1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu các địa danh ở lâm đồng

48 920 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 439,79 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lý do chọn đề tài: Trong lịch sử nghiên cứu về ngôn ngữ học, địa danh học chưa được tìm hiểu nhiều cũng như chưa được nhiều người quan tâm.. Tỉnh Lâm Đồng là một trong những tỉnh thuộc

Trang 1

TÁC GIẢ: Lê Thị Hương Lan (CN)

Hoàng Thị Hòa Lê Thị Tuyết Lan

BẢN TÓM TẮT

ĐỀ TÀI: TÌM HIÉU CÁC ĐỊA DANH Ở LÂM ĐỒNG

CHƯƠNG 1: VẤN ĐÈ ĐỊA DANH VÀ ĐỊA DANH TỈNH LÂM ĐÒNG

1.1 Vấn đề địa danh

1.1.1 Khái niệm địa danh

Đào Duy Anh: ‘Dịa danh là tên các miền đất”

Lê Trung Hoa: ‘Dịa danh là những từ hoặc ngữ cố định dùng làm tên riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chính, các vùng lãnh thổ”

1.1.2 Những vấn đề của địa danh học

Bao gồm các vấn đề: Chức năng của địa danh, phân loại địa danh, mối quan hệ của địa danh với các ngành khoa học khác

1.2 Địa danh tỉnh Lâm Đồng

Lâm Đồng có diện tích tự nhiên 9.764,8 km2, tập trung gần 40 dân tộc anh em cùng sinh sống, có một số dân tộc như Mạ, K’ho, Chu ru, M’nông, Chăm , khá nhiều di tích khảo cổ học và Lâm Đồng có một nền văn hóa, lịch sử lâu đời trong đó có những văn hóa đặc sắc của các dân tộc anh em Lâm Đồng là tên được ghép từ hai tên Lâm Viên và Đồng Nai Thượng

CHƯƠNG 2: ĐỊA DANH CHỈ CÁC ĐÓI TƯỢNG Tự NHIÊN

2.1 Địa danh Hán Việt

Đồi Vọng Cảnh, hồ Đa Thiện, hồ Đơn Dương, hồ Tuyền Lâm, hồ Vạn Kiếp, thác Lạc Nghiệp

2.2 Địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số

Đèo Bảo Lộc: Việt hóa từ từ tổ BTao có nguồn gốc là tiếng K’ho

Hồ Đankia: Đankia là do phát âm chệch của Đăngkia có nghĩa là “cỏ tranh trên

cao” với đăng: cỏ tranh, kia: trên cao

Trang 2

2.3 Địa danh thuần Việt

Dốc Khỉ, dốc Mạ ơi, đèo Chuối, đồi Cù, đồi Mộng Mơ

2.4 Địa danh bằng các ngoại ngữ

Thác Pongour: tên Pongour có nguồn gốc từ ngôn ngữ K’ho là “pon” và “guo” mà người Pháp phiên âm thành “Pongour”

2.5 Địa danh chưa giải thích được

Suối Đại Nga, dốc Dạ Hương, đèo Đa Tun, núi Tion Hoan

CHƯƠNG 3: ĐỊA DANH CHỈ CÁC ĐÓI TƯỢNG NHÂN TẠO

3.1 Địa danh Hán Việt

Hàng loạt các yếu tố được lặp lại như:

“Lạc” nghĩa là: vui, chỗ người ta tụ lại với nhau, ‘lâm” nghĩa là rừng, ‘lộc” nghĩa là: phúc, tốt lành và bổng lộc

3.2 Địa danh bằng các ngôn ngữ dân tộc thiểu số

Huyện Dạ Tẻh: “dạ” theo tiếng K’ho nghĩa là nước, “tẻh” được biến âm từ “téh” có nghĩa

là đất Dạ Tẻh nghĩa là đất - nước

3.3 Địa danh thuần Việt

Tên đường: đường 3/2, đường 3 /4 tên cầu: cầu Xóm Trung, cầu Đất, cầu Treo, cầu Xéo, cầu Suối Cát, cầu Suối Vàng

3.4 Địa danh bằng các ngoại ngữ: Đường Yersin

3.5 Địa danh chưa giải thích được

Huyện Dạ Huoai, xã Phi Liêng, đường Ninh Loan, cầu Minh Rồng

KẾT LUẬN:

Địa danh Lâm Đồng khá nhiều và khá phức tạp Ở đây có sự pha trộn nhiều ngôn ngữ cũng như là vùng kinh tế mới nên có nhiều cư dân khác nhau vào đây cư trú Những văn hóa khác nhau tạo ra những đại dnah có sự khác biệt nhất định

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài:

Trong lịch sử nghiên cứu về ngôn ngữ học, địa danh học chưa được tìm hiểu nhiều cũng như chưa được nhiều người quan tâm Địa danh dùng để chỉ tên vùng, tên sông, tên núi, tên gọi các đối tượng địa hình khác nhau, tên nơi cư trú, tên hành chính, được con người đặt ra, địa danh chứa những thông tin về tinh thần, văn hoá, xã hội, lịch sử, ngôn ngữ

và chính trị Địa danh còn thể hiện một phần ngôn ngữ dân tộc với đặc điểm nổi bật của địa danh là sự đa dạng về ngôn ngữ Nhưng mục đích của việc đặt tên địa danh là để phân biệt các đối tượng địa hình, sông này với sông kia, núi này với núi nọ, nên mỗi con sông, ngọn núi đều được đặt tên riêng Vỉ thế, việc tìm hiểu địa danh là lĩnh vực đang còn khá mới mẻ đối với các nhà nghiên cứu về ngôn ngữ

Tỉnh Lâm Đồng là một trong những tỉnh thuộc địa bàn Tây Nguyên, là một trong những nơi có vị trí địa lý khá thuận lợi để phát triển về kinh tế, văn hóa Lâm Đồng cũng

là một trong những tỉnh có nhiều dân tộc thiểu số khác nhau sinh sống trên cùng một lãnh thổ, có nhiều văn hóa dân tộc đan xen, cùng tồn tại và phát triển, do quá trình di dân và mở rộng vùng kinh tế mới nên đây cũng là vùng đất còn mới mẻ về lịch sử hình thành

