Do khối lượng tính toán thiết kế xe khá lớn nên ở đề tài “ Thiết kế đóng mới xe chở rác ba bánh” em được giao nhiệm vụ: “ Thiết kế hệ thống phanh xe chở rác ba bánh ” với một số cải tiế
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Hiện nay vấn đề gia tăng dân số, tốc độ đô thị hoá nhanh tại các thành phố, đi
kèm với nó là lượng rác thải lớn, ô nhiễm môi trường Giải quyết vấn đề này đang
là một trong những thách thức đối với chính quyền thành phố Thực trạng này cũng
đang diễn ra tại thành phố Đà Nẵng, hiện nay trên địa bàn thành phố, với lượng rác
thải ra mỗi ngày quá lớn, trong khi ngân sách TP còn hạn hẹp, chưa thể đáp ứng
được đủ xe chuyên dụng cuốn ép tự động, bởi loại xe này hiện nay còn phải mua
của nước ngoài với giá khá đắt Để giải quyết vấn đề này, đã từ lâu Công ty Môi
trường Đô thị TP đưa vào hoạt động một số lượng lớn các loại xe thô sơ sử dụng
sức người, trên những con đường rộng từ 2 - 3m và khu vực quanh các trạm trung
chuyển, để vận chuyển rác về các trạm
Để nâng cao hiệu suất thu gom rác, giảm bớt sức lao động cho người công nhân
bằng cách cơ giới hoá một phần phương thức vận chuyển, đồng thời cũng nhằm giải
quyết tốt vấn đề ô nhiễm môi trường đô thị do khí xã động cơ, đề tài đi vào thiết kế
loại xe gắn máy chạy bằng nhiên liệu khí hoá lỏng( LPG) để chở thùng rác thay cho
các xe ba gác đạp hiện nay
Đề tài “ Thiết kế xe chở rác ba bánh chạy bằng nhiên liệu LPG” cũng đã được
nhiều nhà khoa học cũng như sinh viên trường Đại Học Bách Khoa- Đại Học Đà
Nẵng quan tâm nghiên cứu và đã đạt được kết quả nhất định, tuy vậy đề tài này
chưa ứng dụng thực tế được Do khối lượng tính toán thiết kế xe khá lớn nên ở đề
tài “ Thiết kế đóng mới xe chở rác ba bánh” em được giao nhiệm vụ: “ Thiết kế hệ
thống phanh xe chở rác ba bánh ” với một số cải tiến để đáp ứng được yêu cầu kỹ
thuật của xe mà đề tài trước đó chưa giải quyết được
Với kiến thức và kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế, tài liệu tham khảo về các
loại xe ba bánh còn ít, thời gian thực hiện ngắn nên mặc dù đã cố gắng tìm tòi,
nghiên cứu, làm việc một cách nghiêm túc nhưng quá trình tìm ý tưởng thiết kế và
xe thiết kế ra có thể còn nhiều nhược điểm chưa thể giải quyết hết Kính mong được
các thầy cô chỉ bảo để đề tài của em được hoàn thiện hơn
Trang 2Sau cùng em xin được chân thành cảm ơn thầy cô giáo trong khoa, đặc biệt là thầy
giáo hướng dẫn Th.s LÊ VĂN TỤY , thầy Nguyễn Việt Hải và các thầy cô giáo
trong Trung tâm thí nghiệm động cơ và ô tô đã tận tình hướng dẫn giúp đỡ em trong
Trang 3MỤC LỤC TRANG
1 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA ĐỀ TÀI 6
1.1 VẤN ĐỀ THU GOM VÀ VẬN CHUYỂN RÁC THẢI
6
1.2 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA ĐỀ TÀI
7
2 PHÂN TÍCH TÌM PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ XE 8
2.1 KÍCH THƯỚC, KHỐI LƯỢNG CỦA THÙNG RÁC CẦN CHUYÊN CHỞ
8
2.1.1 Loại thùng 660 lít 8
2.1.2 Loại thùng 240 lít 9
2.2 YÊU CẦU CỦA XE CẦN THIẾT KẾ
9
2.3 PHÂN TÍCH TÌM PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ
10
2.3.1 Phương án cắt bỏ phần đuôi xe gắn máy và thay vào đó là nửa rơmoóc 10
2.3.2 Phương án thiết kế xe có một bánh chủ động sau và hai bánh dẫn hướng trước 10
2.3.3 Thiết kế xe ba bánh một bánh dẫn hướng trước và hai bánh sau 11
3 THIẾT KẾ KÍCH THƯỚC TỔNG THỂ CHUNG 11
3.1 XÁC ĐỊNH SƠ BỘ CHIỀU DÀI CỦA XE
Trang 43.1.1 Chiều dài toàn bộ xe 11
3.1.2 Chiều dài cơ sở của xe 13
3.2 XÁC ĐỊNH CHIỀU CAO XE
16
3.3 XÁC ĐỊNH CHIỀU RỘNG XE
17
4 XÁC ĐỊNH CÁC TOẠ ĐỘ TRỌNG TÂM XE 17
4.1 XÁC ĐỊNH CÁC TOẠ ĐỘ TRỌNG TÂM KHI XE KHÔNG TẢI 17
4.1.1.Xác định toạ độ trọng tâm xe theo chiều dọc 17
4.1.2 Xác định toạ độ trọng tâm xe theo chiều cao 17
4.2 XÁC ĐỊNH CÁC TOẠ ĐỘ TRỌNG TÂM KHI XE ĐẦY TẢI 19
4.2.1.Xác định toạ độ trọng tâm xe theo chiều dọc 19
4.2.2 Xác định toạ độ trọng tâm xe theo chiều cao 20
5 THIẾT KẾ HỆ THỐNG PHANH 21
5.1 LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HỆ THỐNG PHANH
21
5.1.1 Công dụng 21
5.1.2 Phân tích yêu cầu 21
5.1.3 Phân loại sơ bộ 23
5.2 TÍNH MÔ MEN PHANH CẦN SINH RA Ở CÁC CƠ CẤU PHANH 24
5.3 PHÂN TÍCH, CHỌN LOẠI DẪN ĐỘNG PHANH VÀ CƠ CẤU PHANH
27
Trang 55.3.1 Chọn loại dẫn động phanh 27
5.3.2.Chọn loại cơ cấu phanh 29
5.4 XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA CƠ CẤU PHANH SAU 33
5.4.1 Bán kính bề mặt ma sát của trống phanh 33
5.4.2 Chọn các kích thước còn lại 34
5.4.3 Xác định lực ép cần thiết 35
5.4.4 Tính bề rộng má phanh 37
5.4.5 Kiểm tra điều kiện tự siết 39
5.5 XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CƠ CẤU PHANH TRƯỚC 40
5.5.1 Bán kính ngoài r 1 , bán kính trong r 2 , bán kính trung bình r tb của đĩa phanh 40
5.5.2 Lực ép cần thiết 40
5.5.3 Diện tích bề mặt làm việc của má phanh 41
5.6 TÍNH TOÁN KIỂM TRA NHIỆT VÀ MÀI MÒN
43
5.6.1.Tính toán mài mòn 43
5.6.2 Tính toán nhiệt 45
5.7 TÍNH TOÁN DẪN ĐỘNG PHANH
51
5.7.1.Các phương án điều khiển hệ thống phanh 51
5.7.2 Tính toán dẫn động phanh thuỷ lực điều khiển bằng bàn đạp 51
5.8 PHANH DỪNG
57
Trang 65.9 TÍNH TOÁN HIỆU QUẢ PHANH.
