Mặt khác, mỗi loại vật nuôi trong từng giai đoạn phát triển sinh lý lại có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau, chính vì thế mà ngành chế biến thức chăn nuôi phải tạo ra được được nhiều loại sả
Trang 1a Tính cấp thiết của đề tài
Theo thống kê từ Hiệp hội thức ăn chăn nuôi, Việt Nam phải nhập khẩu hơn 8 triệu tấn nguyên liệu với tổng kim ngạch trên 3 tỷ USD để sản xuất ra khoảng 15,5 triệu tấn thức ăn chăn nuôi Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thừa nhận, nguyên liệu thức ăn chăn nuôi là nhóm hàng có kim ngạch nhập khẩu lớn nhất trong các mặt hàng nông nghiệp… Từ cuối quý 2-2012 đến nay, giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng cao khiến chi phí đầu vào của ngành chăn nuôi leo thang, nhiều nông dân bị lỗ nặng khi giá gia súc, gia cầm không tăng Đối với các công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi, họ là một mắt xích trong chuỗi giá trị sản xuất thực phẩm toàn cầu Họ nhập khẩu hoặc thu gom các loại nông sản trong nội địa làm nguyên liệu đầu vào để chế biến thành thức ăn chăn nuôi, sau đó bán cho các hộ nông dân sử dụng làm thức ăn cho gia súc, gia cầm Tuy nhiên từ tháng 8 năm 2012, nguồn nguyên liệu từ các nhà cung cấp đến từ Ấn Độ, Hoa
Kỳ, Achentina, Trung Quốc, Braxin … bị giảm sản lượng do hạn hán, thiên tai, các vấn
đề đình công chưa giải quyết…khiến cho các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi
bị thiếu nguồn nguyên liệu đồng thầy đẩy giá nguyên liệu tăng cao
Trang 2Vấn đề cấp thiết ở đây được đặt ra cho các doanh nghiệp chế biến TACN là làm sao vẫn đảm bảo nguồn cung cho người dân, duy trì và nâng cao chất lượng sản phẩm; đồng thời hỗ trợ người dân đối phó với dịch bệnh và các kỹ thuật chăn nuôi hiện đại Chính vì tính cấp thiết này, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Giải pháp phát triển ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi giai đoạn 2013 -2020” nhằm đưa ra các giải pháp mang tính cấp bách, có ý nghĩa thực tiễn để áp dụng cho sự phát triển ngành sản xuất TACN
2 Mục đích, nội dung và phương pháp nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiện cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng các doanh nghiệp sản xuất TACN tại Việt Nam, tìm hiểu và phân tích các nhận tố ảnh hưởng đến sự phát triển của ngành Dựa vào các phân tích trên nhằm đưa ra các giải pháp phát triển ngành phù hợp với điều kiện hiện tại và thời gian tới
a Nội dung nghiên cứu của đề tài
Để thực hiện được các mục đích trên, cần tìm hiểu và thực hiện các vấn đề sau:
Tổng quan về ngành sản xuất TACN; phân tích một số yếu tố chính trong ngành
o Đặc điểm của ngành và sản phẩm
o Vai trò của ngành Thực trạng ngành chế biến thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam
o Cơ cấu và quy mô các doanh nghiệp sản xuất TACN
o Sản lượng và khả năng cung ứng thị trường
o Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành chế biến thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam Các giải pháp để phát triển ngành giai đoạn 2013-2020
b Phương pháp nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp quan sát, thu thập dữ liệu và phân tích thống kê các số liệu nhằm giải quyết các vấn đề sau:
Trang 3Dựa trên số liệu thống kê và số liệu điều tra, quan sát để phân tích thực trạng ngành chế biến thức ăn chăn nuôi
Dự báo nhu cầu về sản lượng nguyên liệu và sự biến động về giá
3 Tổng quan về đề tài nghiên cứu:
3.1 Giới tiệu chung về ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi;
Ngành chế biến thức ăn gia súc ở Việt Nam phát triển nhanh và mạnh từ đầu thập kỷ
90 đặc biệt từ năm 1994 đến nay Do tác động tích cực của chính sách đổi mới, khuyến khích đầu tư trong và ngoài nước nên các nhà kinh doanh đã phát triển mạnh vào ngành công nghiệp này Đến đầu thế kỷ 20, khoa học chế biến thức ăn chăn nuôi mới hình thành và phát triển một cách nhanh chóng cùng với sự phát triển không ngừng của khoa học kỹ thuật Mục tiêu của quá trình sản xuất là tạo ra những sản phẩm có chất lượng, đầy đủ chất dinh dưỡng cho vật nuôi mà thức ăn đơn không thể đáp ứng được Mặt khác, mỗi loại vật nuôi trong từng giai đoạn phát triển sinh lý lại có nhu cầu dinh dưỡng khác nhau, chính vì thế mà ngành chế biến thức chăn nuôi phải tạo ra được được nhiều loại sản phẩm phù hợp cho từng loại gia súc, phù hợp với từng thời kỳ phát triển sinh lý của vật nuôi
Sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp đã tăng đáng kể Năm 1992, tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi mới đạt 65.000 tấn Đến năm 2000 đạt 2.7.00.000 tấn và 2004 đạt 3.400.000 tấn đạt mức độ tăng trưởng bình quân 33,9% năm Tỷ lệ thức ăn chăn nuôi công nghiệp với tổng nhu cầu về lượng thức ăn cho vật nuôi cũng tăng đáng kể, nếu năm 1992 tỷ lệ này mới chỉ đạt 1.2% thì đến năm 1995 con số đã là 13% và năm 2003 vươn lên trên 30% Nhu cầu về thức ăn công nghiệp cho gia súc tăng bình quân 10-15% mỗi năm và năm 2003 đang ở mức xấp xỉ trên 8 triệu tấn Trong khi sản lương thức ăn hiện mới chỉ đạt trên 3 triệu tấn/năm do vậy mới đáp ứng được khoảng 32-35% nhu cầu Như vậy, tiềm năng phát triển ngành thức ăn công nghiệp là rất lớn Chính vì vậy, những năm qua ngành thức ăn công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi phát triển mạnh cả về số lượng nhà máy cũng như chủng loại thức ăn
Trang 4Hiện tại cả nước có 225 nhà máy và xưởng sản xuất sản xuất chế biến thức ăn gia súc, trong đó các công ty 100% vốn nước ngoài nắm giữ 60-70% thị phần (Nguồn: Cục chăn nuôi)
Hiện nay sản xuất thức ăn công nghiệp cho gia súc, gia cầm ước đạt gần 6 triệu tấn (5 triệu tấn thức ăn hỗn hợp và 800 nghìn tấn thức ăn đậm đặc) Thức ăn chế biến cho nuôi trồng thủy sản ước đạt gần 2,4 triệu tấn trên tổng chi phí gần 18 triệu tấn thức ăn Thức ăn chế biến công nghiệp chiếm xấp xỉ 50% Nhìn chung trong gần 20 năm mở cửa, nền công nghiệp thức ăn chăn nuôi Việt Nam được khởi sắc, tiếp cận nền khoa học, sản xuất, kinh doanh của thế giới góp phần đáng kể đưa năng suất, chất lượng vật nuôi lên cao, giảm giá thành sản xuất Tuy nhiên còn những tồn tại cần nhìn thẳng sự thật để khắc phục trong thời gian tới mới có thể xây dựng nền chăn nuôi bền vững
3.2 Vai trò và đặc điểm của ngành chế biến thức ăn chăn nuôi
Ngành chăn nuôi là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm năng phát triển
và phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội Ngành chế biến thức ăn chăn nuôi đóng một vai trò quan trọng thể hiện ở một số mặt chủ yếu sau:
Sản phẩm thức ăn chăn nuôi là nhân tố chính quyết định đến hiệu quả sản xuất chăn nuôi
Sự phát triển ngành chế biến thức ăn chăn nuôi góp phần thúc đẩy sự chuyển dịch
cơ cấu nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ngành chế biến thức ăn chăn nuôi là ngành công nghiệp có khả năng thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước với số lượng lớn
Sự phát triển ngành chế biến thức ăn chăn nuôi còn ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và sức khoẻ cộng đồng
Mỗi ngành có những đặc điểm đặc trưng Đối với ngành sản xuất TACN cũng có những đặc điểm như sau:
Các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi phải chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với sản phẩm hàng hóa do mình sản xuất, trong đó Bộ Nông nghiệp và
Trang 5Phát triển nông thôn là cơ quan Nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ hoạt động của ngành từ khâu cấp phép sản xuất kinh doanh đến khâu quản lý chất lượng, phân phối và tiêu thụ sản phẩm
Ngành chế biến thức chăn nuôi là ngành công nghiệp hỗ trợ cho ngành chăn nuôi, nguồn nguyên liệu chủ yếu là sản phẩm từ ngành sản xuất nông nghiệp, ngành thủy sản, ngành dược phẩm, do vậy nó tác động và chịu sự tác động rất lớn từ các ngành sản xuất khác
Sản phẩm của ngành chế biến thức ăn chăn nuôi bao gồm các loại thức ăn công nghiệp phục vụ cho ngành chăn nuôi và là nhân tố chính ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ vật nuôi, giá thành sản phẩm chăn nuôi, và chất lượng dinh dưỡng của sản phẩm chăn nuôi
3.3 Đặc điểm các sản phẩm thức ăn chăn nuôi
