1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Quy mô và cơ cấu nợ công việt nam 2011 2016

33 507 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 727,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói cách khác, khi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệphí không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu, Nhà nước phải quyết định vay nợ đểthực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và ch

Trang 1

KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

TIỂU LUẬN TÀI CHÍNH CÔNG

Đề tài: “Quy mô và cơ cấu nợ công của Việt

Nam thời gian qua”

Nhóm 5:

Vũ Thúy Hòa- 1413310049 Nguyễn Thị Kim Thắm- 1413310108 Nguyễn Thị Kim Thoa- 1413310116 Giảng viên hướng dẫn: Tiến sỹ Nguyễn Thị Lan

Trang 2

MỤC LỤC CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT- NỢ CÔNG VÀ NHỮNG

VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 3

I Khái niệm nợ công 4

II Đặc điểm và bản chất 4

III Phân loại 7

IV Các hình thức vay của Chính phủ 8

V Các khó khăn gặp phải khi tính toán nợ công 9

VI Tác động 9

VII Tình hình nợ công thế giới và khu vực 10

CHƯƠNG 2: QUY MÔ VÀ CƠ CẤU NỢ CÔNG VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2011-2016 15

I Quy mô và cơ cấu nợ công giai đoạn 2011 – 2016 15

II Đánh giá 20

CHƯƠNG 3: NGUYÊN NHÂN VÀ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT CHO TÌNH TRẠNG NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM 26

I Nguyên nhân 26

II Giải pháp đề xuất 30

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BI

Biểu đồ 1- Nợ công/GDP của Việt Nam 15

Biểu đồ 2- Gánh nặng nợ công Việt Nam 2006-2015 16

Biểu đồ 3- Nợ công bình quân đầu người của Việt Nam 2006- 2015 17

Biểu đồ 4- Tỷ trọng nợ trong và ngoài nước 18

Biểu đồ 5- So sánh nợ công ở một số quốc gia Đông Nam Á 21

Biểu đồ 6- Nợ công bình quân đầu người ở Đông Nam Á 22

Biểu đồ 7- Chỉ số ICOR của Việt Nam 1995-2015 26

Y Bảng 1- Dư nợ công Việt Nam 2011-2016 15

Bảng 2- Cơ cấu Nợ công của Việt Nam 18

Bảng 3- Tỷ trọng nợ nước ngoài và nợ trong nước 18

Trang 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT- NỢ CÔNG VÀ NHỮNG

VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

I Khái niệm nợ công

Đối với mỗi quốc gia, mỗi giai đoạn nhất định trong quá trình quản lý xãhội và nền kinh tế, Nhà nước có lúc cần huy động nhiều hơn nguồn lực từ trong

và ngoài nước Nói cách khác, khi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệphí không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu, Nhà nước phải quyết định vay nợ đểthực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và chịu trách nhiệm trong việc chitrả khoản nợ đó –hay còn gọi là nợ công

Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới, nợ công được hiểu là nghĩa

vụ nợ của 4 nhóm chủ thể bao gồm:

(1) nợ của chính phủ trung ương và các bộ, ban ngành trung ương

(2) nợ của các cấp chính quyền địa phương

(3) nợ của Ngân hàng trung ương

(4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặcviệc lập ngân sách do Chính phủ phê duyệt hoặc chịu trách nhiệm trả nợ trongtrường hợp vỡ nợ

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nợ công ( hay nợ Quốc gia/ nợChính phủ) là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ trungương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho các khoản thâm hụt ngân sách

II Đặc điểm và bản chất

1 Đặc điểm:

 Nợ công Việt Nam chiếm tỉ lệ cao và tăng nhanh

Trang 5

Theo Bản tin tài chính số 4 năm 2016, chỉ trong vòng 6 năm 2015), nợ công Việt Nam đã tăng gấp 3 lần Đến cuối năm 2015, về số tuyệtđối, dư nợ công lên đến 2.608 nghìn tỷ đồng; về số tương đối, tỷ lệ nợcông/GDP ở mức 62,2%, áp sát ngưỡng kiểm soát 65% của Quốc hội Tuynhiên cần lưu ý do cách tính nợ công của Việt Nam chưa đồng bộ với chuẩnmực thế giới nên có sự khác biệt đáng kể giữa số liệu công bố của Chính phủ vàtính toán của các tổ chức độc lập Một tính toán của Ngân hàng Thế giới (WB,2015) cho thấy tỉ lệ nợ công của Việt Nam năm 2014 vào khoảng 59,6% GDP,thấp hơn ước tính chính thức Trong một nghiên cứu của Học viện Chính sách