Tìm hiểu về địa danh tỉnh Lâm Đồng có nhiều khía cạnh, nhiều vấn đề, vì vậy ta sẽ

có cái nhìn bao quát hơn về toàn cảnh tỉnh Lâm Đồng cũng như tìm hiểu sâu thêm về một trong những vùng đất đa dân tộc và đa dạng về ngôn ngữ Qua đó ta cũng thấy được văn hóa, lịch sử của mỗi dân tộc được thể hiện vào địa danh nhiều ý nghĩa, phản ánh được cuộc sống đời thường của người dân tộc thiểu số Vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Tìm hiểu địa danh tỉnh Lâm Đồng” với hy vọng có thể tìm ra được ý nghĩa trong từng tên đất, tên vùng của tỉnh Lâm Đồng cũng như

Trang 4

đưa ra một số ý kiến cá nhân, ý kiến còn tranh cãi giữa ý nghĩa của các địa danh Trong giới hạn cho phép của đề tài nên chúng tôi chỉ nghiên cứu nguồn gốc cũng nhu ý nghĩa của các địa danh

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Tại Việt Nam, từ đầu thế kỷ XX đã có một số công trình tổng hợp, khảo cứu và tìm hiểu về địa danh Nhưng những công trình này chủ yếu nghiên cứu ở góc độ địa lý lịch sử

Những nghiên cứu về địa danh một cách cơ bản thường được biết đến với Tên gọi và cách

gọi tên (Nguyễn Phương Chi, Hoàng Tử Quân) Tác giả Đào Duy Anh trong cuốn Đất nước Việt Nam qua các đời đã làm rõ quá trình xác lập, phân định rõ lãnh thổ và từng khu vực,

trong đó địa danh được coi là những chứng cứ quan trọng Sau đó, tác giả Hoàng Thị Châu

đã tìm hiểu về Moi liên hệ về ngôn ngữ cổ đại ở Đông Nam Á qua một vài tên sông là một

trong những người đầu tiên nghiên cứu địa danh trên bình diện ngôn ngữ Với Một sổ vẩn

đề về địa danh học Việt Nam và Địa danh Việt Nam, tác giả Nguyễn Văn Âu đã đưa ra

những ý kiến và tập trung vào phần lý luận của địa danh học cũng như đưa ra những khái quát nhất về địa danh và địa danh học Việt Nam

Ở trên một địa bàn cụ thể, các công trình nghiên cứu về địa danh có thể kể ra từ đầu thế kỷ XX là khá nhiều Nổi bật là tác giả Lê Trung Hoa với những công trình tìm hiểu sâu trên địa bàn thảnh phố Hồ Chí Minh cũng như đưa ra được những lý luận về địa danh học

Có thể kể ra Địa danh ở thành phổ Hồ Chí Minh, Từ điển địa danh thành phổ Sài Gòn - Hồ

Chí Minh, Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu địa danh (Địa danh thành phố Hồ Chí

Minh) Ngoài ra còn có tác giả Nguyễn Kiên Trường với việc tìm hiểu sâu về địa danh tỉnh

Hải Phòng qua công trình nghiên cứu Những điểm chính địa danh Hải Phòng (luận án

PTSKH)

Một số tác giả cũng có nhiều công trình tìm hiểu về ran đề địa lý vùng lãnh thổ nói

chung và về địa danh nói riêng Tác giả Lê Thông với các tác phẩm Việt Nam đất nước con

người, Địa lý các tỉnh và thành phổ Việt Nam (tập 4), Các tỉnh và thành phố duyên hải Nam

Trung Bộ và Tây Nguyên đã tìm hiểu một cách khái quát về đất nước Việt Nam ngàn năm văn hiến cũng như đất nước Việt Nam với

Trang 5

sự thay đổi về lịch sử, lãnh thổ, vùng địa lý Trong những năm gần đây, tác giả Nguyễn

Quang Ân có Việt Nam, những thay đổi địa danh và địa giới các đơn vị hành chính 1945 -

1997, tác giả Nguyễn Dược, Trung Hải có sổ tay địa danh Việt Nam, hay nhóm tác giả

Nguyễn Như Ý, Nguyễn Thành Chương, Bùi Thiết với công trình Từ điển địa danh văn hóa

và thẳng cảnh Việt Nam

về địa danh tỉnh Lâm Đồng, có thể nói công trình tìm hiểu sâu và kỹ lưỡng nhất chính

là cuốn Địa chỉ Lâm Đồng do ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng phối hợp cùng các tác giả

và nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc (Hà Nội) thực hiện năm 2001 Công trình đã khái quát những nét cơ bản về địa lý tự nhiên, dân tộc dân cư, văn hóa, phong tục tập quán, ngôn ngữ cùng với đó là những đặc điểm của từng địa phương trong địa bàn tỉnh Công trình không đi vào giải thích địa danh từng vùng nhưng đã cho độc giả thấy được sự phong phú,

đa dạng về địa hình, có sự đan xen về văn hóa của các dân tộc, cụm dân cư Đồng thời, công

trình khẳng định “Địa chí Lâm Đồng là tài liệu tham khảo quỷ báu góp phần xây dựng các

luận cứ khoa học để lãnh đạo, quản lý xã hội, hoạch định kế hoạch, chỉnh sách phát triển

kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng trong thời kỳ cách mạng mới” Và đây “là

công trình nghiên cứu tổng hợp cỏ quy mô lớn nhất ở Lâm Đồng từ trước đến nay” 1 2 Ngoài

ra còn một số công trình nghiên cứu liên quan như vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng (Sở Văn hóa Lâm Đồng), Dân tộc - dân cư Lâm Đồng (Trần Sỹ Thứ) hay “Lâm Đồng - hưórng tới thế

kỷ XXI” (ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng) Đây là những công trình có giá trị góp phần

phát triển kinh tế vùng cũng như những vấn đề đoàn kết đồng bào dân tộc thiểu số, giúp tỉnh phát triển bền vững Còn về địa danh, tên đất, tên sông tên núi của tỉnh hầu như chưa

có công trình nào khảo sát toàn diện và giải thích một cách đầy đủ Những câu chuyện liên quan đến vùng đất chỉ rải rác ở những cuốn văn học dân gian được sưu tầm từ lâu Cuốn