Thức ăn chăn nuôi công nghiệp là một tiến bộ kỹ thuật của ngành chăn nuôi bởi chúng đáp ứng tốt nhất nhu cầu dinh dưỡng cho vật nuôi, giúp tăng trưởng nhanh chóng, thức
ăn được sử dụng tiết kiệm và bảo quản tốt hơn Từ đó có thể rút ngắn chu kỳ chăn nuôi, tạo điều kiện phát triển chăn nuôi với qui mô lớn và mang lại hiệu quả kinh tế cao Nguồn gốc các loại thức ăn chăn nuôi:
- Thức ăn tự nhiên: gồm các loại thực vật và động vật làm thức ăn cho gia cầm chăn thả tự nhiên
- Thức ăn được chế biến: hoạt động chế biến thưc ăn chăn nuôi đảm bảo thức ăn cung cấp đầy đủ các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho vật nuôi nhằm góp phần tăng năng suất
- Thức ăn sản xuất từ trồng trọt: gồm các loại rau xanh, các loại bèo, , các sản phẩm chính của trồng trọt có chất lượng thấp không dùng cho người
Trong ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi, sản phẩm thức ăn chăn nuôi gồm 2 loại là thức ăn hỗn hợp và thức ăn đậm đặc
Trang 6Thức ăn chăn nuôi đậm đặc: là loại thức ăn hỗn hợp của 3 nhóm dinh dưỡng chính Protein, khoáng và vitamin với hàm lượng cao Ngoài ra còn được bổ sung thêm các thành phần khác như cám gạo, bột ngô, bột sắn…theo tỷ lệ thích hợp với từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của vật nuôi
Thức ăn chăn nuôi hỗn hợp: là loại thức ăn mang tính cân bằng các chất dinh dưỡng cho vật nuôi Loại thức ăn này đảm bảo sự duy trì đời sống và sức sản xuất của vật nuôi Người chăn nuôi sẽ không phải sử dụng thêm các loại thức ăn khác
3.4 Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
Đã có nhiều báo cáo của Bộ NN&PTNT, cục chăn nuôi, cục khuyến nông và các ban ngành liên quan đưa ra các số liệu báo cáo tình chăn nuôi, thực trạng ngành chăn nuôi trong thời gian qua Bên cạnh đó có một số giải pháp, 1 số nghiên cứu đưa ra mang tính cấp bách trong từng giai đoạn nhưng hiện tại vẫn chưa có nghiên cứu, giải pháp nào đánh giá thực trạng hiện tại ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi trong năm 2012 và định hướng phát triển trong năm 2013 – 2020 Do vậy, nội dung luận văn này là cơ sở
để đánh giá thực trạng hiện tại ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi, từ đó đưa ra các giải pháp phát triển trong thời gian tới
4 Kết cấu của luận văn
Chương 1: Cơ sở lý luận về thị trường và phát triển thị trường thức ăn chăn nuôi
Chương 2: Thực trạng ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi
Chương 3: Giải pháp phát triển ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam giai đoạn 2013 - 2020
Trang 7CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỊ TRƯỜNG VÀ PHÁT TRIỂN THỊ
TRƯỜNG THỨC ĂN CHĂN NUÔI 1.1 Cơ sở lý luận về thị trường và phát triển thị trường sản xuất thức ăn chăn nuôi
1.1.1 Khái niệm thức ăn chăn nuôi
Theo tiêu chuẩn về quy định một số thuật ngữ và định nghĩa liên quan đến thức
ăn chăn nuôi được ban hành kèm theo Quyết định số 4099/QĐ/BNN-KHCN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thức ăn chăn nuôi được định nghĩa là những sản phẩm mà vật nuôi ăn, uống ở dạng tươi sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản
Hình 1.1: Mô hình thức ăn chăn nuôi
THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Thức ăn thô xanh
Thức ăn tinh bột giàu dinh dưỡng
Thức ăn bổ sung protein
Thức ăn bổ sung
Các chất phụ gia
Các loại khác
Trang 8Thức ăn chăn nuôi là sản phẩm từ tự nhiên và hoạt động của con người Cùng với nhu cầu ngày càng tăng lên về sản phẩm từ chăn nuôi, ngành chăn nuôi ngày càng phát triển Các sản phẩm từ chăn nuôi như thịt, trứng, sữa … không ngừng đáp ứng nhu cầu tiêu dùng hằng ngày của người dân mà còn là nguyên liệu quý cho ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, dược liệu và còn có vai trò quan trọng trong xuất khẩu Chính vì vậy, nguồn cung cấp cho ngành thức ăn chăn nuôi ngày một đa dạng Người
ta không những sử dụng nguồn thức ăn từ động vật mà còn sử dụng cả các nguồn thức
ăn động vật, vi sinh vật, khoáng chất, vitamin và các loại thức ăn tổng hợp khác Do
đó, khái niệm thức ăn chăn nuôi được định nghĩa: Thức ăn chăn nuôi là những sản phẩm được pha trộn, chế biến và bảo quản từ thực vật, động vật, khoáng, vitamin và một số chất khác nhằm cung cáp dinh dưỡng cho vật nuôi
Thức ăn chăn nuôi công nghiệp là một tiến bộ kỹ thuật của ngành chăn nuôi bởi chúng đáp ứng tốt nhất nhu cầu dinh dưỡng cho vật nuôi, giúp tăng trưởng nhanh chóng, thức ăn được sử dụng tiết kiệm và bảo quản tốt hơn Từ đó có thể rút ngắn chu
kỳ chăn nuôi, tạo điều kiện phát triển chăn nuôi với qui mô lớn và mang lại hiệu quả kinh tế cao
Nguồn gốc các loại thức ăn chăn nuôi:
- Thức ăn tự nhiên: gồm các loại thực vật và động vật làm thức ăn cho gia cầm chăn thả tự nhiên
- Thức ăn được chế biến: hoạt động chế biến thưc ăn chăn nuôi đảm bảo thức
ăn cung cấp đầy đủ các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho vật nuôi nhằm góp phần tăng năng suất
- Thức ăn sản xuất từ trồng trọt: gồm các loại rau xanh, các loại bèo, các sản phẩm chính của trồng trọt có chất lượng thấp không dùng cho người
Thức ăn chăn công nghiệp là sản phẩm đã qua chế biến có nguồn gốc thực vật, động vật, vi sinh vật, hoá chất, khoáng chất cung cấp cho vật nuôi các chất dinh dưỡng
Trang 9để đảm bảo cho hoạt động sống, sinh trưởng, phát triển và sinh sản Người ta thường phân chia thức ăn công nghiệp thành hai loại chính như sau:
Thức ăn chăn nuôi đậm đặc:
Là loại thức ăn hỗn hợp của 3 nhóm dinh dưỡng chính Protein, khoáng và vitamin với hàm lượng cao Ngoài ra còn được bổ sung thêm các thành phần khác như cám gạo, bột ngô, bột sắn…theo tỷ lệ thích hợp với từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của vật nuôi Đây là thức ăn giàu đạm, có hàm lượng cao về protein, khoáng, vitamin, axít amin… nhằm bổ sung vào khẩu phần ăn cho phù hợp với từng loại vật nuôi qua từng giai đoạn sinh trưởng Quá trình sử dụng thức ăn đậm đặc thường được pha trộn với thức ăn thô như bắp, tấm, cám hoặc các loại thức ăn tận dụng khác sẵn có tại địa phương nên rất phù hợp với mô hình chăn nuôi bán công nghiệp ở nông thôn Việt Nam Tuy nhiên để sử dụng thức ăn đậm đặc một cách hiệu quả và hợp lý đòi hỏi người chế biến thức ăn, đặc biệt là người sử dụng thức ăn cần phải nắm rõ một số đặc điểm cũng như ưu khuyết điểm khi sử dụng thức ăn đậm đặc, cụ thể:
Chất lượng thức ăn thô phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, mức độ đầu
tư và khả năng chăm sóc nên thường không ổn định và có sự khác biệt giữa các mùa, các địa phương và thậm chí ngay trong từng hộ gia đình Trong khi đó trình độ hiểu biết của người chăn nuôi chưa cao nên việc pha trộn thường không hợp lý dẫn đến tình trạng chất lượng thức ăn sau khi pha trộn bất ổn định, không phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi qua từng giai đoạn sinh trưởng
Thức ăn thô dùng để pha trộn hầu hết là sản phẩm hoặc phụ phẩm tận dụng từ ngành sản xuất nông nghiệp, chính vì thế mà giá thành thức
ăn sau khi pha trộn rất thấp Nếu người chăn nuôi biết áp dụng và sử dụng một cách hợp lý nguồn thức ăn sẵn có trong quá trình chăn nuôi
có thể mang lại hiệu quả kinh tế rất cao
Trang 10Thức ăn đậm đặc thường được sử dụng với số lượng ít nên hạn chế được chi phí vận chuyển và bảo quản Vì vậy khách hàng của sản phẩm thức ăn đậm đặc phần đông là các hộ gia đình chăn nuôi theo hình thức bán thâm canh, phân bổ một cách phân tán và nằm chủ yếu
ở vùng nông thôn, vùng sâu vùng xa với điều kiện vận chuyển khó khăn
Thức ăn chăn nuôi hỗn hợp:
Là loại thức ăn mang tính cân bằng các chất dinh dưỡng cho vật nuôi Loại thức
ăn này đảm bảo sự duy trì đời sống và sức sản xuất của vật nuôi Người chăn nuôi sẽ không phải sử dụng thêm các loại thức ăn khác Thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh là hỗn hợp nhiều nguyên liệu đơn được phối chế theo công thức, đảm bảo chứa đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho từng loại vật nuôi qua từng giai đoạn tăng trưởng Khác với thức ăn đậm đặc, thức ăn hỗn hợp dùng cho vật nuôi thường không cần pha trộn bất
cứ một loại thức ăn hay nguyên liệu nào khác ngoài nước uống Ngày nay thức ăn hỗn hợp được sử dụng một cách phổ biến, đặc biệt rất thuận lợi với hình thức chăn nuôi công nghiệp bởi chúng có những đặc điểm sau:
