nghiên cứu các phương pháp đánh giá trình độ công nghệ trên thế giới, từ đó nêu lý do tối ưu để chọn phương pháp đánh giá trình độ công nghệ theo thông tư 04 năm 2014Thông tư Bộ Khoa học và Công nghệ.
Trang 1BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
VIỆN ĐÁNH GIÁ KHOA HỌC VÀ ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ
- -
BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ
Nghiên cứu, phân tích các Phương pháp ĐGCN trên thế giới và phương pháp
ĐGTĐCN theo Thông tư 04/2014/TT-BKHCN
Người thực hiện Chủ nhiệm đề tài Cơ quan chủ trì
Đỗ Viết Tuấn Trần Hậu Ngọc
Quảng Nam, 2016
Trang 2MỤC LỤC
Danh mục các từ, cụm từ viết tắt và ký hiệu 2
1 Đặt vấn đề 3
2 Tổng quan về các phương pháp luận cho đánh giá TĐCN 4
2.1 Đánh giá công nghệ về mặt kinh tế 5
2.2 Phương pháp đo lường công nghệ học 6
2.3 Tiếp cận theo quan điểm đầu vào và đầu ra của quá trình 7
2.3.1 Phương pháp dùng nhiều chỉ số của OECD 7
2.3.2 Phương pháp luận UNESCO 9
2.4 PP dùng nhiều chỉ số kết hợp với đo lường công nghệ phân lập 11
2.5 Phương pháp luận Atlas công nghệ 11
2.6 Tiếp cận theo quan điểm quản trị chiến lược 14
2.6.1 Nguồn lực công nghệ 15
2.6.2 Năng lực công nghệ 15
2.7 Phương pháp đánh giá TĐCN theo Thông tư 04/2014/TT-BKHCN 16
3 Lựa chọn phương pháp đánh giá TĐCN cho Quảng Nam 19
4 Nội dung áp dụng Thông tư 04/2014/TT-BKHCN 20
5 Kết luận 22
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
Trang 41 Đặt vấn đề
Công nghệ là một công cụ để biến đổi tài nguyên thiên nhiên thành hàng hoá có ích Bằng lao động và óc sáng tạo của mình con người tạo ra nhiều thành quả về khoa học và công nghệ ứng dụng vào mọi lĩnh vực để biến đổi nguồn tài nguyên thiên nhiên thành những sản phẩm phục vụ cho sản xuất và tiêu dùng hàng ngày
Công nghệ là công cụ để điều hoà môi trường Đây chính là đặc trưng rất quan trọng và đang được quan tâm nhiều trong thời kỳ hiện nay
Công nghệ là mặt hàng được mua bán trên thị trường Thị trường này chỉ được hình thành và phát triển cùng với cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại, khi mà từ đó chất xám thực sự được coi là một thứ hàng hoá, được "mua",
"bán", trao đổi và cần được khai thác, đầu tư
Công nghệ là kiến thức vì nó có những bí quyết về kỹ thuật và quản lý
Nó phủ nhận cách nhìn công nghệ như là những thứ phải nhìn thấy được Nó cần phải được đào tạo và trau dồi kỹ năng con người, đồng thời phải cập nhật các kiến thức sẵn có mới sử dụng có hiệu quả công nghệ Ngày nay, vượt khỏi khuôn khổ chất hẹp trước đây, khi mà công nghệ được coi là luôn phải gắn với quá trình sản xuất, bằng cách nhìn tổng quan và khái quát người ta đã mở rộng khái niệm và những ứng dụng công nghệ ra các lĩnh vực khác nhau như dịch
vụ và quản lý Từ nửa sau của thế kỷ 20, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật có thể chuyển đổi về chất thành cuộc cách mạng khoa học công nghệ
Công nghệ có những thuộc tính riêng, nó quy định và ảnh hưởng trục tiếp đến quá trình chuyển giao công nghệ Công nghệ có những thuộc tính cơ bản sau :
• Công nghệ mang tính hệ thống, nó thể hiện công nghệ không thể "cắt"