61
5.9.1 Đặc tính phanh của xe thiết kế 61
5.9.2 Momen phanh thực tế 71
5.9.3 Xác định các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả phanh 72
6 KẾT LUẬN
7
3
1 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA ĐỀ TÀI
1.1 VẤN ĐỀ THU GOM VÀ VẬN CHUYỂN RÁC THẢI
Hiện nay quá trình thu gom rác thải được thực hiện như sau:
Trang 7+ Ở những khu vực đã có trạm trung chuyển: Rác từ các hộ dân được bỏ vào các
thùng rác đặt trên đường (đối với đường hẻm) hay bỏ lên thùng rác đặt trên xe ba
gác (đối với đường xe ba gác có thể vào được), sau đó công nhân URENCO (công
ty Môi Trường Đô Thị) đạp xe rác đến các trạm trung chuyển Ở đây rác được ép lại
vào các thùng 10 tấn để các xe tải chở lên đổ ở bãi rác Khánh Sơn
+ Ở những khu vực chưa có trạm trung chuyển: Rác từ các hộ dân được thu gom
bởi các xe ba gác hoặc bỏ vào các thùng rác đặt trên đường Sau đó các xe ép rác
đến thu gom các thùng rác và trực tiếp chở đi đổ ở bãi rác Khánh Sơn
Hiện nay Công ty môi trường Đô thị Đà Nẵng có các trạm nén ép rác được
URENCO sử dụng làm trạm trung chuyển tại chợ Đống Đa, công viên (đường
Nguyễn Tri Phương) và đường Phan Thành Tài, trạm Hòa Thọ, trạm Đò Xu, Trạm
Chợ Đầu Mối, trạm Thanh Lộc Đáng, trạm Hoà Khánh, trạm Hoà An, trạm Ngô Gia
Tự
Với phương thức thu gom rác trên đây, việc vận chuyển thùng rác đến các trạm
trung chuyển đóng vai trò quan trọng Trong tương lai các xe tải ép rác không còn
đi lấy rác dọc đường mà chỉ vận chuyển các thùng rác đã được nén ép sẵn từ các
trạm trung chuyển lên Khánh Sơn Do đó, tất cả các thùng rác dọc đường hay trong
ngõ hẻm đều do công nhân đạp hay kéo đến các trạm trung chuyển Việc làm này
đòi hỏi người công nhân phải bỏ ra sức lực rất nhiều, sự cố gắng quá sức trong khi
thu nhập còn khiêm tốn, người công nhân không có điều kiện vật chất bù đắp lại sức
lao động đã bỏ ra Vì vậy phương án thu gom và vận chuyển rác tại Đà Nẵng có
hiệu quả trước mắt nhưng không phải là phương án lâu dài bền vững
1.2 MỤC ĐÍCH, Ý NGHĨA ĐỀ TÀI
Để giải quyết một phần sức lao động cho người công nhân Công ty môi trường đô
thị, tăng hiệu quả thu gom rác cần phải cơ giới hoá một phần phương thức vận
chuyển các thùng rác đến các trạm trung chuyển thay cho các loại xe ba gác đạp thủ
công hiện nay Ngoài ra khi sử dụng các xe ba gác thủ công để vận chuyển rác thì
Trang 8vừa chậm, mất nhiều thời gian, vừa không đảm bảo vệ sinh, mất mỹ quan đô thị Do
vậy cần thiết kế loại xe gắn động cơ có kết cấu đơn giản dễ sử dụng để có thể
chuyên chở thùng rác được nhanh gọn hơn, làm cho bộ mặt đô thị của Thành phố
ngày càng đẹp hơn
Mặt khác xe thiết kế làm việc trong thành phố nên nó cũng phải đảm bảo an toàn,
chạy êm, ít gây ồn và ô nhiễm môi trường Đề tài đi vào thiết kế kiểu xe kéo rác
chạy bằng khí dầu mỏ hóa lỏng LPG, loại động cơ sử dụng trên xe là động cơ xe
gắn máy đã thiết kế, cải tạo hệ thống nhiên liệu cho phù hợp với việc sử dụng một
trong hai loại nhiên liệu LPG và xăng Theo các công trình nghiên cứu của GS
TSKH Bùi Văn Ga khi sử dụng LPG trên động cơ xe gắn máy thì với đặc điểm
động cơ thường xuyên sử dụng ở tải lớn nhưng tốc độ thấp như động cơ gắn trên xe
thiết kế thì sử dụng LPG rất có lợi về mặt ô nhiểm môi trường Kết quả đo ô nhiểm
của xe khi chạy bằng xăng nguyên thuỷ và khi chạy bằng ga LPG cho thấy rằng
nồng độ các chất ô nhiểm trong khí xả động cơ đạt giá trị cực thấp khoảng 0,5%
đối với CO và 20ppm đối với HC ở chế độ tốc độ giới hạn So với khi chạy bằng
xăng, ở các chế độ này mức độ phát ô nhiểm khi chạy bằng LPG chỉ khoảng 10%
Ở các chế độ trung gian, mức độ giảm ô nhiễm dao động từ 80% đến 50% so với
khi chạy bằng xăng Nhờ đó nó sẽ giảm được tác hại đến sức khoẻ con người và
môi trường do những chất khí thải độc hại của động cơ
2 PHÂN TÍCH TÌM PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ XE
2.1 KÍCH THƯỚC, KHỐI LƯỢNG CỦA THÙNG RÁC CẦN CHUYÊN CHỞ
Hiện tại thành phố Đà Nẵng có hai loại thùng rác đó là loại thùng 660 lít và loại
thùng 240 lít Có kích thước và khối lượng cụ thể như sau:
Trang 9- Đường kính bánh xe: 200 (mm)
+ Khối lượng:
- Khối lượng bản thân: 60 (kg)
- Khối lượng riêng của rác thải sinh hoạt là: 0,4 (kg/lít)
Khối lượng định mức của thùng khi đầy tải là:
- Khối lượng bản thân: 24,4 (kg)
- Khối lượng định mức của thùng khi đầy tải là:
m = 24,4 + 0,4.240 = 120,4 (kg)
Xe thiết kế cần phải chuyên chở cả hai loại thùng rác trên nên kích thước thùng
cần phải có những kích thước tối thiểu về chiều dài 1200 mm và bề rộng là 720 mm
2.2 YÊU CẦU CỦA XE CẦN THIẾT KẾ
+ Có kích thước nhỏ gọn chỉ cần vừa đủ để chuyên chở một thùng rác loại 660 lít
có trọng lượng khoảng 300 KG hoặc hai thùng rác 240 lít, mỗi thùng có trọng lượng
khoảng 120 KG
+ Sử dụng nguồn lực của xe gắn máy hiện có bao gồm động cơ, ly hợp, hộp số,
hệ thống chuyển động v.v Ngoài ra cần phải có thêm hộp số phụ để gài số lùi, bộ
vi sai cho cầu sau
+ Có chiều cao từ sàn thùng xe đến mặt đất nhỏ để có thể đẩy bằng sức người
thùng rác lên sàn xe mà không sử dụng các thiết bị phụ để hổ trợ như tời, xích,
Trang 10+ Đảm bảo cho người điều khiển xe được thuận tiện để vận hành trong một số đường hẻm chật hẹp, giảm được hành lang và bán kính quay vòng
