1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các chuyên đề triết học (dành cho HV cao học)

80 194 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 80
Dung lượng 773,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay cả khi cộng hưởng cô lập được quan sát trong bắn phá bởi nguồn năng lượng thấp, năng lượng của chúng tăng lên và có xu hướng xảy ra nhanh hơn và khoảng tăng năng lượng có xu hướng tăng cho đến khi cuối cùng chúng ta có sự chồng chập hoàn chỉnh của nhiều cộng hưởng. Trên trung bình mặt cắt sau đó được thông suốt các chức năng của năng lượng khác nhau, mặc dù trong một số trường hợp các phép đo với độ phân giải năng lượng tốt vẫn có thể phát hiện nhanh chóng và rõ ràng biến ngẫu nhiên (hoặc biếnđộng) với năng lượng. Này được thảo luận ở phần sau 4.9.4. Tuy nhiên, chúng ta sẽ thảo luận về các hành vi trung bình của mặt cắt trong này cái gọi là khu vực liên tục. Sự hình thành của một hạt nhân hợp chất thông qua một cộng hưởng dẫn đến bị cô lập mặt cắt của các loại BreitWigner, phương trình 4.81, mà biểu hiện này được hình thành một cách độc lập và phân rã mô tả trong phần 2.18.1. Vì những lý do nói ở đó, chúng ta mong đợi để xem các giả thuyết độc lập, phương trình 2.49, điều này cũng thõa mãn trong khu vực liên tục. Giả thuyết này có thể được viết:

Trang 1

Chuyên đề 1

THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG

Triết học là hình thái ý thức xã hội, phản ánh những qui luật vận động chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy

Nó ra đời từ rất sớm và để lại những giá trị to lớn trong lịch sử phát triển của nhân loại Kể từ khi ra đời cho đến nay, nó

đã có nhiều thay đổi về nội dung và chức năng, trong đó chức năng thế giới quan có vị trí và vai trò rất quan trọng Vìvậy, khi nghiên cứu triết học không thể không nghiên cứu chức năng này Nhưng thế giới quan là gì ? nó có cấu trúc nhưthế nào? có bao nhiêu loại thế giới quan? trong các loại thế giới quan đó thì thế giới quan nào là thế giới quan khoa họccần phải trang bị cho con người trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn? những vấn đề đó sẽ được làm sáng tỏtrong chuyên đề này

I KHÁI NIỆM THẾ GIỚI QUAN

1 Các đặc điểm cơ bản của thế giới quan

Khi bàn về thế giới quan, đã có nhiều quan niệm khác nhau:

- Trong cuốn “ Từ điển bách khoa toàn thư triết học ” - Tiếng Nga - Xuất bản năm 1964 tại Matxcơva,

(T3,Tr.454) đã xác định: “ Thế giới quan là hệ thống những quan điểm khái quát của con người về thế giới nói chung, vềnhững hiện tượng riêng lẻ và bản thân con người trong thế giới ấy, về sự chinh phục trong hoạt động của mình và về sốphận của nhân loại, là toàn bộ những quan điểm khoa học, triết học, chính trị, pháp quyền…”

- Trong cuốn “ Từ điển triết học ” của Liên Xô do M.Rôdentan và P.Iuđin chủ biên Nxb Sự thật, Hà Nội 1976,

(Tr.906) có viết : “ Thế giới quan là hệ thống quan điểm, khái niệm và quan niệm về toàn bộ thế giới xung quanh mình.Theo nghĩa tổng quát, đó là toàn bộ những quan điểm về thế giới, về những hiện tượng tự nhiên và trong xã hội : cácquan điểm triết học, xã hội và chính trị, luân lý, mỹ học, khoa học vv… Các quan điểm triết học hợp thành hạt nhân chủyếu của mọi thế giới quan, hiểu theo nghĩa đen của danh từ ấy ”

- Trong “ Từ điển triết học ” Nxb Tiến bộ, Matxcơva 1986 (Tiếng Việt,Tr.539) có viết : “ Thế giới quan là toàn

bộ những nguyên tắc, quan điểm và niềm tin quy định hướng hoạt động và quan hệ của từng người, của một tập đoàn xãhội của một giai cấp hay của xã hội nói chung đối với thực tế ”

- Trong Cuốn “ Giáo trình triết học Mác – Lênin ”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội 1999 (Tr 21) đã xác định :

“ Toàn bộ những quan niệm về thế giới về vị trí của con người trong thế giới đó, về chính bản thân và cuộc sống của conngười và loài người hợp thành thế giới quan của một con người, một cộng đồng người trong mỗi thời đại nhất định.”

- Còn ở cuốn “ Giáo trình triết học Mác – Lênin ” (dùng trong các trường Đại học và Cao đẳng) xuất bản năm

2002, (Tr.12) đã cho rằng “ thế giới quan là toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người,

về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giới đó ”

- Trong tài liệu “ Triết học ” tập 3 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (dành cho nghiên cứu sinh và cao học), Nxb.

Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996, (Tr.5) đã viết : “ Thế giới quan là hệ thống những quan niệm của con người về thế giới,

về vị trí của con người trong thế giới nhằm giải đáp những vấn đề về mục đích, cuộc sống của con người ”

Từ các định nghĩa đã nêu ở trên, mặc dù còn có cách hiểu theo các khía cạnh khác nhau, song khi nói đến thếgiới quan, các định nghĩa đó đều xác định thế giới quan là “ hệ thống quan điểm của con người về thế giới ” Nó bao gồmcác đặc trưng cơ bản:

- Đặc trưng thứ nhất, thế giới quan là toàn bộ những quan điểm của con người Điều đó có nghĩa xác định thế

giới quan thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần của con người chứ không phải lĩnh vực đời sống vật chất của họ Các quanniệm đó là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người chứ không phải là bản thânhiện thực khách quan ấy Nó có thể là một quan niệm của cá nhân và cũng có thể là tất cả những quan niệm, quan điểmcủa con người, của loài người gộp lại

2

Trang 2

- Đặc trưng thứ hai, thế giới quan là sản phẩm phản ảnh mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội Có

nghĩa là nó phản ảnh mối quan hệ giữa con người với thế giới Đó là những tri thức, niềm tin, tình cảm ý chí, lý tưởngcủa con người về thế giới và về chính bản thân con người và vị trí của họ trong thế giới đó

- Đặc trưng thứ ba, thế giới quan có tính lịch sử - xã hội vì nó ra đời, vận động và phát triển cùng với sự vận

động và phát triển của loài người Nó phản ánh trình độ và lợi ích khác nhau của con người trong các giai đoạn lịch sử.Điều đó là hiển nhiên, vì trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, con người luôn luôn phải thích nghi với thế giớixung quanh, phải sống hoà hợp và có quan hệ mật thiết với thế giới đó Song con người không thích nghi, quan hệ hoàhợp một cách thụ động, chịu sự chi phối hoàn toàn của thế giới mà luôn luôn tìm cách cải biến thế giới theo nhu cầu vàlợi ích cuộc sống của mình Muốn vậy con người phải hiểu biết về tự nhiên, về xã hội và về chính bản thân mình Từ đóbuộc con người phải lý giải nhiều vấn đề về thế giới và bản thân mình Chẳng hạn như thế giới này do đâu mà có ? Bảnchất của nó là gì? Nó có vai trò gì đối với đời sống con người? Sự biến đổi của nó có tác động như thế nào đến sinh vật

và con người? Con người được sinh ra từ đâu? Bản chất của con người là gì ? Con người có vị trí như thế nào trong tựnhiên và trong xã hội? Bản chất của xã hội là gì? Nó hình thành và phát triển dưới tác động của những qui luật nào? vv …Những câu hỏi đó được con người luôn luôn đặt ra và giải quyết ở những mức độ khác nhau tuỳ theo sự phát triển củachính con người và sự phát triển của xã hội từ thời mông muội cho đến ngày nay cũng như của mai sau Con ngườithường xuyên muốn hiểu biết hoàn toàn đầy đủ, chính xác về các sự vật hiện tượng, quá trình của thế giới khách quan.Song tri thức của con người và cả loài người tích luỹ được lại có giới hạn Quá trình tìm hiểu và giải đáp những câu hỏiđặt ra sẽ hình thành ở con người những quan niệm nhất định về thế giới cũng như về vị trí, vai trò của con người trongthế giới hiện thực Những quan niệm đó tạo nên thế giới quan của con người Thông qua thế giới quan của mình, conngười xem xét, nhìn nhận, tìm tòi để hiểu biết bản chất của thế giới Từ đó định hướng, chỉ đạo, chi phối nhận thức vàhoạt động thực tiễn của con người

Trên cơ sở của ba đặc trưng cơ bản đó có thể định nghĩa khái niệm thế giới quan như sau : “ Thế giới quan là toàn bộ những quan niệm có tính lịch sử - xã hội của con người về thế giới ”.

Quan niệm về thế giới quan như vậy không có nghĩa là đồng nhất nó với triết học Bởi vì giữa thế giới quan vàtriết học tuy có những điểm giống nhau là cùng tìm cách giải thích thế giới và định hướng cho việc cải tạo thế giới,nhưng có sự khác nhau cơ bản là ở chỗ, thế giới quan bao gồm toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới Còntriết học chỉ là một hệ thống các quan niệm dưới dạng lý luận về những vấn đề chung nhất của thế giới mà thôi Chính vìvậy mà thế giới quan chỉ là một trong các chức năng của triết học, còn triết học lại là hạt nhân lý luận của thế giới quan

2 Cấu trúc của thế giới quan

Thế giới quan có cấu trúc phức tạp, bao gồm tri thức, niềm tin, tình cảm, ý chí và lý tưởng

- Tri thức là kết quả của nhận thức, tức là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong đầu óc của

con người Tri thức bao gồm nhiều loại khác nhau : có tri thức về tự nhiên, có tri thức về xã hội và có tri thức về tư duy.Lại có tri thức đúng, có tri thức sai

- Tình cảm là tình yêu và sự cảm hoá của con người trước một hành động, một sự vật nào đó Có nhiều loại tình

cảm khác nhau như tình cảm trong sáng, tình cảm không trong sáng; tình cảm chân thành, tình cảm không chân thành

- Niềm tin là sự tin tưởng vào một quan niệm nào đó Bao gồm các loại niềm tin khoa học, niềm tin không khoa

học; niềm tin bền vững hoặc niềm tin không bền vững…

- ý chí là năng lực trí tuệ của con người quyết tâm đạt được một ý định nào đó đã đề ra Nó được hình thành trên

cơ sở niềm tin để tạo thành lý tưởng sống của con người

- Lý tưởng là lý luận mà con người tưởng tượng ra thành mục đích để hướng tới trong cuộc sống Lý tưởng được

hình thành nếu không xuất phát từ “ mảnh đất ” hiện thực, từ đời sống xã hội của con người thì lý tưởng đó sẽ là phi hiệnthực và ảo tưởng Ví dụ : “ Cõi niết bàn ” hay “ chủ nghĩa xã hội không tưởng ” Còn lý tưởng được hình thành nếu xuấtphát từ “ mảnh đất ” hiện thực từ quy luật phát triển của cuộc sống thì lý tưởng đó sẽ trở thành hiện thực Ví dụ : “ Lýtưởng cộng sản chủ nghĩa ”

Giữa tri thức, niềm tin, tình cảm, ý chí và lý tưởng có một mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại vớinhau Trong mối quan hệ đó thì tri thức là bộ phận quan trọng nhất đóng vai trò quyết định đối với việc hình thành niềm

Trang 3

tin, tình cảm, ý chí và lý tưởng Bởi vì nếu có tri thức đúng đắn, khoa học thì sẽ hình thành niềm tin vững chắc, tình cảmtrong sáng, ý chí mãnh liệt và lý tưởng cao cả Ngược lại nếu tri thức mà không đúng đắn sẽ hình thành niềm tin khôngbền vững, tình cảm không trong sáng, ý chí yếu ớt và lý tưởng thấp hèn.

3 Những hình thức thể hiện của thế giới quan

Thế giới quan được thể hiện ra ở nhiều hình thức khác nhau Song có ba hình thức cơ bản, phản ánh ba trình độkhác nhau của con người về thế giới là thế giới quan thần thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học

- Thế giới quan thần thoại: là hình thức thế giới quan đặc trưng cho người nguyên thuỷ trong buổi sơ khai của lịch sử loài người Đó là sự phản ánh mang tính chất cảm nhận ban đầu của người nguyên thuỷ về thế giới mà trong đó

các yếu tố hiện thực và ảo tưởng, sự thật và hoang đường, lý trí và tín ngưỡng, tư duy và xúc cảm hoà quyện vào nhau.Thế giới quan thần thoại phản ánh thế giới bằng các hình tượng thần thoại Nó còn tiếp tục tồn tại ở các giai đoạn sau nàycủa con người và ở mọi dân tộc trên thế giới

- Thế giới quan tôn giáo: ra đời khi trình độ nhận thức của con người còn thấp kém, bất lực trước các hiện tượng

tự nhiên (sấm sét, bão lụt…) Đó là sự phản ánh hiện thực một cách hư ảo, “ là thuốc phiện của nhân dân ” Đặc trưngcủa thế giới quan này là xây dựng niềm tin vào sức mạnh siêu nhiên Nó thể hiện khát vọng giải thoát nỗi khổ đau củacon người để vươn tới một cuộc sống tốt đẹp, vĩnh hằng Tuy nhiên con đường để vươn tới cuộc sống tốt đẹp đó là một

ảo tưởng phi hiện thực

- Thế giới quan triết học: ra đời trong thời kỳ chuyển biến từ chế độ cộng sản nguyên thuỷ sang chế độ chiếm

hữu nô lệ Nó phản ánh thế giới không phải bằng hình tượng thần thoại hay niềm tin tôn giáo, ảo tưởng mà bằng một hệthống khái niệm, phạm trù lý luận Thế giới quan này không chỉ nêu ra các quan niệm của mình mà còn chứng minh cácquan niệm đó bằng lý tính Thế giới quan triết học là một hệ thống những quan điểm lý luận chung nhất về thế giới và vịtrí của con người trong thế giới đó Đây là một chức năng cơ bản của triết học

4 Các loại thế giới quan triết học

Tuỳ theo những mục đích nghiên cứu khác nhau mà người ta lựa chọn những cơ sở phân chia khác nhau Vì vậy

mà thế giới quan được chia ra thành các loại khác nhau

- Nếu xuất phát từ mục đích là xác định rõ thái độ, lập trường, quan điểm của con người và xã hội đối với đờisống tín ngưỡng của họ thì thế giới quan được chia ra thành thế giới quan vô thần và thế giới quan hữu thần Thế giớiquan vô thần là thế giới quan phủ nhận sự tồn tại của thần thánh, của chúa… Tức là phủ nhận sự tồn tại của những lựclượng siêu nhiên Còn thế giới quan hữu thần là thế giới quan xác nhận sự tồn tại của các lực lượng siêu tự nhiên (nhưthần thánh, chúa…) trong thế giới Những lực lượng này ngự trị trong tự nhiên, trong xã hội và trong đời sống của conngười, nó chi phối đời sống của con người

- Nếu xuất phát từ mục tiêu tìm hiểu đúng đắn bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật trong sự vận động vàphát triển của các sự vật, hiện tượng, để đạt tới một trình độ nhất định và có thái độ cư xử khoa học đối với các sự vật,hiện tượng đó thì thế giới quan lại được chia ra làm hai loại là thế giới quan phản khoa học và thế giới quan khoa học.Thế giới quan phản khoa học là thế giới quan chứa đựng những quan niệm không đúng đắn về bản chất của các sự vật,hiện tượng phản ánh sai lệch hoặc xuyên tạc bản chất, quy luật vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng Ví dụ :thế giới quan tôn giáo hay thế giới quan hữu thần Đâylà những loại thế giới quan phản ánh hư ảo, xuyên tạc thế giới hiệnthực Còn thế giới khách quan khoa học là thế giới quan đưa ra những quan niệm đúng đắn về bản chất và quy luật vậnđộng, phát triển của thế giới, chẳng hạn thế giới quan duy vật biện chứng Bởi vì, thế giới quan này đã đưa ra quan niệmđúng đắn về bản chất của thế giới, về những quy luật vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy Những quanniệm đó phù hợp với tự nhiên, với xã hội và với con người Nó có tác dụng định hướng đúng đắn cho hoạt động của conngười trong việc nhận thức và cải tạo thế giới

- Khi xuất phát từ chủ định phân kỳ lịch sử phát triển của xã hội loài người, để tìm hiểu quy luật vận động của nóthông qua những quan hệ kinh tế trong xã hội, ( vì quan hệ này quyết định các quan hệ xã hội khác), người ta dựa vàohình thái kinh tế – xã hội để phân chia thế giới quan thành năm loại khác nhau là thế giới quan chiếm hữu nô lệ, thế giớiquan phong kiến, thế giới quan tư bản và thế giới quan cộng sản chủ nghĩa Đây là những loại thế giới quan đặc trưngcho mỗi một xã hội ở trong lịch sử

4

Trang 4

- Nếu xuất phát từ việc tìm hiểu cách giải quyết khác nhau vấn đề cơ bản của triết học để tìm ra quy luật của sựvận động và phát triển của triết học thì người ta lại chia thế giới quan ra thành thế giới quan duy vật và thế giới quan duytâm Đây là hai loại thế giới quan đặc trưng và có quan hệ đối lập nhau trong triết học Chúng ta sẽ nghiên cứu chúng ởphần sau.

- Nếu xuất phát từ việc nghiên cứu lợi ích của các tập đoàn người khác nhau trong xã hội thì người ta lựa chọntính giai cấp để phân chia thế giới quan ra thành thế giới quan thống trị và thế giới quan bị trị Thế giới quan thống trị làthế giới quan của giai cấp giữ địa vị chi phối toàn bộ các giai cấp khác ở trong xã hội đó Ví dụ : thế giới quan phongkiến là thế giới quan thống trị trong xã hội phong kiến Thế giới quan tư sản là thế giới quan thống trị trong xã hội tư bản.Còn thế giới quan bị trị là thế giới quan của các giai cấp chịu sự chi phối của giai cấp thống trị trong xã hội Ví dụ : thếgiới quan nô lệ là thế giới quan bị trị trong xã hội chiếm hữu nô lệ Bởi vì giai cấp này tồn tại dưới sự nô dịch của giaicấp chủ nô

Trong điều kiện hiện nay đang tồn tại hai giai cấp cơ bản trong xã hội là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản Vìvậy mà tồn tại hai loại thế giới quan đối lập nhau là thế giới quan tư sản và thế giới quan vô sản

Thế giới quan mà trong đó cơ sở, nền tảng lý luận của nó là chủ nghĩa Mác - Lênin được gọi là thế giới quanMacxit hay thế giới quan cộng sản chủ nghĩa, thế giới quan duy vật biện chứng Đó là thế giới quan khoa học, cách mạng

và triệt để nhất trong lịch sử bởi vì nó đưa ra quan niệm đúng đắn về những quy luật chung nhất của tự nhiên, khoa học

xã hội nhân văn và thực tiễn kiểm nghiệm tính chân lý vốn có của mình

Chú ý : Khi phân chia ra các loại thế giới quan đó, không nên hiểu một cách máy móc, áp đặt một cách rập

khuôn, miễn cưỡng mà cần phải căn cứ vào những tiêu chí cụ thể để phân chia các loại thế giới quan

Ví dụ : Không thể quy thế giới quan tư sản là thế giới quan duy tâm Khi xem xét các vấn đề của chủ nghĩa tưbản thì đừng vội quy tư sản là duy tâm cả, mà phải nhìn nhận kỹ càng, khách quan Bởi vì thế giới quan tư sản có thể códuy vật - duy vật đến thực dụng để tồn tại và cạnh tranh Nó cũng thay đổi để phù hợp

+ Thế giới quan thần thoại, thế giới quan tôn giáo và thế giới quan triết học có mối quan hệ mật thiết với nhau,tác động qua lại với nhau

+ Thế giới quan luôn luôn gắn liền với phương pháp luận thì mới có tác động vào sự vật Triết học duy vật biệnchứng không chỉ là giải thích thế giới mà còn là cải tạo thế giới

II SỰ ĐỐI LẬP GIỮA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT VÀ THẾ GIỚI QUAN DUY TÂM TRIẾT HỌC

1 Vấn đề cơ bản của triết học

Như đã nói ở trên, sự hình thành và tồn tại hai loại thế giới quan khác nhau, đối lập nhau là thế giới quan duy vật

và thế giới quan duy tâm, là dựa vào việc giải quyết vấn đề cơ bản của triết học Vậy vấn đề cơ bản của triết học là gi?Tại sao đó lại là vấn đề cơ bản của triết học và vấn đề cơ bản của triết học có cấu trúc như thế nào?

Thế giới về đại thể được chia ra theo hai lĩnh vực khác nhau, có quan hệ với nhau đó là lĩnh vực vật chất ( tựnhiên, tồn tại) và lĩnh vực ý thức ( tinh thần, tư duy) Mối quan hệ giữa hai lĩnh vực đó được xác định là vấn đề cơ bảncủa triết học Nói cách khác, vấn đề cơ bản của triết học là vấn đề về mối quan hệ giữa vật chất và ý thức ( hay giữa tự

nhiên và tinh thần, giữa tồn tại và tư duy) Điều này đã được Ph Ăngghen xác định trong tác phẩm “ Lútvích phoiơbắc

và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức ” rằng, “ Vấn đề cơ bản lớn của mọi triết học, đặc biệt là của triết học hiện

đại, là vấn đề quan hệ giữa tư duy và tồn tại”

Sở dĩ mối quan hệ giữa vật chất và ý thức được coi là vấn đề cơ bản của triết học bởi vì : Đây là vấn đề mà mọitrào lưu triết học đều phải giải quyết Nó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ nội dung của triết học Việc giải quyết vấn đề

đó theo kiểu nào sẽ quyết định giải quyết tất cả vấn đề khác theo kiểu đó Hơn nữa việc giải quyết vấn đề ấy sẽ định ratiêu chuẩn để phân biệt các trào lưu triết học trong lịch sử là duy vật hay duy tâm

Vấn đề cơ bản của triết học bao gồm 2 mặt :

Thứ nhất, giữa vật chất và ý thức thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

Thứ hai, con người có thể nhận thức được thế giới hay không?