Huyền thoại về những tên đất (Nguyễn Thái), đề cập đến tên của những vùng đất xưa, nhất

là vùng đất Tây Nguyên với những truyền thuyết lưu truyền trong dân

1 Nhiều tác giả, 2001, Địa chi Lâm Đồng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội

2 Nhiều tác giả, 2001, sđd

Trang 6

gian Còn những địa danh của tỉnh Lâm Đồng, nằm rải rác trên các cuốn cẩm nang về du lịch, trên các báo, tạp chí về du lịch nhưng chủ yếu chỉ nói về địa danh nằm trên địa phận

thành phố Đà Lạt như cẩm nang du lịch Đà Lạt - Lâm Đồng, Đà Lạt - Lâm Đồng, mùa xuân

và khát vọng (Trương Phúc Ân) Những tìm hiểu này đã mang đến những giá trị nhất định

cho việc tìm hiểu về địa danh Lâm Đồng nhưng chưa có công trình nào thực sự tìm hiểu sâu về tỉnh Lâm Đồng với những địa danh mang tính chất huyền thoại

Việc đi sâu xem xét địa danh Lâm Đồng ở góc độ ngôn ngữ vẫn chưa được tiến hành cụ thể Ở đây chúng tôi sẽ nghiên cứu chi tiết và cụ thể hơn về một số đặc điểm cấu thành của địa danh Lâm Đồng ở góc độ ngôn ngữ học

3 Mục đích và nhiệm vụ đề tài

Mục đích:

Trong đề tài này chúng tôi đưa ra những mục đích cần phải đạt:

- Nêu ra bức tranh chung, toàn cảnh về tỉnh Lâm Đồng, bao gồm tất cả các mặt về địa lý

tự nhiên, nguồn gốc các dân tộc và dân cư, đặc trưng về dân số, phong tục tập quán và một

số ngôn ngữ chủ yếu của vùng đất này

- Tìm hiểu sâu về những địa danh tự nhiên, trong đó bao gồm tất cả những địa danh thuộc

về sông, núi, đèo, thác

- Tìm hiểu sâu về những địa danh xã hội, trong đó bao gồm tất cả những địa danh thuộc

về hành chính như huyện, xã và các địa danh về cầu, đường

- Tìm hiểu địa danh dựa vào nguồn gốc của nó: ngôn ngữ các dân tộc thiểu số, địa danh bị Hán hóa, địa danh thuần Việt

Trang 7

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:

Vỉ nội dung nghiên cứu của địa danh học rất phong phú và phức tạp nên chúng tôi cũng sử dụng rất nhiều phương pháp nghiên cứu:

4.1 Phương pháp thống kê và miêu tả:

Đây là phương pháp chính mà chúng tôi sử dụng để thực hiện đề tài Dựa vào tư liệu từ các nguồn, tiến hành thống kê, phân loại đánh giá, đồng thời rút ra những nhận xét theo yêu cầu của đề tài

- Tư liệu điều tra điền dã: Nguồn tư liệu thu thập được trong quá trình đi điền dã

và điều tra tại địa phương trên địa bàn gồm 1 thành phố, 1 thị xã, 11 huyện với 109 xã, 18 phường và 11 thị trấn

- Tư liệu trong các sách, các công trình, các báo và tạp chí có liên quan về lịch sử, địa lý, ngôn ngữ, văn hóa, địa danh qua các thời kỳ có liên quan đến đề tài

- Tư liệu từ bản đồ: bản đồ hành chính của các huyện, bản đồ hành chính của các tỉnh

4.2 Phương pháp so sánh đoi chiếu:

- Phương pháp đối chiếu ngôn ngữ học: Đây chính là phương pháp giúp chúng ta khảo sát các đặc điểm của địa danh trên cơ sở nghiên cứu từ vựng học, ngữ pháp học, phương ngữ học, ngôn ngữ học lịch sử

- Phương pháp đối chiếu lịch sử: Lịch sử cung cấp những cứ liệu để chúng tôi có thể xác định được nguồn gốc, ý nghĩa của các địa danh trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng

4.3 Phương pháp địa lý học:

Có thể nói sự đa dạng và phức tạp của địa danh ở Lâm Đồng một phần bắt nguồn

từ sự đa dạng về địa hình địa lý

Như vậy, việc nghiên cứu địa danh cần có sự kết hợp giữa nhiều ngành: ngôn ngữ, lịch sử, văn hóa, địa lý theo khuynh hướng liên ngành Ngoài ra chúng tôi còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu như:

- Phương pháp phân tỉc

Trang 8

- Phương pháp tổng hợp

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu đề tài

Lâm Đồng là địa bàn có đông dân cư từ mọi miền đổ về để xây dựng vùng kinh tế mới, vì vậy có nhiều văn hóa, ngôn ngữ đan xen, hình thảnh nên vùng đất đa dân tộc, đa ngôn ngữ Cùng với đó là những hiện tượng tự nhiên về khí hậu, lượng mưa, địa hình đã ảnh hưởng nhất định đến việc đặt tên cho địa danh ở vùng đất này Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về địa danh tỉnh Lâm Đồng vì vậy nên chúng tôi khái quát đề tài theo hướng

bề rộng, trong đó bao gồm tất cả các yếu tố địa danh thuộc về tự nhiên và về xã hội, sau đó được phân chia các mảng để tìm về nguồn gốc của địa danh Tư liệu được lấy từ ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng, sở Giao thông Vận tải tỉnh Lâm Đồng và một số tài liệu liên quan

từ Internet, báo, tạp chí và cẩm nang du lịch

6 Đóng góp mói của đề tài

Với đề tài nghiên cứu, tìm hiểu về địa danh tỉnh Lâm Đồng, chúng tôi đã khái quát được bức tranh toàn cảnh về tỉnh Lâm Đồng cũng nhu bức tranh ngôn ngữ, dân tộc trên địa bàn tỉnh Ngoài ra, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên về một trong những miền đất vùng Nam Tây Nguyên, có những địa thế nhất định về du lịch, vì vậy công trình có thể cung cấp một số tư liệu lịch sử, truyện cổ, truyền thuyết làm phong phú, đa dạng cho những ai muốn tìm hiểu về vùng đất này

7 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn Ỷ

nghĩa lý luận:

Công trình nghiên cứu này khái quát được một cách chung nhất về tỉnh Lâm Đồng, những địa danh mang yếu tố lịch sử, văn hóa của tỉnh Từ đó nhận ra tiến trình thay đổi trong tên gọi của từng vùng, có những sự biến đổi nhất định từ thời Pháp thuộc cho đến hiện nay cũng như sự biến đổi trong ngữ âm để phù hợp hơn trong hiện tại

Ỷ nghĩa thực tiễn:

Trang 9

Những kết quả nghiên cứu này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên, những người muốn quan tâm, tìm hiểu về lịch sử địa danh cũng như về vùng đất Lâm Đồng

8 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục thì đề tài dược chia làm 3 chương:

Chương 1: Giới thiệu chung về tỉnh Lâm Đồng, về tất cả những vấn đề có liên quan trên địa bàn tỉnh Đồng thời đưa ra được cái nhìn khái quát nhất về những vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh Lâm Đồng

Chương 2: Tim hiểu sâu về địa danh tự nhiên, trong đó bao gồm tất cả các yếu tố thuộc về tự nhiên như sông, hồ, núi, thác, đồng thời thể hiện trong từng địa danh là những câu chuyện, lời kể mang tính chất thần thoại, thể hiện một phần văn hóa dân tộc

Chương 3: Tìm hiểu sâu về địa danh nhân tạo, trong đó bao gồm các yếu tố địa danh thuộc về hành chính, giao thông công chính

Trang 10

1.1.1 Khái niệm địa danh

Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những ý kiến về vấn đề khái niệm địa danh nhưng đến nay vẫn còn thiếu sự thống nhất

Theo Đào Duy Anh: “Địa danh là tên các miền đất”

Theo Lê Trung Hoa thì “Địa danh là những từ hoặc ngữ cổ định được dùng làm

riêng của địa hình thiên nhiên, các công trình xây dựng, các đơn vị hành chỉnh, các vùng lãnh thổ” 3 đã tiếp cận vấn đề địa danh từ góc độ ngôn ngữ học

Còn theo Nguyễn Văn Âu lại cho rằng: " Địa danh là tên địa lý các địa phương,

địa danh học là môn khoa học chuyên nghiên cứu về tên gọi địa lý các địa phương” 4

Với Nguyễn Kiên Trường, “Địa danh là tên chỉ các đổi tượng địa lý tự nhiên và

nhân văn cỏ vị tri xác định trên bề mặt trái đất” 5 Và định nghĩa của Trần Văn Dũng có lẽ

là định nghĩa khái quát và đầy đủ nhất: “ Địa danh là tên gọi những đối tượng tự nhiên và

đổi tượng nhân tạo do con người kiến tạo ” 6

3 Lê Trung Hoa, 1991, Địa danh ở thành phố Hồ Chí Minh, Nxb KHXH, Hà Nội

4 Nguyễn Vãn Âu, 2000, Một số vấn đề về địa danh học Việt Nam, Nxb Giáo dục

5 Nguyễn Kiên Trường, 1996, Những đặc điểm chính của địa danh Hải Phòng (sơ bộ so sánh với địa danh của một số

vùng khác), luận án PTS, Đại học Quốc gia Hà Nội

6 Trần Vãn Dũng, 2004, Những đặc điểm chinh của địa danh ở Daklak, luận án Tiến sĩNgữ văn, trường ĐH Vinh,

thành phố Vinh

Trang 11

Các định nghĩa trên đều nêu được những nét đặc trưng cơ bản của địa danh nhưng vẫn còn một số điều chưa thống nhất, vì địa danh là một môn khoa học còn khá mới ở Việt Nam và chưa thực sự có nhiều người quan tâm về vấn đề này

1.1.2 Những vấn đề của địa danh học

Địa danh là một bộ phận của ngôn ngữ học nằm trong từ vựng học và là một trong những vấn đề nghiên cứu của danh xưng học Những vấn đề của địa danh học bao gồm:

Chức năng của địa danh:

Chức năng cơ bản của địa danh là định danh và cá thể hóa đối tượng, phản ánh hiện thực, làm công cụ giao tiếp

Nhiều địa danh ở Lâm Đồng đã ghi nhận những sự kiện, biến cố xã hội - lịch sử của chính địa phương hoặc ghi danh một người có vai trò, vị trí đặc biệt trong hoàn cảnh xã hội hoặc một cách khác đó là những câu chuyện, truyền thuyết đã tồn tại lâu đời trong bộ tộc người ở vùng đất Lâm Đồng

Phân loại địa danh:

Việc phân loại địa danh là công việc cũng khá phức tạp do chưa có sự thống nhất

về cách phân loại cũng như chưa có sự thống nhất về mục đích và phương tiện nghiên cứu

Mặc dù vấn đề địa danh được quan tâm từ sớm nhưng các nhà nghiên cứu chỉ làm công việc chủ yếu là miêu tả đối tượng địa lý và giải thích ý nghĩa từ vựng Từ thế kỷ XIX trở đi, địa danh học mới được thực sự quan tâm và chú trọng, nhất là về yếu tố ngôn ngữ

Tại Việt Nam, do nhiều đặc điểm nổi bật về văn hóa, xã hội nên địa danh cũng

có nhiều bảng phân loại khác nhau Tiêu biểu là Trần Thanh Tâm trong bài “Thử bàn về địa danh Việt Nam” (nghiên cứu lịch sử, số 3/1976) chia địa danh Việt Nam thành 6 loại:

Loại đặt theo địa hình và đặc điểm; loại đặt theo vị trí không gian và thời gian; loại đặt theo tôn giáo, tín ngưỡng, lịch sử; loại đặt theo hình thái, đất đai, khí hậu; loại đặt theo đặc sản nghề nghiệp, tổ chức kinh tế; loại đăt theo sinh hoat xã hôi

Trang 12

Còn theo tác giả Lê Trung Hoa thì căn cứ vào tiêu chí tự nhiên và không tự nhiên, chia địa danh thành hai nhóm lớn: địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên và địa danh chỉ các đối tượng nhân tạo

Tiếp thu ý kiến của các tác giả đồng thời dựa vào những nét cơ bản về địa hình, địa vật cũng như văn hóa tỉnh Lâm Đồng, chúng tôi chia địa danh thành các loại sau:

• Địa danh chỉ các đối tượng tự nhiên

• Địa danh chỉ đối tượng nhân tạo

Trong đó mỗi phần bao gồm: 1/ Địa danh thuần Việt 2/ Địa danh Hán Việt 3/ Địa danh

có nguồn gốc dân tộc thiểu số 4/ Địa danh bằng tiếng nước ngoài 5./ Địa danh chưa rõ nguồn gốc

Mối quan hệ giữa địa danh với các ngành khoa học khác

Vỉ địa danh là nhân chứng đáng tin cậy của quá trình hình thành cộng đồng, nơi cư trú của một tộc người nào đó và là một công cụ nhận thức, định danh nên nó chịu nhiều tác động

từ các yếu tố: đặc điểm lịch sử, tâm lý xã hội, văn hóa, ngôn ngữ học, địa lý, nhân học Ngoài ra, địa danh còn cho biết một số thông tin về văn hóa, chính trị, tôn giáo, phân vùng lãnh thổ, xu hướng đặt tên mới theo tên cũ

1.2 Địa danh tỉnh Lâm Đồng

Lâm Đồng là một trong năm tỉnh thuộc vùng Tây Nguyên, Việt Nam Lãnh thổ của tỉnh nằm gọn trong nội địa nước ta, không có đường bờ biển và là tỉnh duy nhất ở Tây Nguyên không có đường biên giới quốc tế Lâm Đồng có phía bắc giáp tỉnh Đăk Lăk và Đăk Nông, phía đông giáp Khánh Hòa và Ninh Thuận, phía nam là tỉnh Bình Thuận, Đồng Nai và phía tây là tỉnh Bình Phước

Lâm Đồng có diện tích tự nhiên 9.764,8 km2, chiếm 2,9% diện tích cả nước Dân

số vào khoảng 1.049.900 người (theo thống kê năm 2001), bằng 1,33% dân số nước ta Trong đó đồng bào dân tộc thiểu số chiếm khoảng 25% dân số trong toàn tỉnh So với các tỉnh của Việt Nam, Lâm Đồng đứng thứ 8 về diện tích và thứ 40 về số dân Lâm Đồng là vùng địa lý có vị trí quan trọng về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và là vùng đất giàu

về tài nguyên thiên nhiên, có những

Trang 13

thế mạnh và tiềm năng nhất định để phát triển kinh tế cũng như văn hóa về mặt vị trí, Lâm

Đồng là địa hình miền núi, nhiều đèo dốc, không giáp biển và nhất là việc giao lưu chỉ trông cậy vào đường bộ

Lâm Đồng là nơi tập trung của gần 40 dân tộc anh em cùng sinh sống, tạo nên một vùng văn hóa đa sắc màu, đa bản sắc, có nhiều phong tục tập quán và truyền thống tốt đẹp

Đã có khá nhiều di tích khảo cổ học chứng minh được ngay từ thời tiền sử vùng đất này đã có dấu ấn của con người nguyên thủy Trên vùng đất Lâm Đồng còn để lại những dấu ấn về những cuộc đấu tranh gian khổ, anh dũng của những người con Lâm Đồng trước thiên nhiên và các thế lực thù địch để có thể tồn tại và phát triển

1.2.1 Sơ lược về lịch sử hình thành tỉnh Lâm Đồng

Theo Đại Nam nhất thống chí, phần lớn lãnh thổ Lâm Đồng ngày nay thuộc tỉnh

Bình Thuận và Ninh Thuận Ranh giới của tỉnh dưới thời Mỹ ngụy lại có sự biến đổi Sau khi đất nước tái thống nhất, tỉnh Lâm Đồng có thêm những sự biến đổi nhất định Có thể kể

sơ lược về lịch sử của vùng đất này:

Vào ngày 1/11/1899 chính quyền Pháp lập tỉnh Đồng Nai thượng, tỉnh lỵ đặt tại Di Linh Nhưng đến năm 1903 bãi bỏ tỉnh Đồng Nai Thượng, chuyển thành đại lý hành chính

Di Linh, do đại diện của Công sứ Bình Thuận cai trị Đến năm 1913, Pháp nhập đại lý Đà Lạt với đại lý Di Linh, gọi chung là đại lý Di Linh và vẫn thuộc tỉnh Bình Thuận Tới ngày 6/1 /1916 thảnh lập tỉnh Lâm Viên gồm đại lý Đà Lạt mới lập lại và đại lý Di Linh, tách từ tỉnh Bình Thuận, tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt Tới ngày 31/10/1920, thực dân Pháp xóa bỏ tỉnh Lâm Viên, một phần lập ra thành phố Đà Lạt, phần còn lại lập lại tỉnh Đồng Nai Thượng, tỉnh lỵ đặt tại Di Linh Năm 1928 chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng về Đà Lạt Ngày 8/1/1941 lập lại tỉnh Lâm Viên, tỉnh lỵ đặt tại Đà Lạt Tỉnh lỵ tỉnh Đồng Nai Thượng chuyển

về Di Linh Đến năm 1952, tỉnh Lâm Đồng ra đời Ngày 19/ 5/ 1958, Ngô Đình Diệm ký sắc lệnh số 261/NV tách quận D’ran (Đơn Dương) ra khỏi tỉnh Đồng Nai Thượng, đồng thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đổi tên tỉnh Đồng

Trang 14

Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng, lấy hai quận Đức Trọng và Lạc Dương sáp nhập với thành phố Đà Lạt, thành lập tỉnh Tuyên Đức Lúc này, tỉnh Lâm Đồng gồm 2 quận Bảo Lộc (BTao) và Di Linh Tháng 5/1958 Ngô Đình Diệm đã cho cắt ranh giới từ cầu Đại Ninh đến Madagui và chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam nhập tỉnh Lâm Viên với tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng.Tháng 2/1976 sáp nhập tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Tuyên Đức thành tỉnh Lâm Đồng

Hiện nay, Lâm Đồng có 1 thành phố thuộc tỉnh, 1 thị xã và 11 huyện: gồm Thành Phố Đà Lạt, thị xã Bảo Lộc, các huyện: Lạc Dương, Đơn Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, Dam Rông, Bảo Lâm, Di Linh, Dạ Huoai, Dạ Tẻh, và Cát Tiên