ra từng phần riêng lẻ, bởi vì mỗi công nghệ có được một loại sản phẩm
có số lượng, chất lượng nhất định
Trang 5• Công nghệ mang tính sinh thể, nó là một loại hàng hoá đặc biệt vì tồn tại và phát triển như một thể sống, có môi trường, có thích nghi hoá,
có duy trì và hoàn thiện
• Công nghệ mang tính thông tin Nó đòi hỏi sự can thiệp và bảo hộ của
hệ thống pháp luật
Trong thời gian trước đây, khi nói đến công nghệ người ta chỉ nghĩ đến máy móc thiết bị, nếu như máy móc trang thiết bị càng hiện đại thì cho rằng trình độ công nghệ càng cao Quan điểm ấy chưa thật toàn diện và đầy đủ Sự phát triển của khoa học và công nghệ, bên cạnh đó, khoa học quản lý ngày càng phát triển đã làm thay đổi những quan điểm về đánh giá trình độ công nghệ Đánh giá trình độ công nghệ là hoạt động phân tích, nhận dạng hiện trạng trình độ công nghệ của doanh nghiệp hay ngành sản xuất theo các tiêu chí nhất định nhằm xác định điểm mạnh, điểm yếu của các thành phần công nghệ để từ
đó đề xuất các giải pháp, chính sách nhằm đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả và trình độ công nghệ sản xuất của doanh nghiệp hoặc ngành Đây là một công việc quan trọng, nó giúp cho các nhà hoạch định thấy được trình độ công nghệ hiện tại của một ngành, một địa phương hay một quốc gia đang ở mức nào, so với địa phương hay một quốc gia khác… Từ đó có những định hướng chiến lược đầu tư phát triển cho ngành hay một địa phương phát triển bền vững Tiếp thu các công nghệ mới, công nghệ hiện đại phù hợp với điều kiện cụ thể của ngành, địa phương, phát huy nội lực, công nghệ hiện có sử dụng một cách hiệu quả các nguồn lực; máy móc thiết bị, nhân lực
2 Tổng quan về các phương pháp luận cho dự án đánh TĐCN
Hiện nay, đã có khá nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng để đánh giá trình độ công nghệ với các quy mô khác nhau Mỗi phương pháp đều có những ưu, nhược điểm riêng về nội dung cũng như việc triển khai ứng dụng Xin được nhắc lại rằng, các nghiên cứu về công nghệ bắt đầu được các quốc gia, các viện nghiên cứu, các trường đại học trên thế giới quan tâm từ những
Trang 6năm 1950 Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu đánh giá hiện trạng công nghệ của quốc gia, vùng, xây dựng hệ thống các tiêu chí về KH&CN Tuy nhiên để
có được hệ thống chỉ tiêu này thì đòi hỏi phải có sự nỗ lực rất lớn của các nhà khoa học trong việc xây dựng một phương pháp luận hoàn chỉnh, để áp dụng cho việc thu thập dữ liệu, ứng dụng dữ liệu làm chỉ dẫn KH&CN
Nhìn chung, bằng nhiều cách khác nhau, các công trình nghiên cứu về công nghệ và năng lực công nghệ thường cố gắng tìm cách chi tiết hoá mỗi một yếu tố cơ bản trong chuỗi phát triển năng lực “mua - sử dụng – thích nghi – hoàn thiện” ra thành từng vấn đề cụ thể Qua nhiều chặng đường khá phức tạp, các nghiên cứu trong lĩnh vực này được thực hiện trên cơ sở của 6 phương pháp luận mà một số các tổ chức, viện nghiên cứu đã đưa ra, trợ giúp cho các nước làm cẩm nang để nghiên cứu, hoạch định các chính sách và chiến lược phát triển công nghệ:
1 Phương pháp tiếp cận công nghệ về mặt kinh tế
2 Phương pháp tiếp cận theo quan điểm đầu vào và đầu ra của quá trình,