Trang 5

2 Các cách giải quyết vấn đề cơ bản của triết học

Khi giải quyết mặt thứ nhất : giữa vật chất và ý thức thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái

nào thì tuỳ theo việc lựa chọn cách giải quyết nào mà triết học phân ra thành thế giới quan duy tâm và thế giới quan duyvật

- Thế giới quan duy tâm là một trào lưu lớn trong lịch sử triết học Thế giới quan này khẳng định trong mối quan

hệ giữa vật chất và ý thức thì ý thức là cái có trước, vật chất là cái có sau, ý thức quyết định vật chất Thế giới quan duytâm lại được chia ra hai loại là thế giới quan duy tâm chủ quan và thế giới quan duy tâm khách quan

+ Thế giới quan duy tâm chủ quan cho rằng cảm giác, ý thức của con người là cái có trước, quyết định sự tồn tại

và phát triển của sự vật, hiện tượng Họ coi các sự vật, hiện tượng chỉ là sự phức hợp của những cảm giác Những màusắc, mùi vị và những đặc tính khác nhau khác của sự vật chẳng qua chỉ là những cảm giác của con người; của “ cái tôi”cảm nghĩ mà thôi Quan niệm duy tâm đó không trách khỏi dẫn đến cái gọi là chủ nghĩa duy ngã Đại diện cho thế giớiquan duy tâm khách quan là Béccơli và Đêcáctơ Bởi vì : Béccơli cho rằng “ Sự vật là sự phức hợp của những cảm giác”.Còn Đềcáctơ khẳng định “ Tôi tư duy thì tôi tồn tại”

+ Thế giới quan duy tâm khách quan lại cho rằng ý thức, ý niệm, ý niệm tuyệt đối, tinh thần thế giới là cái cótrước vật chất Chúng tồn tại khách quan, độc lập với con người, không phụ thuộc vào con người, vào sự vật Nó quyếtđịnh sự tồn tại của tự nhiên, xã hội và con người Tất cả các sự vật, hiện tượng và cả con người nữa đều là sự hiện thâncủa “ ý niệm” hay “ ý niệm tuyệt đối” Đại diện cho thế giới quan duy tâm khách quan là Platon và Hêghen Bởi vì theoPlaton thì “ Sự vật hình ảnh là cái bóng của ý niệm” Còn Hêghen coi “ ý niệm tuyệt đối tồn tại tự nó và vì nó” “ Sự vật

là kết quả của sự tha hoá của ý niệm tuyệt đối”

Tuy có khác nhau về hình thức thể hiện, song về bản chất của chúng có sự thống nhất Bởi vì cả thế giới quanduy tâm chủ quan và thế giới quan duy tâm khách quan đều thừa nhận ý thức là cái có trước và quyết định vật chất

Thế giới quan duy tâm tuy có yếu tố hợp lý nhưng về cơ bản là lý luận triết học sai lầm

Có hai nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện và sai lầm đó là nguyên nhân về nhận thức và nguyên nhân về xã hội

Về nhận thức : Do cường đại hoá, khuếch đại, thổi phồng, tuyệt đối hoá yếu tố ý thức, nhận thức Khi nhận định

về lý do này, Lênin đã viết : “ Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì chủ nghĩa duy tâm triết học là một

sự phát triển ( một sự thổi phồng, bơm to ) phiến diện, thái quá … của một trong những đặc trưng của một trong nhữngmặt, của một trong những khía cạnh của nhận thức thành một cái tuyệt đối, tách rời khỏi vật chất, khỏi tự nhiên, thầnthánh hoá ”

Về nguồn gốc xã hội : Do sự áp bức giai cấp trong xã hội có giai cấp đối kháng, giai cấp thống trị sử dụng thế

giới quan duy tâm làm vũ khí tinh thần để ru ngủ quần chúng, duy trì và củng cố địa vị thống trị của chúng trong xã hội

- So sánh thế giới quan duy tâm và thế giới quan tôn giáo:

+ Giống nhau : cả hai loại đều thừa nhận ý thức ( tinh thần) có trước

+ Khác nhau : Về hình thức thể hiện :

Thế giới quan tôn giáo : Dựa vào lòng tin thuần tuý, lấy lòng tin thay cho tri thức

Thế giới quan duy tâm : Dựa vào lý trí, vào tri thức bao gồm một hệ thống khái niệm có tính lý luận

Về tính chất Về trình độ phản ánh

Thế giới quan tôn giáo:

Cảm nhận phi hiện thực,

vô minh, ảo tưởng

Thế giới quan duy tâm: có tính lý trí, có trithức

Thế giới quan tôngiáo : Niềm tin mùquáng

Thế giới quan duytâm : Tri thức lý luận

có hệ thống 6

Trang 6

Mối quan hệ giữa thế giới quan tôn giáo và thế giới quan duy tâm:

thế giới quan tôn giáo và thế giới quan duy tâm là hai loại thế giới quan khác nhau Nhưng giữa chúng có mối quan hệchặt chẽ với nhau tác động qua lại lẫn nhau Sự quan hệ đó là quan hệ song hành với cùng một mục đích, một bản chất.Tôn giáo là sự biểu hiện đặc thù của thế giới quan duy tâm Còn thế giới quan duy tâm là cơ sở triết học của tôn giáo Vìvậy trong lịch sử phát triển triết học chúng thường liên minh với nhau để chống lại thế giới quan duy vật

- Thế giới quan duy vật cho rằng, trong mối quan hệ giữa vật chất và ý thức thì vật chất là cái có trước, còn ýthức là cái có sau Vật chất quyết định ý thức Tính chất quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện ở chỗ : Vậtchất có trước, sinh ra ý thức Sự vật như thế nào thì ý thức hư thế ấy Sự vật thay đổi thì ý thức cũng thay đổi theo

Thế giới quan duy vật có 3 hình thái phát triển là :

+ Thế giới quan duy vật chất phác thời cổ đại : Hêracơlít+Thế giới quan duy vật siêu hình thế kỷ XVII – XVIII : Bê Cơn+Thế giới quan duy vật biện chứng : Mác, Ăngghen, Lênin

Trong lịch sử phát triển triết học thì CNDV và CNDT là hai dòng phái lớn, hai loại thế giới quan đối lập nhau,luôn luôn đấu tranh với nhau Nó thể hiện tính Đảng trong triết học vì đó là hai loại tư tưởng của hai giai cấp đối lậpnhau trong xã hội

Khi giải quyết mặt thứ hai : Con người có thể nhận thức được thế giới hay không, đã xuất hiện hai học thuyết,

hai loại thế giới quan khác nhau là thế giới quan bất khả tri và thế giới quan khả tri

- Thế giới quan bất khả tri là thế giới quan triết học phủ nhận khả năng nhận thức được thế giới của con người.Đại diện cho thế giới quan này là Đavít Hium, Cantơ và Đề cáctơ Bởi vì Đavít Hium cho rằng “ Con người không thểnhận thức được sự vật” Trong khi đó Cantơ khẳng định “ Con người không nhận thức được cái bản chất của vật tự nó”.Còn Đềcáctơ thì “ hoài nghi sự nhận thức”của con người

- Thế giới quan khả tri là thế giới quan triết học khẳng định khả năng nhận thức được thế giới của con người.Không có cái gì con người không thể nhận thức được, chỉ có cái con người chưa nhận thức được nhưng sẽ nhận thứcđược mà thôi

III BẢN CHẤT CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG

1 Cơ sở hình thành thế giới quan duy vật biện chứng

Sự hình thành và phát triển thế giới quan duy vật biện chứng dựa trên những cơ sở sau đây:

- Những thành tựu lý luận, thực tiễn và khoa học

- Đó là triết học duy vật biện chứng Để có được thế giới quan duy vật biện chứng phải có tri thức triết học duy vật biện chứng ( triết học Macxit) Nó kế thừa và phát triển những yếu tố đúng đắn và hợp lý trong các quan điểm, quan

niệm của các thế giới quan khác nhau

Nó được xây dựng bởi các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin

2 Bản chất của thế giới quan duy vật biện chứng

* Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan khoa học vì nó giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triếthọc trên quan điểm thực tiễn

- Giải quyết đúng đắn vấn đề cơ bản của triết học

- Đưa quan điểm thực tiễn vào lý luận nhận thức

* Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan thống nhất giữa quan niệm duy vật và phép biện chứng:

Quan niệm duy vật Phép biện chứng

Trang 7

* Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan duy vật biện chứng triệt để

- Thế giới quan duy vật trước Mác : Duy vật về tự nhiên còn duy tâm về xã hội

- Thế giới quan duy vật Macxít : Duy vật và biện chứng về cả tự nhiên, xã hội và tư duy

* Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan thống nhất giữa tính khoa học với tính cách mạng, thống nhất giữa hệ tư tưởng tiên tiến nhất của thời đại với lý luận khoa học.

Tóm lại : thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan khoa học tiên tiến, triệt để và cách mạng.

Người cộng sản chân chính, mọi nhà khoa học chân chính đang hoạt động trên các lĩnh vực, kinh tế, văn hoá,khoa học, nghệ thuật…cần phải được trang bị thế giới quan duy vật biện chứng trong hoạt động nhận thức và hoạt độngthực tiễn Có như vậy mới đạt hiệu quả cao và đúng đắn trong công tác của mình

IV VAI TRÒ CỦA THẾ GIỚI QUAN DUY VẬT BIỆN CHỨNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC VÀ HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN

Thế giới quan có vai trò rất quan trọng trong đời sống của con người

- Nó là lăng kính mà qua đó con người xem xét, nhìn nhận thế giới một cách đúng đắn, đưa ra được sự giải thíchkhoa học các hiện tượng nảy sinh trong tự nhiên và xã hội Chẳng hạn, hiện tượng khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội ởLiên Xô và các nước Đông Âu

Như chúng ta đã biết, sau chính biến ngày 19 tháng 8 năm 1991, chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu đã lâmvào sự khủng hoảng Nguyên nhân của sự khủng hoảng đó là do quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, các nước này đãvận dụng một cách máy móc, giáo điều học thuyết Mác – Lênin về chủ nghĩa xã hội Họ muốn “ đi tắt” đến chủ nghĩa xãhội và chủ nghĩa cộng sản mà bỏ qua những bước quá độ tất yếu của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực.Chính những sai lầm đó đã đưa chủ nghĩa xã hội lâm vào sự khủng hoảng và đổ vỡ Đứng trước những sự kiện đó, một

số trường phái duy tâm và siêu hình ở một số nước đã dao động, không tin vào chủ nghĩa xã hội Họ còn cho rằng chủnghĩa xã hội là ảo tưởng, phi hiện thực Nó đã bị tan rã và thất bại Nhưng nếu dừng lại ở sự nhận thức siêu hình như vậy

sẽ dẫn tới mất niềm tin vào sự tất thắng của chủ nghĩa xã hội Chỉ có thế giới quan duy vật biện chứng mới cho chúng tacách nhìn toàn diện và đánh giá đúng đắn về chủ nghĩa xã hội hiện nay

Thế giới quan duy vật biện chứng cho rằng chủ nghĩa xã hội hiện nay đang từng bước đi đúng bước và phát triển

Nó sẽ thành công trong tương lai, mặc dù nó chỉ được theo đuổi ở các nước Trung Quốc, Việt Nam, Cu Ba… Nhưngchắc chắn các nước này sẽ xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội Thời gian là bao nhiêu, dài hay ngắn, điều đó tuỳthuộc vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của từng nước Còn hệ thống chủ nghĩa xã hội đã tồn tại trước đây, tuy có đổ vỡnhưng đó chỉ là một hiện tượng tạm thời, chỉ là bước quanh co trong sự phát triển của xã hội Chính sự sụp đổ của môhình chủ nghĩa xã hội đó đã để lại một bài học vô cùng to lớn đối với các nước đi sau, giúp cho các nước này có đượcnhững kinh nghiệm nhất định trong việc kiên trì con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của mình Bởi đây là xã hội tốtđẹp, hợp với những qui luật phát triển khách quan của lịch sử Nó thống nhất hữu cơ giữa khát vọng giải phóng của conngười và loài người với mong muốn xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, phản ánh bản chất tốt đẹp củacon người trong một xã hội hiện thực

- Nó định hướng cuộc sống, chi phối nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người Thế giới quan đúng – hoạtđộng đúng Thế giới quan sai – hoạt động sai

- Nó là tiêu chí quan trọng để hình thành và phát triển nhân cách của con người

- Muốn có thế giới quan đúng đắn phải có tri thức khoa học- niềm tin - định hướng hành động đúng

8

Trang 8

V BỒI DƯỠNG THẾ GIỚI QUAN KHOA HỌC, CHỐNG CHỦ NGHĨA CHỦ QUAN

1 Tính tất yếu của việc bồi dưỡng thế giới quan khoa học

- Khẳng định : Thế giới quan khoa học chỉ là thế giới quan duy vật biện chứng

- Muốn hoạt động có hiệu quả trên các lĩnh vực của đời sống vật chất và tinh thần của xã hội cần phải có thế giớiquan đúng đắn, khoa học – thế giới duy vật biện chứng

2 Nội dung của việc bồi dưỡng thế giới quan khoa học

- Nâng cao sự hiểu biêt các tri thức khoa học vì tri thức khoa học là yếu tố cơ bản, quyết định thế giới quan Trithức đúng là cơ sở để có thế giới quan đúng đắn, khoa học Tri thức sai sẽ có thế giới quan phản khoa học Đặt biệt phảinâng cao sự nhận thức về triết học Mác - Lênin vì :

+ Triết học Mác - Lênin là tri thức quan trọng nhất, quyết định sự hình thành thế giới quan duy vật biện chứng( đây là điều kiện đủ)

+ Không có triết học Mác - Lênin không thể có thế giới quan khoa học

- Củng cố và nâng cao sự hiểu biết học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

- Bồi dưỡng niềm tin vào sự tất thắng của chủ nghĩa cộng sản

- Nâng cao ý chí quyết tâm, phấn đấu cho sự nhgiệp giải phóng nhân loại, giải phóng nhân dân lao động khỏi áp

bức bất công Thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc

- Bồi dưỡng tình cảm cách mạng trong sáng và lý tưởng cao cả

3 Chống chủ nghĩa chủ quan

- Thế giới quan duy tâm chủ quan và khách quan là thế giới quan phản khoa học

- Thế giới quan chủ quan là cơ sở của sự hình thành chủ nghĩa chủ quan duy ý chí

- Thế giới quan duy tâm chủ quan là cơ sở của sự hình thành chủ nghĩa cá nhân

- Chống chủ nghĩa chủ quan, duy ý chí

Kết luận chung

- Thế giới quan duy vật biện chứng là thế giới quan khoa học, là cái cần thiết hàng đầu cho mọi người

- Tăng cường học tập, ra sức bồi dưỡng những tri thức khoa học đặc biệt là tri thức triết học Mác - Lênin, xâydựng niềm tin vững chắc, ý chí mãnh liệt và tình cảm cách mạng trong sáng, lý tưởng cao cả

- Phấn đấu dưới ngọn cờ của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thực hiện khẩu hiệu “ giai cấp vôsản và các dân tộc bị áp bức đoàn kết lại” hướng theo mục tiêu xây dựng chủ nghĩa cộng sản

- Ở nước ta, trước mắt xây dựng nước Việt Nam hoà bình, độc lập, “ dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dânchủ, văn minh” Xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

Tài liệu tham khảo

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo : “ Triết học” tập 3 ( dùng cho nghiên cứu sinh và cao học không thuộc chuyên

ngành triết học), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1996

Trang 9

2 Bộ Giáo dục và Đào tạo : “ Giáo trình triết học mác – Lênin”( dùng trong các trường đại học và cao đẳng),

Nxb Chính trị Quốc gia, 2002

3 Nguyễn Trọng Chuẩn : “ Sinh học và thế giới quan”, Tạp chí Triết học, số 1, 1992.

4 Đảng Cộng sản Việt Nam: “ Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lầ thứ IX”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà

Nội , 2001

5 Hội đồng Trung Ương biên soạn bộ giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh : “Giáo trình triết học Mác - Lênin”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1999.

6 V.I.Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1974 - 1981, các tập : 1, 18, 29, 26, 33.

7 C Mác và Ăngghen : Toàn bộ, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1993 – 1996, các tập : 1,3,4,13,18,21,23.

8 M.Rôdentan và P Iuđin chủ biên : “ Từ điển triết học”, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1976.

9 “ Từ điển triết học”, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1986 ( tiếng việt).

10 Viện triết học : “ Chủ nghĩa Mác – Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, 2002

Chuyên đề 2

PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT - PHƯƠNG PHÁP LUẬN NHẬN THỨC KHOA HỌC

VÀ THỰC TIỄN

I PHÉP BIỆN CHỨNG VÀ LƯỢC SỬ PHÉP BIỆN CHỨNG

1 Khái niệm phép biện chứng

Biện chứng và siêu hình là hai mặt đối lập trong phương pháp chung nhất của tư duy

Phương pháp siêu hình là phương pháp :

+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái cô lập, tách rời đối tượng ra khỏi các chỉnh thể khác và giữa các mặt đối lậpnhau có một ranh giới tuyệt đối

+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái tĩnh tại, nếu có sự biến đổi thì đó chỉ là sự biến đổi về số lượng, nguyên nhâncủa sự biến đổi nằm ở bên ngoài đối tượng

Phương pháp siêu hình là phương pháp “ chỉ nhìn thấy những sự vật riêng biệt mà không nhìn thấy mối liên hệqua lại giữa những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy sự tồn tại của những sự vật ấy mà không nhìn thấy sự phát sinh và sự tiêuvong của những sự vật ấy, chỉ nhìn thấy trạng thái tĩnh của những sự vật ấy mà quên mất sự vận động của những sự vật

ấy, chỉ nhìn thấy cây mà không thấy rừng”

Phương pháp siêu hình bắt nguồn từ chỗ muốn nhận thức một đối tượng trước hết phải tách đối tượng ấy ra khỏinhững mối liên hệ và nhận thức nó ở trạng thái không biến đổi trong một không gian, thời gian xác định Phương phápsiêu hình chỉ có tác dụng trong một phạm vi nhất định, vượt ra khỏi phạm vi đó tư duy siêu hình sẽ mắc phải sai lầm

Phương pháp biện chứng là phương pháp :

+ Nhận thức đối tượng ở trong các mối liên hệ với nhau, ảnh hưởng nhau, ràng buộc lẫn nhau

+ Nhận thức đối tượng ở trạng thái vận động biến đổi, nằm trong khuynh hướng chung là phát triển Đây là quátrình thay đổi về chất của các sự vật hiện tượng mà nguồn gốc của sự thay đổi ấy là đấu tranh của các mặt đối lập để giảiquyết mâu thuẫn nội tại của chúng

Phương pháp biện chứng thể hiện tư duy mềm dẻo, linh hoạt Nó thừa nhận trong những bối cảnh xác định thìbên cạnh cái “ hoặc là …hoặc là” còn có cả cái “ vừa là …vừa là” Nó thừa nhận một chỉnh thể trong cùng một lúc vừa là

nó lại vừa không phải là nó, cái khẳng định và cái phủ định vừa là loại trừ nhau lại vừa thống nhất với nhau trong sự tồntại, vận động, biến đổi của sự vật

10

Trang 10

Phương pháp biện chứng phản ánh hiện thực đúng như nó tồn tại Nhờ vậy, phương pháp tư duy biện chứng trởthành công cụ hữu hiệu giúp con người nhận thức và cải tạo thế giới.

- Biện chứng khách quan và biện chứng chủ quan.

Biện chứng khách quan : là biện chứng của sự vật, của thế giới hiện thực khách quan, nó nói lên bản chất sự tồn

tại của sự vật là trong những mối liên hệ phổ biến và trong sự vận động, phát triển

Biện chứng chủ quan : là biện chứng của tư duy, của hoạt động nhận thức của con người, nó nói lên bản chất của

quá trình nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng khách quan vào trong đầu óc con người một cách năng động, sángtạo Đó là quá trình phức tạp và mâu thuẫn, trong đó các giai đoạn của sự nhận thức không tách rời nhau mà có quan hệmật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Con đường biện chứng của sự nhận thức là “ từ trực quan sinh động tới tư duy trừutượng và tư duy trừu tượng tới thực tiễn” Về bản chất, biện chứng chủ quan là sự phản ánh của biện chứng khách quan

2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển của phép biện chứng

a Phép biện chứng chất phác thời cổ đại.

Đây là hình thức đầu tiên trong lịch sử phát triển của phép biện chứng Phép biện chứng cổ đại, kể cả trong triếthọc phương Đông lẫn phương Tây đều xem xét mọi sự hiện tượng của vũ trụ trong sự sinh thành, biến hoá và trongnhững mối liên hệ vô cùng, vô tận Tuy còn mang tính chất tự phát, ngây thơ, mới chủ yếu dựa trên những phỏng đoán,những trực kiến thiên tài chứ chưa phải chủ yếu dựa trên kết quả của nghiên cứu khoa học nhưng căn bản là đúng Phépbiện chứng tự phát thời cổ đại đã phác hoạ ra được bức tranh chung về thế giới trong tác động qua lại chằng chịt lẫn nhaugiữa các bộ phận, các yếu tố của chúng Phép biện chứng cổ đại đã đặt nền móng cho sự hình thành phát triển của cácquan điểm biện chứng về thế giới trong nhiều thế kỷ sau

b Phép biện chứng duy tâm trong triết học cổ điển Đức

Đây là hình thức thứ hai của lịch sử phép biện chứng, gọi là phép biện chứng duy tâm Đỉnh cao của hình thứcnày được thể hiện trong triết học cổ điểm Đức, người khởi đầu là Cantơ và người hoàn thiện là Hêghen Có thể nói, lầnđầu tiên trong lịch sử phát triển của tư duy nhân loại, các nhà triết học Đức đã trình bày một cách có hệ thống những nộidung quan trọng nhất của phương pháp biện chứng Tuy nhiên, theo họ, biện chứng ở đây bắt đầu từ tinh thần và kết thúc

ở tinh thần nên nó dựa trên thế giới quan duy tâm Phép biện chứng cổ điển Đức có những đóng góp to lớn vào sự pháttriển của tư duy biện chứng của nhân loại, thúc đẩy tư duy biện chứng lên một trình độ cao, nhưng với hạn chế duy tâm,

nó chưa thể trở thành cơ sở lý luận cho một thế giới quan khoa học

c Phép biện chứng duy vật

Đây là hình thức cao nhất trong lịch sử phép biện chứng Phép biện chứng duy vật được Mác và Ăngghen xâydựng, sau đó được Lênin phát triển Mác và Ăngghen đã gạt bỏ tính chất duy tâm, thần bí, kế thừa những hạt nhân hợp lýtrong phép biện chứng cổ điển Đức( trực tiếp nhất là phép biện chứng của Hêghen) Mác và Ăngghen đã cải tạo lại mộtcách căn bản phép biện chứng của Hêghen, trên cơ sở những thành tựu lý luận, khoa học của nhân loại, trên cơ sở đúc kết

từ thực tiễn xã hội, các ông đã sáng lập ra phép biện chứng duy vật, hình thức cao nhất cao nhất của phép biện chứng

Phép biện chứng duy vật với tính cách là học thuyết về mối liên hệ phổ biến và sự phát triển dưới hình thức hoàn

bị nhất Nó bao gồm một hệ thống các nguyên lý, phạm trù và quy luật; nó đồng thời là lý luận nhận thức và logic họccủa chủ nghĩa Mác, có sự thống nhất trong nó giữa tính cách mạng, tính khoa học, tính thực tiễn, trở thành phương phápluận chung nhất cho mọi hoạt động nhận thức và thức tiễn cải tạo tự nhiên, xã hội của con người

II NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT - TÍNH KHOA HỌC VÀ TÍNH CÁCH MẠNG CỦA NÓ

1 Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến

Trang 11

a Nội dung của nguyên lý

Khi giải thích về sự tồn tại của thế giới, những câu hỏi được dặt ra là : các sự vật hiện tượng và quá trình khácnhau của thế giới có mối liên hệ qua lại, tác động ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập, tách rời nhau? Nếuchúng có mối liên hệ qua lại thì cái gì quy định những mối liên hệ đó ?

Trả lời câu hỏi thứ nhất, những người theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật hiện tượng tồn tại biệt lập,tách rời nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia, giữa chúng không có mối liên hệ ràng buộc, quy định và chuyển hoá lẫnnhau; nếu có chỉ là những liên hệ có tính ngẫu nhiên, bề ngoài Hạn chế của quan điểm siêu hình là sai lầm về thế giớiquan triết học, dựng lên ranh giới giả tạo giữa các sự vật hiện tượng Hạn chế này có nguồn gốc bởi phương pháp tư duysiêu hình, nghiên cứu tách rời các lĩnh vực, bộ phận riêng rẽ của thế giới gắn với trình độ tư duy khoa học còn ở giaiđoạn sưu tập tài liệu Phương pháp đó không có khả năng phát hiện ra được cái chung, cái bản chất, quy luật của sự tồntại vận động và phát triển của các sự vật hiện tượng trong thế giới

Đối lập với quan điểm siêu hình, những người theo quan điểm biện chứng lại cho rằng các sự vật hiện tượng, cácquá trình khác nhau vừa tồn tại độc lập, vừa quy định, tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau Thế giới như một chỉnh thểthống nhất trong đó các sự vật hiện tượng tồn tại trong những mối liên hệ phổ biến

Trả lời câu hỏi thứ hai, những người theo chủ nghĩa duy tâm ( duy tâm khách quan và duy tâm chủ quan) chorằng cái quyết định mối liên hệ, sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các sự vật hiện tượng là một lực lượng tinh thần siêu nhiênhoặc cảm giác, ý thức của con người

Còn quan điểm duy vật biện chứng thì khẳng định cơ sở của những mối liên hệ phổ biến là quan điểm đứng đắnkhoa học vì nó đã dựa trên sự đúc kết những thành tựu mới nhất của khoa học tự nhiên thế kỉ XIX và kế thừa một cáchxuất sắc các giá trị tư tưởng, lý luận trong tư duy triết học biện chứng của nhân loại Cơ bản hơn, nó đã phản ánh đúngđắn bản chất của sự tồn tại của thế giới

Nội dung cơ bản của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật thể hiện ở các luận điểm cơ

bản sau :

+ Mọi sự vật hiện tượng trong thế giới hay giữa các mặt, các bộ phận, yếu tố trong cùng một sự vật hiện tượngluôn tồn tại trong sự quy định, tác động qua lại, chuyển hoá lẫn nhau Bản chất, tính quy luật của sự vật hiện tượng chỉbộc lộ thông qua sự tác động qua lại lẫn nhau của chúng

+ Mối liên hệ của các sự vật hiện tượng là khách quan, vốn có vì nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thếgiới, biểu hiện trong tất cả các quá trình tự nhiên, xã hội, tư duy Sự vật hiện tượng nào cũng là thể thống nhất của cácmặt đối lập và sự vật hiện tượng nào cũng tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác

+ Mối liên hệ của các sự vật hiện tượng không chỉ mang tính khách quan mà còn mang tính phổ biến Tính phổbiến của mối liên hệ thể hiện :

Bất cứ sự vật hiện tượng nào trong tự nhiên, xã hội, tư duy đều tồn tại trong mối liên hệ với các sự vật hiệntượng khác Không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài những mối liên hệ Các mối liên hệ biểu hiện dưới các hình thứcriêng biệt, đa dạng, phong phú tuỳ theo điều kiện nhất định Song dù dưới hình thức nào thì chúng cũng chỉ là biểu hiệncủa mối liên hệ phổ biến

+ Mối liên hệ của các sự vật hiện tượng trong thế giới là đa dạng và nhiều vẻ Có thể phân chia các mối liên hệ

đa dạng đó thành từng loại tuỳ theo tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ nông hay sâu, vai tròtrực tiếp hay gián tiếp…mà có thể khái quát thành những mối liên hệ khác nhau

b Các mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng.