Lâm Đồng là tên được ghép lại từ hai tên Lâm Viên và Đồng Nai Thượng Lâm Viên (hay Lâm Biên) vốn là tên gọi bị Hán hóa từ tên Langbiang, đây là truyền thuyết về mối tình đẹp đẽ, thủy chung của chàng Lang và nàng Biang Còn Đồng Nai Thượng là tỉnh được thành lập từ năm 1899 Năm 1095, tỉnh Đồng Nai Thượng bị bãi bỏ và đến năm 1920 được tái lập

1.2.2 Đặc điểm về địa lý tự nhiên

độ che phủ của thảm thực vật về nhiệt độ không khí, không có sự biến đổi lớn trong chu kỳ

năm, thời tiết ôn hòa, dịu mát quanh năm Ở đây ta cũng có thể thấy rõ nhiệt độ thay đổi giữa các khu vực, càng lên cao thì nhiệt độ càng có xu hướng giảm

Trang 15

1.2.3 Đặc điểm về dân tộc, dân cư

Lãnh thổ Lâm Đồng có đến gần 40 dân tộc anh em cùng sinh sống: Mạ, K’ho, Chu

ru, M’nöng, Chăm Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của các dân tộc không đồng đều, ngôn ngữ, phong tục tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo cũng như văn hóa cũng có những nét khác biệt nhất định tạo nên một bức tranh toàn cảnh vô cùng đặc sắc, phong phú, đa dạng Lâm Đồng được biết đến là tỉnh có tỉ lệ di dân cao thứ hai so với cả nước, sau tỉnh Đăk Lăk

1.2.4 Đặc điểm về văn hóa

Lâm Đồng có một nền văn hóa, lịch sử lâu đời Các dân tộc anh em trong tiến trình lịch sử lâu dài của mình đã để lại nhiều di tích tạo nên bản sắc cho từng dân tộc và hình thành nên bản sắc chung của văn hóa Lâm Đồng

Các di tích khảo cổ được tìm ra cho thấy vùng đất này còn lưu giữ nhiều dấu tích văn hóa, lịch sử của các dân tộc Nhiều công cụ lao động, dụng cụ gia đình, trang sức được tìm ra cho ta thấy những chứng tích sống động về cuộc sống của những con người và của các thời đại đã từng sinh sống trên mảnh đất này

Phong tục tập quán là yếu tố quan trọng làm nên sắc thái văn hóa riêng của mỗi dân tộc, địa phương

về vấn đề ngôn ngữ ở Lâm Đồng, ta có thể thấy được cư dân bản địa Lâm Đồng ran

giữ nguyên được trạng thái cổ mà dấu vết đậm nét của nó có thể thấy các ngôn ngữ dòng Môn - Khơ me ở Đông Nam Á như các ngôn ngữ M’nöng, Stieng, K’ho

Trang 16

CHƯƠNG 2

ĐỊA DANH CHỈ CÁC

ĐỐI TƯƠNG Tư NHIÊN

• •

về địa danh tự nhiên, chúng tôi tiếp thu ý kiến của các tác giả Nguyễn Kiên

Trường và Lê Trung Hoa, chúng tôi chia địa danh dựa vào ngữ nguyên và tìm hiểu trên các phương diện: địa danh thuần Việt, địa danh Hán Việt, địa danh có nguồn gốc ngôn ngữ dân tộc thiểu số, địa danh tên gọi có nguồn gốc nước ngoài và địa danh chưa giải thích được

2.1 Địa danh thuần Việt Dốc Khỉ

Sở dĩ có tên là dốc Khỉ vì nơi đây xưa kia có rất nhiều khỉ sinh sống

Dốc Mạ ơi

Thời người Thừa Thiên Huế đến mở đất khai hoang vùng rừng hoang vu này, ngày đó đời sống thiếu thốn mọi bề, mỗi lần họ lên nương gieo lúa, trỉa bắp phải trèo dốc chồn chân mỏi gối, có người đã buột miệng kêu: "Cực quá mạ ơi" Dần dần theo thói quen người ta gọi là dốc Mạ ơi

Trang 17

Nơi đây có khung cảnh đẹp, nên thơ nên tên đồi cũng được đặt với ý nghĩa ngợi ca khung cảnh nơi đây

Hồ Mê Linh

Trước được gọi là hồ St Benoit, đây là địa danh thuộc vùng Bắc Bộ có lịch sử chống ngoại xâm, nguyên là tên huyện thuộc đô Phong Châu thời thuộc nhà Hán gồm Sơn Tây và tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay

Hồ Suối Vàng

Tên suối Vàng đến nay vẫn chưa xác định được do ai đặt từ khi nào Tuy nhiên, có giả thuyết được kể lại rằng, trước đây vùng đất của dòng suối này có nhiều sa khoáng lẫn trong cát nên người dân gọi suối này là Suối Vàng

Hồ Than Thở

Thuở ban sơ, hồ Than Thở chỉ là một hồ nhỏ người Pháp đặt tên là Lac des Soupirs Ngoài

ra hồ còn có tên là Sương Mai, do buổi sáng sương phủ kín mặt hồ tạo nên cảnh thơ mộng đầy huyền ảo Nhưng người dân Đà Lạt và du khách vẫn quen gọi là hồ Than Thở gắn liền với bao truyền thuyết như chuyện tình cô giáo Thảo và anh chàng Tâm; Hoàng Tùng và Mai Nương

Hồ Xuân Hương

Hồ mang tên của một nữ thi sĩ Việt Nam của thế kỷ 19 được mệnh danh là “Bà chúa thơ Nôm” đã từng sáng tác những bài thơ có giá trị và được xem là một hiện tượng độc đáo trong văn học Việt Nam, một nét lạ của văn học thế giới: nữ sĩ Hồ Xuân Hương Ban đầu người Pháp gọi là Hồ Lớn ( Grand Lac) Đen năml953, ông Nguyễn Vỹ là chủ tịch Hội đồng Thị chính Đà Lạt lấy tên nữ sĩ nổi tiếng của Việt Nam để đổi tên là hồ Xuân Hương

Voi (núi, thác, suối)