(2010-và Phát triển, các tác giả chỉ ra số liệu được tính theo Luật Quản lý nợ công cóphạm vi hẹp hơn so với các tổ chức quốc tế Cách tính nợ công đề xuất bởinghiên cứu trên, trong đó bao gồm các khoản nợ mà ngân sách buộc phải chitrả2, cho thấy nợ công năm 2014 ở mức 65,2% GDP

 Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nướcKhác với khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản

nợ mà nhà nước( bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có tráchnhiệm trả khoản nợ ấy Trách nhiệm trả nợ của nhà nước được thể hiện dưới haigóc độ trực tiếp và gián tiếp Trực tiếp được hiểu là cơ quan nhà nước có thẩmquyền sẽ là người vay và sẽ chịu trách nhiệm trả nợ khoản vay đó luôn( Ví dụ:Chính phủ Việt Nam hoặc chính quyền địa phương) Gián tiếp là trường hợp cơquan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh để một chủ thể trong nước vay

nợ, trong trường hợp bên vay không trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc

về cơ quan đứng ra bảo lãnh( Vd: Chính phủ bảo lãnh để Ngân hàng Phát triểnViệt Nam vay vốn nước ngoài)

 Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của

cơ quan nhà nước có thẩm quyền

Trang 6

Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảmbảo 2 mụcđích: một là đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơnnữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia; Hai là

để đạt được những mục tiêu sử dụng vốn Hơn nữa, việc quản lý nợ công mộtcách chặt chẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị xã hội Theo quy địnhcủa pháp luật Việt Nam, nguyên tắc quản lý nợ công là Nhà nước quản lý thốngnhất, toàn diện nợ công từ việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việctrả nợ để đảm bảo 2 mục tiêu cơ bản trên

 Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là pháttriển kinh tế xã hội vì lợi ích chung

Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn những lợiích riêng của bất kỳ cá nhân tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của đất nước.Xuất phát từ bản chất của nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xãhội, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân nên đương nhiên các khoản nợ côngđược quyết định phải dựa trên lợi ích của nhân dân, mà cụ thể là để phát triểnkinh tế, xã hội của đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất

2 Bản chất:

Xét về bản chất kinh tế , khi Nhà nước mong muốn hoặc bắt buộc phảichi tiêu vượt quá khả năng thu của mình ( khoản thuế, phí, lệ phí và các khoảnthu khác) thì phải vay vốn và điều đó là phát sinh nợ công Như vậy, nợ công là

hệ quả của việc Nhà nước tiến hành vay vốn và chính nhà nước phải có tráchnhiệm hoàn trả

Một nguyên tắc quan trọng trong lĩnh vực tài chính công của nền kinh tế

cổ điển là nguyên tắc “ngân sách thăng bằng”, hay số chi bằng với số thu Điềunày giúp Nhà nướ tiết kiệm chi tiêu, hạn chế tình trạng Chính phủ lạm thuthông qua việc quyết đinh các khoản thuế

Trang 7

Trong khi Keynes cho rằng nhiều trường hợp khi nền kinh tế suy thoáidẫn đến đầu tư tư nhân giảm thấp , thì Nhà nước cần ổn đinh đầu tư bằng cáchvay tiền, và tham gia các dự án đầu tư công như xây dựng đường sá, cầu cống ,trường học cho đến khi nền kinh tế có mức đầu tư tốt trở lại

III Phân loại

1 Theo tính chất nợ

 Nợ Chính phủ: là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước,nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, Chính phủ hoặc cáckhoản vay khác do Bộ tài chính ký kết, phát hành theo quy định của pháp luật

Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng nhà nước Việt Namphát hành nhầm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ

 Nợ được chính phủ bảo lãnh: khoản nợ của doanh nghiepj, tổ chứctài chính, tín dụng vay trong và ngoài nước được Chính phủ bảo lãnh

 Nợ chính quyền địa phương: là khoản nợ do UBND tỉnh, thànhphố trực thuôc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành

2 Theo nguồn gốc địa lý của nguồn vốn vay

 Nợ trong nước: bên cho vay là tổ chức , cá nhân ở VN

 Nợ nước ngoài: bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnhthổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài Tóm lại là cáckhoản nợ công không phải là nợ trong nước

Việc phân loại này có ý nghĩa trong việc quản lỹ nợ, giúp xác định chínhxác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc tế Bên cạnh đó, việc quản lý nợnước ngoài còn để đảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước VN, vì các khoản vaynước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanhtoán quốc tế khác

3 Theo thời hạn nợ

Trang 8

 Dài hạn( trên 10 năm)

