không bằng phẳng Lực bám lớn Khả năng vượt dốc cao: máy cỡ lớn có thể lên dốc
10÷200 Máy cỡ trung bình có thể lên dốc 300 Máy cỡ nhỏ có thể lên dốc 400 Nhược
điểm của loại này là trọng lượng của bộ di chuyển xích lớn, có khi bằng 40% trọng lượng của máy, chế tạo và lắp ráp phức tạp, chóng mòn và thời gian phục vụ thấp (2000
÷ 2500h) Lực cản di chuyển lớn, tốc độ thấp (8÷10 km/h), nên chỉ làm việc ở khoảng cách ngắn Những máy lớn và vừa khi chuyển chỗ làm việc phải tháo rời từng bộ phận
để vận chuyển Bảo dưỡng và sửa chữa phức tạp.
5.1.2 Hệ thống di chuyển bánh lốp
Lốp có cấu tạo hình ống sử dụng các lớp bố (ni-lông, sợi thép) để chứa khí áp lực Cao su được dùng như một lớp áo bảo vệ và bao phủ các chất liệu bên trong, tạo thành các hoa lốp có khả năng chịu mài mòn trên mặt đất
Lốp có hai loại phổ biến là bố ni-lông và bố thép hay còn gọi là bố hướng kính (Radial ply) Dưới đây là đặc điểm cấu tạo chủ yếu của hai loại lốp này
Lốp bố ni-lông: Tanh lốp 1 ở gần mép lốp, tiếp xúc với vành bánh xe, bên trong
có xen kẽ những lớp vải cao su và dây thép, làm tăng độ cứng cho lốp không bị bật khỏi vành bánh xe Các lớp đệm 2 làm bằng vải ni-lông cao su, chịu nhiệt và lực va đập tạo nên thành lốp, các lớp bố đặt chéo góc với đường tâm của hoa lốp Các lớp bố hoa lốp 3
Hình 5.4 Phân bố áp suất dưới dải xích
Trang 5được hạn chế ở khu vực hoa lốp để tăng cường độ chịu lực của khung lốp và bảo vệ
thêm các lớp bố thân lốp Thành lốp 4 là
các lớp cao su bảo vệ bao phủ các lớp bố
thân
lốp trong thành lốp Hoa lốp 5 (hay ta
lông) là phần chịu mài mòn và tiếp xúc
với mặt đất của lốp để tạo ra lực kéo
bám Lót trong 6 là lớp bịt kín để giữ khí
kết hợp với gioăng tròn và thành tăm
bua (trống lốp), để không cần phải dùng
xăm và lót xăm Lốp có loại dùng xăm
và có loại không dùng xăm
Lốp bố hướng kính: Tanh lốp 1
là một bó các sợi thép tiếp xúc với mặt
tang trống Khung lốp 2 là một lớp bố
sợi thép hình vòng cung từ mép lốp này
đến mép lốp kia Các lớp bố hoa lốp 3 là
những lớp bố thép nằm dưới khu vực
hoa lốp, quanh chu vi lốp Cáp trong lớp bố hoa lốp 3 đặt chéo góc với đường tâm hoa lốp, góc của đai sau đặt ngược so với đai trước Ngoài ra còn có thành lốp 4, hoa lốp 5.
Hình 5.5: 1) Tanh, 2) Khung lốp, 3) Lớp bố hoa lốp, 4) Thành lốp, 5) Hoa lốp, 6) Lớp lót trong
Hình 5.6
Trang 6Kí hiệu lốp: Lốp thường được kí hiệu bằng hai chữ số, ví dụ: 29.5-35 Số thứ
nhất là chiều rộng mặt cắt ngang (in-sơ)
và số thứ hai là đường kính tang trống
lốp (in-sơ) Lốp thấp được kí hiệu bằng
ba chữ số, ví dụ: 40/65-39 Số thứ nhất
là chiều rộng mặt cắt ngang (in-sơ), số
thứ ba là đường kính tang trống lốp
(in-sơ) và số thứ 2 (65 thực ra là 0,65) là tỷ
lệ giữa chiều cao và chiều rộng mặt cắt
lốp Nếu kí hiệu là 40/65 R39, thì R là
kí hiệu loại lốp bố hướng kính
Bảng 5-1 Phân loại lốp
Phương tiện vận chuyển đất: L-4S Lốp không gân vấu sâu 150
Máy xúc lật và máy ủi: LS-2 Lốp vấu trung bình 125
Mã số nhận dạng đối với các lốp việt giã: ngành sản xuất lốp đã áp dụng một hệ
thống nhận dạng theo mã số cho các lốp việt giã để làm giảm sự nhầm lẫn do các
thương hiệu của mỗi loại lốp mà một nhà sản xuất đưa ra Việc nhận dạng theo mã số
ngành được chia làm sáu loại chính căn cứ vào công việc:
C - dùng cho máy đầm;
E - dùng cho máy vận chuyển đất đá;
L - dùng cho máy xúc lật và máy ủi;
LS - dùng cho máy kéo gỗ;
Hình 5-7 Mặt cắt ngang lốp: D- Đường kính ngoài của lốp, R - Đường kính danh nghĩa tang trống, H- Chiều cao mặt cắt lốp, S - Chiều rộng mặt cắt lốp,W - Chiều rộng lốp (gồm cả gân trang trí), ánh xeo độ động cơ điêzen)
H/S - Tỷ lệ giữa chiều cao và
chiều rộng mặt cắt lốp
W S
Trang 7G - dùng cho máy san; ML - dùng cho máy mỏ và đốn gỗ.
