12 điểm Trong tác phẩm Theo giòng, nhà văn Thạch Lam viết: “Công việc của nhà văn nhà thơ là phát hiện ra cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật để c
Trang 1Câu 1: (8,0 điểm)
Bóng nắng bóng râm
Con đê dài hun hút như cuộc đời Ngày về thăm ngoại, trời chợt nắng, chợt râm Mẹ bảo:
- Nhà ngoại ở cuối con đê.
Trên đê chỉ có mẹ, có con
Lúc nắng, mẹ kéo tay con:
- Đi nhanh lên kẻo nắng vỡ đầu ra.
Con cố
Lúc râm, con đi chậm, mẹ mắng:
- Đang lúc mát trời, nhanh lên, kẻo nắng bây giờ.
Con ngỡ ngàng: Sao nắng, râm đều phải vội?
Trời vẫn nắng, vẫn râm
Mộ mẹ cỏ xanh, con mới hiểu: Đời, lúc nào cũng phải nhanh lên
(Sưu tầm từ Internet) Câu chuyện trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về bài học cuộc đời
Câu 2 (12 điểm)
Trong tác phẩm Theo giòng, nhà văn Thạch Lam viết:
“Công việc của nhà văn (nhà thơ) là phát hiện ra cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật để cho người đọc một bài học trông nhìn và thưởng thức”.
Qua đoạn trích “Nỗi thương mình”( Truyện Kiều- Nguyễn Du), anh (chị)
hãy làm sáng tỏ nhận định trên
-Hết -(Lưu ý: Thí sinh không được sử dụng tài liệu,cán bộ coi thi không cần giải thích gì thêm.)
Họ và tên thí sinh:………SBD:………
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG PT VÙNG CAO VIỆT BẮC
ĐỀ THI ĐỀ XUẤT THI TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ IX, NĂM 2013
MÔN THI: NGỮ VĂN - LỚP: 10
(Thời gian làm bài: 180 phút, không kể thời gian giao đề)
Đề thi gồm 01 trang
Trang 2HƯỚNG DẪN CHẤM ĐỀ THI ĐỀ XUẤT THI TRẠI HÈ HÙNG VƯƠNG
LẦN THỨ IX NĂM 2013 , MÔN NGỮ VĂN 10
* Câu 1 (8 điểm):
Học sinh có thể làm theo nhiều cách khác nhau Tuy nhiên cần đảm bảo
những yêu cầu cơ bản sau:
I Yêu cầu về kĩ năng:
- Thí sinh biết cách làm bài nghị luận xã hội về một vấn đề tư tưởng đạo lý được thể hiện qua một câu chuyện ngắn gọn những giàu ý nghĩa
- Có sự hiểu biết sâu sắc về kiến thức xã hội và biết cách vận dụng kiến thức xã hội vào bài văn một cách hợp lý
- Bài viết có bố cục rõ ràng, lập luận và dẫn chứng thuyết phục; diễn đạt mạch lạc
II Yêu cầu về kiến thức:
Thí sinh có thể bộc lộ quan điểm của bản thân theo những cách khác nhau nhưng cần chân thành, hợp lí và thuyết phục Về cơ bản, cần đạt được một số ý chính sau:
1 Tìm hiểu nội dung câu chuyện (2.0 đ)
- Hiểu nội dung câu chuyện: (0,5đ)
Con đê có khi nắng, khi râm là do thời tiết Còn nhiệm vụ của chúng ta là phải đi
qua bóng nắng, bóng râm đó mới có thể đi trọn được con đường của mình
- Giải thích hình ảnh: (0,5đ)
+Bóng nắng: tượng trưng cho những khó khăn, trở ngại, gian nan, thử thách và cả những thất bại mà con người có thể gặp phải trong cuộc sống
+ Bóng râm: Tượng trưng cho những điều may mắn, thuận lợi, những cơ hội, thành công trong cuộc đời
+ Con đê: tượng trưng cho con đường đời mà con người phải đi qua Nó ẩn chứa những khó khăn, trắc trở và cả những may mắn thuận lợi buộc con người phải đi
Trang 3qua (tức là chúng ta phải đón nhận tất cả) mà không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người
- Ý nghĩa câu chuyện: (1đ)
Câu chuyện khuyên con người, dù trong bất kể hoàn cảnh nào cũng phải có ý chí, nghị lực, phấn đấu vươn lên Không nản chí trước khó khăn, không tự mãn trước thắng lợi Luôn biết nắm bắt thời cơ để thành công hơn nữa.