 Trung hạn( 1-10 năm)

 Ngắn hạn( dưới 1 năm)

4 Theo phương thức huy động vốn

 Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp

 Nợ công từ công cụ nợ

5 Theo tính chất ưu đãi của khoản vay

 Nợ công từ vốn vay ODA

 Nợ công từ vốn vay ưu đãi

 Nợ thương mại thông thường

6 Theo trách nhiệm đối với chủ nợ

 Nợ cong phải trả

 Nợ công bảo lãnh

7 Theo cấp quản lý nợ

 Nợ công của chính quyền trung ương

 Nợ công của chính quyền địa phương

IV Các hình thức vay của Chính phủ

1 Vay nợ trực tiếp

Chính phủ có thể vay trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chếtài chính quốc tế, các thể chế siêu quốc gia( Vd: Qũy tiền tệ quốc tế,…) Hìnhthức này được chính phủ các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi đohình thức vay nợ bằng phát hành trái phiếu không cao

2 Phát hành trái phiếu công

Chính phủ có thể phát hành Trái phiếu Chính phủ để vay từ các tổ chức ,

cá nhân Trái phiếu Chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi

ro tín dụng vì Chính phủ có thể tăng thuế, thậm chí in thêm tiền để thanh toán

Trang 9

cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn Trong khi trái phiếu Chính phủ phát hành bằng ngoạitệ( thường là các ngoại tệ mạnh có mức cầu lớn) thường có rủi ro tín dụng caohơn so với khi phát hành bằng nôi tệ vì Chính phủ có thể không có đủ nội tệ đểthanh toán, và còn chưa kể đến rủi ro về tỉ giá hối đoái

V Các khó khăn gặp phải khi tính toán nợ công

1 Lạm phát

Chi tiêu thâm hụt ngân sách khi tính toán thường không điều chỉnh ảnhhưởng của lam phát vì trong tính toán chi tiêu của Chính phủ, người ta tính toáncác khoản trả lãi vay theo lãi suất danh nghĩa trong khi đáng lẽ chỉ tiêu này chỉnên tính theo lãi suất thực tế Do lãi suất danh nghĩa bằng lãi suất thực tế cộng

tỉ lệ lạm phát, nên thâm hụt ngân sách đã bị phóng đại Trong những thời kì lạmphát ở mức cao và nợ chính phủ lớn thì ảnh hưởng của yếu tố này rất lớn

2 Tài sản đầu tư

Nhiều nhà kinh tế cho rằng tính toán nợ Chính phủ cần trừ đi tổng giá trịtài sản chính phủ Điều này cũng đơn giản như khi xử lý tài sản cá nhân, ví dụ:khi 1 người vay iền mua nhà thì thâm hụt được tính là trừ đi giá trị của căn nhà

đó Tuy nhiên khi tính toán bằng phương pháp này lại gặp phải vấn đề những gìnên coi là tài sản của chính phủ và tính toán giá trị của chúng như thế nào, vd:đường quốc lộ, chi tiêu giáo dục, …

VI Tác động

Trang 10

1 Tích cực

 Làm gia tăng nguồn lực cho nhà nước, tăng cường nguồn vốn đểphát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước ViệtNam đang trong giai đoạn tăng tốc phát triển nền kinh tế thị trường theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa, trong đó cơ sở hạ tầng là yếu tố quyết định Muốn pháttriển cơ sở hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất Vớichính sách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giảiquyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế

 Huy động nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhànrỗi trong dân cư Một bộ phận dân cư trong xã hội có các tài khoản tiết kiệm, vàthông qua việc Nhà nước vay nợ mà các khoản tiền nhàn rỗi này được sử dụng

và đem lại hiệu quả kinh tế cho cả khu vực công và khu vực tư

 Tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tỏ chức tài chínhquốc tế Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế - ngoại giao quantrọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo,cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương Nếu nước ta tận dụng được lợithế này sẽ có thêm nhiều nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầngtrên cơ sở tôn trọng lợi ích nước bạn, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền vàchính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước

2 Tiêu cực

Nợ công sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tàitrợ ngoài nước Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo, nợ công sec càngkém hiệu quả và tình trạng tham nhũng, lãng phí sẽ tràn lan nếu thiếu cơ chếgiám sát chặt chẽ việc sư dụng và quản lý nợ công

VII Tình hình nợ công thế giới và khu vực

Trang 11

Từ trước đến nay, hầu như không có nền kinh tếnào ,dù chậm phát triển,đang phát triển hay phát triển có thể tránh được mối lo nợ công