Ngọn núi này đã được nhắc đến nhiều lần trong các truyện cổ và truyền thuyết của các dân tộc ở miền Nam Tây Nguyên trong việc bảo vệ quê hương, chống lại quân Chăm xâm lược vào các thế kỷ XV-XVII

Theo tiếng K’ho thác Voi gọi là Liêng Rơwa có nghĩa là thác của những con voi phủ phục hóa đá trước tình yêu nồng nàn.Truyền thuyết kể lại rằng: ‘Có hai con

Trang 18

voi vùng thượng La Ngà đi dự lễ cưới của chàng Lang và nàng Bian Khi đi đến ngọn núi

Cà Đắng thuộc vùng đèo Prenn, nghe tin đám cưới của hai người biến thảnh đám tang nên hai con voi đã quỵ ngã tại đây và đau buồn đến chết Xác của hai con voi này biến thành hai ngọn núi và từ đó người ta gọi là núi Voi

Một truyền thuyết khác: Tại vùng đất này có đôi tình nhân người K’ho KaYar và Ka Yung Chàng Ka Yar lên đường chinh chiến đánh quân Chăm và không trở về Nàng Ka Yung đau khổ ra suối ngồi khóc nước mắt nàng kết thành một dòng thác đó là thác Voi ngày nay Suối Voi có chiều dài trên lkm, thuộc huyện Đạ Hoai, tỉnh Lâm Đồng Suối mang tên là Suối Voi là vì con suối nằm trên lộ trình di chuyển của các đoàn voi rừng, chúng thường dừng chân uống nước tại đây

Sông Đồng Nai

Thượng nguồn sông Đồng Nai có tên là sông Đa Dưng, hay sông Đạ Đòng là từ tổ gốc K’ho

có nghĩa là sông lớn

Suôi Suôi Tiên

Một truyền thuyết liên quan: “Thuở đất trời còn gần, con người và các vị thần tiên dễ dàng gặp nhau và thân thiết, các nàng tiên nơi miền thuợng giới thường kéo nhau đến vùng này

để tắm mát vui chơi Đen một ngày con người không hiểu sao các nàng tiên đi biền biệt không quay về Con người luôn mong nhớ các nàng tiên nên đã đặt tên dòng suối nơi các nàng tiên thường tắm là Suối Tiên”

Thung lũng Tình Yêu

Trang 19

Ban đầu, người Pháp gọi nơi đây là Vallée d'Amour (thung lũng tình yêu) sau nó được đổi tên thành thung lũng Hòa Bình, và năm 1953 trở lại là thung lũng Tình yêu Có giả thiết cho rằng thung lũng này gần Đại học Đà Lạt, là nơi sinh viên thường hẹn hò cuối tuần để thổ lộ tình yêu, nên đã được sinh viên gọi là thung lũng Tình Yêu Một ý kiến khác: cái tên thung lũng Tình Yêu xuất phát từ tên cuốn tiểu thuyết “Thung lũng Tình yêu” được xuất bản vào đầu những năm 1970 của một nữ văn sĩ

2.2 Địa danh Hán Việt

Đồi Vọng Cảnh

Đây là quả đồi nằm giữa rừng thông bát ngát, trên đồi có một ngôi nhà dành cho du khách dừng chân ngắm cảnh núi Langbian và cảnh hồ Đa Thiện nên đồi này gọi là đồi Vọng Cảnh

Hồ Đa Thiện

Vào năm 1972, một đập ngăn nước được xây dựng, tạo hồ chứa nước phục vụ sản xuất

nông nghiệp ở khu vực Đa Thiện nên hồ mang tên của đập Đa Thiện Hồ Đơn Dương

Hồ được xây dựng nhằm giữ và điều hòa nước cho nhà máy thủy điện Đa Nhím Tên hồ được Hán hóa từ Dran thuộc ngôn ngữ K’ho

Hồ Tuyền Lâm

Không ai biết rõ xuất xứ tên hồ và có từ bao giờ Song theo cách chiết tự để giải thích của nhiều người thì ‘Tuyền” nghĩa là suối, ‘Lâm” nghĩa là rừng và người ta cùng hiểu rằng: Tuyền Lâm là nơi gặp nhau của suối và rừng

Trang 20

Các địa danh dưới đây có thể được Việt hóa, Hán hóa nhưng có đặc điểm chung là đều có nguồn gốc từ ngôn ngữ các dân tộc thiểu số bản địa

Núi Lang Bian

Núi Lang Bian còn được gọi là núi Bà hay núi Lâm Viên, tên Langbiang là tên của một dòng họ của người K’ho

Lang Bian đã khắc ghi kỷ niệm mối tình chung thủy của chàng Lang và nàng Bian Năm

1963, người ta tin rằng núi Bà là nơi Bồ tát Quan âm hiện đến để cứu chữa cho hàng ngàn người dân Đà Lạt khỏi bệnh trong phong trào đấu tranh đòi tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo

ở chế độ của Ngô Đình Diệm và tên núi Bà xuất hiện từ đó

Núi Yang Sin

Thường gọi là núi Chư Yang Sin, theo ngôn ngữ K’ho “chư” có nghĩa là “núi”; ‘Yang” là

“trời, thần”; “sin” là “cổng” Như vậy, Chư Yang Sin có nghĩa là núi cổng trời, hay đường lên trời

Sông Đạ Đừng

Sông Đạ Đòng hay còn gọi là sông Đa Dâng, tên sông là từ tổ gốc K’ho, có nghĩa là sông lớn, chỉ sông Đồng Nai ngày nay

Đạ Langbỉan (sông, suối)

Tên sông, suối có nguồn gốc từ tiếng K’ho, “dạ” có nghĩa là nước; “Langbian” là tên hai nhân vật trong chuyện tình Langbian đã kể trong truyền thuyết về núi LangBian

Sông Đa Nhim

Trang 21

Theo ngôn ngữ K’ho Đa Nhim có nghĩa là nước khóc, có lẽ là do nước chảy nghe buồn như tiếng khóc7

Cam Ly( thác, suối)

Tên thác Cam Ly do phát âm trại từ âm “KMLy” Đây là tên của một tù trưởng người K’ho Khi vị tù trưởng này chết, người dân của tộ người K’ho lấy tên ông đặt cho vùng đất có con suối mà họ xem là quê hương của họ, đồng thời ghi nhớ công ơn của ông KMLy đối với bộ tộc