+ Xe thiết kế phải là một chiếc xe có cấu tạo đơn giản, dễ chế tạo, dễ sử dụng, an
toàn khi chuyển động trên đường và giá cả phải chăng
2.3 PHÂN TÍCH TÌM PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ
2.3.1 Phương án cắt bỏ phần đuôi xe gắn máy và thay vào đó là nửa rơmoóc
Trên cơ sở xe gắn máy đã có sẵn, ta cắt bỏ một phần đuôi và thân xe, sau đó nối
đàn hồi hoặc hàn cứng thùng chứa thùng rác vào phần còn lại của xe Trong trường
hợp hàn cứng thùng xe cùng với phần còn lại của xe trở thành một khối cứng cùng
dao động và tác dụng lên hệ thống treo của xe Trong trường hợp nối đàn hồi thì
phần còn lại của xe dao động trên cặp gắp cùng khung xe còn thùng xe có hệ thống
treo riêng
Phương án này có ưu điểm là đơn giản, dễ cải tạo có thể dùng ngay khung sườn xe
gắn máy đã có sau đó gia cố thêm, ngoài ra thùng rác đặt đằng sau người lái nên
người lái ít nghe mùi hôi của rác
Tuy nhiên phương án này có nhược điểm là:
+ Nếu sử dụng bộ truyền xích thì xích quá dài vì thế xích sẽ nhanh chùng, tuổi thọ
xích không đảm bảo vì khoảng cách trục quá lớn không tương thích với bước xích
của loại xích dùng trên xe gắn máy Bộ xích quá dài cũng gây khó khăn cho việc bôi
trơn bảo dưỡng và cần sử dụng thêm một bánh căng xích để điều chỉnh độ căng của
xích
+ Chiều dài toàn bộ xe tương đối lớn làm cho việc quay vòng khó khăn
2.3.2 Phương án thiết kế xe có một bánh chủ động sau và hai bánh dẫn
hướng trước
Trong trường hợp này thùng xe sẽ đặt đằng trước nếu không thiết kế hình thang lái
mô hình xe sẽ giống như những loại xe ba gác máy hiện tại đang sử dụng
Ưu điểm: Trong trường hợp quay vòng người lái cần phải đẩy cả thùng xe chứa tải
đi nên quay vòng nặng, do cấu tạo chiều cao thùng chứa rác quá cao nên để đảm
Trang 11bảo tầm nhìn của người lái yên xe sẽ phải rất cao, làm tăng thêm chiều cao trọng
tâm xe và người lái xe cần phải tốn nhiều lực để quay cả thùng xe, vả lại thùng rác
đặt đằng trước gây mất vệ sinh ảnh hưởng đến sức khoẻ của công nhân lái xe Bánh
chủ động đặt đằng sau nên không tận dụng được trọng lượng tải làm trọng lượng
bám nên tính năng động lực của xe khi chuyển động trên mặt đường có hệ số bám
thấp sẽ rất kém
Nhược điểm: Hành lang và bán kính quay vòng xe giảm, tính ổn định chuyển
động thẳng của xe sẽ tốt hơn so với phương án bên dưới
Nếu thiết kế thêm hệ thống hình thang lái như ôtô thì việc quay vòng xe sẽ ít tốn
sức lực hơn Nhưng những nhược điểm còn lại cũng không khắc phục được
2.3.3 Thiết kế xe ba bánh một bánh dẫn hướng trước và hai bánh sau
Phần lớn những xe ba bánh đều được thiết kế theo phương án này Đây là phương
án có tính kỹ thuật hơn cả cũng như phương án thứ hai toàn bộ khung sườn xe đều
được thiết kế có tính toán đến tải trọng cần chuyên chở nên đảm bảo được độ bền và
có một hệ số an toàn nhất định
Phương án này có ưu điểm: Hai bánh xe chủ động đặt phía sau nên tận dụng được
trọng lượng bám, tải được chất đằng sau nên mùi hôi của rác thải ít ảnh hưởng đến
người lái, phía trước chỉ có một bánh xe dẫn hướng nên không cần phải thiết kế hệ
thống lái như phương án thứ nhất mà điều khiễn xe dễ và nhẹ nhàng hơn
Tuy nhiên phương án này có nhược điểm là phải thiết kế lại khung sườn, hệ thống
truyền lực, hệ thống treo, hệ thống phanh để đảm bảo các yêu cầu kỹ thuật của xe
Qua phân tích một số phương án trên ta chọn phương án thiết kế thứ ba đó là thiết
kế lại toàn bộ xe
3 THIẾT KẾ KÍCH THƯỚC TỔNG THỂ CHUNG
3.1 XÁC ĐỊNH SƠ BỘ CHIỀU DÀI CỦA XE
3.1.1 Chiều dài toàn bộ xe
Đối với xe ba bánh thiết kế để rút ngắn chiều dài xe ta xem như chiều dài toàn bộ
của xe chỉ phụ thuộc vào chiều dài thùng chứa thùng rác, khoảng cách từ vị trí
Trang 12người lái đến tay lái để người lái điều khiển xe được thuận tiện, góc đặt của trục
quay cổ phuộc xe và đường kính bánh xe trước mà tạm thời chưa quan tâm đến tính
ổn định chuyển động thẳng của xe Ta thấy rằng:
+ Loại lốp trước: Theo thực tế một số loại xe ba gác đã chế tạo, ta có thể chọn sơ
bộ loại lốp có bán trên thị trường của xe Haesun có kích thước như sau:
D = 420 (mm)
d = 276 (mm)
b = 100 (mm)
+ Góc đặt trục quay cổ phuộc liên quan đến tính ổn định lái Theo [7] góc đặt trục
quay cổ phuộc tay lái xe thường nằm trong khoảng 600 ÷ 650 , Đối với kết cấu
khung của xe Haesun có góc đặt phuộc là 610 khi đó cánh tay đòn tạo momen ổn
định làm bánh xe có xu hướng quay về vị trí trung gian khi bị lệch khỏi vị trí này là
C = rb sin(90- 61) =
2
420 sin29 = 101,81 (mm)
+ Khoảng cách từ tay lái đến sau yên xe: Khoảng cách này được chọn phải đảm
bảo cho người lái thuận lợi và thoải mái khi vận hành và điều khiển xe Đối với xe
gắn máy khoảng cách này khoảng từ 600 ÷ 700 mm, Đối với xe thiết kế ta chọn
khoảng cách từ tay lái đến sau yên xe lớn (700 mm) để đảm bảo không gian cho
việc bố trí động cơ, hệ thống truyền lực
+ Chiều dài thùng chứa xác định từ chiều dài thùng rác cần chuyên chở ( 1200
mm) do vậy chiều dài toàn bộ của thùng chứa thùng rác khoảng 1400 mm
Từ các giá trị trên ta vẽ phác thảo xe thiết kế như hình 3.1 bên dưới và xác định
được chiều dài toàn bộ của xe là: La = 2800 (mm)
Trang 13Hình 3.1: Chiều dài toàn bộ xe thiết kế
3.1.2 Chiều dài cơ sở của xe