1 Các nước châu Âu

Theo báo cáo của Cơ quan Thống kê châu Âu (Eurostat), năm 2015,

nợ chính phủ của khu vực đồng Euro giảm còn 93,5% GDP so với mức94,5% GDP năm 2014, đây là dấu hiệu khả quan đầu tiên từ sau cuộckhủng hoảng kinh tế năm 2008 trở lại đây

Nhiều nước châu Âu vẫn có nợ công cao hơn rất nhiều so với mứctham chiếu 60% GDP của quy định trong Hiệp ước Maastricht Hy Lạp vẫnduy trì tỷ lệ nợ cao nhất khu vực châu Âu (196,95%), chỉ sau Nhật Bản(quốc gia có tỷ lệ nợ công cao nhất thế giới – 245,9% năm 2015) Tiếp theo

là Italia (133,11%), Bồ Đào Nha (127,8%), Bỉ (106,75%), Cyprus(106,37%), Ireland (100,63%, Tây Ban Nha (98,6%) Trong khi đó, cácnước Estonia, Luxembourg, Bulgaria vẫn duy trì được khoản nợ công thấpdưới 30% GDP

Hy Lạp vẫn được gọi là “tâm bão” của nợ công Tuy nhiên, mối đedọa Hy Lạp rời khỏi khu vực đồng tiền chung Euro đã tạm thời lắng dịu,khi ECB tăng cường các chương trình kích thích kinh tế đối với quốc gianày Theo dự báo của IMF, gói cứu trợ cần thiết để trang trải nhu cầu tàichính của Hy Lạp từ tháng 6/2015 đến cuối năm 2018 lên đến 60 tỷ Euro vàphải đến năm 2020 tỷ lệ nợ công Hy Lạp mới có thể ổn định hơn ở mứcdưới 110% GDP.Trong lịch sử nợ công thế giới có hai cuộc khủng hoảng

nợ công lớn đáng chú ý, trong đó cuộc khủng hoảng nợ công tại Eurozoneđến nay vẫn chưa có hồi kết.Cuộc khủng hoảng này xảy ra ngay sau giaiđoạn bùng nổ tín dụng, lãi suất cho trích lập rủi ro thấp, dư thừa thanh

Trang 12

khoản, đòn bẩy tài chính cao và bong bóng bất động sản Một nguyên nhânkhác là tình trạng tăng chi hoặc giảm thu ngân sách thiếu kiểm soát của cácnước Eurozone, mà sâu xa hơn là do chính sách tài khóa của các nước chưahài hòa và thiếu cơ chế phối hợp ứng phó.

Một điều dễ nhận thấy là hầu hết các quốc gia phát triển trên thế giới

là những nước có tỷ lệ rủi ro nợ công thấp nhất Theo đó, đứng đầu bảng về

độ an toàn là Đức, theo sau là Thụy Sỹ và Thụy Điển Mỹ, Anh lần lượt ở

vị trí thứ 4 và 5

Theo các chuyên gia, nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng nợcông châu Âu là do chính sách tài khóa thiếu bền vững và sự mất cân đốitrong việc vay nợ của các quốc gia Một ví dụ cụ thể là Hy Lạp, kể từ khigia nhập Eurozone vào năm 2001 đến khủng hoảng tài chính năm 2008,thâm hụt ngân sách của nước này trung bình khoảng 5% GDP/năm, so vớimức 2% GDP của Eurozone, và Hy Lạp đã không thể duy trì được thâm hụtngân sách và nợ nước ngoài theo quy định của EU Tuy vậy, Hy Lạp khôngphải là quốc gia duy nhất vì hầu hết trong số 28 thành viên EU đều khôngđạt được cam kết này vào thời điểm đó

2 Các nước châu Á và khu vực

Nhật Bản là một trong những nước vay nợ nhiều nhất thế giới, vớigánh nặng nợ công bằng hơn 2,5 lần GDP.Tuy nhiên, Nhật có nhiều khoảnđầu tư nước ngoài và tài sản nội địa, có thể được trừ vào gánh nặng nợ.Thêm vào đó, hầu hết các khoản nợ doanh nghiệp và tất cả khoản nợ củachính phủ đều là bằng đồng Yen, và hầu hết trái phiếu chính phủ của nướcnày được nắm giữ bởi các tổ chức trong nước, vì thế rủi ro dòng vốn tháochạy không cao