3 Chiết trung (Phương pháp dùng nhiều chỉ số kết hợp với đo lường công nghệ phân lập)
4 Phương pháp đo lường công nghệ học (phân lập theo từng thành tố công nghệ)
5 Phương pháp luận Atlas công nghệ,
6 Phương pháp tiếp cận theo quan điểm quản trị chiến lược (Sharif 1995)
2.1 Đánh giá công nghệ về mặt kinh tế
Trước đây, để so sánh đánh giá trình độ công nghệ, các nước phát triển thường sử dụng phương pháp đánh giá về phương diện kinh tế Theo đó, đối tượng đánh giá chủ yếu là trình độ công nghệ và tỷ lệ thay đổi trình độ công nghệ của nước này so với nước khác Theo phương pháp này, trình độ, năng lực, chức năng sản xuất của một ngành được đánh giá thông qua các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô hay các thông số kinh tế của ngành công nghiệp đó Việc sử dụng
Trang 7chức năng sản xuất làm cơ sở cho đánh giá trình độ công nghệ chính là hình thức cải tiến của phương pháp đánh giá giản đơn năng suất lao động
Xét tổng quát, phương pháp này cho phép nhận biết những thông tin cần thiết cho việc phân tích Tuy vậy, việc đánh giá công nghệ đơn thuần chỉ bao gồm việc so sánh các đặc tính vận hành của một dây chuyền sản xuất cụ thể hay so sánh chất lượng các sản phẩm cuối cùng Do đó việc phân tích ở cấp ngành công nghiệp phải cần sử dụng thêm một số chỉ tiêu khác Ngoài ra, phương pháp này còn tồn tại một số vấn đề phức tạp trong việc xác định các giá trị đầu vào mà cốt lõi là phải xác định được số lượng vốn Thông thường, việc đánh giá trình độ công nghệ về mặt kinh tế của các nước thường hay được tiến hành đối với công nghệ đặc thù của các nước đó
2.2 Phương pháp đo lường công nghệ học
Phương pháp này cũng thường được sử dụng để tính toán, so sánh trình
độ công nghệ ở một số nước mà chủ yếu là so sánh các đặc trưng của một quy trình công nghệ hoặc chất lượng sản phẩm của quy trình công nghệ đó Phương pháp đo lường công nghệ học nhằm xác định các đặc trưng kỹ thuật riêng biệt của các sản phẩm và quy trình công nghệ, đồng thời so sánh chúng trên phạm
vi vùng, lãnh thổ, khu vực và trên thế giới
Đo lường công nghệ học sử dụng một số chỉ số phân lập các đặc trưng kỹ thuật của sản phẩm hay quy trình công nghệ và xem chúng như là các đơn vị vật lý Đây là phương pháp đã được sử dụng ở các nước phát triển như CHLB Đức, Nhận bản và Mỹ trong một số lĩnh vực như mođun điện quang, laze, các chất xúc tác sinh học, người máy công nghiệp
Ưu điểm lớn nhất của phương pháp này là rất thích hợp cho việc đánh giá các sản phẩm hay quy trình công nghệ đang ở giai đoạn sản xuất thử và chuẩn
bị đưa ra ngoài thị trường Các nhà công nghệ học và các nhà lập kế hoạch công nghệ quan tâm phương pháp này hơn là các nhà hoạch định chính sách quốc gia hay xây dựng kế hoạch kinh tế
Trang 82.3 Tiếp cận theo quan điểm đầu vào và đầu ra của quá trình
Một trong những cố gắng đầu tiên để xây dựng nên được một phương pháp luận để phục vụ các công việc xem xét vấn đề về công nghệ là cách tiếp cận theo quan điểm đầu vào và đầu ra của quá trình (science & technology input and output indicators) Theo cách tiếp cận này, năng lực công nghệ liên quan đến năng lực của doanh nghiệp có thể tiến hành những hoạt động xác định gắn liền với các vấn đề kinh tế, xã hội khác nhằm chuyển hoá đầu vào thành đầu ra