Các mối liên hệ phổ biến của sự vật hiện tượng trong thế giới được khái quát trong các cặp phạm trù cơ bản củaphép biện chứng

+ Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng+ Mối liên hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên+ Mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả+ Mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng+ Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức

12

Trang 12

+ Mối liên hệ giữa khả năng và hiện thực…

2 Nguyên lý về sự phát triển

a Nội dung của nguyên lý

Giải thích về bản chất của sự tồn tại của thế giới, câu hỏi đặt ra là : thế giới tồn tại như thế nào, đứng im, vĩnhviễn, bất biến hay vận động, biến đổi? Nếu vận động biến đổi thì diễn ra như thế nào? Có hai quan điểm đối lập nhau:

+ Quan điểm siêu hình xem sự phát triển chỉ là sự tăng lên hay giảm đi đơn thuần về mặt số lượng, không có sựthay đổi gì về chất Sự vật ra đời với những chất nào thì cứ giữ nguyên trong suốt quá trình tồn tại Hoặc nếu có sự thayđổi thì cũng chỉ là diễn ra trong một vòng khép kín Phát triển chỉ là sự thay đổi về lượng của sự vật, không có sự ra đờicái mới với những chất mới Phát triển được hiểu như là một quá trình tiến lên liên tục, không có những quanh co, thăngtrầm phức tạp

+ Quan điểm biện chứng xem phát triển là một quá trình vận động đi lên từ thấp đến cao Quá trình đó diễn ravừa dần dần, vừa nhảy vọt, đưa đến sự ra đời của cái mới thay thế cái cũ Sự phát triển diễn ra cả ở trong tự nhiên, xã hội,

tư duy Dù ở lĩnh vực nào, quá trình phát triển không phải lúc nào cũng theo đường thẳng, mà rất quanh co phức tạp,thậm chí có thể có những bước lùi tạm thời

Về nguồn gốc của sự phát triển, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định nguồn gốc của sự phát triển nằm

trong bản thân sự vật.Đó là những mău thuẫn bên trong của chính sự vật qui định Phát triển là quá trình tự thân, là sựgiải quyết liên tục những mâu thuẵn bên trong của sự vật Quan điểm này đối lập với quan điểm duy tâm tôn giáo, tìmnguồn gốc của sự phát triển ở thần linh, thượng đế, các lực lượng siêu nhiên hay ý thức của con người

Về thực chất của sự phát triển, theo quan niệm duy vật biện chứng, sự phát triển là một phạm trù triết học dùng

để chỉ một quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơncủa sự vật

Về hình thức thể hiện sự phát triển cũng rất khác nhau tuỳ theo hình thức tồn tại cụ thể của những dạng vật chất.(

ví dụ : sự phát triển ở giới vô cơ khác ở giới hữu cơ, sự phát triển của tự nhiên khác sự phát triển của đời sống xã hội haycủa tư duy)

Về cách thức của sự phát triển : đi từ tuần tự đến nhảy vọt, từ thay đổi về lượng dẫn đến biến đổi ở trình độ cao

hơn về chất

Về xu hướng của sự phát triển : sự phát triển dẫn đến sự vật mới ra dời thay thế sự vật cũ diễn ra không ngừng

trong tự nhiên, xã hội và tư duy ở từng trường hợp cá biết thì có sự vận động đi lên, tuần hoàn, hoặc đi xuống Song xéttrong cả quá trình vận động thì khuynh hướng chung là khuynh hướng phát triển, tức là sự vận động đi lên

Tính chất của sự phát triển : Sự phát triển của mọi sự vật hiện tượng trong thế giới có những tính chất sau :

- Tính khách quan : phát triển là khuynh hướng tất yếu của thế giới vật chất.

- Tính phổ biến : phát triển diễn ra ở mọi lĩnh vực của thế giới, trong tự nhiên, xã hội và tư duy.

- Tính đa dạng phong phú : mỗi sự vật hiện tượng có quá trình phát triển khác nhau; không gian, thời gian, điều

kiện khác nhau thi sự phát triển cũng thể hiện ra theo những cách khác nhau; trong quá trình phát triển của một sự vật, donhững mối quan hệ tác động, bên trong, bên ngoài theo chiều hướng khác nhau cũng làm cho sự phát triển diễn ra theohướng này hoặc theo hướng khác

Dù thăng trầm phức tạp, dù biểu hiện cụ thể vô cùng đa dạng, phong phú, khuynh hướng chung của sư vận độngbiến đổi của mọi sư vật trong thế giới vẫn là khuynh hướng đi lên

b Các quy luật cơ bản của sự phát triển

Quy luật chuyển hoá từ những biến đổi về lượng dẫn tới những biến đổi về chất và ngược lại (gọi tắt là quy luật lượng - chất) Quy luật này nói lên cách thức của sự vận động phát triển Cách thức đó là: Bất kỳ sự vật hay hiện tượng

nào cũng là sự thống nhất giữa chất và lượng Trong sự vật, sự quy định về lượng không bao giời tồn tại nếu không cóquy định về chất và ngược lại Chất và lượng thống nhất với nhau nhưng thường xuyên tác động qua lại lẫn nhau trongquá trình vận động, biến đổi sự vật Mọi sự biến đổi của sự vật đều bắt đầu từ sự thay đổi về lượng Sự thay đổi về lượngcủa sự vật có ảnh hưởng tới sự thay đổi về chất của nó và ngược lại, sự thay đổi về chất của sự vật tương ứng với sự thay

Trang 13

đổi về lượng của nó Khi sự vật còn là nó chưa biến thành cái khác, chất và lượng thống nhất với nhau trong “độ” “ Độ”chính là khoảng giới hạn mà trong đó sự thay đổi về lượng của sự vật chưa làm thay đổi căn bản chất của sự vật ấy “Độ” nói lên mối liên hệ giữa lượng và chất của sự vật ấy Trong giới hạn “ độ”, sự thay đổi về lượng chỉ tác động làmthay đổi trạng thái của chất chứ chưa làm biến đổi căn bản chất của sự vật Khi lượng của sự vật thay đổi vượt quá giớihạn “ độ”, tới điểm “ nút”, sẽ diễn ra sự biến đổi căn bản về chất, chất mới ra đời thay thế chất cũ Lượng mới và chấtmới của sự vật thống nhất với nhau tạo nên “độ” mới và điểm “ nút” mới, trong đó lại tiếp tục diễn ra quá trình biến đổi

về lượng để dẫn tới quá trình biến đổi về chất Quá trình này diễn ra liên tiếp làm cho mọi sự vật hiện tượng trong thếgiới luôn vận động, biến đổi không ngừng Cơ chế của sự vận động biến đổi là vừa có sự biến đổi dần dần về lượng , vừa

có sự nhảy vọt về chất

Quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập ( gọi tắt là quy luật mâu thuẫn) là hạt nhân của phép biện

chứng Quy luật này vạch ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển Sự vật hiện tượng nào cũng bao hàm trong đó nhữngmặt đối lập Các mặt đối lập liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn của sự vật Các mặt đối lập không chỉtồn tại trong quan hệ thống nhất mà luôn tác động qua lại lẫn nhau theo xu hướng bài trừ và phủ định lẫn nhau, gọi là đấutranh của các mặt đối lập Trong quá trình tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập, mâu thuẫn được hình thành,biến đổi, phát triển Lúc mới xuất hiện, mâu thuẫn chỉ là sự khác nhau căn bản, theo khuynh hướng trái ngược nhau củacác mặt đối lập Sự khác nhau đó ngày càng phát triển và biến đổi Khi hai mặt đối lập xung đột gay gắt đã đủ điều kiện,chúng sẽ chuyển hoá lẫn nhau, mâu thuẫn được giải quyết Nhờ đó mà thể thống nhất cũ mất đi, thay thế bằng thể thốngnhất mới, sự vật cũ mất đi,sự vật mới ra đời Như vậy đấu tranh giữa các mặt đối lập gắn với quá trình phát sinh, pháttriển giải quyết mâu thuẫn chính là nguồn gốc , động lực của mọi sự vận động, phát triển

Quy luật phủ định của phủ định khái quát khuynh hướng phát triển tiến lên của sự vật Đó là sự phát triển diễn ra

theo con đường xoáy trôn ốc Hình ảnh đường xoáy trôn ốcvừa diễn tả tính chất liên tiếp, tính chất chu kỳ, tính quanh cophức tạp của sự phát triển Sự phát triển diễn ra không thẳng tắp theo đường thẳng mà thăng trầm, phức tạp.Sau mỗi chu

kỳ của sự phát triển, sự vật dường như lặp lại cái ban đầu nhưng trên cơ sở cao hơn.Sự phát triển bao giờ cũng mang tínhkhách quan và tính kế thừa, dẫn đến sự ra đờicủa cái mới, kế thừa những yếu tố phù hợp, tích cực trong cái cũ nhưng ởmột trình độ cao hơn, tiến bộ cao hơn so với cái cũ

3 Tính khoa học và tính cách mạng của phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật mang tính khoa học và tính chất cách mạng sâu sắc.Tính khoa học và tính cách

mạngcủa phép biện chứng duy vật thống nhất với nhau bởi vì phép biện chứng duy vật là học thuyết “về sự phát triểndưới hình thức hoàn bi nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện”

Phép biện chứng duy vật về bản chất có tính phê phán và cách mạng Đối với phép biện chứng duy vật “không

có gì là tối hậu, là tuyệt đối, là thiêng liêng cả.Nó chỉ ra - trên mọi sự vật và trong mọi sự vật - dấu ấn của sự suy tàn tấtyếu , và đối với nó, không có gì tồn tại ngoài quá trình không ngừng của sự hình thành và sự tiêu vong của sự tiến triển

vô cùng vô tận từ thấp đến cao.” Bản chất cách mạng của phép biện chứng duy vật thể hiện ở chỗ, trong khi đưa ra quanniệm về tính hợp lý của cái hiện tồn thì đồng thời cũng bao hàm trong nó quan niệm về sự diệt vong tất yếu của cái hiệntồn đó Phép biện chứng duy vật chống lại mọi quan điểm bảo thủ, trì trệ Chính quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫnbên trong sự vật, quá trình tích luỹ dần dần về lượng, đến một giới hạn nhất định, khi điều kiện chín muồi, tất yếu dẫnđến sự tự phủ định của sự vật, làm cho sự vật phát triển lên một giai đọan mới cao hơn, tiến bộ hơn về chất

Với bản chất cách mạng sâu sắc và triệt để, được thể hiện trong những nguyên lý, các cặp phạm trù và nhữngquy luật của mình, phép biện chứng duy vật đã vạch ra biện chứng của quá trình phát triển, với nội dung và hình thức hếtsức phong phú Nó là cơ sở phương pháp luận, chỉ đạo chủ thể xác định phương pháp cách mạng khoa học và đúng đắn.Bất cứ hành động cách mạng nào, nếu xa rời những quan điểm và nguyên tắc của phép biện chứng duy vật, thì sớm muộn

gì cũng sẽ phải trả giá cho điều đó Như vậy, đối vối mọi người cách mạng phép biện chứng duy vật trở thành công cụquan trọng bậc nhất không thể thiếu được của nhận thức và hành động để cải tạo hoàn cảnh và cải tạo bản thân

Cánh mạng là quá trình xóa bỏ cái cũ, lỗi thời và xác lập cái mới, tiến bộ hơn Với bản chất ấy, cách mạng khôngphải là quá trình thẳng tắp, trơn tru, mà là một quá trình khó khăn, phức tạp, quanh co, thậm chí có sự tụt lùi tạm thờinhưng cuối cùng cái mới tiến bộ hơn là cái chiến thắng Quan điểm đó của phép biện chứng duy vật là cơ sở khoa học đểxác định tinh thần lạc quan cách mạng, giữ vững niềm tin vào lý tưởng xã hội chủ nghĩa, mặc dù hiện nay chủ nghĩa xãhội thế giới đang lâm vào khủng hoảng và thoái trào

14

Trang 14

Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, chưa bao giờ tình hình thế giới lại phức tạp như ngày nay Trong bốicảnh ấy, sự nghiệp đổi mới trên đất nước ta lại gặp nhiều khó khăn và phức tạp Đó là một thử thách to lớn đối với Đảng

và dân tộc ta Chính sự nghiệp đổi mới ngày càng đặt ra nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn hết sức mới mẻ cần phải đượcgiải quyết… Nhưng chính tình hình càng phức tạp lại càng đòi hỏi phải nắm vững phép biện chứng duy vật, cần mài sắc

tư duy biện chứng để nhận thức đúng những biến đổi sâu sắc tình hình thế giới, để đáp ứng những đòi hỏi cấp bách của

sự nghiệp đổi mới đất nước ta trong giai đoạn hiện nay

Lênin là người nêu tấm gương sáng về việc nắm vững và vận dụng tài tình phép biện chứng duy vật trong việcnhận định khả năng và đề ra phương pháp tiến hành cách mạng vô sản trong thời đại đế quốc chủ nghĩa, cũng như vậndụng tài tình phép biện chứng duy vật để vạch ra “ chính sách kinh tế mới” – cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội trongđiều kiện một nước kém phát triển Ngày nay, học tập Lênin, việc nắm vững các biện chứng duy vật và mài sắc tư duybiện chứng, sẽ giúp chúng ta nhận thức rõ tính chất biện chứng chung của thế giới cũng như của công cuộc đổi mới ởnước ta Từ đó giúp chúng ta xác định phương pháp nhận thức và hành động đúng đắn

Cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật hiện đại phát triển như vũ bão, bắt đầu từ sau Đại chiến thế giới thứ hai.Những thành tựu vĩ đại của nó được nhanh chóng áp dụng vào đời sống xã hội, đem lại bước phát triển kỳ diệu của nhânloại, đưa loài người lên trình độ văn minh mới - văn minh trí tuệ Nền văn minh mới là một bằng chứng sống chỉ rõ sựphát triển biện chứng của xã hội vẫn là một quá trình lịch sử tự nhiên hướng tới lý tưởng cao đẹp mà học thuyết Mác-Lênin đã vạch ra Đó là lí tưởng xã hội chủ nghĩa, là lý tưởng giải phóng con người, thực hiện sự bình đẳng, công bằng

để đem lại “ sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”

Tuy nhiên, những hình thức và con đường thực hiện lý tưởng xã hội chủ nghĩa, ngay cả khi chủ thể không mắcphải sai lầm chủ quan, cũng không phải là những công thức có sẵn và càng không phải là bất biến Nghĩa là, chúng phảiđược vận dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo và luôn luôn đổi mới, phù hợp với điều kiện quốc tế và điều kiện của mỗinước Như vây, để đi lên chủ nghĩa xã hội, các nước khác nhau có thể áp dụng những mô hình phương pháp và biệnchứng khác nhau Những thành tựu mới của cuộc cách mạng khoa học - kỹ thuật, những biến đổi mới trong hệ thống cácnước tư bản chủ nghĩa và tình hình mới đang tạo ra những tiền đề cho quá trình lựa chọn đó

Trong khi thích nghi với điều kiện, thời đại ngày nay để tiếp tục phát triển, để khắc phục những mâu thuẫn gaygắt trong hệ thống nói chung và trong từng nước nói riêng, để giải quyết những vấn đề toàn cầu đang ảnh hưởng tới sựsống còn của chủ nghĩa tư bản, các nước tư bản chủ nghĩa buộc

phải đẩy nhanh tiến bộ khoa học và kỹ thuật, vận dụng nhanh những tiến bộ ấy vào đời sống xã hội trước hết vào lĩnhvực quân sự và kinh tế, buộc phải thay đổi nhận định các hình thức sở hữu và thực hiện một số chính sách xã hội vv …Vìthế, chủ nghĩa tư bản đã tạm thời làm dịu đi những mâu thuẫn vốn có của nó Nhưng cũng qua đó, chủ nghĩa tư bản lạitạo ra một cách khách quan những tiền đề cho sự thực hành lý tưởng xã hội chủ nghĩa Những tiền đề ấy là : hình thànhnền tảng công nghiệp mới( các công nghệ kỹ thuật cao), hệ thống điều tiết sản xuất và kinh doanh ở mức độ nhất định,trong phạm vi toàn xã hội; các cơ chế phân phối lại thu nhập quốc dân; hệ thống bảo hiểm và các quỹ phúc lợi xã hội; mởrộng sự tham gia của nhân dân lao động vào công việc quản lý,vv… Cũng vì thế chủ nghĩa tư bản hiện đại, tất nhiên vẫn

là chủ nghĩa tư bản, nhưng nó đang chuẩn bị những điều kiện tự phủ định chính nó, những điều kiện cho sự chuyển biếnlên mặt đối lập của nó là chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, như trên đã phân tích, điều đó không phụ thuộc vào ý muốn củagiai cấp cầm quyền, mà là thành quả đấu tranh của đông đảo quần chúng vì hoà bình và tiến bộ xã hội

Thực tế trên đây chứng minh rằng, nếu nhận thức về chủ nghĩa xã hội như là một mặt đối lập tuyệt đối với chủnghĩa tư bản, không có sự “đồng nhất” nào, hoặc ngược lại, qua hai chế độ xã hội đó không có gì khác nhau, đều lànhững quan niệm không biện chứng Biện chứng của sự kết hợp các mặt đối lập là sự triển khai cụ thể của sự “đồngnhất” và “ thống nhất” của các mặt đối lập Vì vậy, phải căn cứ vào mức độ và trình độ của sự “đồng nhất” và “ thốngnhất” của các mặt đối lập để thực hiện các hình thức kết hợp các mặt đối lập, vận dụng các khâu trung gian các bước quá

độ cho phù hợp Đó là phương pháp luận chung về sự kết hợp các mặt đối lập trong sự thống nhất biện chứng

Ngày nay, sự “đồng nhất” và “ thống nhất” của các mặt đối lập ngày càng mở rộng.Những giải pháp khoa học

và kỹ thuật tiên tiến, những vấn đề toàn cầu…tạo ra những môi trường thuận lợi cho sự mở rộng đó Đương nhiên khônglên lầm lẫn điều đó với thuyết “hội tụ” “ Hội tụ” dẫn tới thủ tiêu cách mạng, còn sự “đồng nhất” và “ thống nhất” củacác mặt đối lập tất yếu dẫn tới cách mạng sâu sắc thông qua những biện pháp cách mạng phong phú, đa dang và uyểnchuyển.Vì vậy, ngày nay, bước chuyển biến cách mạng từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội không thể không mang

Trang 15

những hình thái đặc thù: có thể cho phép thực hiện biện pháp hoà bình bên cạnh biện pháp dùng bạo lực cách mạnggiành chính quyền: có thể cho phép kém phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua một hay nhiều giai đoan nào đó trong

sự phát triển tư bản chủ nghĩa Nhưng dù với bất cứ đăc thù nào, vẫn phải đảm bảo yêu cầu của tính “lịch sử tự nhiên”trong quá trình vận động cách mạng

Từ một xã hội với một điều kiện một nền kinh tế chậm phát triển, nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ

tư bản chủ nghĩa Đó là con đường quá độ lâu dài, mà có thể nói, mâu thuẫn cơ bản của nó là mâu thuẫn giữa xu hướng

tự phát lên chủ nghĩa tư bản với xu hướng tự giác lên chủ nghĩa xã hội Phải giải quyết đúng đắn mâu thuẫn này mớiđảm bảo yêu cầu của quá trình lịch sử tự nhiên trong sự phát triển cách mạng nước ta, trong đó, tính chủ động sáng tạo

và tự giác của Đảng và Nhà nước ta giữ vai trò quyết định

Quá trình đấu tranh giải quyết mâu thuẫn cơ bản trên đây của cách mạng nước ta là quá trình vừa tuân theo sựphát triển tiến hoá dần dần về lượng, vừa tranh thủ những bước phát triển cách mạng nhảy vọt về vật chất; lại vừa kếthừa tất cả những mặt cần thiết “ hợp lý” của chủ nghĩa tư bản để phát triển lực lượng sản xuất, lại vừa đấu tranh tíchcực để loại bỏ những mặt tiêu cực, mất nhân tính của chủ nghĩa tư bản; vừa biết tích luỹ nội dung, lại vừa phải luôn luônnhạy bén để cải tạo hình thức cho phù hợp; vừa kết hợp những giá trị truyền thống của dân tộc với những tiến bộ của nềnvăn minh mới

Con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đòi hỏi chủ động và tự giác phát triển và sử dụng chủ nghĩa tưbản làm khâu trung gian, làm phương tiện để đi lên chủ nghĩa xã hội, nhất là hướng chủ nghĩa tư bản vào con đường tưbản nhà nước Đó chính là sự kết hợp tự giác các mặt đối lập thông qua hàng loạt các khâu trung gian và bước quá độ

Cuộc đấu tranh giải quyết mâu thuẫn giữa hai xu hướng - tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa được cụ thể hoátrong các cuộc đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn khác trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, tư tưởng vv…Bởi vìmâu thuẫn cơ bản là cơ sở nảy sinh và chi phối các mâu thuẫn khác Chính các cuộc đấu tranh giải quyết những mâuthuẫn cụ thể ấy là quá trình trực tiếp giải quyết mâu thuẫn cơ bản , là cách thức cụ thể nhằm phát huy tổng hợp nhữngyếu tố tích cực, tiến bộ của dân tộc và của thời đại, bảo đảm cho công cuộc đổi mới thành công, đưa sự nghiệp cáchmạng nước ta đến thắng lợi hoàn toàn

III.PHƯƠNG PHÁP VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN; CÁC NGUYÊN TĂC PHƯƠNG PHÁP LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÉP BIỆN CHỨNG DUY VẬT

1.Phương pháp và phương pháp luận

a Phương pháp:

Thuật ngữ “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là Methodos, theo nghĩa thông thường dùng để chỉ nhữngcách thức, thủ đoạn nhất định, được chủ thể hành động sử dụng để thực hiện mục đích đã vạch ra Còn theo nghĩa chặtchẽ và khoa học , phương pháp là hệ thống những nguyên tắc được rút ra từ tri thức về các quy luật khách quan để điềuchỉnh hoạt động nhận thức và thực tiễn nhằm thực hiện mục đích nhất định