Việc xác định chiều dài cơ sở của xe phụ thuộc vào vị trí đặt dầm cầu sau của xe
Ta thấy rằng chiều dài cơ sở của xe càng ngắn thì tính linh hoạt quay vòng của xe
càng cao hay nói cách khác là rút ngắn được hành lang và bán kính quay vòng cho
xe, tuy nhiên nếu chiều dài cơ sở xe ngắn quá thì tải trọng đề lên cầu sau sẽ lớn và
góc thoát sau của xe sẽ giảm Như vậy ta không thể chọn chiều dài cơ sở xe chỉ theo
tiêu chí tính linh hoạt của xe mà còn phải đảm bảo sự phân phối tải trọng ra các cầu
xe một cách hợp lý vì điều này liên quan đến tính ổn định của xe thiết kế và nhiều
chỉ tiêu khác Tham khảo [1] đối với ôtô tải 2 trục loại 4x2, khi chuyên chở đầy tải,
thông thường trọng lượng phân bố ra cầu trước chỉ bằng 25 ÷ 30 % trọng lượng
phân phối ra cầu sau Với loại xe ba bánh có công thức bánh xe 3x2 thì ta cũng có
thể phân bố trọng lượng ra bánh trước và cầu sau theo tỷ lệ như trên tức là:
G1 = (0,2 ÷ 0,25).Ga G2 = (0,75 ÷ 0,8).Ga
Tuy nhiên cầu trước chỉ có một bánh xe, nếu trọng lượng phân bố ra cầu trước lớn quá thì cầu trước sẽ bị quá tải, đặc biệt là khi phanh
Ngoài ra phân phối tải trọng lên các cầu còn phải đảm bảm điều kiện khi xe không
mang tải mà vẫn đảm bảo có thể vận hành được trên các loại đường có hệ số bám
thấp thì tải trọng phân phối ra cầu chủ động không được bé hơn 50% [1]
Trang 14trọng lượng bản thân của ôtô
Để xác định được chiều dài cơ sở thì cần phải xác định được các phần khối lượng
và vị trí đặt các phần khối lượng đó Ta dùng phương pháp cân để xác định các
phần khối lượng, trọng lượng không tải của xe, đây là phương pháp khoa học và
đảm bảo độ chính xác cao
Phương pháp xác định như sau:
Khi xe không tải:
G k
L k
Hình 3.2 Sơ đồ xác định khối lượng không tải của xe
Đặt cân tại vị trí A cách vết tiếp xúc giữa bánh xe trước với mặt đường ( O1) một
khoảng là Lk = 1800 (mm), ta cân được: Gk2 = 170 (KG) ( Có kể đến khối lượng cầu
sau và người lái)
Đặt cân tại O1 ta cân được Gk1 = 123 (KG)
Suy ra trọng lượng không tải của xe thiết kế là: Go = Gk1 + Gk2
Go = 123 + 170 = 293 (KG)
Một cách gần đúng khi bỏ qua sự thay đổi phân bố trọng lượng khi ta dịch chuyển
vị trí cầu sau, ta có thể xác định được toạ độ trọng tâm của xe khi không tải bằng
cách viết phương trình cân bằng mô men qua điểm O1
Go.ao – Z2o Lk = 0 (3.1)
Trong đó :
+ Go : Trọng lượng không tải của xe, Go = 293 ( KG)
+ ao : Toạ độ trọng tâm khi xe không tải theo chiều dọc
Trang 15+ Lk : Khoảng cách từ vết tiếp xúc giữa bánh trước với mặt đường đến điểm đặt
Hình 3.3 Sơ đồ xác định chiều dài cơ sở của xe
Như đã phân tích ở trên đối với xe ba bánh trọng lượng phân bố ra cầu sau là:
G2 = (0,75÷ 0,8).( GT + G0) (3.2)
Trong đó:
+ G2 : Phần trọng lượng của xe tác dụng lên cầu sau
+ GT: Trọng lượng của thùng rác cần chuyên chở, GT = 300 (KG)
+ Go: Trọng lượng không tải của xe, Go = 293 (KG)
Thay số vào (3.2) ta được : G2 = 0,8.( 300 + 293)
G2 = 474,4(KG)
Mà G1 = Ga- G2
G1 = 593 - 474,4 = 118,6 (KG)
Trang 16Để xác định được vị trí đặt cầu sau thõa mãn điều kiện (3.2) ta viết phương trình
mô men đối với điểm O1 ta được:
M/O1 = 0 GT.LT + Go.ao – Z2.Lx = 0
Lx =
2
Z
a G L
G T T o o
( 3.3)
Với :
+ LT : Toạ độ thùng rác theo chiều dọc, LT = 1830 (mm)
+ Z2 : Phản lực đường tác dụng lên bánh xe sau, chính bằng phần trọng lượng xe
phân bố ra cầu sau, Z2 = G2 = 474,4 (KG)
Thay các gía trị đã biết vào (3.2) ta được:
Lx =
4 , 474
37 , 1044 293 1830
300
Lx=1802,28 mm
Từ kết quả tính toán được ta chọn chiều dài cơ sở sơ bộ của xe L = 1800 (mm)
Do vậy từ (3.3) biến đổi rồi thay số ta tính được:
1800
37 , 1044 293 1830
Và Z1 = 593 – 475 = 118 (KG)
Như vậy trọng lượng phân bố ra cầu sau khoảng 80%, cầu trước khoảng 20% Ta
thấy phân bố trọng lượng như vậy là có thể chấp nhận được vì cầu sau có hai bánh
chủ động sẽ tận dụng được trọng lượng bám đặc biệt là khi xe chạy trên đường có
hệ số bám thấp, ngoài ra khi phanh trọng lượng dồn về cầu trước mà theo dự kiến ta
sẽ sử dụng lại cơ cấu phanh trước của xe gắn máy, nều trọng lượng phân bố ra cầu
trước quá lớn sẽ làm cho cơ cấu phanh trước không thoã mãn mô men phanh yêu
cầu, còn cầu sau sẽ sử dụng cơ cấu phanh ô tô du lịch, do đó phân bố trọng lượng
như trên là khá hợp lý
3.2 XÁC ĐỊNH CHIỀU CAO XE
Chiều cao của xe phụ thuộc vào chiều cao sàn xe, chiều cao thùng rác cần chuyên
chở Từ bản vẽ phác thảo tổng thể xe ta lấy sơ bộ chiều cao xe là H= 1020 mm
Trang 173.3 XÁC ĐỊNH CHIỀU RỘNG XE
Chiều rộng xe phụ thuộc vào kích thước của thùng rác cần chuyên chở, việc bố trí
hệ thống treo sau, hệ thống truyền lực, bề rộng lốp xe, lấy sơ bộ B= 1150 mm
4 XÁC ĐỊNH CÁC TOẠ ĐỘ TRỌNG TÂM XE
4.1 XÁC ĐỊNH CÁC TOẠ ĐỘ TRỌNG TÂM KHI XE KHÔNG TẢI
4.1.1.Xác định toạ độ trọng tâm xe theo chiều dọc
Theo kết quả tính toán ở mục 3.1.2 ta có :
ao = 1044,37 mm
bo = 1800 – 1044,37 = 775,63 mm
4.1.2 Xác định toạ độ trọng tâm xe theo chiều cao
Go
Z' 2
L
Hình 4.1 Sơ đồ xác định chiều cao trọng tâm không tải
Phương pháp xác định như sau: Đặt xe ở trên mặt phẳng nghiêng một góc bất
kỳ( không nên quá lớn), sau đó xác định trọng lượng đè lên cầu sau bằng cân
Phương trình mô men đối với điểm O1:
M/O1 = 0 Z2’.Lcos - Go.sin.( h’go + rbxcos) - Gocos.( ao - rbxsin) = 0
sin(
coscos
'.