Mỗi loại lại được chia làm các loại nhỏ (bảng 5.1)
Công thức bánh xe: là đặc trưng quan trọng cho máy xây dựng có hệ thống di
chuyển bằng bánh lốp, gồm có hai chữ số: chữ số thứ nhất chỉ số lượng tất cả bánh xe,
số thứ hai chỉ số lượng bánh xe chủ động (ở cầu chủ động) Trong thực tế sử dụng, các máy xây dựng, thường có công thức bánh xe là 4 × 2; 4 × 4 và 6 × 6
Cách đặt bánh xe dẫn hướng: Để dễ quay vòng, bảo đảm cho các ổ bi làm việc
tốt và tăng sự bền vững cho các bánh trước khi chuyển động, các bánh dẫn hướng và trục quay của bánh dẫn hướng thường không đặt thẳng đứng mà hơi nghiêng với một góc nhỏ
Độ nghiêng ngoài của bánh xe: Độ hay góc nghiêng ngoài α của bánh xe (hình 5-8a) được tạo nên bởi mặt phẳng của bánh xe và mặt phẳng thẳng đứng (
' 30
2
'
15
00 ÷ 0
=
α ), có tác dụng giảm được mômen cản quay vòng hay giảm nhẹ được sự quay bánh xe Vì khoảng cách giữa điểm tiếp xúc của bánh xe với mặt đường và đường tâm trục quay bánh xe giảm Đồng thời góc nghiêng ngoài bảo vệ được vòng bi ngoài ở moăy-ơ bánh xe và đai ốc hãm bánh xe, do lực của trọng lượng xe gây ra hướng theo đường trục bánh xe, ép bánh xe cùng với moăy-ơ và ổ bi trong
Độ chụm của bánh xe: Độ chụm hay bó trước của bánh xe dẫn hướng là cách đặt
bánh xe nghiêng vào phía trong một góc nhỏ trên mặt phẳng nằm ngang theo hướng di chuyển của xe, để làm triệt tiêu khả năng trả ngược lại khi di chuyển, do khe hở của các khớp nối giữa các thanh (ở hình thang lái) và các bánh răng ăn khớp với trục lái (ở cần lái) Khi có độ chụm, trong thời gian máy di chuyển, các bánh xe như được quay trở lại
và song song với nhau (hình 5-8b)
Công thức bánh xe và cách đặt bánh xe dẫn hướng:
Độ chụm a được xác định bằng hiệu số của hai khoảng cách giữa các đầu mút sau (A) và trước (B) của vành bánh xe nằm ở chiều cao tâm bánh xe:
a = A - B = 1,5 ÷12 mm
Trang 8Độ chụm A phụ thuộc vào góc nghiêng ngoài αcủa bánh xe và có thể điều chỉnh được nhờ đai ốc, giữa các đòn kéo dọc và ngang của hình thang lái
Độ nghiêng trong của trục đứng hay trục quay của bánh xe: Độ hay góc
nghiêng trong β được tạo thành giữa trục đứng và mặt phẳng đứng của vành bánh xe (hình 5-8a) Độ nghiêng trong có tác dụng làm giảm mômen cản quay vòng, tức là giảm được khoảng cách từ đường tâm trục đứng đến điểm tiếp xúc của bánh xe với mặt đường và cho xe chuyển động thẳng ổn định Vì khi xe bị quay vòng, bánh xe dẫn hướng phải quay quanh trục đứng, nếu mặt đường cứng, thì phải nâng cả đầu xe lên, do
đó có lực cản nên bánh xe có xu hướng chuyển động thẳng (β = 0 ÷12°)
Độ (góc) nghiêng sau của trục đứng γ (hình 5-8d) so với mặt phẳng đứng cũng làm tăng tính ổn định của xe khi chuyển động thẳng, do tác dụng của lực phụ xuất hiện
ở điểm tiếp xúc của bánh xe với mặt đường khi quay vòng (γ = 60÷70)
So với bánh xích, bánh lốp có ưu điểm là độ bền và thời gian phục vụ lâu hơn, thường máy chạy khoảng 30000440000km hay 250043000h mới phải thay lốp Tốc độ
di chuyển lớn, có thể đạt 50460km/h, gấp 445 lần tốc độ di chuyển bằng xích Chế tạo
và bảo dưỡng đơn giản, chuyển động êm, hiệu suất cao, trọng lượng nhỏ, bằng 20%
Hình 5-8 Cách đặt bánh xe dẫn hướng.