Thức ăn hỗn hợp được sản xuất theo dây chuyền công nghệ hiện đại, quá trình sử dụng không cần trãi qua giai đoạn pha trộn như thức ăn đậm đặc nên chất lượng rất ổn định Người sử dụng có thể chủ động lựa chọn thức ăn phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của vật nuôi mà nhà sản xuất đã xác định
Khác với thức ăn đậm đặc, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh thường được
sử dụng với số lượng lớn, chi phí vận chuyển và lưu trữ cao nên không phù hợp với vùng xa hoặc khu vực có điều kiện vận chuyển khó khăn Khách hàng lớn của sản phẩm thức ăn hỗn hợp chủ yếu là các trang trại chăn nuôi với qui mô sản xuất lớn, chính vì vậy họ rất nhạy cảm với giá sản phẩm
Trang 11Đối với một số địa phương không thể tận dụng được nguồn thức ăn sẵn có, hoặc các trang trại chăn nuôi theo hình thức công nghiệp, việc
sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn sử dụng thức ăn đậm đặc bởi bản thân thức ăn hỗn hợp chứa đựng đầy đủ chất dinh dưỡng giúp vật nuôi tăng trưởng nhanh, rút ngắn được chu kỳ chăn nuôi
Thức ăn hỗn hợp được đưa vào sử dụng mà không cần phải pha trộn với bất cứ nguồn thức ăn nào khác nên nhà sản xuất, cơ quan quản lý Nhà nước có thể chủ động điều chỉnh các chỉ tiêu chất lượng đảm bảo sản phẩm chăn nuôi đạt chất lượng dinh dưỡng cao, đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái
Mục đích của chế biến thức ăn nhằm cân bằng đầy đủ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn để phù hợp nhu cầu sinh trưởng, phát triển và sinh sản của gia súc, gia cầm Để cân đối các thành phần trong thức ăn như: chất xơ, chất bột đường, chất mỡ, chất khoáng, vitamin…thông thường người ta sử dụng các loại nguyên liệu sau
Thức ăn thô xanh:
Là loại thức ăn chiếm tỷ lệ cao trong khẩu phần ăn tự do của gia súc, sử dụng chủ yếu ở trạng thái tươi xanh Thức ăn xanh có thể chia làm 2 nhóm chính gồm cây cỏ
tự nhiên và gieo trồng Đặc điểm dinh dưỡng:
Thức ăn xanh chứa nhiều nước, nhiều chất xơ, tỷ lệ nước trung bình 80÷90%, tỷ lệ xơ trung bình ở giai đoạn non là 2÷3%, trưởng thành 6÷8% tuỳ loại nguyên liệu Do thức ăn xanh chứa nhiều nước, nhiều
xơ nên có khối lượng lớn gia súc không ăn được nhiều
Thức ăn xanh dễ tiêu hoá, có tính ngon miệng cao, tỷ lệ tiêu hoá đối với loài nhai lại là 75÷80%, đối với lợn 60÷70%, là loại thức ăn dễ trồng, năng suất cao
Trang 12Thức ăn xanh giàu vitamin: nhiều nhất là caroten, vitamin B đặc biệt
là vitamin B2 và vitamin E, vitamin D thấp nhất
Hàm lượng lipit có trong thức ăn xanh dưới 4% tính theo vật chất khô, chủ yếu là các axit béo chưa no Khoáng trong thức ăn xanh thay đổi tuỳ theo tính chất đất đai, chế độ phân bón
Thức ăn tinh bột giàu năng lượng
Sắn củ Sắn củ tươi là loại thức ăn có hàm lượng nước khá cao 92%, protein thấp 3-5% Đây là loại thức ăn giàu tinh bột, nghèo khoáng, Ca, P thấp, giàu K, nghèo vitamin, hàm lượng xơ cao Sắn có hai loại: Sắn đắng có hàm lượng độc tố trên 0,02% và sắn ngọt có hàm lượng độc tố dưới 0,01% Sắn củ tươi không bảo quản được lâu tốt nhất sau khi thu hoạch thái lát, phơi khô Sắn sử dụng trong chăn nuôi ở nhiều dạng: cho ăn sắn tươi, sắn khô, bã sắn, bột lá sắn Sắn củ
75-là nguồn thức ăn giàu năng lượng (đối với lợn từ 3000-3100 Kcal/kg) Gia súc không thích ăn sắn bột nhưng lại thích ăn sắn viên Trong chế biến thức ăn hỗn hợp sắn được sử dụng ở dạng khô, nghiền mịn Hạt ngũ cốc gồm: hạt lúa, ngô, đại mạch, kê… Sản phẩm phụ của hạt ngũ cốc gồm cám, tấm, tấm bổi, trấu… Hạt ngũ cốc có thành phần chủ yếu là tinh bột Protein khoảng 8-12%, nhiều nhất là ở lúa mỳ 22% Hàm lượng lipit từ 2-5%, nhiều nhất là ở ngô và lúa mạch Hàm lượng xơ thô từ 7-14%, nhiều nhất là ở các loại hạt có vỏ như lúa mạch và thóc, ít nhất ở bột mỳ và ngô từ 1,8-3% Hạt ngũ cốc nghèo khoáng đặc biệt là Ca Hạt ngũ cốc rất nghèo vitamin A, D, B2 (trừ ngô vàng rất giàu caroten), giàu E, B1 Hạt ngũ cốc là loại thức ăn tinh chủ yếu cho bê, nghé, lợn và gia cầm, hạt ngũ cốc và sản phẩm phụ của nó chiếm 90% nguồn năng lượng cung cấp trong khẩu phần
Trang 13Ngô gồm có 3 loại: ngô vàng, ngô trắng, ngô đỏ Ngô vàng chứa sắc
tố cryptoxanthin là tiền chất của vitamin A sắc tố này có liên quan tới màu sắc của mỡ, thịt khi vỗ béo gia súc, màu của lòng đỏ trứng của gia cầm Trong số các hạt cốc dùng làm thức ăn gia súc, trừ cao lương thì ngô có năng lượng cao nhất, nhưng hàm lượng protein lại thấp hơn các hạt cốc khác Ngô giàu tinh bột, ngon miệng, tỷ lệ tiêu hoá cao Ngô chứa 65% tinh bột, lượng xơ thấp, năng lượng cao 3200-3400 kcal/kg Protein thô từ 8-13%, lipit từ 3-6% chủ yếu là các acid béo chưa no Protein trong ngô nghèo các axit amin lyzin, methionin và tryptophan Khiếm khuyết Ca và một số khoáng chất, vitamin do đó cần phải sử dụng phối hợp ngô chung với thức ăn khác nhằm đảm bảo dinh dưỡng động vật nuôi, cân đối protein, khoáng và vitamin Hiện nay người ta dùng ngô để sản xuất bột và glucoza cho người Nhiều sản sản phẩm của ngô rất thích hợp cho động vật như lá và thân cây ngô có thể dùng cho bò,trâu ăn rất tốt, quan trọng hơn là mầm ngô, cám ngô và gluten Khi 3 loại này hỗn hợp lại tạo thành sản phẩm có tên là bột ngô-gluten, chứa xấp xỉ 24% protein thô, 3-5% xơ thô Hỗn hợp này thích hợp cho tất cả các loại gia súc gia cầm, đặc biệt là bò sữa tuy vậy cũng cần bổ sung thêm acid amin công nghiệp để đầy đủ thành phần acid amin trong khẩu phần thức ăn Tỷ lệ tiêu hoá của ngô cao từ 85-90% Ngô là loại ngũ cốc có chứa đường và mỡ cao nên ngô dễ bị nhiễm nấm mốc khi độ ẩm trên 15% làm giảm chất lượng của ngô,thậm chí còn chứa độc tố aflatoxin Vì vậy khi bảo quản cần chú ý phơi khô, để nguội, bảo quản trong cao ráo với độ ẩm ngô tối thiểu là 13%
Cám gạo là phụ phẩm quan trọng của thóc lúa, là nguồn thức ăn giàu vitamin nhóm B: B1, B6, biotin và rất hấp dẫn đối với vật nuôi
Trang 14Thường dùng để chế biến thức ăn tổng hợp Năng lượng trao đổi của cám gạo 2.650 Kcal/kg, hàm lượng protein 12,5%, hàm lượng dầu 13,5% Dầu cám chủ yếu là các acid béo không no, các acid này dễ bị ôxy hoá làm cho dầu bị ôi, làm giảm chất lượng của cám và cám trở nên đắng khét Do vậy nếu ép hết dầu thì cám trở nên dễ bảo quản hơn, nhưng phụ thuộc vào các phương pháp ép khác nhau mà lượng dầu còn trong cám ít hay nhiều Cám gạo bao gồm một số thành phần chính như vỏ cám, hạt phôi gạo, trấu và một ít tấm Giá trị dinh dưỡng của cám thay đổi tuỳ thuộc vào hàm lượng trấu trong cám Nhiều trấu
sẽ làm tăng hàm lượng chất xơ thô và silic, giảm nồng độ năng lượng của thức ăn, giảm tỷ lệ tiêu hoá
Cám mỳ là phụ phẩm của công nghiệp chế biến bột mì Cám mì là loại thức ăn tốt để nuôi lợn So với cám gạo thì cám mì có hàm lượng protein cao hơn, ít dầu hơn, năng lượng trao đổi bằng 2420 Kcal/kg Cám mì thường có hai loại, loại màu vàng nâu nhạt hoàn toàn là vỏ cám; loại màu trắng ngà, ngoài vỏ cám còn lẫn cả tinh bột
Thức ăn bổ sung protein:
Thức ăn bổ sung protein nguồn gốc thực vật: Gồm hạt đậu tương, đậu xanh, đậu mèo, đậu triều, lạc, vừng… và các khô dầu Đây là loại thức ăn giàu protein, protein từ 30-40% Chất lượng protein cao hơn và cân đối hơn so với hạt ngũ cốc Tuy chất lượng protein của hạt họ đậu không bằng protein động vật nhưng có một số hạt đậu giá trị sinh vật học protein của chúng gần bằng với cá, trứng sữa Tuy nhiên hạt họ đậu nói chung chưa hoàn toàn cân đối về axit amin, trong đó axit glutamic, cystin và methionin thường thiếu
Đậu tương là một trong những loại họ đậu được sử dụng phổ biến đối với gia súc, gia cầm Trong đậu tương có 50% protein thô, 16-21% lipit, protein đậu tương chứa đầy đủ các axit amin cần thiết như cystin, lyzin nhưng methionin
Trang 15là axit amin hạn chế thứ nhất trong đậu tương Đậu tương giàu Ca, P hơn so với hạt ngũ cốc nhưng nghèo vitamin nhóm B nên khi sử dụng cần bổ sung thêm vitamin nhóm B, bột thịt, bột cá Ngoài ra còn một số loại hạt họ đậu khác cũng rất giàu protein như hạt cái dầu, hạt hướng dương chứa 38% protein thô, hạt vừng chứa 46% protein thô, rất giàu arginin và lơxin