Để đánh giá hiện trạng công nghệ của một đơn vị kinh tế, một vùng, một quốc gia v.v người ta tiếp cận đo lường các yếu tố đầu vào và yếu tố đầu ra của quá trình Bằng cách thống kê, so sánh các yếu tố đó, người ta có thể đánh giá, theo dõi , được hiện trạng công nghệ cũng như đóng góp của công nghệ của một đơn vị kinh tế, một vùng, một quốc gia
Nổi lên theo nguyên lý tiếp cận input-output này, các công trình nghiên cứu của các tổ chức OECD và UNESCO để xây dựng chỉ số về khoa học & công nghệ (S&T) Chúng tôi sẽ lần lượt giới thiệu tổng quan của hai phương pháp tiếp cận này
2.3.1 Phương pháp dùng nhiều chỉ số của OECD
Đây là phương pháp đã được sử dụng để so sánh trình độ công nghệ của Liên xô cũ với trình độ công nghệ của một số nước phương Tây trong một số lĩnh vực nhất định Mục đích chủ yếu của các nhà nghiên cứu OECD là xây dựng hệ thống các chỉ số về Khoa học và Kỹ thuật (S&T) nhằm đưa ra những đánh giá về hiện trạng khoa học công nghệ hiện tại của các quốc gia thành viên của tổ chức này, đồng thời để nắm được những thay đổi về công nghệ, ảnh
Trang 9hưởng của khoa học & công nghệ tới tăng trưởng kinh tế, năng suất, năng lực cạnh tranh v.v.1
Để xây dựng hệ thống các chỉ số đặc trưng trình độ S&T, cách tiếp cận của các nhà nghiên cứu OECD là đánh giá hiện trạng công nghệ trên hai phạm
trù là đầu vào và đầu ra Đầu vào (input indicators) bao gồm tất cả các các
nguồn lực về vốn và nguồn lực con người của cả khu vực công cộng cũng như của khu vực tư nhân cần thiết dành cho các lực lượng Nghiên cứu và Phát triển (R&D) Các lực lượng R&D này là đầu vào của các hoạt động S&T được theo đuổi Đầu ra phần lớn được xác định từ lợi ích các ứng dụng của S&T Đầu ra
đo lường giá trị các sản phẩm trực tiếp của các hoạt động S&T2 Về cơ bản đầu
ra bao gồm: cán cân thanh toán về công nghệ nảy sinh từ việc chuyển giao công nghệ, phản ánh mức độ phụ thuộc của một quốc gia vào công nghệ của nước ngoài; thống kê các loại phát minh sáng chế phổ biến; và chuyển giao công nghệ Với việc xác định các thông số đầu vào và đầu ra của các hoạt động công nghệ, thông qua việc so sánh input và output indicators, hiệu quả của các chính sách về công nghệ của mỗi quốc gia được xác định
Bảng 1.1: OECD S&T Indicators
OECD S&T
Indicators
Input Indicators Output Indicators
1 Nguồn lực về vốn cho R&D ở
khu vực công cộng
Cán cân thanh toán về công
nghệ
R&D ở khu vực công cộng
Thống kê các phát minh,
sáng chế
3 Nguồn lực về vốn cho R&D ở
khu vực tư nhân
Chuyển giao công nghệ
R&D ở khu vực tư nhân
Trang 10Như vậy, hệ thống các chỉ số của OECD đã đạt được một vài thành công tối thiểu là về mặt thuật ngữ hợp nhất (unifying terminology) Các nhà nghiên cứu OECD đã phát triển những định nghĩa chuẩn đối với những thuật ngữ được
sử dụng trong các chỉ số đầu vào, đầu ra của OECD Theo đánh giá của Sharif (1986)3, nó cung cấp những công cụ nhằm giải thích các thành ngữ có những nghĩa rộng như “public funding” hay government R&D funding v.v , bằng việc sử dụng hệ thống các chỉ số đầu vào, đầu ra về S&T được phát triển ở các nước khác nhau