Phương pháp là phạm trù gắn liền với hoạt động có ý thức của con người, phản ánh hoạt động nhận thức và hoạtđộng thực tiễn của con người Do đó phương pháp là một trong những yếu tố quyết định thành công hay thất bại tronghoạt động nhận thức và cải tạo hiện thực Trên cơ sở những điều kiện khách quan đã có, phương pháp càng đúng đắn thìkết quả đạt được càng cao, và ngược lại Ph.Bêcơn, nhà triết học nổi tiếng người Anh, thế kỷ XVII đã ví phương phápnhư là chiếc đèn soi đường cho khách lữ hành trong đêm tối Nói về vai trò của phương pháp cách mạng, đồng chí LêDuẩn viết : “ Phong trào cách mạng có khi dậm chân tại chỗ, thậm chí thất bại nữa, không phải vì thiếu một phươnghướng và mục tiêu rõ ràng, mà chủ yếu vì thiếu một phương pháp cách mạng thích hợp”

Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm quan niệm hoàn toàn khác nhau về nguồn gốc và bản chất của phươngpháp Chủ nghĩa duy tâm coi phương pháp là những nguyên tắc do lý trí con người tự ý đặt ra để tiện cho nhận thức vàhành động Những người duy tâm xem phương pháp như một phạm trù thuần tuý chủ quan

Trái lại, chủ nghĩa duy vật biện chứng khẳng định rằng, phương pháp hình thành không phải một cách chủ quantuỳ tiện Phương pháp không phải là nguyên tắc có sẵn, bất biến Nó phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu và mục đíchđặt ra Để tiếp cận đối tượng và giải quyết nhiệm vụ đặt ra, chủ thể phải nghiên cứu đối tượng và mục đích cần đạt tớimột cách khách quan Nghĩa là phải vạch rõ những tính chất, chỉ tiêu về số lượng và chất lượng …Từ đó, nhận thức rõnhững quy lụât của nó Chỉ trên cơ sở đó, và sau đó, chủ thể mới xác định được phải nghiên cứu và hành động như thế

16

Trang 16

nào, và cần phải sử dụng phương tiện, công cụ và biện pháp gì cho thích hợp, cũng như cần phải kết hợp với các yếu tố

đã theo một trình tự như thế nào cho hợp lý Nghĩa là khi xác định phương pháp chỉ tuân theo một lôgíc nhất định, tuỳthuộc vào lôgic của đối tượng Như vậy, phương pháp bắt nguồn từ thực tiễn, phản ánh những quy luật khách quan củađối tượng nghiên cứu Sức mạnh của phương pháp là, trong khi phản ánh đúng đắn những quy luật khách quan, nó đemlại cho khoa học và thực tiễn một công cụ có hiệu quả để nghiên cứu thế giới và cải tạo thế giới Phương pháp có nhiềuloại và nhiều cấp độ khác nhau

- Phương pháp riêng, phương pháp đặc thù và phương pháp chung

- Phương pháp nhận thức và phương pháp thực tiễn

Việc phân biệt các loại phương pháp như trên chỉ có ý nghĩa tương đối tuỳ theo góc độ và phân loại Tính tươngđối giữa các loại phương pháp phản ánh tình hình thực tế là trong hoạt động nhận thức và thực tiến, các loại phương pháp

có thể được phối hợp, đan xen và bổ sung cho nhau Cùng một đối tượng hay công việc có thể dùng nhiều phương phápkhác nhau, nhưng cuối cùng chủ thể phải lựa chọn phương pháp tối ưu, và mang lại hiệu quả cao nhất Lựa chọn nhữngphương pháp “ giản tiện “ để giải quyết những công việc phức tạp nhằm rút ngắn thời gian, tiết kiệm chi phí, đưa lại hiệuquả cao dựa trên sự phát triển của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đang là xu hướng được chú ý hiện nay.Chẳng hạn, với sự phát triển của công nghệ vi xử lý, máy tính điện tử, phương tiện thông tin hiện đại…, hiện nay người

kĩ sư chỉ cần thực hiện những phương pháp hết sức “ giản đơn “ là bấm nút điều chỉnh, nhìn màn ảnh vô tuyến, nghe điệnthoại mà vẫn có thể điều hành được một công đoạn hay toàn bộ quá trình sản xuất

b.Phương pháp luận :

- Khái niệm phương pháp luận : Trong thực tiễn, con người có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau để giải

quyết công việc đã định Quá trình lựa chọn phương pháp có thể đúng hoặc sai Vậy làm thế nào để xác định đượcphương pháp đúng đắn, khoa học? Từ đó, xuất hiện nhu cầu tri thức khoa học về phương pháp và đó cũng là lý do đểkhoa học về phương pháp ra đời Đó chính là phương pháp luận

Vậy, phương pháp luận là lý luận về phương pháp, là khoa học về phương pháp Phương pháp luận giải quyết

những vấn đề như : phương pháp là gì? Bản chất, nội dung, hình thức của phương pháp như thế nào? Do đó, có thể nói

cách khác, cụ thể hơn, phương pháp luận là hệ thống những quan điểm, những nguyên tắc xuất phát chỉ đạo chủ thể trong việc xác định phương pháp cũng như trong việc xác định phạm vi, khả năng áp dụng chúng một cách hợp lý, có hiệu quả tối đa.

Chẳng hạn, phương pháp luận toán học có nhiệm cụ nêu ra những quan điểm, nguyên tắc chung chỉ đạo quá trìnhxác định và áp dụng các phương pháp, cụ thể như : phương pháp tiên đề, phương pháp giả thiết - diễn dịch v.v … Hoặc,trong kinh tế cụ thể như : phương pháp điều tra chọn mẫu, phương pháp phân tích các hoạt động kinh tế, phương phápthống kê v.v… Trên cơ sở đó, rút ra những quan điểm, nguyên tắc chung chỉ đạo việc áp dụng các phương pháp kinh tế

cụ thể như : quan điểm về hiệu quả, quan điểm về đồng bộ, quan điểm về phát triển và tiến bộ xã hội v.v… Việc lựachọn, áp dụng một phương pháp kinh tế cụ thể nào phải xuất phát từ những quan điểm, nguyên tắc chung đó

Như vậy, phương pháp luận và phương pháp khác nhau Phương pháp luận là lý luậnvề phương pháp, là những

quan điểm, nguyên tắc xuất hiện chỉ đạo chủ thể xác định phương pháp một cách đúng đắn Còn phương pháp là cáchthức, thủ đoạn hoạt động ( cả trong nhận thức và thực tiễn ) cụ thể của chủ thể, cái thứ nhất là thuần tuý lý luận, cái thứhai là cả lý luận và thực tiễn Phương pháp luận nghiên cứu phương pháp, nhưng không nhằm mục đích xác định ph ươngpháp cụ thể mà là rút ra những quan điểm, nguyên tắc chung cho việc xác định và áp dụng ph ương pháp Vì vậy khôngnên nhầm lẫn giữa phương pháp luận là cơ sở nghiên cứu các phương pháp cụ thể , còn phương pháp cụ thể phải xuấtphát từ quan điểm, nguyên tắc của phương pháp luận

- Các cấp độ của phương pháp luận : Phương pháp luận có các cấp độ khác nhau : phương pháp luận bộ môn,

phương pháp khoa học chung và phương pháp luận chung nhất - phương pháp luận triết học

Phương pháp luận bộ môn là phương pháp luận của các bộ môn khoa học cụ thể như : phương pháp luận toán

học, vật lý học, hoá học, sinh học, kinh tế học, công nghệ học v.v… Đó là những quan điểm, nguyên tắc xuất phát để xácđịnh các phương pháp cụ thể, nhằm giải quyết những vấn đề cụ thể của các bộ môn khoa học đó

Trang 17

Phương pháp luận khoa học chung là những quan điểm, nguyên tắc chung hơn, chỉ đạo việc xác định phương

pháp bộ môn hay phương pháp luận của một nhóm các ngành của các bộ môn khoa học có những điểm chung nào đó Ví

dụ, phương pháp luận chung cuả các ngành khoa học xã hội Phương pháp luận bộ môn nào đó cũng có thể được coi làphương pháp luận khoa học chung nếu bộ môn đó được phát triển và chia thành những môn học độc lập Ví dụ, phươngpháp luận toán học trở thành phương pháp luận khoa học chung cho các bộ môn toán học như số học, hình học, đại sốv.v… Hay phương pháp luận sinh vật học trở thành phương pháp luận chung cho các bộ môn sinh học cụ thể khác nhaunhư tế bào học, vi sinh học v.v…

Phương pháp luận chung nhất là phương pháp luận triết học Nó khái quát những quan điểm, nguyên tắc chung

nhất làm xuất phát điểm cho việc xác định các phương pháp luận khoa học chung, phương pháp luận bộ môn và cácphương pháp hoạt động cụ thể của nhận thức và thực tiễn Các phương pháp luận bộ môn, phương pháp luận khoa họcchung và phương pháp luận chung nhất hợp thành một hệ thống khoa học về phương pháp chỉ đạo chủ thể nhằm xác địnhcác phương pháp cụ thể một cách đúng đắn Các loại phương pháp luận này vừa độc lập tương đối với nhau, vừa bổ sungcho nhau, thâm nhập vào nhau mặc dù không thể thay thế cho nhau Do đó đòi hỏi chúng ta phải biết vận dụng tổng hợpcác loại phương pháp luận

c Phương pháp luận biện chứng duy vật.

Phương pháp luận biện chứng duy vật là phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cáchmạng, nó bao gồm hệ thống những quan điểm, nguyên tắc xuất phát để chỉ đạo việc hoạch định phương pháp cho hoạtđộng nhận thức và thực tiễn của con người Mỗi nguyên lý, phạm trù, quy luật của phép biện chứng duy vật đều thể hiện

sự thống nhất trong nó giữa thế giới khách quan khoa học và phương luận đúng đắn

2 Các nguyên tắc luận cơ bản của phép biện chứng duy vật

- Nguyên tắc toàn diện trong nhận thức và thực tiễn.

Bất cứ sự vật hiện tượng nào thế giới cũng đều tồn tại trong những mối liên hệ với các sự vật hiện tượng khác vàcác mối liên hệ đó là vô cùng đa dạng và phong phú Vì thế trong nhận thức và thực tiễn phải quán triệt nguyên tắc toàndiện Nguyên tắc toàn diện đặt ra các yêu cầu:

+Khi phân tích sự vật phải xem xét tất cả các mặt, các yếu tố, các bộ phận của chính sự vật trong mối liên hệ củachúng và sự tác động giữa sự vật đó với các sự vật khác, kể cả những mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp của chúng để từ

đó đi đến tri thức chỉnh thể về sự vật Cần tránh quan điểm phiến diện chỉ xét sự vật, hiện tượng ở một, hoặc một vài mốiliên hệ đã vội vàng đi đến những kết luận về bản chất sự vật Lênin viết : “ Muốn thực sự hiểu được sự vật cần nhìn baoquát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất cả các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó”

+ Đồng thời, nguyên tắc toàn diện đòi hỏi chúng ta phải xem xét thấu đáo và phân biệt từng mối liên hệ, tránhcách xem xét dàn trải liệt kê, dẫn đến sự đánh đồng ngang nhau những thuộc tính, những tính quy định khác nhau của sựvật được thể hiện trong những mối liên hệ khác nhau đó cần phải đi từ tri thức nhiều mặt, từ nhiều mối liên hệ của sự vật

để khái quát và làm nổi bật lên cái cơ bản nhất, quan trọng nhất của sự vật, hiện tượng đó

+ Quan điểm toàn diện cũng đòi hỏi tránh rơi vào sai lầm của chủ nghĩa chiết trung và thuật nguỵ biện Thựcchất của chủ nghĩa chiết trung là sự kết hợp vô nguyên tắc các mối liên hệ, tạo nên một hình ảnh không đúng về sự vật.Thực chất của thuật nguỵ biện là sự “ đánh tráo” có dụng ý, biến cái không cơ bản thành cái cơ bản, không bản chấtthành bản chất… hoặc ngược lại, phản ánh sai lệch, xuyên tạc sự vật, hiện tượng

- Nguyên tắc phát triển trong nhận thức và thực tiễn

Mọi sự vật hiện tượng đều nằm trong quá trình vận động và phát triển, nên trong nhận thức và hoạt động thựctiễn phải quán triệt nguyên tắc phát triển Nguyên tắc phát triển đặt ra các yêu cầu sau :

+ Xem xét bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng phải đặt chúng trong xu hướng vận động, biến đổi, chuyển hoá củachúng Không chỉ nắm bắt cái hiện đang tồn tại, mà phải thấy khuynh hướng phát triển trong tương lai Phải phân tích đểlàm rõ những biến đổi của sự vật, khái quát những hình thức biểu hiện của sự biến đổi đó để tìm ra khuynh hướng biếnđổi chính của sự vật đó

+ Phát triển là quá trình trải qua nhiều giai đoạn, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiệnđến kém hoàn thiện hơn Mỗi giai đoạn lại có những đặc điểm, tính chất, hình thức khác nhau cho nên phải có sự phân

18

Trang 18

tích cụ thể để tìm ra những cách thức hoạt động, phương pháp tác động phù hợp nhằm thúc đẩy những biến đổi có lợi và

sự kìm hãm những biến đổi có hại

+ Cần khắc phục tư tưởng bảo thủ, trì trệ, định kiến vv… trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Cần

có quan điểm đúng đắn trong nhận thức về cái mới và tạo điều kiện cho sự khẳng định cái mới Từ đó xây dựng quanđiểm đúng đắn, khoa học trong việc nắm bắt hiện thực và có sự định hướng, niềm tin khoa học vào những xu hướng tấtyếu, hợp quy luật của hiện thực

- Nguyên tắc lịch sử - cụ thể trong nhận thức và thực tiễn

Quan điểm toàn diện, quan điểm phát triển đòi hỏi đi cùng với nó là quan điểm lịch sử cụ thể Điều kiện, hoàncảnh cụ thể khác nhau thì mối liên hệ của sự vật và hình thức phát triển của sự vật khác nhau Cho nên phải đặt sự vậtvào trong những bối cảnh lịch sử cụ thể để xem xét Nguyên tắc lịch sử - cụ thể đòi hỏi chúng ta khi nhận thức về sự vật

và tác động vào sự vật phải chú ý tới điều kiện, hoàn cảnh lịch sử - cụ thể, môi trường cụ thể trong đó sự vật sinh ra, tồntại và phát triển Một luận điểm nào đó là đúng đắn, khoa học trong điều kiện này nhưng sẽ không còn là đúng đắn trongmột điều kiện, bối cảnh khác Vượt ra khỏi những bối cảnh cụ thể xác định, sự vật hiện tượng sẽ không được biểu hiện ratrong bản chất cũ, mà có thể biểu hiện ra trong bản chất khác…

Vận dụng vào thực tiễn xã hội, việc quán triệt các nguyên tắc toàn diện, phát triển, lịch sử - cụ thể có ý nghĩa vôcùng to lớn

Tài liệu tham khảo

1.Bộ Giáo dục và Đào tạo : “ Triết học”3 tập ( dùng cho nghiên cứu sinh và cao học thuộc chuyên ngành triết học),

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001

2 Hội đồng Trung Ương biên soạn bộ giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh :

“Giáo trình triết học Mác - Lênin”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.

3 Hội đồng Trung Ương chỉ đạo biên soạn bộ giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh : “ Một số vấn đề về chủ nghĩa Mác - Lênin trong thời đại hiện nay ”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.

4 Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô, Viện triết học : “Lịch sử phép biện chứng”, tập 4 ( Phép biện chứng mácxit - giai

đoạn Mác- Ăngghen), tập 5 (Phép biện chứng macxit - giai đoạn Lênin ) Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998

5 Viện Triết học : “ Chủ nghĩa Mác - Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội,

2002

Câu hỏi Xêmina

1 Phân tích sự đối lập giữa phép biện chứng với phép siêu hình? Những giai đoạn cơ bản trong lịch sử phép biện chứng?

2 Quán triệt nguyên tắc toàn diện, nguyên tắc phát triển, nguyên tắc lịch sử - cụ thể trong thực tiễn ngành giáo dục vàđào tạo ở nước ta hiện nay như thế nào ?

Chuyên đề 3

NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Trang 19

CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN

I KHÁI NIỆM THỰC TIỄN VÀ LÝ LUẬN

1 Khái niệm thực tiễn và các hình thức thực tiễn

a Khái niệm thực tiễn.

Thực tiễn là phạm trù cơ bản trong lý luận nhận thức Mácxít.V.I Lênin cho rằng : “ Quan điểm về đời sống, vềthực tiễn, phải là quan điểm thứ nhất và cơ bản của lý luận nhận thức” Việc đưa vấn đề thực tiễn vào lý luận nhận thức

đã góp phần tạo ra bước ngoạt có ý nghĩa cách mạng của triết học mác xít so với các hệ thống triết học duy vật cũ

Trong các hệ thống triết học duy vật cũ thì hệ thống triết học của L.Phoiơbắc được C.Mác đánh giá cao :Phoiơbắc đã góp phần to lớn “ đưa chủ nghĩa duy vật trở lại ngôi vua” trong cuộc đấu tranh với các hệ thống triết họcduy tâm, đặc biệt là triết học duy tâm khách quan của G.V.P Hêghen

Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, tiến bộ, Phoiơbắc cũng như các nhà triết học duy vật ở Anh, Hà lan, vàPháp trước đó cũng không tránh khỏi hạn chế Theo Mác, hạn chế lớn nhất của chủ nghĩa duy vật cũ là mang tính trựcquan, rằng: “Sự vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách thể hay hình thức trực quan,chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn, không được nhận thức về mặt chủ quan”

Phoiơbắc, như Mác đã chỉ ra, chỉ coi trọng hoạt động lý luận mà xem nhẹ hoạt động thực tiễn Hoạt động lý luậnmới là hoạt động đích thực của con người, còn thực tiễn thì chỉ được ông xem xét và xác định trong hình thức biểu hiện

Do Thái bẩn thỉu của nó mà thôi

Phoiơbắc đã không thấy được tính tích cực, năng động sáng tạo của sự phản ánh ý thức, không thấy được nhậnthức là qúa trình phản ánh hiện thực khách quan bởi con người Nhận thức là kết quả của quá trình tương tác giữa chủthể và khách thể nhận thức Ông đã sai lầm khi tách khách thể ra khỏi chủ thể , không chú ý tới khách thể nhận thức ,không coi sự vật, hiện thực, cái cảm giác được (khách thể) là thực tiễn

Chính sự hạn chế ấy của Phoiơbắc và các nhà triết học duy vật trước Mác là cơ sở cho chủ nhĩa duy tâm pháttriển mặt năng động của yếu tố chủ quan, đi đến tuyệt đối hoá yếu tố ý thức, tinh thần do đó không hiểu đúng hoạt độngthực tiễn của con người - hoạt động cảm giác được

Các nhà triết học duy tâm do quá đề cao và tuyệt đối hoá vai trò của ý thức, tư tưởng tinh thần nên cũng xemthực tiễn như là hoạt động tinh thần chứ không xem thực tiễn là hoạt động hiện thực, hoạt động vật chất cảm tính của conngười

Một số nhà triết học duy tâm chủ quan cho rằng, hoạt động thực tiễn bị chế định bởi ý chí, bản năng những nhân

tố tiềm thức của con người

Hêghen - nhà triết học duy tâm khách quan thì cho “thực tiễn là hoạt động ý chí của tư tưởng”, “là một suy lýlôgíc” Thực tiễn chỉ được ông giới hạn ở hoạt động tư tưởng, ở “ý niệm” Tuy nhiên, Hêghen đã có lý khi bàn đến “ýniệm thực tiễn” Theo ông, bằng thực tiễn, chủ thể tự “nhân đôi” mình, đối tượng hoá bản thân mình trong quan hệ vớithế giới bên ngoài

Như vậy, các trào lưu triết học trước Mác hoặc hoàn toàn phủ nhận hoạt động thực tiễn của con người, hoặc hiểuthực tiễn chỉ trong phạm vi quan sát trực quan hay trong phòng thí nghiệm, hoặc đều tách rời hoạt động thực tiễn với quátrình nhận thức của con người Kế thừa những yếu tố hợp lý của các hệ thống triết học trước đó, vận dụng phép biệnchứng duy vật vào xem xét đời sống xã hội, C.Mác và Ph Ăngghen đã đưa ra quan niệm đúng đắn về thực tiễn, vai tròcủa thực tiễn đối với nhận thức nói riêng và đối với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người nói chung

* Khái niệm thực tiễn trong triết học Mác - Lênin

Theo quan niệm của triết học Mác - Lênin thì hoạt động thực tiễn chỉ có thể có được ở xã hội loài người; nó rađời và phát triển cùng với sự ra đời và phát triển của xã hội loài người Thực tiễn là phạm trù trung tâm, nền tảng củatriết học duy vật biện chứng

20

Trang 20

Trong “Luận cương về phoiơbắc” C.Mác nhấn mạnh rằng : “ Đời sống xã hội, về thực chất, là có tính thực tiễn.

Tất cả những sự thần bí đang đưa lý luận đến chủ nghĩa thần bí, đều được giải đáp một cách hợp lý trong thực tiễn củacon người và trong sự hiểu biết thực tiễn ấy”

Khác biệt với các nhà triết học duy tâm đã giải thích, xem xét các hiện tượng trong đời sống xã hội xuất phát từyếu tố ý thức, tư tưởng, tinh thần, Mác xuất phát từ con người hiện thực, từ hoạt động vật chất của con người Mác xácđịnh : “ Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những cá nhân con người sống”

Để tồn tại và phát triển trước hết con người phải chế tác và sử dụng công cụ lao động, tác động vào tự nhiênnhằm cải biến tự nhiên tạo ra của cải vật chất nhằm thoả mãn các nhu cầu vật chất của con người như ăn, mặc, đi lại…Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động đầu tiên, cơ bản của con người Nhờ đó, tất cả các mặt của đời sống xã hội đượchình thành, phát triển, được tái tạo lại Xã hội chính là “ giới tự nhiên thứ hai” được tạo ra thông qua hoạt động thực tiễncủa con người

C Mác phê phán Phoiơbắc là đã không chú trọng tư duy trừu tượng, mà coi trọng trực quan cảm tính của con

người Phoiơbắc đã tách nhận thức ra khỏi hoạt động thực tiễn của con người

Thực ra, nhận thức là một quá trình biện chứng từ thấp đến cao, từ trực quan sinh động (nhận thức cảm tính) đến

tư duy trừu tượng (nhận thức lý tính) đến thực tiễn

Mác cho rằng, thực tiễn chính là hoạt động vật chất mà tất cả các hoạt động khác như hoạt động tinh thần, hoạtđộng chính trị, hoạt động tôn giáo đều phụ thuộc vào nó

Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất, “cảm tính”, có mục đích, có tính lịch sử - xã hội của con người,nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội Nói một cách cụ thể hơn, thực tiễn là hoạt động có suy nghĩ, có ý thức, có tính toán, hoạtđộng có đối tượng cảm tính của con người

Theo Mác, “vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn khôngphải là một vấn đề lý luận mà là một vấn đề thực tiễn”

Hoạt động thực tiễn có tính năng động, sáng tạo, là quá trình chuyển hoá cái tinh thần (mục đích, ý thức) thànhcái vật chất Hoạt động thực tiễn là quá trình tương tác giữa chủ thể và khách thể nhận thức, trong đó chủ thể hướng vàoviệc cải tạo khách thể, trên cơ sở đó nhận thức khách thể Do vậy, thực tiễn trở thành mắt khâu trung gian nối liền ý thứccủa con người với thế giới bên ngoài Thông qua hoạt động thực tiễn, con người làm biến đổi giới tự nhiên, biến đổi hìnhảnh sự vật trong nhận thức và đồng thời biến đổi chính bản thân mình

Hoạt động thực tiễn là hoạt động bản chất của con người Chỉ có con người mới có các hoạt động thực tiễn, còncon vật chỉ hoạt động theo bản năng Theo Ph.Ăngghen, lịch sử xã hội loài người chẳng qua là lịch sử con người theođuổi các mục đích khác nhau Hoạt động có ý thức, có mục đích chính là hoạt động đặc trưng, là cái để phân biệt sự khácnhau về chất giữa người với động vật Con người thông qua hoạt động lao động sản xuất đã không những khai thácnhững cái sẵn có trong tự nhiên mà còn tạo ra những cái không có sẵn, những “cái nhân tạo” để thoả mãn những nhu cầungày càng cao của mình Do vậy, thực tiễn chính là phương pháp tồn tại cơ bản của con người và xã hội, là phương thứcđầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người và thế giới