Khô dầu là sản phẩm của các hạt có dầu sau khi đã ép lấy dầu, phần còn lại làm thức ăn bổ sung cho gia súc, gia cầm Các sản phẩm này bao gồm khô dầu lạc, khô dầu đậu tương, khô dầu lanh, khô dầu bông, khô dầu dừa, khô dầu hướng dương Trong khô dầu lạc có 30-38% protein thô, axit amin không cân đối, thiếu lyzin, cystin, methionin Ngoài ra khô dầu lạc rất ít vitamin B12 do vậy khi dùng protein khô dầu lạc đối với lợn và gia cầm cần
bổ sung các loại thức ăn giàu vitamin B12 Khô dầu lạc trên thị trường có loại cả vỏ, có loại lạc nhân Tuỳ theo công nghệ chế biến, có loại khô dầu lạc
ép thủ công, khô dầu lạc ép máy, khô dầu lạc chiết ly Khô dầu lạc vỏ có tỷ
lệ protein thấp, tỷ lệ xơ cao 23%, nên không dùng để nuôi gia cầm, lợn Khô dầu lạc nhân chiết ly có tỷ lệ protein 49-57%, tỷ lệ xơ 4-5,7%, dầu 0,6- 3%
Để nâng cao hiệu quả của khẩu phần, nên sử dụng khô dầu lạc kết hợp với bột cá, khô đậu tương hoặc bổ sung axit amin công nghiệp Khô dầu đậu nành chứa 1% béo, là một trong những nguồn protein hữu hiệu nhất cho động vật Protein của nó chứa đầy đủ các axit amin không thay thế nhưng hàm lượng cystin và methionin còn thấp Bã dầu đậu nành chứa một số độc
tố, chất kích thích hoặc ức chế sinh trưởng, bánh dầu đậu nành nghèo vitamin nhóm B nhưng là nguồn cung cấp Ca, P khá hơn hạt ngũ cốc
Thức ăn bổ sung protein nguồn gốc động vật:
Bao gồm các sản phẩm phụ được thu nhận từ các ngành sản xuất và chế biến thịt
cá, lò mổ gia súc gia cầm, chế biến sữa, tôm, cua, mực, cá…Các loại thức ăn này có giá trị dinh dưỡng khá cao, hàm lượng protein khoảng trên dưới 50%, có đầy đủ các
Trang 16axit amin không thay thế, là loại thức ăn cân đối nhất với gia súc, gia cầm Loại thức ăn này khó bảo quản và vận chuyển, khi bảo quản thường gây ra mùi ôi khét khó chịu và một số axit amin bị phân huỷ Do vậy cần phải sấy khô ở một điều kiện nhất định, độ
ẩm sau khi sấy phải nhỏ để giảm đến mức thấp nhất khả năng phân huỷ thành phần dinh dưỡng của thức ăn
Bột cá Là loại thức ăn bổ sung hoàn hảo cho gia súc, gia cầm, là loại thức
ăn giàu protein Loại bột cá tốt chứa 50-60% protein, tỷ lệ axit amin cân đối có nhiều axit amin chứa lưu huỳnh, bột cá giàu Ca, P tỷ lệ tương đối cân đối, giàu vitamin B1, B12 ngoài ra còn vitamin A và D
Bột tôm làm thức ăn gia súc là phụ phẩm của các cơ sở sản xuất tôm đông lạnh, chế biến từ đầu tôm, vỏ tôm, và một số tôm vụn Bột tôm hàm lượng protein không cao, thường ở mức 30% Nhược điểm của bột tôm
là thành phần kittin trong nitơ cao, chất kittin không tiêu hoá được Bột tôm giàu Ca, P, nguyên tố vi lượng nên dùng nuôi gà đẻ trứng rất tốt Sữa bột gầy chế biến từ sữa đã khữ bơ dùng để nuôi bò và sản xuất thức
ăn cho lợn con còn bú mẹ hoặc lợn con đang cai sữa Sữa bột gầy có hàm lượng protein 32%, có đầy đủ các axit amin không thay thế phù hợp với yêu cầu của gia súc non, nó là thành phần thiết yếu trong thức ăn lợn con Bột máu là thức ăn gia súc có hàm lượng protein rất cao 85%, hàm lượng lizin 7,4-8% Bột máu sấy phun là loại có chất lượng cao nhất Bột máu
là thành phần không thể thiếu được trong thức ăn của lợn con
Bột thịt xương được chế biến từ xác gia súc không làm thực phẩm, từ các phụ phầm chế biến thịt như phủ tạng, nhau thai, xương, máu Nguyên liệu chế biến bột thịt xương rất đa dạng nên hàm lượng dinh dưỡng bột thịt xương cũng biến động lớn Bột thịt xương tốt có hàm lượng protein 50% Hàm lượng tryptophan và methionin trong bột thịt xương thấp Tuy nhiên nó là nguồn cung cấp Ca, P, lý tưởng Sử dụng bột thịt xương cần
Trang 17chú ý đến điều kiện bảo quản, bột thịt xương rất dễ thối, mốc, nhiểm vi khuẩn có hại
Từ những đặc trưng khác nhau của từng loại thức ăn chăn nuôi chúng ta có thể nhìn nhận rằng mỗi loại thức ăn đều có một lợi thế riêng và phù hợp với từng điều kiện chăn nuôi nhất định Chính vì thế người tiêu dùng khi lựa chọn thức ăn phải xem xét loại thức ăn nào là phù hợp nhất và mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất Về phía doanh nghiệp phải đánh giá và phân khúc thị trường cho từng loại sản phẩm, trên cơ sở đó lập
kế hoạch sản xuất kinh doanh và sử dụng kênh phân phối tối ưu nhất, mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất
1.2 Đặc điểm ngành chế biến thức chăn nuôi:
Cũng như các ngành kinh tế khác, ngành chế biến thức chăn nuôi bao gồm các doanh nghiệp ở mọi thành phần kinh tế khác nhau tự do kinh doanh, tự do cạnh tranh một cách công bằng theo đúng pháp luật, vận hành theo qui chế thị trường có sự quản lý nhà nước Tuy nhiên, mỗi ngành kinh tế khác nhau đều có những đặc trưng khác nhau
và đóng một vị trí, một vai trò khác nhau trong tổng thể nền kinh tế xã hội Đối với ngành chế biến thức chăn nuôi, chúng ta có thể nhìn nhận và khái quát thông qua một
số đặc điểm mang tính đặc trưng của ngành như sau:
- Sản phẩm của ngành chế biến thức ăn chăn nuôi bao gồm các loại thức ăn công nghiệp phục vụ cho ngành chăn nuôi và là nhân tố chính ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ vật nuôi, giá thành sản phẩm chăn nuôi, và chất lượng dinh dưỡng của sản phẩm chăn nuôi Và đó cũng chính là nhân tố ảnh hưởng đến sức khoẻ người sử dụng sản phẩm chăn nuôi, vệ sinh an toàn thực phẩm và môi trường sinh thái
- Các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi phải chịu trách nhiệm quản lý Nhà nước đối với sản phẩm hàng hóa do mình sản xuất, trong đó Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan Nhà nước trực tiếp quản lý toàn bộ hoạt động
Trang 18của ngành từ khâu cấp phép sản xuất kinh doanh đến khâu quản lý chất lượng, phân phối và tiêu thụ sản phẩm
- Ngành chế biến TACN là ngành công nghiệp hỗ trợ cho ngành chăn nuôi, nguồn nguyên liệu chủ yếu là sản phẩm từ ngành sản xuất nông nghiệp, ngành thủy sản, ngành dược phẩm, do vậy nó tác động và chịu sự tác động rất lớn từ các ngành sản xuất khác Chính vì thế mà ngành chế biến thức chăn nuôi phát triển gắn liền với việc phát triển công nghệ và kỹ thuật của ngành sản xuất khác
- Công tác nghiên cứu khoa học kỹ thuật, đổi mới công nghệ sản xuất luôn được các doanh nghiệp và Nhà nước thực hiện một cách đồng bộ trong mối quan hệ tương hỗ Đối với các doanh nghiệp, quá trình nghiên cứu khoa học, nghiên cứu các công thức pha trộn và sản xuất thức ăn nhằm tạo ra các bí quyết riêng trong vịêc đổi mới sản phẩm, nâng cao chất lượng, hạ giá thành, tạo ra sự khác biệt và lợi thế cạnh tranh so với các đối thủ cùng ngành Đối với nhà nước, quá trình nghiên cứu khoa học về dinh dưỡng và công nghệ chế biến thức ăn chăn nuôi nhằm giúp các doanh nghiệp trong nước bắt kịp với xu hướng thế giới, tiếp cận với khoa học hiện đại Đưa ra các giải pháp khoa học phát triển chăn nuôi trong mối quan hệ phát triển bền vững với các ngành khác nhằm khai thác tài nguyên thiên nhiên một các hiệu quả, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, giảm bớt các
di hại do nguồn thức ăn chăn nuôi gây nên Từ đó nghiên cứu các cơ chế chính sách phát triển chăn nuôi phù hợp với xu thế hội nhập và toàn cầu hóa nền kinh
tế
Trang 191.3 Vai trò chủ yếu của ngành chế biến thức ăn chăn nuôi:
Hình 1.2: Vai trò của ngành chăn nuôi
Là một nước nông nghiệp (với hơn 70 % dân số sản xuất nông nghiệp) nước ta
có nguồn nhân lực dồi dào, nguồn nguyên liệu phong phú, thời tiết khí hậu thuận lợi là một lợi thế phát triển cho ngành chăn nuôi Xuất phát từ những thuận lợi trên Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định ngành chăn nuôi là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn, có tiềm năng phát triển và phù hợp với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội Trong đó ngành chế biến thức ăn chăn nuôi đóng một vai trò quan trọng thể hiện ở một số mặt chủ yếu sau:
Thứ nhất: Sản phẩm thức ăn chăn nuôi là nhân tố chính quyết định đến hiệu
quả sản xuất chăn nuôi Trong cơ cấu giá thành sản phẩm chăn nuôi, chi phí thức ăn chiếm tỷ trọng 65%-70% giá thành sản phẩm và được xem là nhân tố quyết định đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và sự phát triển của ngành chăn nuôi Ở một số nước
NGÀNH CHẾ BIẾN
TACN
Hiệu quả sản xuất chăn nuôi
Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp
Thu hút
đầu tư
trong và ngoài
Sinh thái
và sức khỏe công
đồng