bx bx
o o
r r
a G
L Z
(4.1)
Trang 18Trong đó:
+ h’go : Khoảng cách từ đường tâm trục bánh xe sau đến trọng tâm không tải
của xe theo phương trục z
+ Z2’: Phản lực đường tác dụng lên bánh xe sau khi đặt xe ở trên mặt nghiêng, Z’2 = 186 [ KG]
+ L: Chiều dài cơ sở của xe, L = 1800 (mm)
+ Go : Trọng lượng không tải của xe, Go = 293 (KG)
Thay số vào (4.20 ta được: = arcsin(
1800
340)= 10,89o Thay các giá trị vào (4.1) ta được:
89 , 10 sin 293
) 89 , 10 sin 210 37 , 1044 (
89 , 10 cos 293 89 , 10 cos 1800 186
Trang 194.2 XÁC ĐỊNH CÁC TOẠ ĐỘ TRỌNG TÂM KHI XE ĐẦY TẢI
4.2.1.Xác định toạ độ trọng tâm xe theo chiều dọc
Để xác định được toạ độ trọng tâm của xe theo chiều dọc ta khảo sát các lực tác
dụng lên xe khi nó đứng yên trên đường ngang
Hình 4.2 Sơ đồ các lực tác dụng lên xe đứng yên trên đường ngang
Các lực tác dụng lên xe trong trường hợp này bao gồm
+ Ga: Trọng lượng toàn bộ của xe, Ga = 593( KG)
+ Z1: Phản lực thẳng góc từ đường tác dụng lên bánh xe trước, Z1 = 118 (KG)
+ Z2: Phản lực thẳng góc từ đường tác dụng lên các bánh xe sau, Z2 = 475 (KG)
Từ sơ đồ phân tích lực như hình 4.2, viết phương trình phương trình cân bằng mô
men đối với điểm O1 , O2 ta được:
Ga.a - Z2.L = 0 (4.3)
Ga.b - Z1.L = 0 (4.4)
Trong đó:
+ L: Chiều dài cơ sở của xe, L = 1800 (mm)
+ a, b: Toạ độ trọng tâm theo chiều dọc khi xe đầy tải
Trang 20Từ hai phương trình (4.3) và (4.4) suy ra:
L
G
Z a a
.2
G
Z b a
.1
Go
G T
Hình 4.3 Sơ đồ xác định toạ độ trọng tâm theo chiều cao
Để xác định được toạ độ trọng tâm theo chiều cao khi xe đầy tải ta xác định trên
cơ sở cân bằng chiều cao khối tâm các thành phần trọng lượng
m
m h
(4.5) Trong đó: mi : Khối lượng thứ i
hi : Toạ độ trọng tâm theo chiều cao của khối lượng thứ i
Áp dụng cho xe thiết kế, ta có:
hg =
T o
gT T go o
G G
h G h
+ Go: Trọng lượng xe không tải, Go = 293 (KG)
Trang 21+ hg0 : Toạ độ trọng tâm khi xe không tải theo chiều cao, hgo = 721 (mm)
800 300 721 293
- Giảm tốc độ của ôtô, máy kéo cho đến khi dừng hẵn hoặc đến một tốc độ nào đó
theo yêu cầu
- Ngoài ra, hệ thống phanh còn có nhiệm vụ giữ cho ôtô đứng yên tại chỗ trên các
mặt dốc nghiêng hay trên mặt nằm ngang
Do vậy, hệ thống phanh là một hệ thống đặc biệt quan trọng:
- Nó đảm bảo cho xe chuyển động an toàn ở mọi chế độ làm việc
- Nhờ đó mới có thể phát huy hết khả năng động lực, nâng cao tốc độ chuyển động
trung bình và năng suất vận chuyển của xe
5.1.2 Phân tích yêu cầu
Hệ thống phanh là một hệ thống an toàn của xe nên để đảm nhận được vai trò
này khi thiết kế cũng như khi làm việc hệ thống phanh cần phải đảm bảo những yêu
cầu sau:
- Làm việc bền vững, tin cậy: Để đạt được điều này hệ thống phanh của ôtô bao giờ
cũng có tối thiểu ba loại phanh đó là: Phanh làm việc (phanh chính), phanh dự trữ
và phanh dừng, ngoài ra đối với các ôtô có tải trọng lớn hoặc ôtô hay làm việc ở các
vùng đồi núi thường xuyên phải xuống dốc dài còn có loại phanh chậm dần dùng để
phanh liên tục, giữ cho tốc độ ôtô máy kéo không vượt quá tốc độ cho phép hoặc để
Trang 22giảm dần tốc độ của ôtô nhằm tránh cho hệ thống phanh chính làm việc quá nhiều
gây mòn nhanh má phanh và sinh ra nhiệt độ cao
Các loại phanh trên có thể có cùng các bộ phận chung và kiêm nhiệm nhiệm vụ
của nhau nhưng để đảm bảo an toàn chúng phải có ít nhất hai bộ phận điều khiển và
dẫn động độc lập, ngoài ra để tăng thêm độ tin cậy hệ thống phanh chính còn được
phân thành các dòng độc lập để nếu có một dòng nào hỏng thì các dòng còn lại vẫn
có thể làm việc bình thường
Đối với xe thiết kế thì ít nhất phải có hai loại phanh đó là phanh chính và phanh
dừng
- Trong trường hợp nguy hiểm phanh đột ngột yêu cầu hệ thống phanh phải có hiệu
quả cao ( quãng đường phanh ngắn nhất tức là phải đảm bão gia tốc chậm dần khi
phanh là cực đại)
- Trong những trường hợp khác phanh phải êm dịu để đảm bảo tiện nghi và an toàn
cho người lái Khi phanh đột ngột sẽ rất nguy hiểm vì lúc đó quán tính xe quá lớn
có thể gây bị thương cho người, hư hỏng hàng hoá cũng như mất tính ổn định và
điều khiển xe
Để phanh được êm dịu và để người lái cảm giác điều khiển được đúng cường độ
phanh, dẫn động phanh phải có cơ cấu đảm bảo quan hệ tỷ lệ giữa lực tác dụng lên
bàn đạp hay đòn điều khiển với lực phanh tạo ra ở các bánh xe, chính vì điều này
trong các loại dẫn động thuỷ lực có trợ lực hay dẫn động khí nén đều có cơ cấu tỷ lệ
đảm bảo quan hệ này Đồng thời để đạt được yêu cầu trên phải không được có hiện
tượng tự xiết khi phanh
- Giữ cho xe đứng yên khi cần thiết trong thời gian không hạn chế: Có phanh tay(
phanh dừng)
- Đảm bảo tính ổn định và điều khiển của ôtô máy kéo khi phanh: Muốn vậy cần
phải phân bố lực phanh ra các bánh xe phải hợp lý, cụ thể phải đảm bảo một số yêu
cầu chính như sau:
+ Không có hiện tượng khoá cứng hay trượt các bánh xe khi phanh vì: Nếu các
bánh trước bị trượt sẽ làm cho ô tô bị trượt ngang, còn nếu một bánh xe sau bị trượt
Trang 23có thể làm cho ô tô, máy kéo mất tính điều khiển, quay đầu xe Ngoài ra khi các
bánh xe bị trượt còn gây ra mòn lốp, giảm hiệu quả phanh
+ Lực phanh trên các bánh xe phải và trái trên cùng một cầu phải không được sai
lệch quá phạm vi cho phép Vì nếu có sai lệch quá lớn sẽ làm cho xe mất tính điều
khiển
+ Không có hiện tượng tự phanh khi bánh xe dịch chuyển thẳng đứng và khi quay
vòng
+ Hệ số ma sát giữa má phanh và trống phanh phải cao để cơ cấu phanh được nhỏ