Các giai đoạn phát triển khác nhau của lịch sử xã hội có các trình độ phát triển khác nhau của hoạt động thựctiễn Do đó, thực tiễn mang tính lịch sử - xã hội Vì: hoạt động thực tiễn là dạng hoạt động cơ bản của loài người Đó làhình thức hoạt động đặc thù của con người, luôn diễn ra trong một bối cảnh văn hoá xã hội nhất định Là một sản phẩmlịch sử, hoạt động thực tiễn luôn vận động và phát triển không ngừng theo các giai đoạn lịch sử Trình độ phát triển củathực tiễn được đánh giá ở trình độ, khả năng chinh phục, khai thác, tái tạo giới tự nhiên, trình độ làm chủ xã hội của conngười Hoạt động thực tiễn không phải là hoạt động của cá nhân người mà là hoạt hoạt động của loài người, trước hết làcủa đông đảo quần chúng nhân dân - những người trực tiếp tham gia hoạt động sản xuất ra của cải vật chất

Thực tiễn là hoạt động có ý thức,có mục đích cuả con người Hoạt động thực tiễn nhằm mục đích cao nhất là cảitạo hiện thực Con người nhận thức thế giới hiện thực và tích cực tác động một cách có mục đích để cải tạo nó.Trên cơ sở

đó, thế giới mới bộc lộ những đặc tính, bản chất, nội dung, qui định, nhờ đó con người mới có tri thức về thế giới Cónhư vậy, con người mới có thể cải tạo hiện thực theo điều kiện của sự phát triển tự nhiên và xã hội

Trang 21

Nếu xem thực tiễn tồn tại dưới dạng một chính thể thì nó bao gồm nhiều yếu tố như : nhu cầu, lợi ích, mục đích,phương tiện và kết quả Các yếu tố đó góp phần tạo nên hoạt động thực tiễn của con người Nếu con người không có nhucầu vật chất và tinh thần, không theo đuổi các mục đích khác nhau, gắn liền lợi ích với các hoạt động của mình, không cócông cụ và phương tiện vật chất để thực hiện các hoạt động và hoạt động không có kết quả thì đương nhiên không thểhoạt động thực tiễn

b Các hình thức cơ bản của hoạt động thực tiễn :

Hoạt động thực tiễn rất đa dạng, phong phú Có ba dạng cơ bản: hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động thựcnghiệm khoa học; hoạt động chính trị - xã hội

Hoạt động sản xuất vật chất là hoạt động đầu tiên cơ bản, nền tảng của đời sống xã hội Hoạt động này có ý

nghĩa quyết định đối với tất cả các dạng hoạt động khác, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của toàn xã hội “ Theo

quan điểm duy vật lịch sử, nhân tố quyết định trong lịch sử, xét đến cùng, là sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện

thực”

Hoạt động chính trị - xã hội là hoạt động nhằm cải biến xã hội, phát triển các quan hệ xã hội, chế độ xã hội Đấu

tranh giai cấp nhằm cải tạo xã hội, lật đổ ách thống trị của giai cấp này, thay vào đó sự thống trị của giai cấp khác đạidiện cho phương thức sản xuất mới tiến bộ là hoạt động chính trị - xã hội mang tính cơ bản, phổ biến Hoạt động chínhtrị - xã hội là một dạng đặc biệt - dạng cao nhất của Hoạt động thực tiễn

Hoạt động thực nghiệm khoa học là hoạt động được tiến hành trong những điều kiện do con người tạo ra gần

giống, hoặc lặp lại những trạng thái của tự nhiên và xã hội nhằm xác định các quy luật biến đổi và phát triển của đốitượng nghiên cứu Nhờ có hoạt động thực nghiệm khoa học con người ngày càng nhận thức đầy đủ, sâu sắc về thế giới.Thời đại ngày nay- thời đại của nền kinh tế tri thức thì hoạt động thực nghiệm khoa học ngày càng có vai trò triết học lớnđối với sự phát triển của xã hội

Ba dạng hoạt động thực tiễn trên có chức năng, vai trò khác nhau song có mối liên hệ hữu cơ với nhau, tác độngqua lại lẫn nhau, trong đó, hoạt động sản xuất vật chất giữ vai trò quyết định

Ngoài ba dạng hoạt động thực tiễn cơ bản trên còn có dạng phát sinh, không cơ bản đó là các hoạt động tronglĩnh vực đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật, giáo dục… Các dạng hoạt động này được hình thành và phát triển trên cơ sở, nềntảng của hoạt động sản xuất vật chất, suy đến cùng chịu sự quy định của hoạt động sản xuất vật chất

2 Khái niệm lý luận và các cấp độ lý luận

a Khái niệm lý luận

Lý luận là hệ thống tri thức chung, đáng tin cậy về một lĩnh vực nào đó trong thế giới Nói cách khác, lý luận là

hệ thống các luận điểm nhất định gắn bó chặt chẽ với nhau về mặt lôgic và phản ánh bản chất, các quy luật, hoạt động vàphát triển của khách thể được nghiên cứu

Lý luận khác với giả thuyết ở chỗ, giả thuyết là những hiểu biết mang tính giả định chưa được kiểm định Lýluận khác với thực tiễn ở chỗ nó thuộc lĩnh vực ý thức, tư duy, là sự phản ánh, tái hiện khách quan Lý luận có chức năngphản ánh hiện thực khách quan và phục vụ thực tiễn

b Các cấp độ

Để tồn tại và phát triển, con người luôn tìm mọi cách để thoả mãn nhu cầu hiểu biết của mình về thế giới trên cơ

sở đó nhằm cải biến thế giới Sự hiểu biết của con người cũng có các cấp độ khác nhau

- Cấp độ của nhận thức : Kinh nghiệm là sự hiểu biết thu nhập được từ chính thực tiễn cuộc sống, do những hoạtđộng quan sát và thí nghiệm mang lại Có tri thức kinh nghiệm thông thường và tri thức kinh nghiệm khoa học

Tri thức kinh nghiệm thông thường nảy sinh trực tiếp, phong phú và sinh động các mặt của đời sống xã hội, song

nó có hạn chế là chỉ cho ta biết cái bên ngoài, chứ chưa phải la cái bên trong, cái bản chất, quy luật của đời sống xã hội

Tri thức kinh nghiệm khoa học thu nhận được từ những kinh nghiệm, khảo sát khoa học Tri thức kinh nghiệm khoa học

bổ sung những hiểu biết về thế giới mà tri thức kinh nghiệm thông thường không có

22

Trang 22

Cả hai dạng tri thức này tuy rất phong phú, đa dạng song chỉ dừng lại ở cấp độ kinh nghiệm, chưa đạt được độ

tin cậy cao, chưa mang tính khái quát cao và hệ thống, chưa đạt tới cấp độ lý luận Dạng tri thức này còn bị giới hạn ở

lĩnh vực các sự kiện, miêu tả, phân loại các dữ kiện thu nhận được từ các quan sát và thí nghiệm Ph.Ăngghen cho rằng:

“Sự quan sát dựa vào kinh nghiệm tự nó không bao giờ có thể chứng minh được đầy đủ tính tất yếu” Tri thức kinhnghiệm có vai trò triết học lớn trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn Nó là cơ sở, là nền tảng để hình thành

và phát triển tri thức khoa học Không có tri thức kinh nghiệm thì không có tri thức lý luận Kinh nghiệm chính là cơ sở

để con người kiểm tra lý luận, sửa đổi bổ sung lý luận đã có, tổng kết khái quát lý luận mới

Trình độ cao hơn của nhận thức là lý luận Lí luận được hình thành từ kinh nghiệm, trên cơ sơ tổng kết kinh

nghiệm, là sự khái quát, hệ thống các tri thức kinh nghiệm Lý luận thường được trình bày thông qua các lý thuyết, họcthuyết với hệ thống các khái niệm, phạm trù , quy luật Khác với tri thức kinh nghiệm, tri thức lý luận là sự phản ánhhiện thực khách quan một cách trừu tượng, gián tiếp, khái quát về bản chất, quy luật của các sự vật hiện tượng Nó đemlại sự hiểu biết sâu sắc về cái bên trong, cái bản chất, cái tất yếu của sự vật, hiện tượng

Lý luận có những cấp độ khác nhau Hệ thống lý luận chung nhất về các qui luật vận động của thế giới là lý luận triết học Còn lý luận về một lĩnh vực riêng biệt nào đó trong thế giới là lý luận chuyên ngành Thí dụ như lý luận toán

học, vật lý hoá học, sinh học, văn học, lịch sử,…lý luận về pháp quyền, lý luận về phương pháp,…

Lý luận triết học có vai trò là cơ sở để hình thành thế giới quan và phương pháp luận cho lý luận chuyên ngành

Lý luận chuyên ngành có tác dụng bổ sung , làm sâu sắc thêm cho lý luận triết học

Lý luận triết học Mác – Lênin mang tính khách quan, khoa học , cách mạng, không những giải thích đúng thếgiới mà còn góp phần “cải tạo thế giới”

II NHỮNG NGUYÊN TẮC CƠ BẢN CỦA SỰ THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1 Thực tiễn là cơ sở, động lực, mục đích của nhận thức, của lý luận , lý luận hình thành, phát triển phải xuất phát từ thực tiễn, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn

Nhận thức kinh nghiệm và nhận thức lý luận là hai giai đoạn phát triển kết tiếp nhau của quá trình nhận thức.Giữa chúng có mối liên hệ biện chứng với nhau

Nhận thức kinh nghiệm là nền tảng, cơ sở của nhận thức lý luận Nó cung cấp cho nhận thức lý luận những dữliệu cụ thể, đa dạng, phong phú Nhận thức kinh nghiệm là sự phản ánh trực tiếp thực tiễn đời sống xã hội, cho ta nhữnghiểu biết ban đầu về sự vật hiện tượng, là cơ sở hiện thực để kiển tra, đánh giá, sửa chữa, bổ sung cho lý luận

Lý luận được hình thành và phát triển trên cơ sở của kinh nghiệm, thực tiễn Quá trình phát triển của thực tiễn

đã đặt ra những vấn đề đòi hỏi lý luận phải giải đáp Lý luận phản ánh gián tiếp hiện thực khách quan song lại đáng tincậy hơn kinh nghiệm Lý luận thông qua hệ thống các khái niệm, phạm trù, quy luật thể hiện tâm lý sâu sắc hơn, chínhxác hơn, hệ thống hơn Do đó phạm vi ứng dụng của nó mang tính phổ biến hơn so với tri thức kinh nghiệm

Lý luận được hình thành và phát triển trên nền tảng thực tiễn song nó có tính độc lập tương đối Điều đó đượcbiểu hiện ở chỗ, không phải lý luận nào cũng xuất phát từ kinh nghiệm , có lý luận được xây dựng không trên cơ sởnhững kinh nghiệm có trước Điều này chỉ có thể lý giải bởi tính ưu việt, vượt trội của tư duy trừu tượng của con người

Lý luận được hình thành và phát triển, trở lại chỉ đạo hoạt động thực tiễn, kiểm nghiệm trong thực tiễn, bổ sung, pháttriển trong thực tiễn

Mác cho rằng, “lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” lý luậnđược xem như “kim chỉ nam cho hành động” Nó có thể dự kiến được phương thức vận động phát triển của sự vật hiệntượng, phương hướng phát triển của thực tiễn V.I Lênin cho rằng, không có sách thì không có tri thức Không có tri thứccách mạng thì không có lý luận cách mạng Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng

Lý luận khoa học phản ánh đúng hiện thực khách quan Nó góp phần hạn chế tính mò mẫm, tự phát, tăng cườngtính tự giác, chủ động tích cực trong hoạt động của con người

Tuy nhiên, lý luận do phản ánh gián tiếp hiện thực khách quan, mang tính trừu tượng cao nên không phải lúc nào

nó cũng mang lại nhận thức đúng đắn, chính xác Nếu nó phản ánh hư ảo hiện thực thì trở thành lý luận tôn giáo Nếu nóphản ánh sai, bóp méo hiện thực thì trở thành lý luận duy tâm trong triết học Nếu nó lạc hậu, không phù hợp với hiện

Trang 23

thực, phản ánh xa rời hiện thực, thành ảo tưởng, giáo điều thì trở thành sức cản đối với sự phát triển của xã hội, thậm chítrở thành lý luận phản động, phản tiến bộ nếu nó được giai cấp phản động sử dụng

Do vậy cần phân biệt lý luận nói chung với lý luận khoa học, lý luận phản khoa học, lý luận tiến bộ với lý luậnphản tiến bộ

lý luận xuất phát từ thực tiễn, không xa rời thực tiễn, phản ánh đúng thực tiễn là lý luận khoa học lý luận gópphần thúc đẩy sự phát triển của thực tiễn, phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội và lý luận khoa học tiến bộ

V.I.Lênin trong “Bút ký triết học” cho rằng, thực tiễn cao hơn nhận thức (lý luận) vì nó có ưu điểm không những

của tính phổ biến, mà còn của tính hiện thực trực tiếp Thực tiễn của con người được lặp đi lặp lại hàng nghìn triệu lầnđược in vào ý thức thành những cách logic

Do vậy giữa lý luận và thực tiễn phải thống nhất với nhau Coi trọng lý luận, song không cường điệu, tuyệt đốihoá vai trò của lý luận, xem thường thực tiễn, tách lý luận khỏi thực tiễn Lênin cho rằng, bản thân ý chí của con người,thực tiễn của con người, đối lập với sự thực tiễn của mục đích của con người…Do chúng tách rời khỏi nhận thức vàkhông thừa nhận hiện thực bên ngoài là tồn tại chân thực (chân lý khách quan) Phải có sự thống nhất giữa thực tiễn vànhận thức Lênin xem đây chính là một nguyên tắc của lý luận nhận thức, sự thống nhất của lý luận (của nhận thức ) vàcủa thực tiễn chính là trong lý luận nhận thức Mác trước đó cũng đã nhấn mạnh rằng, chính trong thực tiễn mà conngười chứng minh được chân lý, chứng minh tính hiện thực Do đó tư duy không tách rời hiện thực Nếu tách rời hiệnthực, thực tiễn khỏi tư duy là vấn đề thuần tuý kinh viện

Thực tiễn có vai trò quan trọng đối với nhận thức Nó vừa là cơ sở, nền tảng, động lực, mục đích của nhận thức Thực tiễn còn là tiêu chuẩn của chân lý

Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra mối quan hệ biện chứng giữa lý luận và thực tiễn rằng: “thống nhất giữa lý luận vàthực tiễn là một nguyên tắc căn bản của chủ nghĩa Mac- Lênin Thực tiễn không có lý luận hướng dẫn thì thành thực tiễn

mù quáng Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông.”

Chủ nghĩa Mác - Lênin là lý luận khoa học của giai cấp công nhân được hình thành và phát triển trong phongtrào đấu tranh cách mạng Là ngọn hải đăng soi đường cho tiến trình cách mạng của giai cấp công nhân Mác viết : “

Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của mình ” Thứ triết học ấy - vũ khí tinh thần của giai cấp vô sản - chính là triết học Mác.

Chủ nghĩa Mác - Lênin là một học thuyết mang tính cách mạng Nó xuất phát từ thực tiễn đồng thời không baogiờ chịu chấp nhận thực tiễn đã lạc hậu đó là chủ nghĩa tư bản, nó mở ra con đường phát triển cho thực tiễn tương lai -chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản

Chủ nghĩa Mác – Lênin là một học thuyết mở, linh hồn của học thuyết đó là phép biện chứng macxít Thực tiễnluôn vận động và biến đổi không ngừng, do đó tư duy lý luận cũng phải vận động biến đổi và phát triển để có thể phảnánh kịp thời, phản ánh đúng, hơn nữa còn định hướng cho thực tiễn phát triển

Chúng ta còn nhớ mỗi lần tái bản các tác phẩm kinh điển, Mác và Ăngghen chủ trương vẫn giữ nguyên nội dung,chỉ bổ sung trong lời tựa những dữ liệu thông tin mới từ thực tiễn nóng bỏng của cuộc đấu tranh cách mạng của giai cấpcông nhân Lênin cũng là tấm gương sáng về sự phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện hoàn cảnh lịch sử mới Việcchuyển đổi từ chính sách cộng sản thời chiến sang chính sách kinh tế mới cho phù hợp với giai đoạn cách mạng mới làmột ví dụ điển hình ở đây, Lênin đã vận dụng sáng tạo học thuyết Mác vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nướcNga

Tuy nhiên, không phải lúc nào những người cộng sản và phong trào cộng sản quốc tế cũng vận dụng đúngnguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn Họ, hoặc là quá đề cao lý luận mà xa rời thực tiễn, hoặc là quá đề caokinh nghiệm, thực tiễn mà không chịu học tập phát triển lý luận, vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin vào thực tiễncuộc sống Bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm trở thành khá phổ biến đối với nhiều đảng viên cộng sản ở nhiều nướctrong thời gian qua

2 Phê phán bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm

Bệnh giáo điều và bệnh kinh nghiệm hình thành và trở thành phổ biến trong các nước xã hội chủ nghĩa trướcđây là vì ở đó nhiều đảng viên cộng sản đã vi phạm nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

24

Trang 24

Bệnh giáo điều có nguyên nhân là do cường điệu, tuyệt đối hoá vai trò của lý luận đối với thực tiễn, tách rời lýluận khỏi thực tiễn

Biểu hiện của bệnh giáo điều là bệnh kinh viện, sách vở Xem lý luận, sách vở như là cái gì tuyệt đối đúngkhông cần phải bổ sung, phát triển Học tập lý luận Mác- Lênin thì không chú ý tới nội dung và bản chất cách mạng của

nó, chỉ chú ý tới câu chữ và vận dụng câu chữ của các nhà kinh điển vào bất cứ hoàn cảnh lịch sử nào Hoặc học tập lýluận Mác - Lênin theo kiểu thuộc lòng, không chú ý tới những đổi thay đang diễn ra trong cuộc sống Hiểu chủ nghĩaMác - Lênin một cách phiến diện, vận dụng một cách rập khuôn những mô hình chủ nghĩa xã hội ở nước ngoài mà khôngchú ý tới đặc thù của nước mình Các chủ trương, chính sách lại thường xuất phát từ ý muốn chủ quan, không thấy đượchiện thực sinh động và phù hợp với thực tiễn cuộc sống

ở nước ta, bệnh giáo điều còn được biểu hiện ở chỗ vận dụng những kinh nghiệm trong chiến tranh cách mạngvào công cuộc xây dựng hoà bình, kiến thiết đất nước trong thời bình Học tập, áp dụng máy móc kinh nghiệm của địaphương này vào địa phương khác mà không thấy đặc điểm riêng biệt của từng địa phương Đó, chính bệnh “giáo điềukinh nghiệm”

Như vậy, nhìn chung bệnh giáo điều là khuynh hướng tư tưởng quá coi trọng vai trò của lý luận, coi nhẹ thựctiễn, tách rời lý luận khỏi thực tiễn, thiếu quan điểm lịch sử cụ thể, vận dụng lý luận, áp dụng kinh nghiệm một cách máymóc, rập khuôn

Đối lập với bệnh giáo điều là bệnh kinh nghiệm Bệnh kinh nghiệm là khuynh hướng tư tưởng quá coi trọngkinh nghiệm, thực tiễn, xem thường lý luận

Biểu hiện của bệnh kinh nghiệm là tư tưởng “kinh nghiệm chủ nghĩa” theo kiểu “sống lâu lên lão làng” thoảmãn với những thành tích đã đạt được Trong công việc, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm đã tích luỹ được, chủ quan, lườihoặc không chịu khó tích cực học tập để không ngừng nâng cao trình độ tư duy lý luận Không thấy được vai trò quantrọng của giáo dục và khoa học kỹ thuật Không tôn trọng và sử dụng người tài, có tư tưởng bảo thủ, trì trệ không chịutiếp thu và vận dụng cái mới, cái tiến bộ

Nguyên nhân của bệnh kinh nghiệm ở nước ta là tồn tại khá lâu nền sản xuất nhỏ, chưa có nền sản xuất côngnghiệp hiện đại Trình độ dân trí còn thấp, nền giáo dục còn nhiều bấp cập, khoa học - kỹ thuật phát triển còn hạn chế.Mặt khác, do ý thức hệ phong kiến, các phong tục, tập quán, truyền thống, thói quen của người dân còn mang những dấuvết của xã hội cũ Đó chính là mảnh đất thuận lợi để hình thành, tồn tại và phổ biến bệnh kinh nghiệm chủ nghĩa

Bệnh giáo điều và kinh nghiệm ở nước ta còn có nguyên nhân cơ bản là sự yếu kém về lý luận Sự yếu kém về lýluận khiến cho chúng ta không có nhận thức đầy đủ về chủ nghĩa xã hội, con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.Việc hiểu một cách đơn giản, xơ cứng, phiến diện lý luận Mác - Lênin dẫn đến sự vận dụng lý luận ấy vào thực tiễn cáchmạng còn nhiều sai lầm Chậm đổi mới tư duy lý luận là một nguyên nhân chủ quan dẫn tới cuộc khủng hoảng toàn diện

ở nước ta thời kỳ trước đổi mới

III Ý NGHĨA PHƯƠNG PHÁP LUẬN CỦA VIỆC VẬN DỤNG NGUYÊN TẮC THỐNG NHẤT GIỮA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG GIAI ĐOẠN CÁCH MẠNG HIỆN NAY Ở NƯỚC TA

1 Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như các tri thức khoa học mà nhân loại đã đạt được vào điều kiện cụ thể ở nước ta

Thời đại ngày nay đang có những biến đổi hết sức sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Để hộinhập và phát triển, không bị hoà tan trong xu thế toàn cầu hoá hiện nay, Đảng ta đã chủ động vận dụng lý luận Mác -Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh cụ thể của thực tiễn cách mạng Việt Nam hiện nay Đại hội IX của Đảng đãkhẳng định lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động Đó làbước phát triển quan trọng trong nhận thức và tư duy lý luận của Đảng ta

Vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội của triết học Mác - Lênin, Đảng ta cho rằng con đường đi lên củanước ta là sự phát triển quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Bỏ qua ở đây không có nghĩa là bỏqua tất cả, mà chỉ bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa.Đồng thời có tiếp thu, kế thừa những thành tựu mà nhân loại đã đạt được dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, đặc biệt về khoahọc và công nghệ để phát triển nhanh lực lượng sản xuất, xây dựng nền kinh tế hiện đại

Trang 25

Xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp, cho nên phải trảiqua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ.