Trang 20nông nghiệp phát triển, ngành chăn nuôi đã từng bước được công nghiệp hóa và hiện đại hóa Thức ăn chính sử dụng cho vật nuôi là thức ăn công nghiệp chứa đựng đầy đủ các chất dinh dưỡng, đảm bảo vật nuôi phát triển tốt, sản phẩm từ ngành chăn nuôi đáp ứng đầy đủ chất lượng cũng như vệ sinh an toàn thực phẩm Và một thực tế cho thầy rằng, trong cùng một điều kiện nuôi nhốt, nếu tỷ lệ sử dụng thức ăn công nghiệp trong ngành chăn nuôi càng cao thì hiệu quả kinh tế càng lớn bởi tốc độ tăng trọng vật nuôi nhanh và thời gian chăn nuôi được rút ngắn
Thứ hai: Sự phát triển ngành chế biến thức ăn chăn nuôi góp phần thúc đẩy sự
chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, chuyển đổi cơ cấu trong chăn nuôi, đưa sản phẩm chăn nuôi công nghiệp hiện nay ở lợn từ 45-50% lên 60-65% năm 2015, 70-75% năm 2020; gia cầm từ 30-35% lên 45-50% năm 2015 và 55-60% năm 2020 (Tăng tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp lên hơn 30%, Báo điện tử- chính phủ) Bên cạnh đó, ngành Chăn nuôi phấn đấu đưa tỷ trọng chăn nuôi trong nông nghiệp lên 38% năm 2015 và 42% năm 2020 Đó là một nhiệm vụ đòi hỏi ngành chăn nuôi phải không ngừng gia tăng năng suất, nâng cao mức độ sử dụng tỷ lệ thức ăn công nghiệp trong sản xuất chăn nuôi Như vậy ngoài nỗ lực của ngành chăn nuôi, sự phát triển đột phát và mang tính đồng bộ của ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi là một đòi hỏi không thể thiếu trong mục tiêu phát triển ngành chăn nuôi
Thứ ba: Ngành chế biến thức ăn chăn nuôi là ngành công nghiệp có khả năng
thu hút vốn đầu tư trong và ngoài nước với số lượng lớn Ở nước ta hiện nay, nhu cầu thức ăn tinh cần thiết cho ngành chăn nuôi khoảng 10 triệu tấn/năm, nhưng công suất của tất cả các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi chỉ khoảng 5,5 triệu tấn2, phần còn lại do các cơ sở sản xuất thủ công cung cấp hoặc tận dung nguồn thức ăn tự nhiên sẵn
có Như vậy thị trường tiềm năng thức ăn chăn nuôi công nghiệp là rất lớn và sẽ phát triển nhanh cùng với phương pháp chăn nuôi công nghiệp ngày càng phổ biến Điều đó cho thấy ngành chế biến thức chăn nuôi đang là ngành công nghiệp đầy tiềm năng và
Trang 21đang có sức hút rất lớn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước Đòi hỏi Nhà nước phải có chính sách quản lý vĩ mô phù hợp, đáp ứng nhu cầu phát triển ngành và đồng
bộ với tiến trình phát triển tổng thể nền kinh tế quốc dân
Thứ tư: Sự phát triển ngành chế biến thức ăn chăn nuôi còn ảnh hưởng đến môi
trường sinh thái và sức khoẻ cộng đồng Đi đôi với mục tiêu phát triển ngành chăn nuôi
từ nay đến năm 2015, ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi đóng một vai trò quan trọng trong quá trình dịch chuyển cơ cấu nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hoá Ngoài ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích kinh tế của các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi và người chăn nuôi, chất lượng thức ăn chăn nuôi còn là nhân tố ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, vệ sinh an toàn thực phẩm và sức khỏe người sử dụng sản phẩm chăn nuôi Chính vì thế đòi hỏi Nhà nước phải có những chính sách đầu tư hợp lý cho công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất Phải có cơ chế quản lý vĩ mô phù hợp đảm bảo ngành chế biến thức ăn chăn nuôi phát triển một cách bền vững, phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển ngành chế biến thức ăn:
1.4.1 Nguyên liệu đầu vào:
Để thức ăn chăn nuôi đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho vật nuôi qua từng giai đoạn sinh trưởng, nguồn nguyên liệu đầu vào phải đáp ứng đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình chế biến thức ăn chăn nuôi Tuỳ thuộc vào từng loại thức ăn khác nhau mà người ta có thể sử dụng chủng loại hoặc cơ cấu nguyên liệu đầu vào phù hợp, tuy nhiên trong điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế và khoa học kỹ thuật hiện nay, ngành chế biến thức ăn chăn nuôi sử dụng một số nguyên liệu chính theo các nhóm chủ yếu sau:
Nhóm cung cấp nguồn năng lượng: gồm các nguyên liệu chủ yếu từ ngành sản
xuất nông nghiệp và phụ phẩm nông nghiệp như bắp, sắn, tấm gạo, khoai…Đây là nguyên liệu chủ yếu cung cấp năng lượng trao đổi cho vật nuôi và khối lượng sử dụng
Trang 22chiếm tỷ trọng rất lớn trong cơ cấu thành phần nguyên liệu đầu vào chế biến thức ăn chăn nuôi (thông thường bắp chiếm từ 35-40%, cám lụa 20-25%, bột sắn khoảng 20%)
Nhóm nguyên liệu cung cấp đạm và protein: gồm các nguyên liệu chủ yếu
cung cấp đạm và protein trong thành phần dinh dưỡng thức ăn chăn nuôi Thuộc nhóm này chủ yếu là các nguyên liệu chứa nhiều đạm động vật (bột cá, bột xương-thịt, bột máu…) và các nguyên liệu chứa nhiều đạm thực vật (khô dầu đậu tương, khô đậu phộng, khô dừa…) Trong đó khô đỗ tương và bột cá là hai nguyên liệu phổ biến thường được sử dụng và chiếm tỷ trọng lớn nhất so với các nguyên liệu cùng loại (khô
đỗ tương chiếm 10%, bột cá chiếm 5% trên trọng lượng nguyên liệu đầu vào)
Nhóm nguyên liệu cung cấp khoáng chất và vitamin: gồm các nguyên liệu
cung cấp chủ yếu khoáng chất trong trong thức ăn gồm khoáng đa lượng (canxi, photpho ), khoáng vi lượng và một số vitamin A, B, C Các chất này thường chứa nhiều trong bột xương, bột vỏ sò, mai mực có thể giúp bổ sung vào thành phần thức ăn gia súc
Nhóm cung cấp axit amin: gồm các chất giàu axit amin bổ sung vào khẩu phần
ăn vật nuôi như lyzin, methionin…Ở Việt Nam và các nước đang phát triển, hai loại axít này thường rất hiếm và đắt tiền nên thường người ta có thể sử dụng một số thức ăn giàu protein từ động vật để bổ sung vào khẩu phần ăn vật nuôi
Ngoài ra còn một số nguyên liệu khác cung cấp các chất xúc tác tiêu hóa, gây ngon miệng… chiếm một tỷ trọng nhỏ trong thành phần thức ăn gia súc Việc sử dụng các nguyên liệu này tuỳ thuộc vào từng doanh nghiệp, hay từng loại thức ăn cụ thể mà doanh nghiệp thấy cần thiết bổ sung vào thanh phần dinh dưỡng thức ăn gia súc
Trang 23việc xác định khách hàng, đối tượng mua, đối tượng sử dụng sản phẩm sẽ giúp cho nhà sản xuất nắm được các đặc tính sản phẩm mà thị trường yêu cầu
Đối với các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi, ngoài yêu cầu phải đảm bảo một số chỉ tiêu kỹ thuật chuyên ngành, yêu cầu về quản lý Nhà nước đã được qui định, việc xác định khác hàng và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng hoặc mong muốn của người sử dụng thức ăn chăn nuôi đang là một vấn đề được các doanh nghiệp quan tâm rất lớn Theo các chuyên gia kinh tế trong ngành chế biến thức ăn chăn nuôi, có thể xác định khách hàng và một số yếu tố mang tính đặc trưng ảnh hưởng đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng như sau:
Cơ cấu khách hàng:
o Khách hàng là các trang trại chăn nuôi mang tính công nghiệp: đây là nhóm khách hàng có số lượng vật nuôi tương đối lớn, có đầy đủ cán bộ kỹ thuật được trang bị đầy đủ kiến thức về khoa học dinh dưỡng và kỹ thuật chăn nuôi, có điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất nên việc lựa chọn sản phẩm thức ăn chăn nuôi được thực hiện một cách chủ động và có cơ sở khoa học Sản phẩm sử dụng cho đối tượng này chủ yếu là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh
và được cung cấp trực tiếp từ các doanh nghiệp sản xuất
o Khách hàng là các hộ chăn nuôi cá thể: đây là nhóm khách hàng có thu nhập thấp, kiến thức hiểu biết về chăn nuôi là rất hạn chế chính vì thế việc lựa chọn sản phẩm thức ăn chăn nuôi đa số là dựa vào cảm tính và kinh nghiệm, việc chăn nuôi chủ yếu là tạo thêm nguồn thu nhập và tận dụng thức ăn từ phụ phẩm ngành nông nghiệp nên họ có xu thế sử dụng thức ăn đậm đặc Chính vì thế mà việc cung cấp thông tin về sản phẩm, hướng dẫn cách sử dụng và kỹ thuật chăn nuôi là một vấn đề cần quan tâm đối với các doanh nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi
o Khách hàng là các đại lý kinh doanh thức ăn gia súc: đây là nhóm khách hàng bao gồm các tổ chức, cá nhân kinh doanh thức ăn gia súc để bán lại cho
Trang 24người chăn nuôi trực tiếp Họ là những người có nguồn vốn lớn, có đầy đủ
cơ sở hạ tầng để lưu trữ thức ăn với khối lượng lớn Thông thường những đại