gọn, đồng thời phải ổn định trong mọi điều kiện sử dụng để hiệu quả phanh được
đảm bảo
+ Khi phanh do toàn bộ động năng của ô tô khi phanh sẽ biến thành nhiệt năng do
đó hệ thống phanh phải có khả năng thoát nhiệt tốt
+ Để giảm lao động cho người lái lực cần thiết tác dụng lên bàn đạp hay tay phanh
phải nhỏ, đồng thời để điều khiển được thuận tiện hành trình tương ứng của bàn đạp
phải nằm trong một phạm vi cho phép
5.1.3 Phân loại sơ bộ
- Theo vị trí bố trí cơ cấu phanh, chia ra : Phanh bánh xe và phanh truyền lực
- Theo phần tử ma sát, chia ra : Phanh đĩa, phanh guốc, phanh dãi
Đối với loại phanh trống guốc
+ Theo loại cơ cấu ép chia ra: Ép bằng xi lanh thuỷ lực; ép bằng cam; ép bằng
chêm
+ Theo số lượng cơ cấu ép, chia ra: Loại một cơ cấu ép; Loại hai cơ cấu ép
+ Theo số bậc tự do của guốc phanh, chia ra : Loại guốc một bậc, hai bậc tự do
Phanh đĩa thì có các loại: kín, hở, một đĩa, nhiều đĩa, loại vỏ quay, đĩa quay, vòng
ma sát quay Đĩa có thể là đĩa đặc, đĩa có xẻ rãnh thông gió, đĩa có một lớp kim loại
hay ghép hai kim loại khác nhau
- Theo dẫn động phanh, chia ra :
Trang 24+ Dẫn động cơ khí: Thường chỉ dùng cho phanh dừng vì hiệu suất thấp, và khó
đảm bảo phanh đồng thời giữa các bánh xe Các loại xe gắn máy thông thường sử
dụng loại này
+ Dẫn động điện: Chỉ dùng cho đoàn xe kéo rơ moóc dài
+ Dẫn động thuỷ lực: Thường được sử dụng rộng rãi, đối với xe gắn máy thường
sử dụng cho phanh trước
+ Dẫn động khí nén: Cũng được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là ôtô tải vừa và lớn
5.2 TÍNH MÔ MEN PHANH CẦN SINH RA Ở CÁC CƠ CẤU PHANH
Hình 5.1 Sơ đồ lực tác dụng lên xe khi phanh
Khi phanh sẽ có các lực sau tác dụng lên xe:
+ Ga: Trọng lượng toàn bộ của xe đặt tại trọng tâm, Ga = 593 (KG)
+ Pf1: Lực cản lăn ở bánh xe trước
+ Pf2: Lực cản lăn ở các bánh xe sau
+ Z1, Z2: Phản lực thẳng góc từ mặt đường tác dụng lên các bánh xe trước và sau
+ Pp1 ,Pp2: Lực phanh ở bánh xe trước và các bánh xe sau, các lực này đặt tại điểm
tiếp xúc giữa bánh xe với mặt đường và ngược chiều với chiều chuyển động của xe
+ P: Lực cản không khí
+ Pj: Lực quán tính sinh ra do khi phanh sẽ có gia tốc chậm dần, đặt tại trọng tâm
và cùng chiều chuyển động với xe
Trang 25+ a, b, hg: Là toạ độ trọng tâm của xe
+ L: Chiều dài cơ sở của xe
Khi phanh vận tốc của xe giảm nhanh nên lực cản không khí cũng giảm rất nhanh,
mặt khác các thành phần lực cản lăn cũng rất nhỏ so với các lực Pp1 và Pp2, do vậy
+ jp: Gia tốc chậm dần khi phanh
+ g: Gia tốc trọng trường (g = 9,81 m/s2)
Xác định Z1, Z2 : Viết phương trình cân bằng mô men đối với O1 ta được:
Z2.L+ P jhg - a.G a= 0
Suy ra: Z2=
L
h P G
a a j g
(5.2) Mặt khác: Z1 + Z2 = Ga
Z1 = Ga - Z2 = Ga -
L
h P G
b a j g
(5.3) Muốn xác định được Z1, Z2 ta phải tính jp
Như ta đã biết, để tận dụng hết trọng lượng bám của xe thì lực phanh lớn nhất phải bằng lực bám, tức là Ppmax = G. ( P = G. : Lực bám) Sự phanh có hiệu quả
nhất là khi lực phanh sinh ra ở các bánh xe tỉ lệ thuận với các phản lực pháp tuyến
từ mặt đường tác dụng lên bánh xe, tức là :
2 1
2 1
2
1
.
Z
Z Z
Z P
Trong đó là hệ số bám giữa bánh xe với mặt đường Khi tính toán để cho cơ
cấu phanh có khả năng sinh ra một mô men cực đại luôn luôn lớn hơn hoặc tối thiểu
bằng momen xác định theo điều kiện bám, ta lấy giá trị tối đa Tuy nhiên khi chọn
Trang 26lớn vậy thì mô men cần sinh ra phải lớn và do vậy cơ cấu phanh phải có kích thước
lớn hơn để đảm bảo sinh ra được mô men này Đối với loại xe tải thì khi tính toán
+ a,b: Toạ độ trọng tâm xe theo chiều dọc, a = 1441,82 (mm) , b= 58,18( mm)
+ hg : Toạ độ trọng tâm xe theo chiều cao, hg= 761 (mm
+ L: Chiều dài cơ sở của xe, L = 1800 (mm)
+ : Hệ số bám giữa bánh xe với mặt đường, = 0,64
Thay số vào công thức (5.7) và (5.8) ta tính được:
Trang 27 Tính mô men phanh cần sinh ra ở các cơ cấu phanh
Do cầu trước chỉ có một cơ cấu phanh nên lực phanh cần sinh ra ở cơ cấu phanh
trước là: Ppt = .Z1
Ppt= 0,64.2784= 1782 (N)
Mô men phanh cần sinh ra ở cơ cấu phanh trước là:
Mpt = Ppt.rbx Với rbx là bán kính làm việc của bánh xe trước, rbx = 210 (mm)
Mpt =
1000
210 1782
= 1006,6 (N)
Mô men phanh cần sinh ra ở mỗi cơ cấu phanh sau là:
Mps = Pps.rbx Với rbx là bán kính làm việc của bánh xe sau, rbx = 210 (mm)
Mps =
1000
210 6 , 1006
= 211,38 (N.m)
5.3 PHÂN TÍCH, CHỌN LOẠI DẪN ĐỘNG PHANH VÀ CƠ CẤU PHANH
5.3.1 Chọn loại dẫn động phanh
Trên ôtô - máy kéo nói chung có thể gặp các loại dẫn động phanh sau: cơ khí, thủy
lực, điện và khí nén Trong các loại dẫn động trên thì dẫn động cơ khí thường chỉ
dùng cho phanh dừng vì hiệu quả phanh thấp và khó phanh đồng thời các bánh xe
bởi vì không thể nào đảm bảo chế tạo chính xác các nhánh dẫn động, đồng thời sau
một thời gian làm việc các khâu khớp mòn không giống nhau, bởi thế thời gian để
khắc phục các khe hở cũng sẽ khác nhau Trên các đoàn xe kéo moóc ta có thể gặp
loại dẫn động điện vì đoàn xe khá dài nên phải dùng dẫn động điện để thời gian dẫn
Trang 28động thấp, phanh được đồng thời các bánh xe Đối với ôtô thường dùng nhất là dẫn
động thuỷ lực và khí nén, dẫn động thuỷ lực được dùng rộng rãi trên các ô tô tải cỡ
trung bình và nhỏ, xe du lịch; dẫn động khí nén chủ yếu dùng trên xe tải nặng, xe
kéo rơ moóc; đối với các loại xe motor hiện nay thường sử dụng dẫn động phanh
thuỷ lực và cơ khí, trong đó dẫn động phanh thuỷ lực sử dụng cho bánh trước là chủ