A
B
Trang 9trọng lượng toàn máy và chỉ bằng 1/2 trọng
lượng của hệ thống di chuyển xích của máy
tương đương
Tuy nhiên bánh lốp cũng có nhược
điểm là áp suất lên đất hay đường lớn, tối đa
có thể 0,1540,50 MPa và phân bố không đều
(hình 5.9) Lực bám nhỏ nên khi máy di
chuyển để làm việc có hiện tượng trượt giữa
lốp và đường, do đó mất mát công suất, làm
giảm tốc độ di chuyển Khả năng vượt dốc
kém, thường chỉ vượt được dốc lớn nhất
khoảng 2004250
5.1.3 Hệ thống di chuyển bánh thép trên ray
Hệ thống di chuyển bằng bánh thép chạy trên đường ray cũng được dùng cho các máy nâng chuyển như cần trục tháp, cần trục làm trong ngành đường sắt Di chuyển bằng bánh thép có một số ưu điểm: lực cản di chuyển nhỏ, khả năng mang tải lớn, tạo
độ ổn định cao, cấu tạo đơn giản, giá thành hạ, độ tin cậy và tuổi thọ tương đối cao Nhược điểm của hệ thống di chuyển trên ray là tính cơ động thấp, chỉ di chuyển trên một tuyến đường nhất định Việc xây dựng đường ray tốn kém Khi chuyển chỗ làm việc, phải tháo dỡ máy và đường ray
5.1.4 Hệ thống di chuyển bằng phao nổi
Hệ thống di chuyển
bằng phao nổi, hay còn gọi là
pông tông, dùng cho các máy
xây dựng làm việc trên mặt
nước Các thiết bị xây dựng
được lắp trên phao nổi và có
thể tự di chuyển hay phải có ca
nô đẩy Các thiết bị này làm
nhiệm vụ: nạo vét kênh mương
(Xáng ngoặm), bốc xếp hàng
hoá ở bến cảng (cần cẩu nổi)
mà tàu không cập bến được,
trên các công trình thuỷ lợi,
công trình ven sông, công trình
biển và khai thác dầu khí ngoài trời Loại di chuyển này có ưu điểm là tốn ít năng
Hình 5-9 Phân bố ứng suất lên lốp
Hình 5.10 Máy ngoạm trên phao nổi
Trang 10lượng cho việc di chuyển, tự hành được trên mặt nước, đơn giản và rẻ tiền Nhược điểm
là phải có phao nổi hoặc tàu thuỷ Mức nước phải có độ sâu nhất định
5.2 Hệ thống điều khiển
5.2.1 Công dụng và phân loại
Hệ thống điều khiển trong máy xây dựng dùng để vận hành quá trình làm việc của máy bao gồm: khởi động, dừng máy, thay đổi tốc độ làm việc, di chuyển, hướng chuyển động Hệ thống điều khiển có ảnh hưởng đến năng suất, an toàn của thiết bị
và sức khoẻ của người điều khiển
Để thuận tiện cho người vận hành, tất cả các bộ phận điều khiển được lắp đặt trong cabin (buồng lái) Như vậy các thiết bị điều khiển được bố trí tập trung và dễ dàng
bố trí hợp lý đồng hồ đo báo, tay gạt, bàn đạp, nút ấn, cơ cấu truyền động ở dạng tay đòn, cần, van trượt, các thiết bị phụ kiểm tra động cơ và bộ phận công tác để người điều khiển thuận tiện thao tác và quan sát Đồng thời ca bin chống được tiếng ồn, bụi bặm do
đó làm cho người điều khiển dễ tập trung tư tưởng trong quá trình điều khiển, bảo vệ sức khoẻ để làm việc lâu dài
Theo chức năng điều khiển có thể chia ra điều khiển phanh, điều khiển ly hợp, điều khiển động cơ và điều khiển vị trí bộ công tác và điểu khiển hướng di chuyển
Cũng có thể chia hệ thống điều khiển theo phương pháp truyền năng lượng: điều khiển bằng cơ học, điều khiển bằng thuỷ lực, điều khiển bằng điện, điều khiển bằng khí nén và điều khiển hỗn hợp các loại trên
Cũng có thể chia các phương pháp điều khiển thành: điều khiển thông thường, điều khiển tự động và bán tự động
Điều khiển thông thường là dùng lực cơ bắp của tay hay chân để tác dụng trực tiếp vào hệ thống cần điều khiển Dạng này thường có kết cấu đơn giản, tuy nhiên rất tốn sức và đối với các máy móc có công suất lớn thì lực điều khiển sẽ lớn Trong các trường hợp đó người ta sử dụng các bộ phận trợ lực để giúp người điều khiển giảm lực đến mức cho phép; ví dụ: dùng thuỷ lực, khí nén Khi đó, vai trò của người lái chỉ là tác động để đóng, mở van hoặc bộ phận dẫn động hệ thống điều khiển mà thôi
Điều khiển tự động là chương trình điều khiển đã được lập theo chương trình sẵn, người điều khiển chỉ tác động tín hiệu bắt đầu hay kết thúc công việc Như vậy, máy điều khiển tự động là loại đã được chế tạo có trình độ công nghệ cao, đòi hỏi rất chính xác Hệ thống kiểm soát, đo kiểm tự động phải hoạt động có độ tin cậy cao, có hệ thống xử lý thông tin chính xác, nhanh nhậy