lý thức ăn chăn nuôi chỉ kinh doanh một vài loại thức ăn mà thị trường ưa chuộng Lợi nhuận thu được có thể thông qua chính sách chiết khấu, hoa hồng của doanh nghiệp sản xuất hoặc bán chênh lệch giá sản phẩm cho khách hàng Đối tượng khách hàng chủ yếu là người chăn nuôi có qui mô vừa và nhỏ (hoặc các đại lý cấp dưới) không có điều kiện về tài chính và công cụ lưu trữ để mua với khối lượng lớn
Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng:
o Người quyết định mua hàng không phải là người tiêu dùng trực tiếp, do vậy việc đánh giá chất lượng sản phẩm chỉ có thể thực hiện thông qua quá trình phân tích các chỉ tiêu chất lượng Công việc này rất khó thực hiện do chi phí cao và ảnh hưởng đến thời gian sản xuất Chính vì thế mà chất lượng sản phẩm thường được khách hàng đánh giá qua khả năng phát triển của vật nuôi hoặc hiệu quả kinh doanh qua một chu kỳ sản xuất Nếu qua một giai đoạn
sử dụng sản phẩm mà cảm thấy có hiệu quả thì người chăn nuôi tự động sẽ trở thành khách hàng trung thành của sản phẩm và rất ít khi thay đổi Và ngược lại, vật nuôi là một phần tài sản của người chăn nuôi, chính vì thế nếu thức ăn có ảnh hưởng không tốt đến vật nuôi hoặc không mang lại hiệu quả kinh tế cao thì người chăn nuôi sẽ có phản ứng rất gay gắt và có thể từ bỏ sản phẩm ngay lập tức
o Mục đích của người chăn nuôi xét cho cùng là lợi nhuận, chính vì thế mà đa
số người tiêu dùng mong muốn mua được một sản phẩm giá rẻ, phù hợp với túi tiền nhưng lại đảm bảo yêu cầu về chất lượng và hiệu quả chăn nuôi
o Do điều kiện về cơ sở vật chất không đảm bảo cho quá trình lưu trữ thức ăn, hoặc vấn đề về tài chính không cho phép nên hầu hết người chăn nuôi chỉ có thể mua một số lượng thức ăn vừa đủ cho một giai đoạn ngắn Chính vì thế
Trang 25mà hệ thống phân phối và khâu lưu thông rất được khách hàng lưu ý Các doanh nghiệp phải đảm bảo nguồn hàng đều đặn và ổn định đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong mọi thời điểm, đồng thời chất lượng phải đảm bảo trong quá trình lưu thông và lưu trữ
Từ những về thông tin về hành vi tiêu dùng của khách hàng đối với sản phẩm thức ăn chăn nuôi, mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn cho mình một phân khúc thị trường hợp lý, hoặc một dãy sản phẩm cụ thể phục vụ cho từng loại vật nuôi sao cho phù hợp với tiềm năng và qui mô sản xuất của doanh nghiệp
1.4.3 Thiết bị và dây chuyền công nghệ:
Chế biến thức ăn chăn nuôi là một ngành công nghiệp phức tạp, mức độ ứng dụng khoa học kỹ thuật cao và luôn được cải tiến Sản phẩm thức ăn chăn nuôi đa dạng, đòi hỏi phải đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm Chính vì thế móc thiết bị và dây chuyền sản xuất phải đáp ứng một số tiêu chuẩn kỹ thuật chuyên ngành qui định
Hiện nay, ngành chế biến TACN có hai dây chuyền công nghệ sản xuất thức ăn
là dây chuyền sản xuất thức ăn dạng bột và thức ăn dạng viên Tuy nhiên, do một số công đoạn và đặc điểm sản xuất giống nhau nên hai dây chuyền công nghệ đều có một
số máy móc thiết bị giống nhau tương ứng với từng công đoạn sản xuất, cụ thể:
Giai đoạn chuẩn bị nguyên liệu đưa vào sản xuất: thông thường nguyên liệu
mua vào chủ yếu là sản phẩm nông nghiệp đang ở dạng thô và chưa qua xử lý Đặc biệt với khí hậu nhiệt đới ẩm thấp vào mùa thu hoạch có thể làm cho nguyên liệu rất dễ bị
ẩm, mốc Để đảm bảo nguyên liệu đạt chất lượng, đòi hỏi các doanh nghiệp phải trải qua giai đoạn làm sạch, sấy khô nguyên liệu trước khi đưa vào sản xuất và lưu trữ Với những yêu cầu trên, hầu hết các doanh nghiệp đều phải trang bị hệ thống làm sạch (máy sàng, thổi bụi), máy sấy nguyên liệu, hệ thống kho tàng hoặc silo lưu trữ
Giai đoạn lập khẩu phần thức ăn và định lượng nguyên liệu: căn cứ vào kế
hoạch sản xuất kinh doanh, cán bộ kỹ thuật tiến hành lập khẩu phần cho từng loại thức
Trang 26ăn, lập công thức chế biến thức ăn chăn nuôi và xác định khối lượng cần thiết của từng loại thức ăn, trên cơ sở đó tính toán số lượng và chủng loại nguyên liệu cần thiết đưa vào sản xuất Trang thiết bị cho giai đoạn này chủ yếu thiết bị thí nghiệm và kiểm tra chất lượng nguyên liệu, hệ thống máy vi tính, phần mềm công nghệ thông tin cho công tác lập khẩu phần và công thức chế biến thức ăn chăn nuôi
Giai đoạn sản xuất: đây là giai đoạn nguyên liệu được nghiền, trộn và chế biến
theo tỷ lệ qui định Tuỳ thuộc vào thành phần dinh dưỡng của thức ăn cần thiết sản xuất, cán bộ kỹ thuật sẽ xác định chủng loại, số lượng vật liệu cần thiết theo công thức sản xuất thức ăn để tiến hành pha chế, nghiền, trộn Trang thiết bị cần thiết cho giai đoạn này chủ yếu là máy cân, máy nghiền, máy trộn, hệ thống băng tải phục vụ cho công tác chế biến
Giai đoạn hoàn thành: sau khi giai đoạn sản xuất sản phẩm đã hoàn tất, cán bộ
chuyên môn sẽ tiến hành lấy mẫu, kiểm tra chất lượng thành phẩm và đóng gói đưa sản phẩm tiêu thụ hoặc lưu trữ trong điều kiện tốt nhất Trang thiết bị cho giai đoạn này là
hệ thống máy đóng gói, hệ thống máy thí nghiệm và kiểm tra chất lượng thành phẩm,
hệ thống lưu trữ sản phẩm
Do đặc tính kỹ thuật và đặc tính sản phẩm khác nhau nên hai dây chuyền công nghệ có những công đoạn sản xuất khác biệt Đối với dây chuyền sản xuất sản phẩm dạng viên, sau khi trải qua công đoạn nghiền, trộn sản phẩm phải được pha chế với chất kết dính nhằm tạo sự liên kết và ép thành viên mới chuyển qua công đoạn đóng gói Chính vì thế dây chuyền sản xuất sản phẩm dạng bột phải trang bị thêm hệ thống máy ép viên
1.4.4 Nguồn nhân lực:
Cũng như các ngành sản xuất khác, công nhân lao động trực tiếp, chuyên viên kỹ thuật chuyên ngành, cán bộ quản lý điều hành doanh nghiệp, đội ngũ nhân viên lao động gián tiếp… là lực lượng lao động không thể thiếu trong quá trình sản xuất kinh doanh Tuy nhiên mỗi ngành khác nhau đều có nguồn nhân lực khác nhau tương ứng với tính
Trang 27đặc thù của mỗi ngành Đối với ngành chế biến thức chăn nuôi, nguồn nhân lực có những đặc trưng sau:
Lực lượng lao động là công nhân sản xuất trực tiếp: đây là lực lượng lao động
đông nhất trong cơ cấu nhân lực tại các doanh nghiệp, được công ty trực tiếp tuyển dụng phục vụ cho các công đoạn sản xuất trực tiếp Hầu hết đội ngũ lao động trực tiếp
là công nhân lao động phổ thông và chưa được đào tạo chính qui Do vậy tuỳ thuộc vào
vị trí công việc mà mỗi doanh nghiệp có hình thức tuyển dụng và đào tạo tay nghề phù hợp với yêu cầu sản xuất tại đơn vị
Lực lượng lao động là đội ngũ nhân viên lao động gián tiếp: đây chủ yếu là
cán bộ công nhân viên thuộc các phòng ban chức năng phục vụ cho công tác quản lý điều hành doanh nghiệp, đội ngũ nhân viên bán hàng và marketing Lực lượng này được công ty trực tiếp tuyển dụng cho từng vị trí công tác theo đúng chuyên môn nghiệp vụ đã được đào tạo
Lực lượng lao động là các chuyên viên kỹ thuật, kỹ sư nông nghiệp, kỹ sư chăn nuôi: đây là lực lượng lao động được đào tạo chuyên ngành về chăn nuôi hoặc
dinh dưỡng Đòi hỏi phải có đủ năng lực tiếp thu về khoa học dinh dưỡng, có năng lực thực hiện công việc thí nghiệm và kiểm tra các qui trình sản xuất đảm bảo nguyên vật liệu mua vào đạt chất lượng Lập khẩu phần và công thức ăn đảm bảo sản phẩm đầy đủ dinh dưỡng và giá thành thấp nhất
Lực lượng lao động là các chuyên gia đầu ngành nghiên cứu dinh dưỡng:
đây là nguồn nhân lực không thể thiếu đối với ngành chế biến thức chăn nuôi Hiện nay nguồn nhân lực nghiên cứu về dinh dưỡng hầu hết thuộc các viện nghiên cứu và trường đại học Họ là các chuyên gia nguyên cứu về nhu cầu dinh dưỡng cho vật nuôi qua các giai đoạn phát triển sinh lý Đồng thời nghiên cứu khẩu phần cân bằng các chất dinh dưỡng để sản phẩm chăn nuôi đạt chất lượng cao, vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ môi trường sinh thái
Trang 281.4.5 Vai trò quản lý Nhà nước đối với sản phẩm thức ăn chăn nuôi:
Cũng như các hàng hoá khác, nhà nước thống nhất quản lý về sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi nhằm bảo vệ lợi ích hợp pháp của người sản xuất, người kinh doanh và người sử dụng thức ăn chăn nuôi Việc quản lý thức ăn chăn nuôi được thực hiện theo nghị định 15/CP ngày 19/03/1996 của Chính phủ, cụ thể:
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Thủy sản trong phạm vi chức năng, quyền hạn của mình thực hiện quản lý Nhà nước về thức ăn chăn nuôi trong phạm vi cả nước