2 Bàn luận vấn đề (4,0đ)
- Cuộc đời là một dòng chảy vô tận, với nhiều cơ hội và cả thách thức, hạnh phúc và khổ đau, thuận lợi và khó khăn buộc con người phải đón nhận nó như một phần tất yếu của cuộc sống (0,5đ)
- Muốn đạt đến cái đích vinh quang, gặt hái được thành công trong cuộc sống, con người phải nhận thức được đâu là những khó khăn, thử thách mà mình phải nỗ lực vượt qua Có khi gặp thất bại, cũng không được phép nản chí, đầu hàng, buông xuôi Bởi có khi “thất bại là mẹ của thành công” Mỗi lần vấp ngã sẽ làm cho mình trưởng thành hơn (0,5đ)
- Mặt khác cũng cần nhìn nhận những mặt thuận lợi trong cuộc sống, những điểm mạnh của bản thân để chủ động đón nhận nó, tự tạo cơ hội cho sự thành công của mình (0,5đ)
- Không tự ti trước những thất bại cũng như không tự mãn trước những thành công (0,5đ)
- Muốn đến được bến đỗ bình an của cuộc đời, con người không nên thụ động trước những biến cố xảy ra trong cuộc sống Bình thản đón nhận nó và sống hết
mình, sống có ích, luôn trân trọng từng phút, từng giây bởi cuộc sống là không chờ đợi và cũng bởi hạnh phúc có thể nằm ngay trong khổ đau Hạnh phúc hay khổ đau
phụ thuộc vào cách nhìn và thái độ sống của bản thân mỗi người (1,0đ)
3 Bài học nhận thức và hành động (2đ)
- Có cái nhìn biện chứng về cuộc đời (0,5đ)
Trang 4- Luôn xác định được thái độ sống đúng đắn: Không nên sống hoài, sống phí Sống khẩn trương, sống tích cực, làm nhiều việc có ích cho bản thân, cho mọi người, cho xã hội (1đ)
- Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình Biết trao và nhận yêu thương, cuộc
đời sẽ trở nên có ý nghĩa (0,5)
*Câu 2 (12,0 điểm)
I Yêu cầu về kĩ năng
- Hiểu đúng yêu cầu của đề bài, biết cách làm bài nghị luận văn học, bố cục chặt chẽ, diễn đạt trong sáng, có cảm xúc, có hình ảnh; dẫn chứng chọn lọc, không mắc lỗi dùng từ, diễn đạt và ngữ pháp
- Biết vận dụng các thao tác nghị luận, giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh thuần thục
- Biết cách đưa kiến thức lý luận văn học hợp lý
II Yêu cầu về nội dung
Thí sinh có thể trình bày theo nhiều cách khác nhau nhưng phải đảm bảo những ý cơ bản sau:
1 Giải thích (2,0đ)
*“Công việc của nhà văn (nhà thơ) là phát hiện ra cái đẹp ở chỗ không ai ngờ tới, tìm cái đẹp kín đáo và che lấp của sự vật” (1đ)
- Văn học nhận thức và phản ánh đời sống theo quy luật của cái đẹp Sáng tạo cái đẹp là một mục đích và nhu cầu của con người trong nhiều lĩnh vực Nhưng đối với nghệ thuật và văn học, đây là một đòi hỏi, một yêu cầu tiên quyết
- Cuộc sống vốn đa dạng, muôn màu muôn vẻ Đôi khi cái đẹp, cái thiện, cái tốt lẫn lộn vơi cái xấu, cái ác
- Nhà văn phải có tình cảm mãnh liệt, từng trải, giàu văn hóa, có trí tưởng
tượng phong phú… nhưng quan trọng là phải có con mắt tinh đời để phát hiện và khẳng định cái đẹp kín đáo và che lấp.
Trang 5*Nhà văn qua tác phẩm của mình phải đem đến cho người đọc ‘một bài học
trông nhìn và thưởng thức”(1đ)
- Nhà văn không chỉ là người phát hiện ra cái đẹp còn ẩn khuất mà cần phải
có tư tưởng, lập trường vững vàng để đem đến cho người đọc một bài học về cách nhìn.