Vận dụng lý luận về giai cấp và đấu tranh giai cấp của chủ nghĩa Mác Lênin, Đảng ta cho rằng, nội dung chủ yếucủa đấu tranh giai cấp trong giai đoạn hiện nay là thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, khắc phụctình trạng nước nghèo, kém phát triển, thực hiện công bằng xã hội, chống áp bức bất công Đấu tranh, ngăn chặn và khắcphục những tư tưởng và hành động tiêu cực, sai trái, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của cácthế lực thù địch bảo vệ độc lập dân tộc, kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Vận dụng các quy luật kinh tế của thời kỳ quá độ, Đảng ta chủ trương thực hiện nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa

Đảng ta kiên định mục tiêu của cách mạng Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Đại hội Đảng lần thứ IX và dự thảo văn kiện đại hội Đảng lần thứ X, XI vẫn khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minhsoi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần triết học lớn của Đảng và dân tộc ta

Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạngViệt Nam, là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kếthừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại Đó là tư tưởng về giảiphóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, kết hợp sứcmạnh của nhân dân, của khối đoàn kết dân tộc, về quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nhà nước thật sự là của dân,

do dân, vì dân, về quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, về phát triển kinh tế và văn hoá, khôngngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô

tư Về chăm lo bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau, về xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, cán bộ đảng viên vừa

là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân…

Thời đại ngày nay là thời đại kinh tế tri thức Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ ảnh hưởng sâu sắc tới mọilĩnh vực của đời sống xã hội Thực tế những thành tựu của công cuộc đổi mới của Đảng gần 20 năm qua cho thấy rằng,Đảng đã vận dụng sáng tạo các tri thức khoa học nhân loại vào điều kiện cụ thể ở nước ta

Để có thể phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện mục tiêu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước côngnghiệp phát triển, Đảng ta xem phát triển khoa học và công nghệ cùng với phát triển giáo dục là nền tảng, động lực đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Đảng chủ trương tiếp thu tinh hoa, trí tuệ của nhân loại bằng cách tăng cường giao lưu hợp tác quốc tế trong lĩnhvực khoa học, công nghệ Thực hiện tốt chính sách bảo hộ sở hữu trí tuệ Ưu tiên, quan tâm và tạo điều kiện cho đội ngũtrí thức, khuyến khích các nhà khoa học có nhiều công trình nghiên cứu xuất sắc Với phương châm “ đi tắt đón đầu”Đảng chủ trương đi sâu, phát triển nhanh một số ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao như tin học,sinh học, vật liệu mới, tự động hóa

Đảng cũng chỉ rõ, khoa học xã hội nhân văn tập trung hướng vào giải đáp các vấn đề lý luận và thực tiễn, dự báocác xu thế phát triển, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế

- xã hội, xây dựng con người, sáng tạo những giá trị văn hoá mới của Việt Nam

Khoa học tự nhiên hướng vào việc giải quyết các vấn đề thực tiễn, xây dựng cơ sở khoa học để phát triển khoahọc, công nghệ trọng điểm, khai thác các nguồn tài nguyên, bảo vệ môi trường sống, phòng chống thiên tai

2 Nghiên cứu tổng kết kinh nghiệm thực tiễn Việt Nam và quốc tế để tiếp tục hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội

Tình hình thế giới và trong nước hơn 30 năm qua là cơ sở để Đảng ta tổng kết kinh nghiệm thực tiễn hoàn thiện

mô hình chủ nghĩa xã hội

Khi hầu hết các nước XHCN lâm vào tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng do mô hình chủ nghĩa

xã hội tập trung quan liêu, bao cấp được duy trì quá lâu Trong khi đó, CNTB do điều chỉnh được mâu thuẫn xã hội, sửdụng thành tựu của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, sử dụng các học thuyết xã hội … đã tỏ ra ổn định và phát

26

Trang 26

triển Công cuộc cải tổ ở Liên Xô cũ và các nước XHCN ở Đông Âu thất bại, Trung Quốc, Cu Ba thực hiện đường lối cảicách, mở cửa từng bước đã thu được thắng lợi đáng kể.

Sau thắng lợi năm 1975, do chủ quan, nóng vội, duy ý chí muốn tiến nhanh lên chủ nghĩa xã hội, mô hình kinh tế

kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp không còn phù hợp, gây cản trở tới tiến trình phát triển xã hội Mặt khác, ở bênngoài bị các thế lực thù địch bao vây, cấm vận, hai cuộc chiến tranh biên giới xảy ra… nước ta lâm vào cuộc khủnghoảng kinh tế - xã hội

Trước tình hình đó, Đảng ta chủ trương đổi mới toàn diện, trước hết là đổi mới tư duy lý luận về chủ nghĩa xãhội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Mỗi kỳ Đại hội Đảng là một dịp để Đảng ta tổng kết kinh nghiệm thực tiễn bổ sung, phát triển lý luận Mác Lênin

-Đại hội IV ( năm 1986), Đảng đề ra chủ trương đổi mới toàn diện đất nước -Đại hội VII ( năm 1991) đã thôngqua “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” Trong đó nêu rõ những nét khái quátnhất về xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng,kim chỉ nam cho hành động của Đảng, khẳng định phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơchế thị trường có sự quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa

Đại hội VIII của Đảng ( năm 1996) đưa ra nhận định nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, chỉ rõ hơnquan niệm về chặng đường đầu tiên và chặng đường tiếp theo của thời kỳ quá độ, tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp côngnghiệp hoá, hiện đại hoá, phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020 Xác định đổi mới kinh

tế là nhiệm vụ trung tâm, kiên trì định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,

do dân, vì dân ; coi phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu

Đại hội IX của Đảng ( năm 2001) xác định mục tiêu của các mạng Việt Nam là : “Độc lập dân tộc gắn liềnvới chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, tiếp tục phát triển nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa…”

Dự thảo đề cương báo cáo chính trị Đại hội X của Đảng đã thẳng thắn chỉ ra những yếu kém, khuyết điểm trong

20 năm đổi mới, rút ra những bài học bổ ích từ những yếu kém và thành tựu trong công cuộc đổi mới Trong đó bài họclớn số 1 là, trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập, dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩaMác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời luôn luôn nhạy bén với cái mới, với những phát triển của thực tiễn

Như vậy, có thể nói Đảng ta đã vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin vào thực tế công cuộc đổi ở nước ta Đếnnay, về cơ bản hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đã hìnhthành, nhận thức về chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn Đó là cơ sở cho việc xây dựng và phát triển đường lối củaĐảng góp phần bổ sung, phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội

Qua 20 năm thực hiện công cuộc đổi mới, liên tục tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, chúng ta ngày càng thấy rõhơn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta

Để đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa chúng ta phải tiếp tục phát triển kinh tế thị trường xãhội chủ nghĩa Nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ quá độ là đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa Từng bước xây dựngnền dân chủ xã hội chủ nghĩa, hoàn thiện nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, đảm bảo quyềnlàm chủ của nhân dân, khẳng định sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam Chú trọng tăng trưởng kinh tế bền vững điđôi với phát triển văn hoá, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi văn hoá là nền tảng tinh thần của

xã hội, thực hiện công bằng xã hội Vừa xây dựng vừa bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Tiếp tục mở rộng quan hệ đốingoại, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

Những vấn đề lý luận trên đây là kết quả của quá trình đổi mới tư duy lý luận trên cơ sở tổng kết thực tiễn củaĐảng, là minh chứng cho việc Đảng vận dụng sáng tạo lý luận Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội vàcon đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

3 Trong giáo dục &đào tạo phải kết hợp nhà trường với xã hội, lý luận với nhận thức

Trang 27

Đảng ta đã xác định : “ Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sựnghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội,tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững

Vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, Đảng chủ trương giáo dục, đào tạo phải đáp ứng đượcnhu cầu phát triển của xã hội, kết hợp giữa lý luận với thực tiễn, học đi đôi với hành

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hoá đòi hỏi sự nghiệp giáo dục, đào tạo phaỉ có những biến đổi mạnh mẽ vềquy mô và chất lượng Thực hiện phương châm “giáo dục cho mọi người”, “cả nước trở thành một xã hội học tập” ngànhgiáo dục, đào tạo đã chú ý nâng cao chất lượng giáo dục, toàn diện, đổi mới nội dung, phương pháp dạy và học, thực hiện

“chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá” hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục

Đảng cũng chỉ đạo ngành giáo dục & đào tạo coi trọng công tác hướng nghiệp, phát triển mạnh việc đào tạo nghềsao cho phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong phạm vi cả nước Bồi dưỡng đào tạo cho lớp trẻ những kiếnthức sản xuất, kỹ năng lao động và năng lực tiếp thu công nghệ mới của các nước phát triển Trong dự thảo văn kiện Đạihội Đảng lần thứ X, Đảng ta một lần nữa nhấn mạnh sự nghiệp giáo dục đào tạo phải khắc phục những yếu kém, bất cập,phát huy những thành tựu đã đạt được để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong tình hình mới

Khắc phục bệnh kinh nghiệm và bệnh giáo điều trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Đảng chủ trương thực hiệnphương châm giáo dục : “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội.”

Nhà trường là một thiết chế xã hội đặc biệt có chức năng đặc biệt là giáo dục kiến thức, văn hoá, khoa học chocon người đặc biệt là thế hệ trẻ Nhà trường ngoài việc trang bị kiến thức văn hoá, khoa học giáo dục còn phải giáo dục ýthức, kỹ năng lao động, thực hành cho học sinh Học sinh không chỉ nắm vững lý thuyết mà còn giỏi thực hành, khi ratrường có thể hoà nhập ngay với thực tiễn sản xuất, không bị lạc hậu, ngỡ ngàng trước những yêu cầu ngày càng cao củanền kinh tế thị trường Những kiến thức trong nhà trường học sinh thu nhận được phải bổ ích trực tiếp cho nghề nghiệp

và cuộc sống của họ sau này

Một trong những yếu kém, bất cập của nền giáo dục nứơc ta là chưa thường xuyên cập nhật những vấn đề thựctiễn của xã hội hiện đại vào trong giảng dạy lý luận, lý thuyết Bệnh học chay còn khá phổ biến lối học truyền thốngkhông động viên được tính năng động, chủ động trong tư duy của người học Nội dung, chương trình học tập “quá tải”đối với học sinh, nội dung chưa phù hợp với thực tiễn cuộc sống xã hội

Mục tiêu giáo dục của ta là đào tạo thế hệ trẻ không những giỏi về lý luận mà còn giỏi về thực hành, “về đạo đứcphẩm chất tư cách, “chuyên” về nghề nghiệp kỹ thuật, có thể đảm đương được sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa

Để đạt được mục tiêu đó chúng ta càng phải quán triệt và vận dụng tốt phương châm “giáo dục phải kết hợp giữa lý luậnvới thực tiễn, học đi đôi với hành”

Thực tiễn đất nước đang đòi hỏi rất nhiều ở đội ngũ trí thức - những người đi tiên phong trong lĩnh vực đổi mới

tư duy lý luận Chính vì vậy, trong tình hình hiện nay lý luận có vai trò hết sức quan trọng Đổi mới và phát triển lý luận

là một yếu tố góp phần tạo nên thắng lợi của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Lý luận Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh cần được hiểu và vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo Đồng thời Đảng phải không ngừng tự chỉnh đốn,nâng cao trình độ lý luận, nâng cao trí tuệ Chỉ có như vậy sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo mới đạt được nhữngthắng lợi to lớn hơn nữa

Tài liệu tham khảo

28

Trang 28

1 Bộ Giáo dục và Đào tạo: “Triết học - tập 3” 3 tập (dùng cho nghiên cứu sinh và cao học không thuộc chuyên nghành

triết học), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001

2 Đảng Cộng sản Việt Nam: “Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.

3 Hội đồng Trung Ương chỉ đạo biên soạn bộ giáo trình quốc gia các môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí

Minh : “Giáo trình triết học Mác - Lênin trong thời đại hiện nay ”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.

4 V.I Lênin: Toàn tập, tập 5, Nxb Sự thật, Hà Nội, 1962

5 V.I Lênin: Toàn tập, Nxb Tiến bộ , Matxcơva, 1981,tập 29.

6 C Mác và Ph Ăngghen : Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993 – 1996, các tập 1,3,20, 25,phần II.

7 Hồ Chí Minh : Toàn tập , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tập 1,8.

8 Hữu Ngọc (chủ biên) : “Từ điển triết học giản yếu”, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1987.

9 Viện triết học: “Chủ nghĩa Mác - Lênin và công cuộc đổi mới ở Việt Nam”, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002

Câu hỏi thảo luận

4 Tại sao việc đưa khái niệm thực tiễn vào lý luận nhận thức lại là một yếu tố tạo ra bước ngoặt căn bản mang tính cáchmạng của triết học Mácxít?

5.Tại sao Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hànhđộng?

I LÝ LUẬN HÌNH THÁI KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ VAI TRÒ PHƯƠNG PHÁP LUẬN

1 Những tiên đề xuất phát để xây dựng lý luận hình thái kinh tế - xã hội

a Quan điểm duy tâm về lĩnh vực xã hội

Trước Mác, chủ nghĩa duy tâm thống trị trong khoa học xã hội Các nhà triết học đã không giải quyết một cáchkhoa học vấn đề phân loại các chế độ xã hội và phân kỳ lịch sử

- Tư tưởng triết học thời cổ đại về lĩnh vực xã hội.

Trang 29

Ấn độ cổ đại có nhiều hệ thống tôn giáo tồn tại và các hệ thống triết học thường gắn liền với tôn giáo PháiMimansa hậu kỳ chuyển sang thừa nhận có thần Phái Jaina cho rằng : mọi vật đều có linh hồn Đạo Phật thì coi “đời là

bể khổ” tìm con đường giải thoát chúng sinh khỏi vòng luân hồi số kiếp…

Triết học Trung Quốc cổ đại đặc biệt quan tâm đến vấn đề xã hội, chính trị và con người Nhưng sự luận giải về

xã hội của các nhà triết học lại phần nhiều nghiêng về số mệnh, thiên mệnh, đề cao tầng lớp quân tử, coi nhẹ tầng lớp tiểunhân, xem sự thay đổi của xã hội là sự thay đổi của một triều đại, thậm chí là sự thay đổi của một cá nhân con người

Triết học cổ đại Hy Lạp cũng đề cập nhiều khía cạnh của lĩnh vực xã hội Trong học thuyết về xã hội, Platôn đã

mô tả một nhà nước quý tộc lý tưởng mà tiền đề là lao động của nôlệ, các nhà triết học cai quản quốc gia, các “chiếnbinh” bảo vệ nó, ở địa vị thấp nhất là nô lệ

- Tư tưởng triết học thời phong kiến bàn về xã hội :

Các nhà triết học thời phong kiến ở Ấn Độ, Trung Quốc phát triển những quan điểm duy tâm thời cổ đại về xãhội Họ đề cao vua (Thiên tử) thay trời trị dân, xem nhẹ những người nông dân, duy trì sự thống trị của địa chủ phongkiến đối với nông dân

Những nhà tư tưởng thời trung cổ ở phương Tây như Ôguytxtanh, Tômát Đacanh… giải thích lịch sử và số phậncon người theo mục đích luận, coi lịch sử là hiện thực của mệnh trời, số phận con người do thượng đế quy định

- Tư tưởng triết học thời đại Phục hưng và cận đại về lĩnh vực xã hội :

Triết học thời đại Phục hưng diễn ra sự xung đột gay gắt giữa các tư tưởng triết học và khoa học tiến bộ với cácquan niệm thần học Triết học thời kỳ này gắn liền với vấn đề con người và giải phóng con người Nhưng việc giải quyếtcác vấn đề bản chất của thượng đế, thế giới và con người vẫn chưa triệt để, vẫn thực sự bị chi phối của các quan niệm tựnhiên thần luận

Chuyển sang thời kỳ cận đại, các nhà triết học đã có những quan điểm về xã hội ngày càng rõ ràng hơn Nhưngvẫn chưa thoát khỏi các quan niệm duy tâm về lịch sử J Rút Xô (1712 - 1778) chia tiến trình phát triển của lịch sử thànhcác giai đoạn : ở trạng thái tự nhiên, trạng thái công dân, thông qua cách mạng xã hội, xã hội lại trở về “ Trạng thái tựnhiên” ban đầu, nhưng trên cơ sở cao hơn Ông ca ngợi xã hội ở trạng thái thứ ba, đó là nhà nước và xã hội lý tưởngđược xây dựng trên cơ sở công lý và lý tính Ông cho rằng khí hậu đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển xãhội G.V.P Hêghen (1770 - 1831), dưới góc độ duy tâm coi bản thân hoạt động thực tiễn của con người vẫn là dạng hoạtđộng tinh thần Ông chưa đánh giá đúng mức vai trò sản xuất vật chất của quần chúng đối với sự phát triển xã hội Ônglấy sự phát triển về tự do là chuẩn mực cơ bản đánh giá giá trị ưu việt của thời đại này so với thời đại khác của dân tộcnày với dân tộc khác Từ đây, ông chia lịch sử thế giới như sau : Thời kỳ tiền sử : không ai tự do, phương Đông cổ đại,chế độ quân chủ, một người tự do; Hy Lạp, La mã cổ đại: Dân chủ quý tộc một số người tự do, nước Đức Thiên chúagiáo, trung cổ và cận đại : quân chủ, tất cả được tự do L Phoiơbắc ( 1804 - 1872) không nhận thấy được bản chất xã hộicủa con người Con người trong quan niệm của Phoiơbắc là con người phi lịch sử, phi giai cấp, phi dân tộc, trừu tượng

mà không cụ thể Ông phê phán kịch liệt đạo Cơ đốc nhưng ông lại cho rằng cần có tôn giáo mới vì theo ông, chỉ có tínngưỡng tình yêu thương và niềm tin yêu giữa người với người mới an ủi được con người khỏi những nỗi bất hạnh trongcuộc đời

Tóm lại, quan điểm duy tâm về lĩnh vực xã hội là quan điểm nghiên cứu đời sống xã hội và lịch sử từ động cơ tư

tưởng của con người, mà không tìm xem cái gì đã gây nên và quyết định những động cơ ấy Vì thế, những nhà triết họcduy tâm về xã hội đã không thể vạch ra được bản chất của hiện tượng xã hội, nguyên nhân vật chất của hiện tượng ấy

Họ chỉ thấy được những hiện tượng riêng rẽ của quá trình lịch sử, không thấy được xã hội vận động theo những quy luậtkhách quan độc lập với ý chí của con người họ quy lịch sử của các vĩ nhân, không thấy được vai trò quyết định củaquần chúng nhân dân trong lịch sử Đặc biệt, họ không tìm ra con đường đúng đắn để giải phóng con người, giải phóng

xã hội Họ chọn con đường cải lương xã hội hoặc khuyên con người cam chịu hoặc khuyên con người đến với sự an ủicủa tôn giáo

b Tiền đề xuất phát để xây dựng quan điểm duy vật về xã hội.

Để xây dựng quan điểm duy vật về xã hội, C.Mác và Ph Ăngghen đã xuất phát từ những tiền đề sau :

30

Trang 30

Mác và Ăngghen cho rằng : “Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên là sự tồn tại của những

cá nhân con người sống” Nghiên cứu về cuộc sống của con người hiện thực, Mác đã phát hiện ra phương thức tồn tạicủa con người chính là Hoạt động thực tiễn của họ Động lực thúc đẩy con người hoạt động trong tiến trình lịch sử lại lànhu cầu về lợi ích Ăngghen nhấn mạnh rằng : “cái sự hiển nhiên…là trước hết con người cần phải ăn, uống, ở và mặc,nghĩa là phải lao động, trước khi có thể đấu tranh để giành quyền thống trị, trước khi có thể hoạt động chính trị, tôn giáo,triết học vv….” Nhưng “ cá nhân là thực thể xã hội Cho nên mọi biểu hiện sinh hoạt của nó là biểu hiện và sự khẳngđịnh của sinh hoạt xã hội ” Mác và Ăngghen viết : “ Xã hội - cho dù nó có hình thức gì đi nữa - là cái gì? Là sản phẩmcủa sự tác động qua lại giữa những con người” Con người, bằng hoạt động của mình đã làm nên lịch sử, tạo ra xã hội

- Xã hội muốn tồn tại và phát triển phải tiến hành hoạt động sản xuất xã hội như : sản xuất của cải vật chất, sảnxuất của cải tinh thần và sản xuất ra chính bản thân con người, trong đó sản xuất vật chất giữ vai trò nền tảng Sản xuấtvật chất là quá trình con người sử dụng công cụ lao động thích hợp, tác động vào tự nhiên nhằm tạo ra của cải vật chất đểthoả mãn nhu cầu tồn tại và phát triển của mình Hoạt động sản xuất vật chất không chỉ đạo tư liệu sinh hoạt duy trì sựtồn tại và phát triển của con người mà điều quan trọng hơn là sản xuất ra tư liệu sản xuất Mác chỉ rõ : “Những thời đạikinh tế khác nhau không phải ở chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là ở chỗ chúng sản xuất bằng cách nào, với những tư liệulao động nào”

Như vậy, để sản xuất ra của cải vật chất, con người phải quan hệ với giới tự nhiên Quan hệ này biểu hiện cáchthức, năng lực, trình độ con người đạt được trong quá trình tác động vào giới tự nhiên để tạo ra những sản phẩm Quan

hệ đó được biểu hiện thành lực lượng sản xuất Trong quá trình sản xuất ra của cải vật chất, con người đã tạo ra nhữngmối quan hệ của chính con người Trong quan hệ xã hội, quan hệ giữa người với người trong sản xuất vật chất ( quan hệsản xuất ) là cơ bản nhất, giữ vai trò quyết định Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất không phải là hai bộ phận, mà làhai loại quan hệ trong một thực thể thống nhất cấu thành phương thức sản xuất Trong phương thức sản xuất, lực lượngsản xuất và quan hệ sản xuất có mối quan hệ biện chứng, quy định và ước chế lẫn nhau, trong đó, lực lượng sản xuất giữvai trò quyết định Mác viết: “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất Do có đượcnhững lực lượng sản xuất mới, loài người thay đổi phương thức sản xuất cuả mình, và do đó thay đổi phương thức sảnxuất, cách kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình Cái cối xay quay bằng tay đưalại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp”

Về vai trò của quan hệ sản xuất, Mác nhấn mạnh: “Trong sản xuất, người ta không chỉ quan hệ với giới tự nhiên.Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổihoạt động với nhau… Xã hội cổ đại, xã hội phong kiến, xã hội tư sản đều là những tổng thể quan hệ sản xuất như vậy,mỗi tổng thể đó đồng thời lại đại biểu cho một giai đoạn phát triển đặc thù trong lịch sử nhân loại”

Như vậy, Mác dùng một tổng thể các quan hệ sản xuất làm tiêu chuẩn trực tiếp phân biệt những giai đoạn pháttriển đặc thù trong lịch sử nhân loại, tức là trực tiếp phân biệt những hình thái khác nhau của xã hội Lực lượng sản xuấtđược hình thành một cách khách quan và tất yếu thì hình thức biểu hiện của nó - quan hệ sản xuất nói riêng và quan hệ

xã hội nói chung- cũng phải mang tính khách quan và tất yếu Do đó, xã hội với tư cách là sản phẩm cuả sự tác động lẫnnhau giữa người và người cũng được hình thành một cách khách quan và tất yếu Sự vận động, biến đổi và phát triển của

xã hội phải tuân theo những quy luật nội tại vốn có của nó, trước hết là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất vàotrình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất

Lịch sử nhân loại là lịch sử hoạt động của chính bản thân con người Hoạt động này bao gồm sự thống nhất giữamặt khách quan và mặt chủ quan của quá trình lịch sử Các nhà triết học trước Mác đã giải quyết không đúng đắn mốiquan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa quy luật lịch sử và hoạtđộng có ý thức của con người, giữa tất yếu và tự do, giữa tự giác và tự phát trong sự phát triển lịch sử nên đã hiểu sai lịch

sử Mác và Ăngghen đã xuất phát từ quan điểm: “ không phải ý thức con người quyết định tồn tại của họ”, đã chỉ rõ mốiquan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, cho nên đã giải thích đúng đắn lịch sử Để cắt nghĩa hàng loạtnhững vấn đề lịch sử khác nhau như mục đích của con người đối với tiến trình lịch sử của nhân loại, nhu cầu khách quancủa sự phát hiện các mục đích và những điều kiện thực hiện mục đích đó thì theo Mác - Ăngghen điểm xuất phát củaviệc định ra mục đích là những điều kiện khách quan…

Tóm lại, xã hội tồn tại và phát triển được trước hết là nhờ sản xuất vật chất Theo Ăngghen: “Theo quan điểm duy vật về lịch sử, nhân tố quyết định trong lịch sử xét đến cùng, là sự sản xuất và tái sản xuất ra đời sống hiện thực”.