- Kiểm tra, thanh tra và kiểm nghiệm chất lượng thức ăn chăn nuôi Cấp giấy chứng nhận chất lượng thức ăn chăn nuôi theo thẩm quyền của mình
- Công bố danh mục thức ăn và nguyên liệu cấm sản xuất
- Phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư trình Chính phủ quy hoạch, kế hoạch sản xuất, chế biến thức ăn Ban hành các văn bản hướng dẫn các ngành, địa phương
và các cơ sở quản lý thức ăn chăn nuôi
Ủy ban nhân dân thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức quản lý thức ăn chăn nuôi trong phạm vi địa phương theo hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện việc quản lý Nhà nước về thức ăn chăn nuôi Kiểm tra và xử lý các vi phạm về quản lý thức ăn chăn nuôi tại địa phương trong phạm vi thẩm quyền Quyết định cấp hoặc thu hồi giấy phép sản xuất kinh doanh thức ăn trong phạm vi thẩm quyền của mình
Trang 29Ở qui mô Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chịu trách nhiệm kiểm tra và quản lý chất lượng thức ăn trong phạm vi cả nước Đối với các tỉnh
và thành phố trực thuôc Trung ương, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh, UBND thành phố thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về chất lượng thức ăn chăn nuôi trên địa bàn quản lý Việc tổ chức và theo dõi chất lượng thức ăn chăn nuôi sản xuất và lưu thông thị trường được quản lý như sau:
- Tổ chức lấy mẫu phân tích, kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi 02 lần/năm
- Tổ chức kiểm tra đột xuất khi cần thiết khi có sự đồng ý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
- Nội dung kiểm tra gồm: kiểm tra chất lượng hàng hóa xuất xưởng và xuất xứ, kiểm tra vệ sinh thức ăn chăn nuôi, vệ sinh môi trường sản xuất và bảo quản thức ăn
- Các chỉ tiêu kiểm tra: theo QĐ96/2001/BNN ngày 09/09/2001 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các chỉ tiêu kiểm tra chất lượng sản phẩm thức
ăn chăn nuôi bao gồm:
o Kiểm tra việc công bố tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa của các nhà sản xuất
so với tiêu chuẩn Việt Nam, tiêu chuẩn ngành và qui định kỹ thuật đã quy định Kiểm tra các chỉ tiêu kỹ thuật tối thiểu bắt buộc phải công bố khi xây dựng tiêu chuẩn cơ sở đối với sản phẩm thức ăn chăn nuôi do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quy định theo QĐ 113/2001/QĐ/BNN ngày 28/11/2001.3 Kiểm tra các chỉ tiêu chất lượng sản phẩm so với chỉ tiêu chất lượng mà doanh nghiệp đã công bố
o Ngoài ra, để đảm bảo cho việc chăn nuôi đạt hiệu quả, đảm bảo cho sức khoẻ vật nuôi và con người, sản phẩm thức ăn chăn nuôi còn phải được khống chế hàm lượng tối đa độc tố nấm mốc Aflatoxin, hàm lượng tối đa các nguyên tố khoáng và kim loại nặng có trong 1kg thức ăn chăn nuôi Hoặc qui định về hàm lượng tối thiểu các loại vitamin có trong thức ăn chăn nuôi
Trang 30o Sau khi hàng hoá được công bố tiêu chuẩn chất lượng, doanh nghiệp phải đảm bảo điều kiện sản xuất, kinh doanh để chất lượng luôn được ổn định trong quá trình lưu thông đáp ứng tiêu chuẩn đã công bố về mọi nội dung
Để cung cấp cho người tiêu dùng những thông tin cần thiết để nhận biết hàng hoá, làm căn cứ cho quyết định lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng hàng hóa, các
cơ quan chức năng kiểm tra giám sát, các chỉ tiêu chất lượng chủ yếu của sản phẩm thức ăn chăn nuôi mà doanh nghiệp đã công bố bắt buộc doanh nghiệp phải ghi trên nhãn hàng hóa theo QĐ 178/1999/QĐ-TTg của Thủ Tướng Chính phủ
o Việc kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi phải thực hiện theo các bước và nội dung đã qui định Các cơ quan có thẩm quyền sẽ kiểm tra định kỳ, lấy mẫu và phân tích chất lượng sản phẩm tại phòng thí nghiệm chuyên ngành Trên cơ sở đó kiểm tra việc ghi chép các thông số, chỉ tiêu kỹ thuật trên bao
bì sản phẩm có đầy đủ và đúng với chỉ tiêu qui định hay không So sánh kết quả phân tích với chỉ tiêu chất lượng mà doanh nghiệp đã công bố để kết luận về chất lượng sản phẩm
Với những đặc điểm trên, nguồn nhân lực đóng một vai trò quan trọng và quyết định sự phát triển ngành chế biến thức ăn chăn nuôi Đòi hỏi các doanh nghiệp, cơ quan quản lý Nhà nước, các viện nghiên cứu và trường đại học phải có kế hoạch đào tạo một cách đồng bộ, liên tục Đảm bảo cung cấp đủ nguồn nhân lực có chất lượng cao phù hợp với nhu cầu phát triển ngành chế biến thức ăn chăn nuôi
1.5 Khái niệm về thị trường thức ăn chăn nuôi
Khái niệm về thị trường được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Theo Tiến
sĩ Nguyễn Thanh Hiền (Trung tâm phát triển Nông thôn miền Trung, Đại Học Nông Lâm Huế), “Thị trường là nơi người mua và người bán gặp nhau để trao đổi hàng hóa
và dịch vụ Theo nghĩa hẹp, thị trường là một cái chợ có địa điểm nhất định để trao đổi hàng hóa và dịch vụ.”
Trang 31Thị trường cũng có thể được xác định bằng nhu cầu về sản phẩm hoặc dịch vụ Theo định nghĩa này, thị trường là một nhóm người có nhu cầu và sẵn sàng trả tiền để thỏa mãn nhu cầu đó
Đứng trên góc độ đó có thể hiểu, có thể khái niệm rằng thị trường thức ăn chăn nuôi gồm những người chăn nuôi và tất cả các tổ chức, doanh nghiệp tham gia vào việc sản xuất hoặc mua bán thức ăn chăn nuôi nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn thức ăn cho vật nuôi của những người chăn nuôi
1.6 Phân loại thị trường thức ăn chăn nuôi:
Phân loại thị trường là việc phân chia thị trường theo các tiêu thức khác nhau để phục vụ cho nhiệm vụ nghiên cứu và phát triển thị trường Các doanh nghiệp quan niệm, “Thị trường bao gồm tất cả khách hàng tiềm ẩn cùng có nhu cầu hay mong muốn cụthể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó” Do vậy, người kinh doanh sản phẩm thức ăn chăn nuôi, phải xác định được những nhóm khách hàng mình đang phục vụ và những khách hàng doanh nghiệp sẽ vươn tới Như đã nói ở trên, thịtrường của doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh sản phẩm thức
ăn chăn nuôi là những người chăn nuôi Nhưng không phải tất cả những khách hàng này doanh nghiệp đều phục vụ Với tiềm lực của mình doanh nghiệp sẽ xác định những nhóm khách hàng sẽ cung cấp sản phẩm một cách tốt nhất hơn hẳn đối thủ cạnh tranh Căn cứ vào chức năng của các thành viên tham gia thị trường mà người ta chia thị trường thành các loại sau:
- Thị trường các yếu tố đầu vào (thị trường tư liệu sản xuất): Thị trường các yếu
tố đầu vào là tập hợp các cá nhân, tổ chức mua và bán tư liệu sản xuất đầu vào cũng như dịch vụ nhằm phục vụ cho quá trình sản xuất ra sản phẩm
- Thị trường người bán buôn và trung gian: Thị trường người bán buôn và trung gian là tập hợp những cá nhân hay tổ chức mua hàng của người sản xuất và bán lại cho người khác hoặc bán cho người tiêu dùng để kiếm lời
Trang 32- Thị trường tiềm năng người tiêu dùng : là những doanh nghiệp chăn nuôi sử dụng sản phẩm của các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi Người chăn nuôi sẽ
có ba yếu tố ảnh hưởng để tạo nên thị trường là : Sự quan tâm, thu nhập và cách tiếp cận
o Sự quan tâm: xuất phát từ nhu cầu muốn chăn nuôi dựa trên đặc điểm của
thị trường thức ăn chăn nuôi
o Thu nhập: Người chăn nuôi do phần lớn là nông dân, thu nhập thấp và
vốn sản xuất nhỏ lại phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất dài Do vậy, lý do giá thức ăn chăn nuôi công nghiệp quá cao là một nguyên nhân giảm cầu về thức ăn chăn nuôi công nghiệp
o Khả năng tiếp cận: khi khách hàngcó những rào cản tiếp cận nào đó
không tiếp cận tới sản phẩm và công ty sẽ thu hẹp quy mô thị trường của doanh nghiệp
1.7 Mô hình PEST
PEST là viết tắt chữ cái đầu tiên của các cụm từ Chính trị (political), Kinh tế (economic), Văn hóa – xã hội (sociocultural) và Công nghệ (technological) Đây là 4 yếu tố định hình nên môi trường của một ngành kinh tế Các yếu tố này mang tính chất bên ngoài hơn là những gì đang diễn ra trong ngành
Mô hình PEST thường được sử dụng để phân tích ngành/thị trường; trong khi SWOT lại dùng để phân tích doanh nghiệp, một bộ phận kinh doanh hay một ý tưởng nào đó
Chính trị (Political)
Đo lường mức độ chính phủ gây ảnh hưởng lên ngành như thế nào, bao gồm các chính sách về thuế, xuất nhập khẩu, môi trường, quy định internet, giáo dục…