Tuy nhiên hệ thống các chỉ số mà OECD xây dựng tồn tại những hạn chế lớn, đặc biệt là trong việc lập các chính sách phát triển công nghệ Trước hết, cách tiếp cận của OECD dựa trên cơ sở của các phân tích đầu vào và đầu ra (inflow-outflow), nên không có chỉ số mô tả công nghệ có tính kế thừa, biến số chính yếu để xác định sự thay đổi, tiến bộ về công nghệ Ngoài ra, một yếu tố khác của tiến bộ về công nghệ cũng nằm ngoài các hoạt động R&D những đổi mới được thực hiện bởi các xí nghiệp nhỏ Đặc biệt, hệ thống các chỉ tiêu S&T được xây dựng trên điều kiện xã hội, kinh tế, kỹ thuật, cán cân thanh toán về công nghệ của tổ chức các nước OECD, nhìn chung không thể áp dụng cho các
dự án về công nghệ được thực hiện ở các nước đang phát triển
2.3.2 Phương pháp luận UNESCO
Các nhà nghiên cứu của UNESCO cũng xây dựng phương pháp luận theo cách tiếp cận đầu vào và đầu ra Cũng như OECD, UNESCO xây dựng hệ thống các chỉ số để đánh giá trình độ công nghệ Trên thực tế, các chỉ số S&T của UNESCO bắt đầu được thảo luận trong kỳ họp thứ 20 tại Paris vào tháng 11 năm 1978, nhằm giúp cho các nước thành viên xây dựng và cải thiện các thống
kê về S&T của họ Bằng việc chỉ ra các hạn chế của phương pháp luận OECD,
Trang 11UNESCO đã phát triển một bộ chuẩn các chỉ số S&T mà phạm vi ứng dụng là lớn hơn4
Hệ thống các chỉ số S&T của UNESCO là bộ các chỉ số S&T được xây dựng cho các áp dụng ở các nước đang phát triển Trong hệ thống các chỉ số S&T của UNESCO, các chỉ số đầu vào bao gồm : Chỉ số đầu vào chính là R&D được xây dựng bởi NAF (National Science Foundation) và OECD; thêm nữa
là giáo dục đào tạo cho S&T cũng được xây dựng bởi NAF; dịch vụ cho khoa khoa học công nghệ Còn các chỉ số đầu ra của quá trình bao gồm: số lượng các công trình về khoa học công nghệ được công bố, số lượng các sáng chế phát minh đã đăng ký v.v
Bảng 1.2: Unesco S&T indicators
Unesco S&T
Indicators
Input Indicators Output Indicators
1 Hoạt động R&D xác định ở quy
mô quốc gia
Số lượng các công trình khoa học công nghệ được công bố
2 Giáo dục và đào tạo cho S&T Số lượng các phát minh
sáng chế đã công bố
3 Dịch vụ cho S&T
Cũng thông qua việc xác định các chỉ số đầu vào và đầu ra của S&T, phương pháp luận UNESCO làm cơ sở cho các nước thành viên xây dựng và cải tiến hệ thống thống kê về S&T để giúp họ có những đánh giá hiện trạng công nghệ Tuy đã có những phát triển so với phương pháp luận OECD trong
việc xây dựng các chỉ số đầu vào và đầu ra về S&T, “UNESCO S&T indicators”
không tránh khỏi những hạn chế đặc biệt là khả năng hỗ trợ quyết định trong các chính sách về S&T của các nước đang phát triển Đó cũng chính là yếu điểm lớn nhất của phương pháp luận được xây dựng trên cơ sở của việc chuyển hoá đầu vào thành đầu ra của S&T
UNESCO (1977): “Manual for Surveying National Scientific and Technology Potential”, Paris,
UNESCO (1977): “Guild to the Collection of Statistics on Science and Technology”, Paris
UNESCO (1984): “Manual on the National Budgeting of Scientific and Technological Activites, Paris Unesco