Trang 31

Trong quan hệ phức tạp của đời sống xã hội, dù thể hiện ở bất kỳ lĩnh vực nào, chính trị hay pháp quyền, nghệ thuật hayđạo đức, tôn giáo hay khoa học,… hết thảy đều hình thành và biến đổi trên cơ sở sự vận động của đời sống sản xuất vậtchất Bởi thế, đối với các hiện tượng của đời sống xã hội, người ta chỉ có thể đạt tới một sự giải thích có căn cứ, nếu bằngcách này hay cách khác, sự giải thích ấy được xuất phát từ nền sản xuất xã hội

2 Cấu trúc xã hội - phạm trù hình thái kinh tế - xã hội

a Cấu trúc xã hội

Học thuyết Mác đòi hỏi phải phân tích sự phát triển của xã hội như một quá trình tổng hợp các nhân tố và cácquy luật khách quan Chủ nghĩa duy vật lịch sử xem xét xã hội với tính cách là một hệ thống bao gồm bốn lĩnh vực cơbản :

- Lĩnh vực chính trị của đời sống xã hội

- Lĩnh vực kinh tế của đời sống xã hội

- Lĩnh vực khác như: quan hệ gia đình, tầng lớp xã hội, giai cấp, dân tộc

- Lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội

Bốn lĩnh vực này đều có vai trò riêng nhưng có tác động qua lại với nhau làm cho tất cả hệ thống xã hội vậnđộng và phát triển

Về cấu trúc xã hội, C Mác viết : “Trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ

nhất định, tất yếu, không tuỳ thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với mộttrình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của họ toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơcấu kinh tế của xã hội , tức là cái cơ sở hiện thực trên đó xây dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trịnhững hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyếtđịnh các quá trình sinh hoạt , chính trị và tinh thần nói chung”

b Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội

Để nghiên cứu xã hội, Mác và Ăngghen đã nêu ra hệ thống phạm trù, quy luật của chủ nghĩa duy vật lịch sử.Lĩnh vực kinh tế của đời sống xã hội được làm rõ bằng các phạm trù phương thức sản xuất, lực lượng sản xuất, quan hệsản xuất và quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.Mối quan hệ giữa kinh tế vàchính trị được khái quát trong các phạm trù cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng và quy luật cơ sở hạ tầng quyết địnhkiến trúc thượng tầng và tác động trở lại của kiến trúc thượng tầng đến cơ sở hạ tầng Lĩnh vực tinh thần của đời sống xãhội được nghiên cứu trong mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, tính độc lập tương đối của ý thức xã hội, cáchình thái ý thức xã hội và vai trò ngày càng to lớn của ý thức xã hội trong quá trình phát triển xã hội

Hình thái kinh tế - xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở từng giai đoạn lịch

sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng cho xã hội đó phù hợp với một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất và với một kiến trúc thượng tầng tương ứng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất ấy

Cấu trúc của hình thái kinh tế - xã hội là một kết cấu phức tạp gồm nhiều yếu tố, có quan hệ tác động qua lại lẫnnhau Quan hệ sản xuất được Mác coi là những quan hệ cơ bản, ban đầu và quyết định tất cả mọi quan hệ xã hộikhác Theo Mác, mỗi xã hội có một quan hệ sản xuất riêng biệt, một chế độ kinh tế - xã hội nhất định Các quan hệ sảnxuất này là hình thức xã hội của quá trình sản xuất vật chất Phát hiện ra những quan hệ xã hội vật chất cơ bản, các nhàtriết học Macxít đã đặt cơ sở khoa học cho việc nghiên cứu xã hội trên quan điểm duy vật lịch sử của toàn nhân loại Mác

đã coi quan hệ sản xuất là “ bộ xương” của một cơ thể xã hội, là tiêu chuẩn khách quan, cơ bản để phân biệt sự khác nhaugiữa hình thái kinh tế - xã hội này với hình thái kinh tế – xã hội khác Đặc biệt, Mác không nghiên cứu quan hệ sản xuấtmột cách biệt lập mà luôn đặt quan hệ sản xuất trong quan hệ với các quan hệ xã hội khác Mác đã làm rõ những quanđiểm chính trị, đạo đức, pháp lý, triết học… cùng với những thiết chế xã hội tương ứng được hình thành trên quan hệ sảnxuất đó Những quan hệ này cấu thành cơ sở hạ tầng, tức là cơ sở hiện thực trên đó xây dựng nên kiến trúc thượng tầng.Những quan hệ sản xuất này tồn tại trên một trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất Hai mặt này thống nhấttrong một phương thức sản xuất và chính nó là nền tảng vật chất của mọi hình thái kinh tế - xã hội Lênin đã làm sáng tỏcấu trúc hình thái kinh tế - xã hội của Mác Lênin viết : “Nhưng điều chủ yếu là ở chỗ C.Mác không thoả mãn với cáisườn đó, không chỉ dựng lại ở cái “lý luận kinh tế” hiểu theo nghĩa thông thường của danh từ mà thôi là ở chỗ tuy rằngMác chỉ dùng độc có những quan hệ sản xuất để giải thích cơ cấu và sự phát triển của một hình thái xã hội nhất định,

32

Trang 32

song ở mọi nơi và mọi lúc, ông đều phân tích những kiến trúc thượng tầng tương ứng với những quan hệ sản xuất ấy vàthêm thịt, thêm da cho cái sườn đó”

3 Phép biện chứng về sự vận động, phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội

a Biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất.

Phương thức sản xuất :

Phương thức sản xuất là cách thức con người thực hiện quá trình sản xuất ở một giai đoạn lịch sử nhất định của

xã hội loài người Lịch sử loài người là lịch sử phát triển kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất vật chất: công xãnguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa Phương thức sản xuất gồm hai mặt

có quan hệ mật thiết với nhau : lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất :

Quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất (sản xuất và tái sản xuất xã hội) Quan

hệ sản xuất bao gồm :

+ Các quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất

+ Các quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất

+ Các quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động

Ba loại quan hệ trên có quan hệ hữu cơ với nhau, trong đó, quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất giữ vai tròquyết định Với tính cách là những quan hệ kinh tế khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của con người, quan hệ sảnxuất là một hệ thống mang tính ổn định tương đối so với sự vận động không ngừng của lực lượng sản xuất

Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:

Sự tác động lẫn nhau giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất biểu hiện mối quan hệ mang tính biện chứng.Quy luật này biểu hiện thành quy luật cơ bản nhất của sự vận động và phát triển của đời sống xã hội - quy luật về sự phùhợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện trình độ của công cụ lao động, trình độ tổ chức lao động xã hội, trình độứng dụng khoa học vào sản xuất, kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người, trình độ phân công lao động

Quan hệ sản xuất hình thành, biến đổi, phát triển dưới ảnh hưởng quyết định của các lực lượng sản xuất Sự pháttriển khách quan của lực lượng sản xuất dẫn đến việc xã hội phải xoá bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ sản xuất

cũ và thay thế nó bằng một kiểu quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất đã thay đổi, mởđường cho lực lượng sản xuất phát triển Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay thế nó bằng quan hệ sản xuất mới, cũng

có nghĩa là sự diệt vong của cả một phương thức sản xuất lỗi thời và sự ra đời của phương thức sản xuất mới Nhưngquan hệ sản xuất cũng có tác động trở lại lực lượng sản xuất, quy định mục tiêu xã hội của sản xuất, khuynh hướng pháttriển của quan hệ lợi ích, từ đó hình thành hệ thống những yếu tố hoặc thúc đẩy, hoặc kìm hãm sự phát triển cuả lựclượng sản xuất Sự tác động trở lại cuả quan hệ sản xuất đối với lực lượng sản xuất bao giờ cũng thông qua các quy luậtkinh tế - xã hội khác, đặc biệt là quy luật kinh tế cơ bản Trong xã hội có giai cấp đối kháng thì mâu thuẫn giữa lực lượngsản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện thành mâu thuẫn giai cấp và chỉ thông qua đấu tranh giai cấp mới giải quyết đượcmâu thuẫn này

b Biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Trang 33

Mỗi xã hội có một kết cấu kinh tế đặc trưng, tức là một cơ sở hạ tầng của xã hội, trên đó xây dựng nên một kiếntrúc thượng tầng tương ứng.

C Mác viết : “Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thựctrên đó dựng lên một kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với

cơ sở hiện thực đó ”

Khái niệm cơ sở hạ tầng dùng để chỉ toàn bộ những mối quan hệ sản xuất của một xã hội trong sự vận động hiện

thực của chúng hợp thành cơ cấu của xã hội đó Cơ sở hạ tầng của một xã hội được đặc trưng bởi: kiểu quan hệ sản xuấtthống trị, chi phối các mối quan hệ sản xuất tàn dư, mầm mống, kiểu quan hệ sản xuất mang tính quá độ, đan xen Nhữngquan hệ kinh tế tàn dư, mầm mống có vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần

Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm chính trị, pháp quyền triết học, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật,

… cùng với những thiết chế xã hội tương ứng với nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể xã hội… được hình thànhtrên một cơ sở hạ tầng nhất định

Trong kiến trúc thượng tầng, nhà nước có vai trò đặc biệt quan trọng ở xã hội có giai cấp, kiến trúc thượng tầngmang tính gia cấp, bộ máy nhà nước là cơ quan quyền lực của một giai cấp nhất định

Quan hệ biến chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng:

Cơ sở hạ tầng ca kiến trúc thượng tầng là hai mặt thống nhất biện chứng trong một hình thái kinh tế- xã hội nhấtđịnh (biểu hiện hai mặt kinh tế và chính trị của mỗi một hình thái xã hội )

Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng (kinh tế quyết định chính trị) Điều này thể hiện ở chỗ : Nếu cơ

sở hạ tầng thay đổi thì sớm hay muộn sự thay đổi của kiến trúc thượng tầng cũng sẽ diễn ra Mác viết : “ Cơ sở kinh tếthay đổi thì toàn bộ cái kiến trúc thượng tầng đồ sộ cũng bị đảo lộn ít nhiều nhanh chóng.”

Sự biến đổi này là quá trình diễn ra phức tạp, xét đến cùng là do sự phát triển của lực lượng sản xuất Nhưng sựphát triển của lực lượng sản xuất chỉ trực tiếp gây ra sự biến đổi của cơ sở hạ tầng, còn sự biến đổi của cơ sở hạ tầng đếnlượt nó mới làm cho kiến trúc thượng tầng biến đổi căn bản

Chủ nghĩa duy vật lịch sử cho rằng : kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối đối với cơ sở hạ tầng Sựphụ thuộc của kiến trúc thượng tầng đối với cơ sở hạ tầng thường không trực tiếp và không giản đơn Kiến trúc thượngtầng không phải là sản phẩm thụ động mà chúng có khả năng tác động trở lại mạnh mẽ đối với cơ cấu kinh tế xã hội Bảnthân các yếu tố, các bộ phận của kiến trúc thượng tầng có tác động qua lại lẫn nhau Sự tác động của kiến trúc thượngtầng chính trị đối với cơ sở hạ tầng, với cơ cấu theo hai hướng :

Một là, sự tác động phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan.

Hai là, sự tác động không phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan.

Như thế, kiến trúc thượng tầng chính trị có vai trò định hướng phát triển kinh tế Nắm vững, quy luật kinh tế thìđịnh hướng đúng, có tác dụng thúc đẩy kinh tế phát triển; ngược lại, sẽ định hướng sai lầm và làm kìm hãm sự phát triểncủa kinh tế Vì vậy, không được tuyệt đối hoá vai trò của kiến trúc thượng tầng chính trị bởi nếu như vậy sẽ phạm sai lầmcủa chủ nghĩa duy tâm chủ quan, duy ý chí

c Sự phát triển của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên

Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội không chỉ xác định yếu tố cấu thành hình thái kinh tế xã hội mà cònxem xét xã hội trong quá trình phát triển và biến đổi không ngừng Xã hội phát triển qua nhiều giai đoạn kế tiếp nhau.ứng với mỗi giai đoạn của lịch sử phát triển là một hình thái kinh tế - xã hội Các hình thái kinh tế xã hội vận động, pháttriển do sự tác động của các quy luật khách quan, đó là quá trình tự nhiên cuả sự phát triển xã hội C Mác viết : “Tôi coi

sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử – tự nhiên”

Điều này được V.I Lênin giải thích như sau : “Chỉ có đem quy những quan hệ xã hội và những quan hệ sản xuất,

và đem quy những quan hệ sản xuất vào trình độ của những lực lượng sản xuất thì người ta mới có được một cơ sở vữngchắc để quan niệm sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên”

34

Trang 34

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng : Xã hội vận động theo những quy luật không nhữngkhông phụ thuộc vào ý thức, ý chí, ý định của con người mà ngược lại còn quyết định cả ý chí, ý định của họ nữa Lịch

sử là lịch sử hoạt động của con người theo đuổi mục đích của bản thân mình., nhưng không thể hoạt động tuỳ tiện màphải tuân theo quy luật khách quan Mỗi hình thái kinh tế - xã hội được coi như một cơ thể xã hội, tự phát triển theonhững quy luật vốn có của nó Mỗi một cơ thể xã hội riêng biệt có những quy luật riêng về sự ra đời, về sự vận động pháttriển, về bước chuyển của nó lên một hình thái cao hơn, tức là biến thành một cơ thể xã hội khác Mác viết : “Mỗi mộtthời kỳ lịch sử đều có những quy luật riêng của nó… Một khi cuộc sống đã vượt qua một thời kỳ phát triển nhất định, đã

từ giai đoạn này bước sang giai đoạn khác, thì nó cũng bắt đầu bị những quy luật khác chi phối”

Như vậy, quá trình “ lịch sử - tự nhiên” có nghĩa là : con người làm ra lịch sử của mình, họ tạo ra những quan hệ

xã hội của mình, đó là xã hội Nhưng xã hội vận động theo quy luật khách quan Sự thay thế kế tiếp nhau của các hìnhthái kinh tế xã hội : xã hội nguyên thuỷ được thay thế bằng xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội chiếm hữu nô lệ được thay thếbằng xã hội phong kiến, xã hội phong kiến được thay thế bằng xã hội tư bản chủ nghĩa … đó là quá trình tiến hoá baohàm những bước nhảy vọt, đã tạo nên sự tiến bộ trong lịch sử loài người Khi nghiên cứu các quy luật của sự phát triển

xã hội nói chung và chủ nghĩa tư bản nói riêng, Mác đi đến kết luận khoa học rằng hình thái kinh tế xã hội tư bản chủnghĩa sẽ bị thay thế bằng hình thái kinh tế - xã hội mới - hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa Các nhà kinh điểncủa chủ nghĩa Mác - Lênin cũng đã chỉ ra sự thay thế một hình thái kinh tế xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hộikhác thường được thực hiện thông qua cách mạng xã hội Quá trình phát triển của lịch sử, cả phát triển tuần tự đủ cáchình thái kinh tế xã hội lẫn phát triển rút ngắn, bỏ qua một hoặc một vài hình thái kinh tế - xã hội trong trường hợp nào

đó, đều là quá trình lịch sử - tự nhiên, xét theo những quy luật và những điều kiện lịch sử cụ thể khách quan quy định

4 Lý luận hình thái kinh tế - xã hội và cách tiếp cận lịch sử nhân loại theo lý thuyết các nền văn minh

a Khái niệm văn minh và việc phân chia sự phát triển xã hội theo các trình độ văn minh.

- Khái niện văn minh

Từ “văn minh” gần đây xuất hiện trong những nghiên cứu xã hội nhiều hơn trước đây, nhất là khi bàn tới nhữnggiai đoạn, những trình độ phát triển của xã hội loài người ở đây, văn minh để chỉ một trạng thái phát triển của một conngười đối lập với dã man Cùng với sự phát triển của nhân loại, thuật ngữ văn minh dần dần trở thành một khái niệmkhoa học với nội dung xác định của nó gắn liền với trình độ phát triển khác nhau của xã hội loài người từ “ văn minh”xuất hiện đầu tiên ở pháp vào thời kỳ khai sáng (thế kỷ XVIII), nó nói lên niềm tin và khát vọng của con người vào tiến

bộ xã hội Sau đó được dùng để chỉ loại hình xã hội, kể từ khi con người ra khỏi thời tiền sử, đặc biệt để chỉ những nềnvăn minh cổ đại (Hy Lạp, La Mã, Ai Cập, Trung Quốc vv…) Nó cũng được dùng làm vũ khí chính trị của chủ nghĩa tưbản vào giai đoạn đế quốc chủ nghĩa, khi các nước phương Tây tự mệnh danh là những nước “văn minh” có sứ mệnh

“khai hoá” những dân tộc lạc hậu nhằm che đậy những cuộc thôn tính thuộc địa của chúng Gần đây, với cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ mới, nền sản xuất công nghiệp chuyển sang sản xuất hậu công nghiệp, trong giới nghiên cứu xãhội xuất hiện các thuật ngữ : văn minh hậu công nghiệp, văn minh tin học, văn minh trí tuệ … cho đến nay, chưa có sựphân loại thống nhất nào về các nền văn minh, các giai đoạn văn minh của loài người

- Việc phân chia sự phát triển xã hội theo các trình độ văn minh :

Hiện nay, một số nhà nghiên cứu xã hội đưa ra các cách tiếp cận lịch sử bằng các nền văn minh Chẳng hạn vềmặt tôn giáo, người ta phân loại thành văn minh Kitô giáo, văn minh Hồi giáo, văn minh Khổng giáo… Gần đây AlvinToffer cho rằng, để nghiên cứu xã hội hiện đại (thập niên cuối thế kỷ XX sang thế kỷ XXI) phải sử dụng lý thuyết ba nềnvăn minh : văn minh nông nghiệp, văn minh công nghiệp, văn minh tin học (ông nhấn mạnh văn minh tin học) Cách tiếpcận lịch sử bằng các nền văn minh thực chất là sự nhào nặn các quan điểm “kỹ trị”, quan điểm “hội tụ”, “ hậu côngnghiệp”, gián tiếp phủ nhận phương pháp tiếp cận lịch sử bằng lý luận hình thái kinh tế - xã hội của C Mác Lý thuyết”

ba nền văn minh” đã tuyệt đối hoá yếu tố khoa học - công nghệ, lực lượng sản xuất, không tính đến quan hệ sản xuất vàkiến trúc thượng tầng Như vậy việc nghiên cứu xã hội của Alvin Toffer là thiếu toàn diện, thiếu lôgíc

b Sự khác nhau giữa lý luận hình thái kinh tế - xã hội với cách tiếp cận lý thuyết các nền văn minh.

Lý luận hình thái kinh tế - xã hội của Mác nghiên cứu xã hội như là một chỉnh thể, cấu thành từ những yếu tố rất

cơ bản : lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, kiến trúc thượng tầng Trong khi Alvin Toffer chỉ tuyệt đối hoá yếu tốkhoa học - công nghệ, lực lượng sản xuất, thì lý luận hình thái kinh tế - xã hội vừa đề cập đến lực lượng sản xuất nhưnglại rất trú trọng đến yếu tố quan hệ sản xuất và yếu tố này là tiêu chuẩn khách quan để phân ra sự khác nhau về chất của

Trang 35

một xã hội này với một xã hội khác Lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã chỉ ra biện chứng giữa lực lượng sản xuất vàquan hệ sản xuất đồng thời cũng chỉ rõ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng của xã hội Cách tiếp cận

ba nền văn minh rõ ràng là siêu hình cực đoan không thể thay thế được phép biện chứng về lịch sử của chủ nghĩa Mác

5 Tính khoa học và vai trò phương pháp luận của lý luận hình thái kinh tế – xã hội.

a Tính khoa học của lý luận hình thái kinh tế - xã hội.

Bằng phương pháp lịch sử - lôgic, Mác đã phân tích thực tiễn những nước tư bản phát triển cao, điển hình, từ đóphân tích thực tiễn tòan nhân loại để rút ra quy luật chung nhất, cơ bản nhất của xã hội loài người Mác chỉ rõ : lịch sửloài người bắt đầu từ sản xuất ra của cải vật chất, vận động theo những quy luật khách quan của xã hội Như vậy, Mác đãlấy điểm xuất phát khoa học để nghiên cứu lịch sử nhân loại là lực lượng sản xuất Mác đã đi từ tồn tại đến tư duy, từkinh tế đến chính trị, từ sản xuất vật chất đến sản xuất tinh thần Đó là phương pháp duy vật khoa học Không dừng lại ởđây, Mác tiếp tục nghiên cứu quan hệ sản xuất, coi đó là cơ sở quan trọng nhất xác định cơ cấu giai cấp trong một xã hộinhất định Mác cũng tiếp tục nghiên cứu yếu tố thứ ba là kiến trúc thượng tầng Từ đây Mác đã vạch ra quy luật vận độngcủa kiến trúc thượng tầng của đời sống tinh thần và sự tác động của nó đối với đời sống xã hội

Như vậy, việc tiếp cận lịch sử của Mác đi từ lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất đến kiến trúc thượng tầng vàquy luật vận động giữa chúng bằng lý luận hình thái kinh tế - xã hội có giá trị khoa học triết học to lớn không thể phủnhận

b Vai trò phương pháp luận của lý luận hình thái kinh tế - xã hội

Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở phương pháp luận của khoa học xã hội, là hòn đá tảng chomọi nghiên cứu về xã hội, và do đó là nền tảng lý luận của chủ nghĩa xã hội khoa học

Học thuyết Mác về hình thái kinh tế - xã hội lần đầu tiên cung cấp những tiêu chuẩn thực sự duy vật khoa họccho việc phân kỳ lịch sử, giúp con người hiểu được lôgíc khách quan của quá trình tiến hoá xã hội Học thuyết này vạch

ra sự thống nhất của lịch sử trong cái muôn vẻ của các sự kiện ở các nước khác nhau trong các thời kỳ khác nhau Chính

vì thế, nó đem lại cho khoa học xã hội sợi dây dẫn đường để phát hiện ra những mối liên hệ nhân quả để giải thích chứkhông chỉ mô tả các sự kiện lịch sử Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác là cơ sở khoa học để tiếp cận đúng đắnkhi giải quyết những vấn đề cơ bản của các ngành khoa học xã hội rất đa dạng Bất kỳ một hiện tượng xã hội nào, từ hiệntượng kinh tế đến hiện tượng tinh thần, đều chỉ có thể được hiểu đúng đắn khi gắn với một hình thái kinh tế - xã hội nhấtđịnh

Phạm trù hình thái kinh tế - xã hội đem lại những nguyên tắc phương pháp luận xuất phát để nghiên cứu xã hội,loại bỏ đi cái bề ngoài, cái ngẫu nhiên, không đi vào cái chi tiết, vượt ra khỏi tri thức kinh nghiệm hoặc xã hội học mô

tả, mà đi sâu, vạch ra cái bản chất ổn định từ cái phong phú của hiện tượng, vạch ra cái lôgíc bên trong của tính nhiều vẻcủa lịch sử

Cách tiếp cận hình thái kinh tế - xã hội vẫn có ý nghĩa phương pháp luận triết học lớn Gần đây, một số nhà xãhội học phương Tây đề cao cách tiếp cận lý thuyết các nền văn minh Cách tiếp cận này thường không chú ý đến bảnchất, nguồn gốc, các động lực của sự vận động phát triển, bỏ qua vai trò của quan hệ sản xuất, đấu tranh giai cấp nên đãdẫn đến cách tiếp cận chủ quan, siêu hình đối với lịch sử

II NHẬN THỨC VỀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

1 Dự báo của C.Mác và V.I Lênin về chủ nghĩa xã hội

a C.Mác vận dụng lý luận hình thái kinh tế – xã hội trong việc phân tích xã hội tư bản và dự báo về sự ra đời của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

Trong hàng loạt tác phẩm nổi tiếng của mình, đặc biệt trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”,

“Chống Đuyrinh”…C.Mác và Ph.Ăngghen đã khẳng định sự ra đời của chủ nghĩa tư bản là một giai đoạn mới trong lịch

sử phát triển nhân loại Các ông đã chỉ rõ : chủ nghĩa tư bản đã tạo ra bước phát triển nhanh chóng của lực lượng sảnxuất Trong chủ nghĩa tư bản, lực lượng sản xuất ngày càng được cơ khí hoá, hiện đại hoá ngày càng mang tính xã hộihoá cao Nhưng quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa ngày càng trởthành vật chướng ngại đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá của lực lượngsản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa đối với tư liệu sản xuất trở thành mâu thuẫn kinh tế cơ bản của

36

Trang 36

chủ nghĩa tư bản Mâu thuẫn này làm tăng mâu thuẫn xã hội giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động với giai cấp tưsản Cuộc đấu tranh giai cấp công nhân chống giai cấp tư sản ngày càng quyết liệt Đại công nghiệp cơ khí làm cho giaicấp công nhân không ngừng trưởng thành về số lượng và chất lượng Họ là lực lượng cách mạng, lực lượng lãnh đạocách mạng lật đổ chủ nghĩa tư bản Giai cấp tư sản không chỉ tạo ra vũ khí để giết mình mà còn sinh ra những người sửdụng vũ khí ấy, những người công nhân hiện đại, những người vô sản.