Đối với các công ty hoạt động trên bình diện quốc tế, những yếu tố này sẽ trở nên rất phức tạp Họ phải phân tích sự ổn định của nền chính trị, biết các luật lệ địa phương ảnh hưởng đến ngành cũng như doanh nghiệp
Trang 33Những yếu tố này đều có ảnh hưởng lên cấu trúc ngành cũng như mức lợi nhuận của ngành/doanh nghiệp
Kinh tế (Economic)
Bao gồm các hoạt động, các chỉ tiêu kinh tế của mỗi quốc gia trong từng thời kỳ, chúng
có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Các chỉ tiêu lien quan cụ thể như :
Triển vọng của nền kinh tế có ảnh hưởng mạnh mẽ lên hoạt động, mức sinh lời của ngành và doanh nghiệp
Các chỉ số cần theo dõi là: tỷ lệ tăng trưởng, lạm phát, thất nghiệp, xuất nhập khẩu, dự trữ ngoại hối, sản xuất công nghiệp, doanh số bán lẻ…
Triển vọng kinh tế xấu có thể khiến tiêu dùng giảm sút và ảnh hưởng tiêu cực lên doanh số của ngành Doanh nghiệp vì vậy cần theo dõi kinh tế vĩ mô
để dự báo và có các kế hoạch kinh doanh phù hợp: mở rộng hay thu hẹp, phòng thủ hay tấn công giành thị phần từ đối thủ…
Văn hóa – xã hội (Sociocultural)
Các yếu tố văn hóa – xã hội có thể làm hình thành nhiều xu hướng tiêu dùng
Ví dụ có thể kể đến như giải phóng và bình quyền đối với phụ nữ, nhu cầu chăm sóc bản thân, tiêu dùng của giới trẻ…
Doanh nghiệp nghiên cứu các xu hướng này để xác định nhu cầu của thị trường, định vị sản phẩm/dịch vụ phù hợp với thị hiếu Đây cũng là một yêu cầu phải tìm hiểu trước khi muốn bước vào một thị trường mới
Bảng 1.1: Mô hình phân tích PEST
Trang 34Môi trường pháp lý quốc tế
Cơ quan quản lý và quy trình công việcCác chính sách của chính phủ
Nhiệm kỳ của chính phủ và sự thay đổiChính sách thương mại
Chiến tranh, xung đột
Các vấn đề về thuế chung và cụ thể cho sản phẩm/dịch vụ
Yếu tố thời tiết, mùa vụChu kỳ thị trườngCác yếu tố ngành kinh tếCác xu hướng phân phối
Các yếu tố tác động đến khách hàng, người tiêu dùng cuối cùng
Lãi suất, tỷ giá hối đoái, các vấn đề tiền tệ
Văn hóa – xã hội ( Sociocultural)
Xu hướng thay đổi phong cách sốngNhân khẩu học
Thái độ và ý kiến của khách hàngTruyền thông
Các thay đổi pháp luật ảnh hưởng đến xã hội
Hình ảnh thương hiệu, công ty
Công nghệ (Technological)
Công nghệ độc lập hay phụ thuộcGiải pháp để thay thế công nghệMức độ hoàn thiện của công nghệMức độ hoàn thiện và năng lực sản xuấtThông tin và truyền thông
Công nghệ liên quan đến mua hàngPháp lý liên quan đến công nghệ
Trang 35Xu hướng mua sắm, thời trangCác sự kiện và tác động
Yếu tố dân tộc, tôn giáo Vấn đề đạo đức
Tiềm năng phát minh công nghệVấn đề bảo hộ tài sản trí tuệ
1.8 Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong IFE:
Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong IFE cho phép đánh giá các tác động của môi trường bên trong đến doanh nghiệp Ma trận IFE đươc thực hiện theo 5 bước:
Bước 1: Lập danh mục các yếu tố thành công then chốt như đã xác định trong
quá trình đánh giá các yếu tố bên trong Danh mục này bao gồm cả những điểm mạnh
và điểm yếu
Bước 2: Phân loại tầm quan trọng từ 0,0 (không quan trọng) đến 1,0 (rất quan
trọng) cho mỗi yếu tố Tổng số các mức quan trọng phải bằng 1,0
Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố, trong đó: 1 đại diện cho điểm yếu
lớn nhất, 2 là điểm yếu nhỏ nhất, 3 là điểm mạnh yếu nhất, 4 là điểm mạnh lớn nhất
Bước 4: Nhân mức độ quan trọng của mỗi yếu tố với phân loại của nó (= bước 2
x bước 3) để xác định số điểm về tầm quan trọng
Bước 5 : Cộng tổng số điểm về tầm quan trọng cho mỗi yếu tố để xác định số
điểm về tầm quan trọng Bất kể ma trận IFE có bao nhiêu yếu tố, tổng số điểm cao nhất
mà mỗi doanh nghiệp có thể nhận được có thể là 4.0, thấp nhất là 1.0 và trung bình là 2.5 Tổng số điểm lớn hơn 2.5 cho thấy doanh nghiệp mạnh về các điểm nội bộ và ngược lại nếu nhỏ hơn 2.5
Trang 361.9 Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài EFE:
Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài EFE cho phép đánh giá các tác động của môi trường bên ngoài đến doanh nghiệp Tương tự như ma trận IFE, ma trận EFE cũng được thực hiện theo 5 bước:
Bước 1: Lập danh mục các yếu tố có vai trò quyết định đối với sự thành công
của doanh nghiệp như đã nhận diện trong quá trình đánh giá môi trường vĩ mô Danh mục này bao gồm từ 10 đến 20 yếu tố, bao gồm cả những cơ hội và đe dọa ảnh hưởng đến doanh nghiệp và ngành kinh doanh
Bước 2: Phân loại tầm quan trọng từ 0,0 ( không quan trọng) đến 1,0 (rất quan
trọng) cho mỗi yếu tố Tổng số các mức phân loại phải bằng 1,0
Bước 3: Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố quyết định sự thành công để cho
thấy cách thức mà các chiến lược hiện tại của doanh nghiệp phản ứng với các yếu tố này Trong đó: 4 là phản ứng tốt, 3 là trên trung bình, 2 là trung bình và 1 là yếu Các mức này dựa trên hiệu quản chiến lược của doanh nghiệp
Bước 4: Nhân tầm quan trọng của mỗi biến số với phân loại của nó (= bước 2 x
bước 3) để xác định số điểm về tầm quan trọng
Bước 5: Cộng tổng số điểm về tầm quan trọng cho mỗi biến số để xác định tổng
số điểm quan trọng của doanh nghiệp Bất kể số lượng cơ hội và đe dọa trong ma trận, tổng số điểm quan trọng cao nhất mà một công ty có thể có là 4,0, thấp nhất là 1,0 và trung bình là 2,5 Tổng số điểm quan trọng lớn hơn 2,5 cho thấy công ty tận dụng cơ hội và hạn chế những đe dọa từ môi trường ở mức độ trên trung bình
Trang 37TÓM TẮT CHƯƠNG I
Chương I đã trình bày cho chúng ta một cái nhìn sơ lược về vai trò và đặc điểm ngành thức ăn chăn nuôi, các loại nguyên liệu để tạo ra thức ăn chăn nuôi nhằm bổ sung dinh dưỡng vật nuôi ở từng giai đoạn Bên cạnh đó các nhân tố ảnh hưởng đến ngành sản xuất tức ăn chăn nuôi cũng giúp chúng ta hiểu được ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi phải chịu nhiều tác động từ thị trường, môi trường bên trong và môi trường bên ngoài và cả sự quản lý của nhà nước
Trang 38CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG NGÀNH SX THỨC ĂN CHĂN NUÔI
TẠI VIỆT NAM
2.1 Thị trường cung ứng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi thế giới
2.1.1 Cung cầu nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi
Cũng như các ngành công nghiệp khác, một trong những yếu tố quyết định đến việc mở rộng và phát triển ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi là nguyên liệu đầu vào phục vụ cho quá trình sản xuất Chất lượng, tính sẵn có và giá cả của nguyên vật liệu là nguyên nhân trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng cũng như giá thành sản xuất sản phẩm Đối với ngành chế biến thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu đầu vào là sản phẩm trực tiếp ngành sản xuất nông nghiệp, ngành ngư nghiệp, công nghiệp hóa chất Điều
đó có nghĩa là nguyên vật liệu chế biến thức ăn chăn nuôi không những ảnh hưởng trực tiếp đến các doanh nghiệp sản xuất như là một yếu tố đầu vào mà còn ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế của ngành kinh tế khác như là một sản phẩm đầu ra Chính vì thế mà việc tính toán nhu cầu thị trường nguyên vật liệu và qui hoạch vùng nguyên liệu thường được các nhà sản xuất, người nông dân và các cơ quan quản lý Nhà nước thực hiện một cách đồng bộ, mang tính kế hoạch cao
Nguyên liệu đầu vào đóng một vai trò trong quá trình phát triển và mở rộng ngành chế biến thức chăn nuôi Để nhìn rõ bức tranh thị trường nguyên liệu thức ăn chăn nuôi, cần đánh giá và phân tích sự biến động giá một số nguyên liệu chủ yếu qua
số liệu thống kê như sau:
Bảng 2.1: Sản lượng Ngô tại một số nước trên thế giới (triệu tấn)
Trang 39Chi tiết về các vùng sản xuất ngô chính, đứng đầu là Mỹ với gần 314 triệu tấn,giảm 2,25 triệu tấn (0,7%) so với niên vụ trước Tuy vậy, dự báo niên vụ 2012/13 sản lượng ngô tại Mỹ sẽ tăng mạnh tới 61,8 triệu tấn (19,7%) so niên vụ trước, lên 375,7 triệu tấn Trong khi đó, nhà sản xuất lớn thứ hai là Trung Quốc mặc dù sản lượng tăng hơn 15 triệu tấn trong niên vụ 2011/12 song dự
báo sẽ không thay đổi nhiều trong niên vụ 2012/13
Trang 40Bảng 2.2: Tiêu thụ Ngô tại 1 số nước trên thế giới (triệu tấn)
Bảng 2.3: Cân đối cung cầu Ngô thế giới (triệu tấn)
tính)
2012/2013 (Diễn biến tại thời điểm tháng 6)