- Nhà văn phải có tài năng, cá tính, có thái độ lao động nghệ thuật nghiêm túc để cho ra sản phẩm nghệ thuật chân chính, giúp người đọc có được sự rung cảm nghệ thuật, “thưởng thức” và cảm nhận được nét đẹp trong cá tính sáng tạo của nhà văn
2 Phân tích đoạn trích “Nỗi thương mình” để chứng minh.(10đ)
- Nêu xuất xứ đoạn trích: Thúy Kiều đang ở lầu Ngưng Bích thì bị Tú Bà lập mưu cho Sở Khanh dụ nàng đi trốn để bắt về, lấy cớ đó ép nàng phải tiếp khách Thúy Kiều mắc lừa và buộc phải chấp nhận cuộc sống tủi nhục, ê chề nơi chốn lầu xanh (0,5đ)
- Phân tích đoạn trích để làm nổi bật các ý (9,5đ)
+ Nỗi niềm đau đớn, xót xa của Thúy Kiều nơi lầu xanh: Kiều thương cho cuộc đời minh đầy bất hạnh; thương cho thân phận mình bị chà đạp,đọa đày; thoảng thốt trước sự đổi thay thảm hại của chính mình; cảm nhận rõ ràng về sự lạc lõng, thiếu người tri kỷ nơi lầu xanh…Đó những biểu hiện của một con người
có khát vọng sống mãnh liệt, có ý thức cao về quyền sống bản thân, về phẩm giá của mình (2đ)
+ Sự đồng cảm và tấm lòng yêu thương, trân trọng của Nguyễn Du: Tác giả có cái nhìn nhân đạo bao dung, mới mẻ về nhân cách, phẩm giá đối với một người kĩ nữ như Kiều Nguyễn Du không hề thể hiện thái độ coi thường, khinh
rẻ, lên án cũng không hề tránh né hiện thực tủi hổ mà miêu tả thực tế ấy với thái
độ trân trọng, cảm thông, bênh vực Từ đó làm sáng lên vẻ đẹp nhân cách của cô Kiều (2đ)
Trang 6+ Nguyễn Du đã đem đến cho người đọc một bài học về sự trông nhìn, làm dấy lên trong lòng người sự thương cảm, trân trọng trước kiếp tài hoa, bạc mệnh (0,5đ)
+ Đoạn trích tựa hồ như một cung đàn không bao giờ lỡ nhịp, tạo nên những rung động thẩm mĩ sâu xa trong lòng người đọc (5đ)
Sử dụng những ước lệ, điển cố quen thuộc trong thơ ca trung đại một
cách hợp lý, nhằm thi vị hóa hiện thực (lá gió cành chim, mưa Sở mây tần, gió tựa hoa kề, cung cầm trong nguyệt…) Nhờ thế, tả cảnh sống thực của Thúy Kiều
nơi lầu xanh nhưng vẫn giữ được chân dung cao đẹp của nhân vật
Phá vỡ những cấu trúc cố định (thành ngữ, từ ghép) để tạo thành những
kết hợp mới: bướm lả ong lơi, dày gió dạn sương, bướm chán ong chường…
nhằm tăng hiệu quả diễn đạt, cụ thể hóa nét nghĩa
Khai thác các hình thức đối xứng: từ, cụm từ, câu linh hoạt, sáng tạo kết hợp với phép điệp vừa tạo âm điệu cho thơ vừa chuyển tải nỗi niềm, tâm trạng của nhân vật
Sử dụng từ ngữ đắc địa, giàu sức gợi: giật mình, xuân ai…
Nhịp thơ biến hóa linh hoạt, khi toàn nhịp chẵn, đều đặn, khi nhịp chẵn
lẻ không đều góp phần diễn tả được những biến chuyển tinh vi của tâm trạng con người
Tiếng Việt được sử dụng giản dị mà trong sáng, phong phú, uyển chuyển
có khả năng khái quát những chân lý cuộc sống và đã trở thành tiếng nói chung
cho bao nỗi niềm (Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ; Vui là vui gượng đó là/ Ai tri âm đó mặn mà với ai)