C Mác đã có những dự báo về sự ra đời của chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản Mác - Ăngghen cho rằng :

- Hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa phát triển từ thấp đến cao từ giai đoạn xã hội chủ nghĩa lên giaiđoạn cộng sản chủ nghĩa Đối với chủ nghĩa xã hội thì thực hiện nguyên tắc : “Làm theo năng lực, hưởng theo lao động”còn ở chủ nghĩa cộng sản thì có nguyên tắc “Làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”

- Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội xã hội chủ nghĩa có một thời kỳ quá độ từ xã hội nọ sang xã hội kia Xãhội ở thời kỳ quá độ còn mang dấu vết của xã hội cũ, là xã hội chưa phát triển trên cơ sở của chính nó Do đó, thời kỳquá độ là thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội nọ sang xã hội kia

- Công cụ để thực hiện sự cải biến đó là nhà nước chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản (nhà nước chuyênchính vô sản)

- Đó là thời kỳ loại bỏ dần cái cũ, xây dựng và củng cố dần cái mới, là thời kỳ tạo ra những tiền đề vật chất, tinhthần để hình thành một xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản

b V.I.Lênin kế thừa và phát triển tư tưởng của C.Mác trong việc phân tích xã hội tư bản và dự báo về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản.

Lênin là người kế tục trực tiếp sự nghiệp của Mác - Ăngghen và có những phát triển lý luận từ các sự báo mà cácông đã nêu ra Lênin sống và hoạt động ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX lúc này, chủ nghĩa tư bản tự do cạnhtranh đã trở thành chủ nghĩa tư bản độc quyền Lênin đã phân tích sâu sắc chủ nghĩa tư bản độc quyền và dự báo rằngcách mạng vô sản có thể thắng lợi ở một số nước tư bản chủ nghĩa, thậm chí ở một nước

Lênin, trong khi chuẩn bị viết tác phẩm “Nhà nước và cách mạng”, đã làm một tập bút ký nhan đề : “Chủ nghĩa Mác và vấn đề nhà nước” ở tập bút ký này, Lênin có xác định vị trí của thời kỳ quá độ trong quá trình hình thành hình

thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa như sau :

I.Những cơn đau đẻ kéo dàì

II Giai đoạn đầu của xã hội cộng sản chủ nghĩa

III Giai đoạn cao của xã hội cộng sản chủ nghĩa

Lênin còn chỉ rõ : đối với các nước chưa có chủ nghĩa tư bản phát triển cao thì cần phải có một thời kỳ quá độkhá lâu dài từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội Lênin đã nêu ra quan điểm về hai hình thức quá độ lên chủ nghĩa xãhội : quá độ trực tiếp và quá độ gián tiếp ở những nước lạc hậu chỉ có thể đi lên chủ nghĩa xã hội bằng qúa độ gián tiếp.Đối với những nước thực hiện quá độ lên chủ nghĩa xã hội theo con đường quá độ bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa thìtheo Lênin, những nước này phải trải qua nhiều bước trung gian, quá độ mới có thể xây dựng thành công chủ nghĩa xãhội

2 Những biểu hiện mới của thời đại và vấn đề quá độ lên chủ nghĩa xã hội

a Sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội theo mô hình kế hoạch hoá tập trung; sự phát triển của chủ nghĩa tư bản vai trò của nó.

- Sự khủng hoảng và sụp đổ của chủ nghĩa xã hội theo mô hình kế hoạch hoá tập trung :

Cùng với những thành tựu triết học lớn và toàn diện đã đạt được, chủ nghĩa xã hội hiện thực hơn bảy thập kỷ xâydựng cũng vấp phải nhiều sai lầm và khuyết điểm Từ thập niên 70 đã phát hiện ra sự trì trệ ở Liên Xô và nhiều nước xãhội chủ nghĩa khác theo mô hình Xô viết, rõ nhất trong lĩnh vực kinh tế và quản lý kinh tế- xã hội Trì trệ kéo dài vàchậm đổi mới và khi đổi mới thì sai lầm về chính trị về kinh tế, văn hoá đã làm cho chủ nghĩa xã hội hiện thực ở Liên Xô

và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lâm vào khủng hoảng, tan rã Cuộc khủng hoảng của chủ nghĩa xã hội hiệnthực, xét trên tính phổ biến của nó là cuộc khủng hoảng về mô hình phát triển Xét về mặt kinh tế, đó là một nền kinh tế

kế hoạch hoá, tập trung, quan liêu, không chú trọng đến nền kinh tế hàng hoá và quy luật giá trị, đó là nền kinh tế dựatrên cơ chế bao cấp và phương thức phân phối bình quân, kỹ thuật, công nghệ chậm đổi mới Xét về mặt chính trị, hệthống tổ chức bộ máy cồng kềnh, quan liêu, xa dân, kém hiệu quả, thủ tiêu vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản, vi phạm

Trang 37

quyền làm chủ của nhân dân lao động Về văn hoá xã hội, hệ tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin ngày càng bị phai mờ,

xã hội thiếu kỷ cương, đời sống vật chất tinh thần của người dân rất thấp tạo ra sự bất bình gây mất ổn định xã hội…

Sự khủng hoảng, tan rã của chủ nghĩa xã hội hiện thực là sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội kế hoạch hoá,tập trung Đó là sự cảnh tỉnh đối với những nước tiếp tục con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, đặt ra câu hỏi cho các nướcnày tiếp tục đi theo con đường chủ nghĩa xã hội phải tìm ra những mô hình mới phù hợp với thực tiễn thì mới thànhcông

- Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản và vai trò của nó :

Có thể nói rằng, chưa bao giờ nhân loại lại chứng kiến nhiều biến đổi quan trọng của chủ nghĩa tư bản như hiệnnay Những biến đổi ấy đang diễn ra ở nhiều bình diện cùng một lúc hoặc gần như thế Những biến đổi về kỹ thuật –công nghệ của nó đi đôi với những biến đổi về tổ chức quản lý; những biến đổi trong mỗi doanh nghiệp gắn liền với biếnđổi về phạm vi của chúng theo hướng khu vực hoá và toàn cầu hoá; những biến đổi về cơ cấu sở hữu và lao động trongnền kinh tế tư bản chủ nghĩa hiện đại… Những biến đổi này và nhiều thay đổi khác đã làm cho bộ mặt của chủ nghĩa tưbản hiện đại không những khác với bộ mặt của thế kỷ trước mà còn khác với nửa cuối thế kỷ XX

Có thể nói, trình độ phát triển kinh tế mà chủ nghĩa tư bản tạo ra, phương pháp điều khiển xã hội đã và đang chophép chủ nghĩa tư bản tránh được hoặc hạn chế sự gia tăng bất mãn và phản kháng, đem lại cho chủ nghĩa tư bản những

vũ khí mới để chống lại chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa tư bản với tiềm lực vốn có và với ưu thế hiện nay, luôn tìm cáchchống lại chủ nghĩa xã hội Đó là những nguy cơ, đồng thời là những thách thức lớn mà chủ nghĩa xã hội phải đươngđầu, không thể mơ hồ

b Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với việc hình thành lực lượng sản xuất hiện đại; tính quốc tế của lực lượng sản xuất với quá trình toàn cầu hoá, sự hình thành và phát triển nền kinh tế tri thức.

Từ giữa thập kỷ 70, thế giới diễn ra những biến đổi nhanh chóng về kinh tế trên quy mô toàn cầu Đặc trưng baotrùm thế giới ngày nay là trí tuệ đóng vai trò trung tâm Nền kinh tế chuyển sang nền kinh tế tri thức với lao động chấtxám - trí thức và tay nghề cao trở thành yếu tố quyết định Cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại chỉ trong một thờigian ngắn tạo ra sự biến đổi của thế giới Cuộc cách mạng này làm cho đối tượng lao động truyền thống như đất đai,nguyên liệu, năng lượng,… giảm dần vai trò và mất dần ưu thế cạnh tranh Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đã trựctiếp tạo ra sự phát triển nhanh chóng của lực lượng sản xuất hiện đại trên quy mô toàn cầu Nét nổi bật của thế giới ngàynay là đời sống kinh tế ngày càng quốc tế hoá cao độ, mạng lưới sản xuất và thông tin được toàn cầu hoá, thị trường thếgiới trở thành thị trường duy nhất Do trình độ phát triển rất chênh lệch của nền kinh tế của các nước nên đã hình thànhnền kinh tế với ba cấp phân công lao động quốc tế:

Nền kinh tế phát triển cao ( Mỹ, Nhật, Anh… )

Nền kinh tế của các nước công nghiệp hoá ( NIES)

Nền kinh tế của các nước công nghiệp lạc hậu trong thế giới thứ ba

Sự phân công lao động quốc tế đã tạo ra sự phụ thuộc lẫn nhau đồng thời kiềm chế lẫn nhau giữa các nền kinh tếcủa các quốc gia Toàn cầu hoá về kinh tế cũng tạo ra sự phân hoá giàu nghèo sâu sắc giữa các quốc gia, tạo ra sự mất ổnđịnh chính trị, kinh tế trên toàn thế giới

c Qúa độ lên chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản với tính cách là một hình thái kinh tế - xã hội cao hơn chủ nghĩa tư bản là một xu hướng của thời đại

Mặc dù cuối thế kỷ XX đã xảy ra cuộc khủng hoảng và thoái trào tạm thời của chủ nghĩa xã hội nhưng quá độ tớichủ nghĩa xã hội vẫn là xu hướng của thời đại Sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu không có nghĩa

là sự sụp đổ chủ nghĩa xã hội với tính cách là một xu hướng phát triển tất yếu của xã hội, của một học thuyết cách mạng

và khoa học vạch đường cho sự giải phóng hoàn toàn giai cấp công nhân, nhân dân lao động các dân tộc bị áp bức và giảiphóng con người Sự sụp đổ ấy cũng không phải là sự sụp đổ của phong trào xã hội chủ nghĩa Chủ nghĩa xã hội vẫnđang tồn tại ở những nước đã đứng vững trong cơn thử thách vừa qua với trên một tỷ người trên trái đất Cuộc đấu tranhcho giá trị và lý tưởng xã hội chủ nghĩa vẫn phát triển ở mọi nơi ngay cả ở Liên Xô cũ và Đông Âu

Đối với hàng loạt nước dân tộc chủ nghĩa thì thời kỳ hiện nay là lúc khẳng định mạnh mẽ ý thức độc lập dân tộc,chủ quyền quốc gia, tích cực tham gia vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, dân chủ, tiến bộ xã hội… Cuộc đấu tranh của họgóp phần làm suy yếu chủ nghĩa tư bản, làm tăng theo những ảnh hưởng tích cực của chủ nghĩa xã hội

38

Trang 38

ở các nước tư bản phát triển, những mâu thuẫn kinh tế, xã hội vẫn không bị triệt tiêu Tại đây, phong trào đấutranh của công nhân và nhân dân lao động vẫn liên tục diễn ra Những bất công xã hội, những tội ác của giai cấp tư sảnvới dân tộc, quốc gia không thể chấp nhận được, đòi hỏi phải phủ định chủ nghĩa tư bản.

Như vậy, quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong thời đại hiện nay là một tất yếu lịch sử

III QUÁ ĐỘ LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

1 Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Sự vận dụng sáng tạo lý luận hình thái kinh tế - xã hội vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam

a Quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.

Từ hình thái kinh tế - xã hội này chuyển sang hình thái kinh tế - xã hội khác có một giai đoạn lịch sử chuyển tiếpvới độ dài, ngắn khác nhau, kết cấu và hình thức biểu hiện khác nhau, đó là thời kỳ quá độ C.Mác đã nêu một luận điểmrất quan trọng : “Một xã hội, ngay cả khi đã phát hiện được quy luật tự nhiên của sự vận động của nó, … cũng không thểnào nhảy qua các giai đoạn phát triển tự nhiên hay dùng sắc lệnh để xoá bỏ những giai đoạn đó Nhưng nó có thể rútngắn và làm dịu bớt được những cơn đau đẻ”

Như vậy, khi đã xuất hiện những điều kiện khách quan mới thì việc nhảy qua một giai đoạn phát triển nào đó lạiđược đặt ra và có khả năng thực hiện, do đó có thể rút ngắn và làm dịu bớt những cơn đau đẻ Lênin đã nêu nên khả năngkhông phải trải qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa để tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội đối với các nước lạc hậu.Lênin chỉ ra rằng, trong những điều kiện nhất định, con đường phát triển của các dân tộc tiền tư bản chủ nghĩa khôngnhất thiết phải diễn ra tuần tự như lịch sử sinh thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản mà các nước tư bản đã từng trảiqua

Lịch sử cho thấy, có những điều kiện khách quan và chủ quan, bên trong và bên ngoài chi phối đã bỏ qua mộthình thái kinh tế – xã hội nào đó trong tiến trình phát triển của mình Chẳng hạn ở một số nước (Italia, Pháp, Tây BaNha…) chế độ phong kiến đã bắt đầu hình thành trong lòng chế độ chiếm hữu nô lệ, nhưng ở một số nước khác(Nga,Balan, Đức), chế độ, phong kiến ra đời không phải từ chế độ chiếm hữu nô lệ; ở Mĩ, chủ nghĩa tư bản hình thành trongđiều kiện xã hội không trải qua chế độ phong kiến

Trong thời đại ngày nay, việc bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa của sự phát triển lịch sử là khả năng khách quan.Song, không phải cứ có điều kiện, khả năng khách quan thì bất cứ nước nào cũng biến thành hiện thực việc bỏ qua đó.Việc bỏ qua một giai đoạn lịch sử của sự phát triển đối với một nước nào đó, có được hay không còn phụ thuộc vào nănglực giải quyết phép biện chứng của điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan ở nước đó quy định Các nước thực hiệnquá độ lên chủ nghĩa xã hội dưới hình thức khác nhau là do trình độ xuất phát khác nhau Có thể khái quát thành ba loạinước ứng với ba kiểu quá độ :

Một là, Những nước tư bản chủ nghĩa phát triển cao.

Hai là, Những nước trình độ phát triển tư bản chủ nghĩa ở mức trung bình.

Ba là, Những nước chưa trải qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa của sự phát triển Việt Nam thuộc loại nước thứ 3.

b Vấn đề “ bỏ qua”chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam.

Việt Nam đi theo con đường chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa là một tấtyếu lịch sử

Sau đại thắng mùa xuân 1975, cả nước ta bước vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội Sự kết hợp những nhân

tố bên trong và bên ngoài đã tạo ra khả năng cho phép chúng ta bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa để tiến lên chủ nghĩa xãhội Các nhân tố bên trong: những nhân tố chính trị, kinh tế, văn hoá ở nước ta đều phát triển theo định hướng xã hội chủnghĩa Các nhân tố bên ngoài : chúng ta đang sống trong thời kỳ quá độ từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội trênphạm vi toàn thế giới mở đầu bằng Cách mạng chủ nghĩa xã hội Tháng Mười Nga (1917) vĩ đại, cuộc cách mạng khoahọc và công nghệ với những thời cơ, thách thức lớn với các nước; được sự giúp đỡ của những nước chủ nghĩa xã hội anh

em cũng như sự giúp đỡ của nhân dân tiến bộ trên thế giới…

Điểm xuất phát của Việt Nam quá độ lên chủ nghĩa xã hội

Trang 39

Ở Việt nam, trình độ lực lượng sản xuất thấp, năng lực tổ chức, quản lý thấp, kinh tế sản xuất nhỏ là phổ biến vàgắn liền là tư tưởng tiểu tư sản Trên nhiều phương diện, ở nước ta hiện nay có sự đan xen, thâm nhập lẫn nhau của nhiềuyếu tố và khuynh hướng khác nhau, đối lập nhau.

Cần khắc phục quan niệm : “bỏ qua” chủ nghĩa tư bản một cách giản đơn Chúng ta phải khai thác sử dụng tối đachủ nghĩa tư bản là “khâu trung gian” để chuyển nền sản xuất nhỏ lên chủ nghĩa xã hội như Lênin đã chỉ ra

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng đã khởi xướng công cuộc đổi mới đất nước nhằm tìm raphương thức, con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội có hiệu quả hơn Qua 20 năm đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiềuthành tựu triết học lớn trên nhiều phương diện Về lý luận : con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng được làm sáng

tỏ hơn Về thực tiễn, các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá đều phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đặc biệt chủtrương phát triển kinh tế nhiều thành phần với việc sử dụng những hình thái kinh tế trung gian mà Đại hội Đảng VI đãchỉ ra Các Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, VIII, IX đã cụ thể hơn chủ trương này Điều đó đã góp phần rất to lớnvào công việc thực hiện thành công quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam

2 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là nhiệm vụ trọng tâm của thời kỳ quá độ Sự vận dụng lý luận hình thái kinh tế - xã hội trong sự nghiệp xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin cho rằng, mỗi chế độ xã hội đều có một cơ sở vật chất - kỹ thuậttương ứng, phản ánh trình độ phát triển kinh tế - kỹ thuật của nó Đặc trưng cho cơ sở vật chất - kỹ thuật của các xã hộitiền tư bản chủ nghĩa là công cụ thủ công Cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản là đại công nghiệp cơ khí Xã hội

xã hội chủ nghĩa nảy sinh với tính cách là phủ định biện chứng chủ nghĩa tư bản, thì cơ sở vật chất của chủ nghĩa xã hộinhất thiết phải là nền đại công nghiệp phát triển và hoàn thiệt trên một trình độ cao của nó Khi bước vào thời kỳ quá độtiến lên chủ nghĩa xã hội, cái thiếu nhất ở nước ta là nền đại công nghiệp Cho nên tiến hành công nghiệp hoá, hiện đạihoá đất nước là nhiệm vụ trung tâm ở thời kỳ quá độ Trong tình hình hiện nay, chúng ta tất yếu phải kết hợp côngnghiệp hoá với hiện đại hoá thì mới tránh khỏi tụt hậu với các nước có nền kinh tế hiện đại hoá

Công nghiệp hoá ở Việt Nam được bắt đầu rất sớm, từ năm 1960 Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (1960) chỉ

rõ : Muốn cải biến tình trạng lạc hậu hiện nay ở nước ta, đưa nước ta từ chế độ sản xuất nhỏ là chủ yếu lên chế độ sảnxuất lớn xã hội chủ nghĩa, chúng ta không có con đường nào khác ngoài con đường công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa

Từ 1960 - 1985, việc tiến hành công nghiệp hoá đã đạt được những kết qủa nhất định Cơ sở vật chất kỹ thuật của nềnkinh tế được nâng lên một bước rõ rệt Nhưng công nghiệp hoá thời kỳ 1960 - 1985 cũng bộc lộ nhiều hạn chế Đại hội

VI (1986) đã nêu ra những sai lầm, thiếu sót trong chỉ đạo phát triển kinh tế nói chung và công nghiệp hoá nói riêng Đạihội VI chỉ rõ : trong những năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế, xã hội, tiếp tụcxây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo Đạihội VIII (1996) của Đảng xác định rõ : giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới -đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và từ nay đến 2020 ra sức phấn đấu đưa nước ta cơ bản trở thành nướccông nghiệp Đại hội IX (2001) của Đảng cũng nhấn mạnh rõ chủ trương này

Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta là : Xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ

sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng nâng cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh,

xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Về con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta : Cần và có thể rút ngắn thời gian so với các nước đitrước, về kinh tế và công nghiệp phải vừa có những bước đi tuần tự, vừa có bước nhảy vọt, phát huy lợi thế của đất nước,gắn công nghiệp hoá với hiện đại hoá, từng bước phát triển kinh tế Phát huy nguồn lực trí tuệ và sức mạnh tinh thần củacon người Việt Nam, coi trọng phát triển giáo dục và đào tạo Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải đảm bảo xâydựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nhanh có hiệu quả và bền vững, chuyểndịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

3 Kết hợp giữa phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội

40

Trang 40

Học thuyết hình thái kinh tế - xã hội của Mác chỉ rõ: Phương thức sản xuất là cách thức mà con người ta tiếnhành sản xuất, chính sự thống nhất giữa lực lượng sản xuất ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng Máccòn làm rõ quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Khi bước vào thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội, trình độ của lực lượng sản xuất ở nước ta rất thấp kém.Cho nên, Đảng và Nhà nước ta chủ trương kết hợp giữa phát triển lực lượng sản xuất với xây dựng quan hệ sản xuất phùhợp Sự kết hợp này ở nước ta hiện nay là một tất yếu

“Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội”(6- 1991) nêu ra 7 phương hướng,trong đó có phương hướng : phải phát triển lực lượng sản xuất, thực hiện công nghiệp hoá đất nước theo hướng hiện đạihoá gắn liền với phát triển nông nghiệp toàn diện là nhiệm vụ trung tâm nhằm từng bước xây dựng cơ sở vật chất, kỹthuật của chủ nghĩa xã hội, không ngừng nâng cao năng suất lao động xã hội và cải thiện đời sống nhân dân, phù hợp với

sự phát triển của lực lượng sản xuất, từng bước thiết lập quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa từ thấp đến cao với sự đadạng về hình thức sở hữu, phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo

cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng kinh tếquốc dân, thực hiện nhiều hình thức phân phối, chủ yếu là phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế

Định hướng phát triển lực lượng sản xuất ở nước ta hiện nay thực chất là định hướng quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội Thực chất của định hướng trong xây dựng quan hệsản xuất ở thời kỳ quá độ ở nước ta làm cho nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần có tác động tối đa đến sự phát triểnmạnh mẽ của các lực lượng sản xuất, làm cho các quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa càng có vai trò chủ đạo và sẽ chiếm

ưu thế khi kết thúc thời kỳ quá độ

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII, VIII và IX của Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thànhphần là đúng với quy luật quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Thực hiện nền kinh tế nhiềuthành phần theo đường lối đổi mới của Đảng đã và đang khơi dậy tiềm năng của sản xuất, khơi dậy năng lực sáng tạo,chủ động của các chủ thể lao động trong sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy sản xuất phát triển

Nền kinh tế sản xuất hàng hoá, nhiều thành phần tự nó chứa đựng mâu thuẫn Có những thành phần kinh tế, vìlợi ích của mình có thể hoạt động theo hướng tư bản chủ nghĩa Thành phần kinh tế nhà nước và kinh tế hợp tác là nềntảng của nền kinh tế nhưng chưa thích nghi với cơ chế thị trường, làm ăn còn kém hiệu quả, nên ở đây diễn ra cuộc đấutranh “định hướng” gay gắt Vì vậy, để thực hiện được sự định hướng xã hội chủ nghĩa trong điều kiện nền kinh tế nhiềuthành phần thì việc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước giữ vai trò quyết định

4 Kết hợp giữa kinh tế với chính trị và mặt khác của đời sống xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa

xã hội

Xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển cao tạo tiền đề kinh tế - xã hội để cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng xãhội chủ nghĩa được tự giác hình thành sau khi cách mạng thành công Cơ sở hạ tầng xã hội chủ nghĩa được xây dựngbằng cách thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất Nó không tự phát ra đời trong chế độ tư bản chủ nghĩa, mà saukhi giành chính quyền, Nhà nước của giai cấp vô sản chủ động và tự giác thiết lập nên, coi đó là cơ sở kinh tế - xã hộicủa chế độ mới Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, việc xây dựng cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng phảiđược tiến hành từng bước với những hình thức, bước đi thích hợp

Ở nước ta, khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng mang tínhquá độ với một kết cấu kinh tế “đan xen”, trong đó kinh tế quốc doanh là chủ đạo và một kiến trúc thượng tầng kinh tếchính trị - xã hội đa dạng, phong phú dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trên thực tế, chúng ta chưa tạo lập được một

cơ sở kinh tế tương ứng với nó cho nên phải từng bước tạo lập, từng bước xoá bỏ những yếu kém làm nảy sinh mâuthuẫn đối kháng cả trong cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng

Quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng là quan hệ giữa kinh tế và chính trị trong đó kinh tế quyếtđịnh chính trị, chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế Vì vậy, khi vận dụng quan điểm biện chứng này phải xuấtphát từ kinh tế đồng thời phải coi trọng vai trò của chính trị, tăng tính năng động, sáng tạo của chính trị

Trong công cuộc đổi mới đất nước từ 1986 đến nay, Đảng ta đã tiến hành đổi mới kinh tế kết hợp với đổi mớichính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII đã tổng kết 6 kinh nghiệm chủ yếu, trong đó có kinh nghiệm : Kết hợpchặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi

Ngày đăng: 16/03/2017, 20:43

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w