Trang 13

Trung Quốc là quốc gia có tổng nợ lớn thứ 2 Theo Financial Times,

nợ công nước này đã tăng lên mức kỷ lục là 237% GDP trong quý I năm

2016, vượt xa tỷ lệ nợ của các nước đang phát triển khác Tỷ lệ nợ trênGDP của Trung Quốc đang cao hơn nhiều so với các nước đang phát triểnkhác, và tương đương với ở Mỹ và khu vực eurozone Mặc dù quy mô nợcông Trung Quốc là một nguy cơ lớn, điều đáng lo hơn là tốc độ phình tocủa khối nợ này Theo sau là Ấn Độ , tỉ lệ nợ công đã lên tới gần 70% GDP,cao hơn nhiều so với các nước cùng được xếp hạng tín dụng BBB, theoFitch Nợ doanh nghiệp đang tăng lên, cùng với đà tăng của nợ xấu, tạo nênnhiều rủi ro cho ngành ngân hàng nước này

Dẫn số liệu của IMF – Triển vọng kinh tế thế giới (WEO) trong Báocáo kinh tế quý I vừa công bố, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương(CIEM) cho hay, so với một số nước ASEAN, Việt Nam có tỷ lệ nợ công

so với GDP cao hơn hẳn

Nợ công của Việt Nam cao gấp rưỡi đến gấp đôi nhiều nước trongkhu vực như Thái Lan, Indonesia, Philippines và Campuchia.Tuy nhiên,nếu xét về tăng trưởng GDP năm 2015, Việt Nam có mức tăng trưởng caohơn các nước này, chỉ sau Campuchia

Đáng nói hơn, theo dự báo của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) trongnhóm nước này Việt Nam là nước duy nhất có tỷ lệ nợ công/GDP tiếp tụctăng đến gần 68% GDP vào năm 2020

Trong khi đó, từ nay đến năm 2020, một số nước như Malaysia,Philippines, Indonesia… được cho là sẽ giảm mạnh nợ công Ngay như

Trang 14

Myanmar, nợ công cũng giảm mạnh từ 2011 đến nay và dự báo chỉ tăngnhẹ trong các năm tiếp theo.

Tuy nhiên , tại một số nước đang phát triển ở Đông Nam Á nhưMalaysia, Indonesia,…khi các khoản nợ nước ngoài tăng lên nhanhchóng.sự bình ổn của đồng nội tệ hiện tại có thể bị đe dọa bởi các yếu tố bất

ổn, chẳng hạn từ các món nợ bằng đồng USD Bởi Chính phủ và các công

ty tại Indonesia, Malaysia và các quốc gia khác trong khu vực đang tiếp tụcgia tăng việc vay mượn trong năm nay, sau khi liên tục bán đi một lượnglớn trái phiếu bằng USD trong 3 năm qua, trước mối lo Cục Dự trữ Liênbang Mỹ (Fed) nâng lãi suất có thể khiến đồng USD mạnh, tổn hại tới đồngtiền nội địa

Trang 15

CHƯƠNG 2: QUY MÔ VÀ CƠ CẤU NỢ CÔNG VIỆT

NAM GIAI ĐOẠN 2011-2016

I Quy mô và cơ cấu nợ công giai đoạn 2011 – 2016

1 Quy mô

Sau 30 năm mở cửa kinh tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu

to lớn, có ý nghĩa lịch sử Tiềm lực của đất nước đã lớn mạnh hơn nhiều,đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được cải thiện,chính trị - xã hội ổn định Trong vòng 10 năm trở lại đây, GDP của ViệtNam đã có bước tăng trưởng tới hơn 4 lần, nếu năm 2006 GDP cả nướcchưa đạt 1.000 nghìn tỷ đồng và GDP/đầu người khoảng 715 USD thì năm

2015 GDP đã đạt đến con số xấp xỉ 4.200 nghìn tỷ đồng và GDP/đầu người

là 2.019 USD GDP tăng trưởng tương đối bền vững, lạm phát được kiềmchế đáng kể

Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước đang phát triển, quy

mô nền kinh tế của Việt Nam vẫn là nhỏ so với mặt bằng chung của thếgiới; nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô

và công nghiệp nhẹ là chủ yếu Do đó, hiện tại và trong tương lai gần, việctăng vay nợ chính phủ nói riêng và nợ công nói chung là một nhu cầu tấtyếu vì Việt Nam vẫn rất cần sự hỗ trợ về mặt tài chính (tức là vay nợ vàviện trợ phát triển chính thức) từ các tổ chức đơn phương, đa phương trênthế giới để phát triển nền kinh tế hơn nữa

Theo thông tin được công bố của Bộ tài chính, nợ công Việt Namtính theo giá trị và tỉ trọng so với GDP từ 2011 – 2016 như sau:

Ngày đăng: 19/04/2017, 00:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w