yếu
Để chọn loại dẫn động thích hợp, trước hết ta so sánh ưu nhược của từng loại, đối
với xe thiết kế có thể sử dụng dẫn động thuỷ lực hoặc cơ khí
Dẫn động thuỷ lực :
- Ưu điểm:
+ Độ nhạy lớn, thời gian chậm tác dụng nhỏ vì chất lỏng không chịu nén
+ Luôn luôn đảm bảo phanh đồng thời các bánh xe vì áp suất trong dẫn động chỉ
bắt đầu tăng khi tất cả các má phanh ép sát vào trống phanh
+ Hiệu suất cao: 0 , 8 0 , 9
+ Kết cấu đơn giản, kích thước khối lượng và giá thành nhỏ
- Nhược điểm:
+ Yêu cầu độ kín khít cao
+ Hiệu suất giảm nhiều ở nhiệt độ cao
Dẫn động cơ khí:
- Ưu điểm: Kết cấu đơn giản, giá thành thấp
- Nhược điểm:
+ Hiệu quả phanh thấp và khó đảm bảo phanh đồng thời các bánh xe do các khe
hở khó điều chỉnh đều nhau, độ mòn cũng khác nhau, không có cơ cấu tự điều chỉnh
lực phanh
+ Tuổi thọ thấp, lực điều khiển lớn, không tiện nghi
Qua phân tích trên ta thấy dẫn động thuỷ lực có kết cấu gọn nhẹ, hiệu quả phanh
cao, mặt khác những nhược điểm của dẫn động thuỷ lực có thể khắc phục được nên
không ảnh hưởng lớn độ tin cậy của dẫn động Ta chọn dẫn động phanh chính là
Trang 29dẫn động thuỷ lực Cơ cấu phanh dừng sử dụng cơ cấu phanh sau nhưng được dẫn
động bằng cơ khí( cáp)
5.3.2.Chọn loại cơ cấu phanh
Trong hệ thống phanh cơ cấu phanh là bộ phận trực tiếp tạo ra lực cản và làm việc
theo nguyên lý ma sát, vì thế kết cấu của nó bao giờ cũng có hai bộ phận chính là:
các phần tử ma sát và cơ cấu ép Trong đó phần tử ma sát có thể có các dạng như:
trống guốc, đĩa hay dãi Loại dãi chỉ dùng trên máy kéo, còn loại đĩa thường dùng
trên cơ cấu phanh ở cầu trước xe du lịch, xe máy, tuy nhiên các loại xe du lịch hiện
đại thường sử dụng phanh điã cho cả phanh trước và phanh sau, một số xe tải sử
dụng phanh đĩa cho cầu trước Loại trống guốc được dùng phổ biến trên các loại xe
tải và các xe du lịch trước đây
Xe thiết kế sử dụng dẫn động phanh thuỷ lực nên cơ cấu phanh trước ta chọn
phanh đĩa, cầu sau chọn loại phanh trống guốc có cơ cấu ép bằng xi lanh thuỷ lực
Cơ cấu phanh trống guốc có nhiều sơ đồ kết nối các phần tử của cơ cấu phanh
Để đánh giá so sánh các sơ đồ khác nhau người ta dùng 3 chỉ tiêu riêng đặc trưng
cho cơ cấu phanh là: tính thuận nghịch, tính cân bằng và hệ số hiệu quả, dựa trên ba
chỉ tiêu này ta sẽ chọn sơ đồ kết nối phù hợp với xe thiết kế
Hình 5.2.Các cơ cấu phanh thông dụng cho dẫn động thuỷ lực
-Trên hình 5.2c là cơ cấu ép bằng hai xilanh thủy lực, guốc một bậc tự do Hiệu
quả phanh theo chiều tiến sẽ cao hơn so với loại bình thường 3a, không có tính
P P
P
Pc
Trang 30thuận nghịch, thường được sử dụng ở cầu trước của ôtô du lịch khi mà cần đạt hiệu
quả phanh lớn với kích thước khối lượng nhỏ
-Hình 5.2b là cơ cấu hoàn thiện nhất với cơ cấu ép là 2 xilanh thủy lực, guốc phanh
có hai bậc tự do( loại bơi) Loại cơ cấu này vừa có tính thuận nghịch vừa có tính cân
bằng, hiệu quả phanh cao nhất: Khq = (1,6÷ 1,8) lần so với sơ đồ 3a trên cả hai
chiều, tuy vậy kết cấu cũng phức tạp nhất nên thường áp dụng cho xe du lich hiện
đại
-Sơ đồ trên hình 5.2a dùng cơ cấu ép thuỷ lực, một bậc tự do Đây là loại thuận
nghịch nhưng không cân bằng do có hiện tượng tự siết, đồng thời mô men phanh do
guốc trước sinh ra lớn hơn momen phanh do guốc sau tạo ra làm cho má phanh mòn
không đều Để khắc phục hiện tượng này thì làm má phanh của guốc trước( tự siết)
dài hơn má của guốc phanh sau( tự tách) Loại này thường sử dụng trên ôtô tải cỡ
nhỏ và vừa hoặc ở các bánh sau ôtô du lịch Các loại xe gắn máy thường sử dụng cơ
cấu phanh một bậc tự do ép bằng cam, tuy nhiên khi dẫn động bằng thuỷ lực thì cơ
cấu ép là xi lanh thuỷ lực
Qua phân tích trên ta chọn cơ cấu phanh cho cầu sau có sơ đồ như hình a: Một bậc
tự do, dùng cơ cấu ép thuỷ lực
Đối với cầu trước, mô men phanh yêu cầu của xe thiết kế lớn hơn so với xe máy
thông thường nếu sử dụng phanh trống guốc rất khó đạt được mô men phanh yêu
cầu, ngoài ra dẫn động phanh là thuỷ lực nên ta chọn cơ cấu phanh là phanh đĩa
Cơ cấu phanh đĩa có các sơ đồ sau:
Hình 5.3a Sơ đồ phanh đĩa loại má kẹp tuỳ động- xi
Trang 31Đối với phanh trước của xe thiết kế ta chọn cơ cấu phanh loại má kẹp tuỳ động- xi
lanh bố trí trên má kẹp như cơ cấu phanh của xe gắn máy thông thường
Phanh đĩa so với phanh guốc có các ưu điểm sau:
- Có thể tăng diện tích ma sát của má phanh nhiều hơn, do vậy giảm được áp suất
trên bề mặt ma sát của má phanh
- Áp suất phanh bố đều trên má phanh do đó má phanh mòn đều hơn và ít phải
điều chỉnh hơn
- Bề mặt làm mát lớn và điều kiện làm mát tốt hơn( nhất là phanh đĩa loại đĩa quay
như trên hình vẽ)
- Các chi tiết ở trạng thái biến dạng thuận lợi hơn Ở phanh đĩa, đĩa phanh biến
dạng theo chiều trục, còn ở phanh guốc trống phanh biến dạng theo chiều hướng
kính làm cho trống phanh bị méo, ảnh hưởng đến khe hở giữa các bề mặt ma sát của
Trang 32- Khe hở nhỏ nên giảm thời gian tác dụng phanh và cho phép tăng tỉ số truyền của
dẫn động phanh
- Dễ đảm bảo mô men phanh như nhau khi xe tiến hoặc lùi
- Kích thước cũng như khối lượng cơ cấu phanh nhỏ hơn so với cơ cấu phanh guốc
nếu có cùng mô men phanh
Các phương án chọn cơ cấu phanh sau
6
7
7
(a) (b)
Hình 5.4 Các phương án lắp pu ly với may ơ sau và bố trí cơ cấu phanh sau
1 Bánh xe chủ động , 2 Bu lông liên kết trống phanh và pu ly, 3 Bu lông liên kết bánh xe và pu ly, 4 pu ly, 5 Cơ cấu phanh sau, 6 Cụm ổ trục bánh xe sau, 7 Dầm cầu sau, 8 Bu lông liên kết bánh xe, trống phanh và pu ly