Người Lạch gọi thác Cam Ly là Liêng Tô Sra, về sau đổi thảnh thác Cam Ly mang tên

đoạn suối chảy từ Liêng Tô Sra đến sông Dạ Đờng Đatanla (thác, suối)

Đatanla là ngôn ngữ của người K’ho có nghĩa là nước dưới lá Tuy nhiên, có người gọi là suối Mây vì vùng này trước đây có nhiều cây mây; nhưng cũng có giả thuyết cho rằng làn

nước bốc lên từ thác tựa như đám mây Có truyền thuyết kể về tên thác như sau : “Đatanỉa

là thác mà các nàng tiên thường hay xuống tắm vì có dòng nước trong vắt, được che phủ bởi nhiều tầng lá Vì không biết là dưới lá có nước nên khi phát hiện ra thác, bà con dân tộc

thiểu số đặc tên cho nó là “Đạ Tam Nnha” có nghĩa là “dưới lá có nước" Sau này khi

người Pháp và người Kinh đặt chân lên vùng cao nguyên này thì biến âm thành Đatina rồi

1 àĐatanỉa”

Thác Bobla

Trong ngôn ngữ của người K’ho, Bobla do được đọc chệch từ hai âm ‘Tố Pla”, có nghĩa là

‘Dầu ngà voi”; “ Pố” có nghĩa là đầu và ‘Tla” có nghĩa là ngà voi

7 Lc Trung Hoa, 2006, Địa danh học Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, trang 117

Trang 22

Người K’ho ở Di Linh luôn tự hào về lịch sử của cha ông trong những chiến công oanh liệt trước nạn ngoại xâm, đặc biệt là chàng dũng sĩ Liang Dăm đã được gắn liền với ngọn thác này

Thác Cửa Thần

Thác Cửa Thần có tên K’ho là Liêng Mpông Yang, tên thác có từ một huyền thoại kể rằng:

“Vùng đất này xưa kia được bà con bộ tộc Srê chọn làm nơi sinh sống, cả Bon đói nghèo Già làng đã một mình lặn lội khắp núi rừng để săn bắt, kiếm cái ăn cứu sống dân làng Ông được một vị thần hiện lên chỉ chỗ cho bắt cá cứu sống con em Sau đó vị thần biến mất vào trong hang đá có cửa hé mở Để tưởng nhớ vị thần đã cứu giúp dân làng bà con bộ tộc Srê gọi dòng thác này là Liang Mpông Yàng - có nghĩa là Thác Cửa Thần”

Thác Đa Bin

Thác Đa Bin còn gọi là thác Dạ KTả , hiện vẫn chưa rõ ý nghĩa tên thác là gì, nhưng có lẽ

là do bắt nguồn từ tiếng K’ho vì có chứa yếu tố ‘ĩ)a” có nghĩa là nước

‘Gougar” Theo tiếng K’ho, tên Gougar có nghĩa là: bờ sông giống cái cũi lồng Có rất nhiều chuyện kể về hoàng hậu Nai Biut gắn liền với vùng đất này

Thác Jraibilan

Trang 23

Tên Churu có nghĩa là thác đá cao Người Kinh gọi là thác Bảo Đại, bởi lẽ vua Bảo Đại khi còn đương chức thường ghé chân dừng nghỉ mát trong những chuyến đi săn

Prenn (thác, núi)

Theo ngôn ngữ của người K’ho, Prenn có nghĩa là vùng đất bị chiếm đóng Nhưng có tài liệu cho biết, một số dân tộc ít người ở vùng Lâm Đồng ngày xưa gọi người Chăm là Prenn Tên núi cũng có ý nghĩa như tên thác Prenn Ngoài ra núi còn có tên là núi Cà Đắng, tên một loại cà ăn rất ngon, là đặc sản vùng này

2.4 Địa danh tên gọi có nguồn gốc nước ngoài

Đèo Ngoạn Mục

Tên Ngoạn Mục được dịch từ tên Belle Vue ( ngoạn mục) ngày xưa do Pháp đặt Đèo còn được gọi là đèo Sông Pha vì dưới chân đèo có con sông Pha, theo người dân tộc sông này gọi là Krông-fa, một nhánh của Krông Panh Tiếng dân tộc Krông có nghĩa là con sông

Thác Pongour

Tên Pongour có nguồn gốc từ ngôn ngữ của người K’ho là “pon” và “gou”, mà người Pháp

đã phiên âm thành “Pongour” Nhưng ý nghĩa của tên thác thì có nhiều giả thuyết khác nhau: “Ponguo” có nghĩa là ông chủ của vùng đất sét trắng, hay có nghĩa là bốn sừng tê giác với nghĩa đen của từ vựng “pon”: bốn và “gou: sừng”

2.5 Địa danh chưa giải thích được

Trang 24

Do giới hạn của đề tài nên chúng tôi chưa có điều kiện tìm hiểu hết nguồn gốc của các địa danh của tỉnh Lâm Đồng Chúng tôi sẽ cố gắng giải thích ý nghĩa các địa danh này nếu có dịp nghiên cứu ở cấp cao hơn

Dốc Dạ Hương, đèo Đa Tun

Núi:Tiou Hoan, Kdam Sêna, Gia Ríc, (Chư) Yang Bông

Suối Tía, Đại Nga, Đam Rông, Đạ Tam

Sông Đạ Rỉam, Đa Kor, Đa Mẽ, Đa Riam, Đak Lom Be, Đa Sou, Đa Rỉum, Đa Tou Krao, Đak Troung, Đa Ta Ne Đô, Đa Sê Đang, Đak En, Đa Se Do, Đa Queyon, Dar Bao, Ta

Li, Dad Tỉ Ra, Liêng Sê Rôn, Đa Goub, Nhun, Đak Trang, Đa.K Trou, Dak Ke Gui, Dak

Me, Dak Heur, La Bá, Đa Tam, Đa Kai, Đa Sal, Đa Queyon, Dạ Bình

Thác M’Bông Yang, Li Liang, Ankroet( thác, hồ), Đa Mê, Hòn Nga Hồ

Hàm Thuận

Ngày đăng: 06/03/2017, 13:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w