Phương án 1: ( Hình 5.4a)
Trục bánh xe sau và mâm phanh bắt cố định với dầm cầu Vành bánh xe, pu ly
và trống phanh bắt chặt và cùng chuyển động với nhau
Phương án 2: ( Hình 5.4b)
Trục bánh xe cùng với trống phanh, may ơ bánh xe quay trong gối đỡ
Trang 33So với phương án1 thì phương án này phức tạp hơn, nhiều mặt lắp ghép hơn nên
chế tạo phức tạp, phải thiết kế thêm chi tiết ( gối đỡ trục), nhiều chi tiết chuyển
động quay hơn ( có thêm trục bánh bánh xe sau chuyển động quay) nên làm tăng
mô men quán tính của cụm ổ trục bánh xe sau Mặt khác phương án 2 sử dụng nên
khó bố trí cơ cấu dẫn động phanh dừng
Qua phân tích sơ bộ trên ta chọn cơ cấu phanh sau và phương án lắp ghép pu ly với
may ơ và cơ cấu phanh như phương án 1 là hợp lý
5.4 XÁC ĐỊNH CÁC THÔNG SỐ CƠ BẢN CỦA CƠ CẤU PHANH SAU
5.4.1 Bán kính bề mặt ma sát của trống phanh
Bán kính bề mặt ma sát của trống phanh được chọn trên cơ sở kích thước pu ly bị
dẫn, giữa bề mặt trong của pu ly và trống phanh cần có một khe hở nhất định không
nhỏ hơn 20 - 30 mm Khe hở này cần thiết cho không khí lưu thông làm mát trống
phanh
Pu ly có đường kính trong dbl = 225 mm
Đường kính trống phanh nằm trong khoảng:
Dtr ≤ 225 - 2.(20 ÷ 30) = 165 ÷ 185 mm
Ta chọn dtr = 170,4 mm theo kết cấu dự kiến
Vậy bán kính bề mặt ma sát của trống phanh là: rtr =85,2 mm
Trang 34Hình 5.5 Sơ đồ biểu diễn các góc, kích thước cơ bản của guốc phanh
- Các góc 1, 2: Chọn tương tự theo kết cấu tương đương dự kiến
+ Má trước: 1 = 30 o; 2 = 131 o
Suy ra góc ôm của má trước: t = 2 - 1 = 131 o – 30o = 101o
+ Má sau : 1 = 30 o; 2 = 131 o
Suy ra góc ôm của má trước: s = 2 - 1 = 131o – 30o = 101o
Ta thấy rằng góc ôm của guốc trước và guốc sau bằng nhau: t = s = = 101o Góc ôm này nằm trong giới hạn 90o ÷ 130o [3] Nếu nhỏ quá( ≤ 90o) thì không
tận dụng được kích thước của trống phanh làm cho má phanh mau mòn, nếu lớn
quá( 130o) sẽ làm tăng mức độ phân bố không đều áp suất mà hiệu quả phanh
không tăng được bao nhiêu, thậm chí còn có thể giảm đi do nhiệt độ trống phanh
tăng nhiều khi phanh liên tục, làm giảm hệ số ma sát
- Khoảng cách giữa hai điểm tỳ guốc phanh: h = 118,5 mm
- Khoảng cách : h’ = 61,5 mm, h” = 57 mm
- Khoảng cách từ tâm O của cơ cấu phanh đến điểm tỳ cố định của guốc phanh:
Trang 35s =
0 cos
Hình 5.6 Sơ đồ tính toán guốc phanh
Để tính được lực dẫn động P cần có để tạo ra mô men phanh theo yêu cầu, ta xây
dựng mối quan hệ giữa lực dẫn động với mô men phanh tạo ra Muốn vậy ta xét sự
cân bằng của quốc phanh với các giả thiết sau:
- Áp suất phân bố đều theo chiều rộng má phanh
- Quy luật phân bố áp suất theo chiều dài má phanh không phụ thuộc vào giá trị
lực ép và có dạng tổng quát: q = qmax.( ) Trong đó ( )là hàm phân bố áp suất còn
qmax là áp suất cực đại tác dụng trên má phanh
- Hệ số ma sát giữa má phanh và trống phanh không phụ thuộc vào chế độ
Trang 36Mp1,2 = .qmax.b.rt2
2 d
1 ( )
(5.11) ( chỉ số 1 trong công thức trên: guốc tự xiết, 2: guốc tự tách)
Để xác định qmax ta viết phương trình cân bằng mômen đối với điểm C của guốc
2
1 2
1
0sin
ldF Ph
M c T (5.12)
Thay dFt và dN ở (5.9) vào (5.12), với l= (rt- Scos), biến đổi ta có:
]}
cos[
sin/{
1 ) ( 2
1 ) (
+ guốc tự xiết:
1 1
1 1 p1
.B-A
PM
2 2 p2
.BA
PM
1 )
B = 1- [( cos )/( )
2
1 ) ( 2
1 )
1 1 B - A
P
2 2.BA
P
trước và sau đối xứng thì : P1 = P2 = P , h1 = h2 = h nên theo công thức (5.16) ta có:
2 2 2 p
.B - A
2P.A M
Trang 372
)( 2 2 2
(5.17) Trong trường hợp xem áp suất phân bố gần như đều theo chiều dài má phanh, tức là
( ) = 1 thì:
1 2
2 1
(5.18)
1 2
1 2
t
(5.19) Trong đó :
+ Hệ số ma sát khi tính toán có thể lấy = 0,35 [6]
+ Các giá trị kích thước của cơ cấu phanh là :s = 59,9 mm ; h = 118,5 mm;
rt = 85,2 mm, 1 = 12 o, 2 = 113 o Thay số vào (5.18) và (5.19) ta có:
113 12
2 , 85
9 ,
59 Cos Cos
0180
= 0,546
2,85
9,59
12
113 Sin o Sin
0180
= 0,716
Từ ( 5.17) thay Mp = 211,34 (Nm) và các thông số đã biết vào ta tính được lực ép
lên các guốc phanh là:
3
2 2
2
10.5,118.35,0.546,0.2
)716,0.35,0546,0.(
34,211
Bề rộng của má phanh được xác định sao cho khi phanh với lực phanh cực đại,
áp suất trên bề mặt ma sát q và tải trọng riêng p nằm trong giới hạn cho phép Từ
yêu cầu trên ta tính chiều rộng b theo điều kiện áp suất qmax ≤ [q] rồi sau đó kiểm
nghiệm lại theo điều kiện tải trọng riêng Các bước tính như sau:
Trang 38 Tính bề rộng má phanh theo điều kiện áp suất
b q dM
M p p t sin
2
1
2 max 2
= .qmax.b.rt2.(cos1 - cos2)
Suy ra áp suất cực đại trên bề mặt ma sát của má phanh là:
) cos (cos
M
Trong đó:
+ Bề rộng má phanh
+ Áp suất cho phép, [q] = 2,0 MPa [3]
+ Mp: Momen phanh sinh ra của một má phanh
+ : Hệ số ma sát giữa má phanh và trống phanh, = 0,35
+ rt : Bán kính bề mặt ma sát của trống phanh, rt = 85,2 (mm)
Ta thấy rằng momen phanh yêu cầu của má trước lớn hơn má sau do có hiện tượng
tự siết, cho nên ta chỉ cần tính toán bề rộng má phanh trước, còn má phanh còn lại
có thể lấy như má trước để tăng tính thống nhất hóa sản phẩm
Momen phanh do má trước sinh ra là:
.B-
A
P
0,546
-35,0.310.5,118.34,1099
15 , 154 2 6
Hay b≥ 22,2 (mm)
Để đảm bảo điều kiện áp suất thì bề rộng má phanh tối thiểu phải bằng 22,2 mm
Ta lấy bề rộng má phanh b = 24,4 mm theo kết cấu của cơ cấu phanh dự kiến
Từ (5.20) ta tính được áp suất trên bề mặt má phanh là: