1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ôn thi triết học cao học

18 543 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 248,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong 2 nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác xít. Nguyên lý này nói lên mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều có mối liên hệ với nhau trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định.

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG ÔN THI TRIẾT HỌC MÁC-LÊNIN

Câu 1: Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và ý nghĩa phương pháp luận của vấn đề này?

a) Đặt vấn đề:

- Nguyên lý về mối liên hệ phổ biến là một trong 2 nguyên lý cơ bản của phép biện chứng duy vật trong triết học Mác xít

- Nguyên lý này nói lên mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều

có mối liên hệ với nhau trong những điều kiện, hoàn cảnh nhất định

b) Các quan điểm khác nhau về mối liên hệ:

- Quan điểm siêu hình:

+ Các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất tồn tại tách rời nhau, giữa chúng không có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, nếu có cũng chỉ là mối liên

hệ bề ngoài, ngẫu nhiên

+ Đồng thời, cũng có người thừa nhận sự liên hệ và tính đa dạng của nó thì lại phủ định khả năng chuyển hoá lẫn nhau giữa các hình thức liên hệ khác nhau

- Quan điểm biện chứng:

+ Thế giới vật chất là một chỉnh thể thống nhất, dù đa dạng cũng thống nhất

Ví dụ: con người có nhiều bộ phậ nhưng thống nhất trong cơ thể Nếu một bộ phận

bị tổn thương thì ảnh hưởng đến những bộ phận khác

+ Các sự vật, hiện tượng và các quá trình vừa có sự tách biệt, vừa có sự liên hệ qua lại, thâm nhập và chuyển hoá lẫn nhau

Cuối cùng, quan điểm biện chứng kết luận: Mối liên hệ là khái niệm chỉ sự tác động, ràng buộc, quy định, chuyển hoá lẫn nhau của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan

c) Tính chất của mối liên hệ

- Tính khách quan: Tính khách quan của mối liên hệ thể hiện ở 2 nội dung

sau:

+ Xuất phát từ tính thống nhất vật chất của thế giới Thế giới là thống nhất nên liên hệ là khách quan

+ Mối liên hệ tồn tại bên ngoài ý thức của con người, dù chúng ta muốn hay không muốn chúng vẫn tồn tại

- Tính phổ biến: Mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng mang tính phổ biến

thể hiện: Không có sự vật hiện tượng nào của thế giới vật chất mà không có mối liên hệ Mối liên hệ tồn tại trong cả 3 lĩnh vực: tư nhiên, xã hội và tư duy

+ Nếu xét về mặt không gian: mỗi một sự vật, hiện tượng là một chỉnh thể riêng biệt, song chúng tồn tại không phải trong một trạng thái biệt lập, tách rời tuyệt đối với các sự vật khác Trong hiện thực khách quan không có sự vật, hiện tượng nào cô lập, không nhận tác động và không tác động đến sự vật khác Ngược lại, các sự vật vừa tách biệt nhau vừa phụ thuộc nhau, đó chính là hai mặt của một quá trình tồn tại, vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng

Ăngghen đã khẳng định: “Tất cả thế giới mà chúng ta có thể nghiên cứu được

là một hệ thống, một tập hợp gồm các tập thể khăng khít với nhau, việc các vật thể

ấy đều có mối liên hệ qua lại với nhau đã có nghĩa là các vật thể này tác động lẫn nhau và sự tác động qua lại ấy chính là sự vận động”

+ Nếu xét về mặt cấu tạo, cấu trúc bên trong của mỗi sự vật, hiện tượng: các yếu tố, các bộ phận cấu thành nên một sự vật nào đó đều tồn tại trong một tổ chức

Trang 2

nhất định, đều được sắp xếp theo một trật tự nhất định Các bộ phận đó không thể tồn tại trong một trạng thái hỗn độn hoặc hoàn toàn tách rời nhau không có liên hệ với nhau Giữa các bộ phận, các yếu tố đó có mối liên hệ, trong đó mỗi bộ phận, mỗi yếu tố vừa đảm trách phần việc của mình vừa tạo điều kiện cho những bộ phận khác Do vậy, sự biến đổi của một bộ phận nào đó trong cấu trúc của sự vật sẽ gây ảnh hưởng đến những bộ phận khác cũng như đối với toàn bộ chỉnh thể sự vật + Nếu sét về mặt thời gian: mỗi một sự vật, hiện tượng nói riêng và cả thế giới nói chung trong quá trình tồn tại, phát triển của mình đều phải trải qua những giai đoạn, những thời kỳ khác nhau, thể hiện rõ nhất là giai đoạn phát sinh, giai đoạn phát triển, giai đoạn suy tàn và giai đoạn chuyển hóa thành cái khác Các giai đoạn, các thời kỳ đó có mối liên hệ không tách rời nhau mà làm tiền đề cho nhau, sự kết thúc của giai đoạn này lại là điểm mở đầu cho giai đoạn tiếp sau Như vậy giữa quá khứ, hiện tại và tương lai có mối liên hệ với nhau có sự chuẩn bị cho nhau

- Tính da dạng, phong phú: Mối liên hệ phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng

được thể hiện rất phong phú, rất đa dạng Xuất phát từ tính đa dạng của thế giới vật chất nên mối liên hệ cũng đa dạng, phong phú Khi nghiên cứu về hiện thực khách quan có thể phân chia chúng ra thành từng loại khác nhau tùy theo tính chất phức tạp hay đơn giản, phạm vi rộng hay hẹp, trình độ nông hay sâu… Khái quát lại có những mối liên hệ chính phổ biến sau đây:

+ Mối liên hệ bên trong và liên hệ bên ngoài

+ Mối liên hệ chủ yếu và thứ yếu

+ Mối liên hệ chung và riêng

+ Mối liên hệ trực tiếp và gián tiếp

+ Mối liên hệ tất nhiên và ngẫu nhiên

+ Mối liên hệ bản chất và không bản chất

Mỗi loại mối liên hệ nêu ra trên đây có vai trò khác nhau đối với sự vận động

và phát triển của sự vật Mối liên hệ bên trong là sự tác động qua lại, sự qui định,

sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các yếu tố, các thuộc tính, các mặt của sự vật Mối kiên hệ này giữ vai trò quyết định tới sự tồn tại và phát triển của sự vật

Mối liên hệ bên ngoài là mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng Mối kiên hệ này nói chung không giữ vai trò quyết định đối với sự tồn tại vận động và phát triển của sự vật

Các cặp mối liên hệ khác cũng có mối liên hệ biện chứng của các cặp mối liên

hệ đã nêu trên Đương nhiên mỗi cặp mối liên hệ có những đặc trưng riêng Trong các cặp mối liên hệ đó, nói chung mối liên hệ bản chất, mối liên hệ tất nhiên, mối liên hệ chủ yếu… giữ vai trò quyết định Song tuỳ theo những điều kiện, hoàn cảnh

cụ thể các mối liên hệ tương ứng với chúng có thể giữ vai trò quyết định Nói cách khác vai trò quyết định của các mối liên hệ trong từng cặp một phụ thuộc vào quan

hệ hiện thực xác định

Sự phân chia từng cặp mối liên hệ chỉ mang tính tương đối, vì mỗi loại mối liên hệ chỉ mang tính hình thức, 1 bộ phận, 1 mắc xích của mlh phổ biến Tuy sự phân chia thành các mối liên hệ chỉ mang tính tương đối, nhưng sự phân chia đó lại rất cần thiết, bởi vì mỗi loại mối liên hệ có vị trí và vai trò xác định trong sự vận động và phát triển của sự vật Con người phải nắm bắt đúng các mối liên hệ đó để

có cách tác động phù hợp nhằm đưa lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của mình

Trang 3

- Triết học Mác xít cũng đồng thời chỉ rõ rằng: các loại liên hệ khác nhau có khả năng chuyển hóa cho nhau, thay đổi vị trí, vai trò cho nhau Điều này tùy thuộc vào sự thay đổi phạm vi bao quát của việc nghiên cứu hoặc do kết quả vận động của chính bản thân hiện thực đó

d) Ý nghĩa phương pháp luận

- Trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn phải quán triệt quan điểm toàn diện Quan điểm toàn diện yêu cầu:

+ Khi xem xét các sự vật, hiện tượng phải xem xét tất cả các mối liên hệ, các khâu trung gian, phải đặt trong điều kiện thời gian, không gian nhất định

+ Chống lại cách xem xét cào bằng, dàng trãi, coi mọi mối liên hệ như nhau + Chống lại quan điểm siêu hình, phiến diện, một chiều

+ Chống lại thuật nguỵ biện, quy các thứ yếu thành chủ yếu, cái không cơ bản thành cơ bản

Cụ thể khi cần nghiên cứu sự vật, hiện tượng nào đó phải đặt chúng trong mối quan hệ với các sự vật, hiện tương khác Phát hiện ra những mối liên hệ qua lại giữa các yếu tố, bộ phận, thuộc tính, các giai đoạn phát triển khác nhau của sự vật

đó Lênin khẳng định: “Muốn thật sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó” Mặt khác, để nhận thức đúng về sự vật còn đòi hỏi phải xem xét nó trong mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con người, ứng với mỗi thời kỳ, mỗi thế hệ con người bao giờ cũng chỉ phản ánh được một số lượng hữu hạn mối liên hệ Vì vậy tri thức đạt được về sự vật chỉ là tương đối, không đầy đủ và cần được bổ sung thêm Mặt khác, cần phải biết phân loại, đánh giá chính xác tính chất, vai trò, ý nghĩa của mỗi loại liên hệ đối với sự tồn tại, phát triển của sự vật

Đồng thời, để cải tạo được sự vật cần phải làm biến đổi những mối liên hệ của

sự vật đó với các sự vật khác, đặc biệt là mối liên hệ bên trong, trực tiếp, bản chất Cần phải xây dựng kế hoạch tổng thể và phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp, phương pháp, phương tiện khác nhau để tác động Mặt khác, quan điểm toàn diện cũng đòi hỏi cần phải kết hợp chặt chẽ chính sách dàn đều và chính sách có trọng điểm, vừa chú ý giải quyết cái tổng thể vừa biết lựa chọn vấn đề trung tâm, trọng tâm để giải quyết dứt điểm tạo đà cho việc giải quyết các vấn đề khác

Vận dụng vào công cuộc đổi mới:

Trong sự nghiệp đổi mới ở Việt Nam, Đảng ta đã xác định: đổi mới toàn diện, mọi mặt đời sống xã hội Trong đó trọng tâm là đổi mới kinh tế Theo từng bước đổi mới kinh tế chúng ta thận trọng từng bước đổi mới hệ thống chính trị, cải cách hành chính nhưng không thay đổi mục tiêu chính trị mà đổi mới nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng Cộng sản Tại Đại hội Đảng lầ thứ VIII, Đảng CSVN đã khẳng định: “Xét trên tổng thể Đảng ta đã bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối đối nội và đối ngoại, không có sự đối nội

đó thì không có mọi sự đổi mới khác Song Đảng ta đã đúng khi tập trung trước hết

và việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đổi mới kinh tế, khắc phục khủng hoảng kinh tế-xã hội, tạo tiền đề cần thiết về vật chất và tinh thần để giữ vững ổn định chính trị, xây dựng và củng cố niềm tin của nhân dân, tạo điều kiện để đổi mới các mặt khác của đời sống xã hội”

- Về kinh tế: Đổi mới từ cơ chế bao cấp sang cơ chế kinh tế thị trường Đến thời điểm này cho thết đây là đường lối đúng đắn Nước ta đã không ngừng phát triển về kinh tế

Trang 4

- Về xã hội: Giải quyết tốt mối liên hệ giữa công nhân, nông dân, trí thức tạo thành mối liên hệ công-nông-trí

- Về chính trị: Đổi mới hệ thống chính trị, bằng cách xác định rõ nhiệm vụ, chức năng, tránh chồng chéo, tạo sự phối hợp đồng bộ giữa Đảng và Nhà nước

- Về tư tưởng: Với 3 bộ phận chủ yếu là văn hoá-giáo dục đào tạo-khoa học công nghệ phải có mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, khoa học công nghệ là then chốt, văn hoá là nền tảng

Câu 2: Thế nào là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập? Liên

hệ với cuộc đấu tranh chống tiêu cực và vai trò của người thi hành pháp luật?

a) Đặt vấn đề

Với tư cách là một khoa học, phép biện chứng duy vật nghiên cứu những qui luật phổ biến tác động trong tất cả các lĩnh vực tự nhiên, xã hội và tư duy con người Các qui luật cơ bản, phổ biến của phép biện chứng phản ánh quá trình vận động và phát triển từ những phương diện cơ bản nhất của nó Quy luật chuyển hoá

từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại cho biết phương thức của sự vận động và sư phát triển; quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập làm sáng tỏ nguồn gốc của sự vận động và phát triển và quy luật phủ định của phủ định cho biết khuynh hướng của quá trình phát triển qua việc làm sáng tỏ mối liên hệ giữa những nấc thang khác nhau của quá trình đó Trong đó, quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập được đánh giá là hạt nhân của phép biện chứng duy vật, bởi lẽ nó vạch ra nguồn gốc, động lực bên trong của sự vận động, phát triển của các sự vật, hiện tượng Việc nắm vững nội dung của quy luật này là cơ sở, điều kiện để có thể nhận thức được tất cả những phạm trù, nguyên lý và những quy luật khác của phép biện chứng duy vật Như Lênin đã khẳng định: «Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng”

b) Nội dung của quy luật

Mọi sự vật và hiện tượng đều chứa đựng những mặt, những khuynh hướng đối lập tạo thành những mâu thuẫn trong bản thân mình; sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tạo thành xung lực nội tại của sự vận động và phát triển, dẫn tới sự mất đi của cái cũ và sự ra đời của cái mới

- Mâu thuẫn là sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau giữa các mặt đối lập trong

1 sự vật, hiện tượng Mặt đối lập là một phạm trù của phép biện chứng dùng để chỉ những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau tồn tại một cách khách quan trong tự nhiên, xã hội

và tư duy Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ tác động qua lại với nhau, tạo thành mâu thuẫn biện chứng và mâu thuẫn này tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên xã hội và tư duy

+ Mâu thuẫn là một hiện tượng khách quan: mâu thuẫn là cái vốn có bên trong của mọi sự vật, hiện tượng Mâu thuẫn tồn tại bên ngoài ý thức của con người, dù chúng ta có muốn hay không muốn nó vẫn tồn tại

+ Mâu thuẫn là một hiện tượng phổ biến: Mâu thuẫn tồn tại trong mọi giai đoạn phát triển của sự vật, hiện tượng Mâu thuẫn này mất đi mâu thuẫn khác lại sinh ra Mâu thuẫn tồn tại trong cả 3 lĩnh vực là tự nhiên, tư duy và xã hội Trong

tự nhiên, nguyên tử với tính cách là yêu tố cấu thành phân tử có hạt mang điện tích

Trang 5

dương, có hạt manh điện tích âm ; trong cơ thể sinh vật có yếu tố di truyền, có yêu

tố gây biến dị, có quá trình đồng hóa, có quá trình dị hoá, Trong tư duy, mẫu thuẫn là sự phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức, của tư duy trong con đường vươn tới chân lý khách quan, chân lý tuyệt đối về hiện thực Trong xã hội, mẫu thuẫn giữa giai cấp bóc lột với giai cấp bị bóc lột

- Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, đòi hỏi có nhau của các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền

đề Như vậy, cũng có thể xem xét sự thống nhất của hai mặt đối lập là tính không thể tách rời của hai mặt đó Giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau, đồng nhất với nhau Với ý nghĩa đó, sự thống nhất của các mặt đối lập còn bao hàm sự đồng nhất của các mặt đó Do có sự đồng nhất của các mặt đối lập

mà trong sự triển khai của mâu thuẫn, đến một lúc nào đó, mặt đối lập này có thể chuyển hoá sang mặt đối lập kia Sự thống nhất của các mặt đối lập còn được biểu hiện ở sự tác động ngang nhau giữa chúng Song đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển, khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập

- Đấu tranh giữa các mặt đối lập là sự tác động qua lại theo xu hướng bài trừ

và phủ định lẫn nhau giữa các mặt đó Đấu tranh giữa các mặt đối lập diễn ra dưới nhiều hình thức đa dạng tùy thuộc vào tính chất của các mặt đối lập cũng như mối quan hệ qua lại giữa chúng, phụ thuộc vào lĩnh vực tồn tại của các mặt đối lập, vào điều kiện mà trong đó diễn ra cuộc đấu tranh giữa chúng Vì vậy, không nên hiểu đơn giản đấu tranh chỉ còn là sự thủ tiêu lẫn nhau của các mặt đối lập Thực ra sự thủ tiêu lẫn nhau chỉ là một trong nhiều hình thức đấu tranh, chẳng hạn như sự ảnh hưởng làm biến đổi lẫn nhau, cải tạo nhau, chế ước, thúc đẩy và chuyển hóa cho nhau

- Mối quan hệ giữa thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Sự thống nhất có quan hệ hữu cơ với trạng thái đứng im, ổn định tạm thời của sự vật; còn sự đấu tranh có quan hệ gắn bó với trạng thái vận động, phát triển của sự vật Do đó,

sự thống nhất của các mặt đối lập là tương đối, còn đấu tranh giữa chúng mới là tuyệt đối Lênin đã từng khẳng định: “Sự thống nhất của các mặt đối lập là có điều kiện tạm thời, thoáng qua, tương đối, sự đấu tranh giữa các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt đối cũng như sự phát triển, sự vận động là tuyệt đối » Bản thân các mặt đối lập đã chứa đựng trong nó những đặc điểm, những tính chất có khuynh hướng vận động trái chiều nhau Do đó, sự cân bằng hay sự tác động ngang bằng nhau giữa chúng chỉ là tạm thời trong điều kiện, thời điểm nhất định Khi hai mặt

đó xung đột với nhau gay gắt mâu thuẫn giữa chúng trở nên căng thẳng thì nhất định đến lúc nào đó chúng sẽ chuyển hóa cho nhau Kết quả là sự thống nhất cũ bị phá hủy, mâu thuẫn cũ được giải quyết, sự thống nhất mới được thiết lập cùng mâu thuẫn mới và cuộc đấu tranh giữa hai mặt đối lập lại tiếp tục diễn ra.Tính tuyệt đối của cuộc đấu tranh gắn liền với sự tự thân vận động, tự thân phát triển của thế giới vật chất

- Thống nhất của các mặt đối lập là điều kiện để các mặt đối lập triển khai cuộc đấu tranh giữa chúng Sự thống nhất tạo điều kiện để sự vật thể hiện nó đang còn là nó, phân biệt nó với cái khác Còn đấu tranh giải quyết mâu thuẫn làm cho

sự vật chuyển hóa thành cái khác, sự vật cũ mất đi, sự vật mới ra đời

Tóm lại, sự vận động và phát triển của sự vật bao giờ cũng là sự kết hợp giữa tính ổn định và tính thay đổi, thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập quy định

Trang 6

tính ổn định và tính thay đổi của sự vật Vì vậy, Triết học ML khẳng định : “Mâu thuẫn chính là nguồn gốc của sự vận động, phát triển, là xung lực của sự sống

c) Các loại mâu thuẫn

- Căn cứ vào quan hệ giữa các mặt đối lập với một sự vật, người ta chia ra mâu thuẫn bên trong, mâu thuẫn bên ngoài

+ Mâu thuẫn bên trong là sự tác động qua lại giữa các mặt, các khuynh hướng đối lập của cùng một sự vật Mâu thuẫn bên trong có vai trò quyết định trực tiếp đối với quá trình vận động và phát triển của sự vật

+ Mâu thuẫn bên ngoài là mâu thuẫn diễn ra trong mối liên hệ giữa sự vật đó với các sự vật khác nhau

- Dựa trên ý nghĩa đối với sự tồn tại và phát triển của toàn bộ sự vật, các mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn không cơ bản

+ Mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của sự vật, quy định sự phát triển ở tất cả các giai đoạn của sự vật, nó tồn tại trong suốt quá trình tồn tại của sự vật

+ Mâu thuẫn không cơ bản là mâu thuẫn đặt trưng cho một phương diện nào

đó của sự vật, nó quy định sự vận động và phát triển của một mặt nào đó của sự vật

- Căn cứ vào vai trò của mâu thuẫn đối với sự tồn tại và phát triển của sự vật, các loại mâu thuẫn được chia thành mâu thuẫn chủ yếu và mâu thuẫn thứ yếu

+ Mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn nổi lên hàng đầu ở một giai đoạn phát triển nhất định của sự vật, giải quyết nó sẽ tạo điều kiện để giải quyết mâu thuẫn khác ở cùng giai đoạn Mâu thuẫn chủ yếu có tác dụng quyết định đối với các mâu thuẫn khác trong cùng giai đoạn phát triển của sự vật

+ Mâu thuẫn thứ yếu là mâu thuẫn không đóng vai trò quyết định

- Căn cứ vào tính chất các lợi ích đối lập tạo thành mâu thuẫn xã hội, người ta chia các loại mâu thuẫn trong xã hội thành mâu thuẫn đối kháng và mâu thuẫn không đối kháng

+ Mâu thuẫn đối kháng là mâu thuẫn giữa những giai cấp, những tập đoàn người, những xu hướng xã hội có lợi ích cơ bản đối lập nhau

+ Mâu thuẫn không đối kháng là mâu thuẫn giữa những lực lượng, khuynh hướng xã hội có đối lập về lợi ích không cơ bản, cục bộ, tạm thời

d)Liên hệ

- Cuộc đấu tranh chống tiêu cực hiện nay thực chất là cuộc đấu tranh để giải quyết những mâu thuẫn giữa các mặt, yếu tố tích cực, cách mạng và khoa học với những mặt, những yếu tố, những nhân tố tiêu cực, phản cách mạng, không khoa học nhằm đem lại thắng lợi cho cái tích cực Qua đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội Việt Nam theo mục tiêu chung là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

- Cuộc đấu tranh chống tiêu cực mang tính phức tạp và diễn ra trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Chúng ta phải vừa đấu tranh xóa bỏ những tàn dư của xã hội cũ để lại vừa đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực mới nảy sinh trong quá trình cải tạo và xây dựng CNXH, vừa đấu tranh chống lại sự xâm nhập cùng âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch vừa phải đấu tranh chống lại tác động, mặt trái của cơ chế thị trường… Mặt tiêu cực bao gồm tất cả những gì là đối lập với tích cực Vì vậy đối tượng của cuộc đấu tranh là rất rộng, từ những hiện tượng tội phạm, tệ nạn xã hội đến những hành vi, hành động cản trở sự nghiệp công nghiệp

Trang 7

hóa, hiện đại hóa đi ngược lại nền văn hóa dân tộc và đi ngược lại lợi ích quốc gia, tiến bộ xã hội

Hiện nay Việt nam chủ trương thực hiện mở rộng kinh tế thị trường, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, điều này vừa có ý nghĩa tích cực cho quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá, đồng thời mặt trái của nó cũng tạo ra kẻ hở để hiện tượng tiêu cực có thể phát triển và lây lan Điều quan trọng trong cuộc đấu tranh là phải nghiên cứu tìm hiểu sự phát sinh, tồn tại, sự mở rộng của những mặt tiêu cực, đánh giá đúng đặc điểm, tính chất của mỗi hiện tượng tiêu cực và trên từng lĩnh vực Từ

đó tìm ra phương thức, biện pháp, phương tiện bố trí lực lượng giải quyết mâu thuẫn và cần linh hoạt trong việc sử dụng, kết hợp đồng bộ các biện pháp để giải quyết mâu thuẫn, từ giáo dục thuyết phục, cảm hóa đến trừng phạt cưỡng bức; từ hành chính đến pháp luật

đ) Ý nghĩa của quy luật mâu thuẫn

- Chúng ta phải thừa nhận tính khách quan của mâu thuẫn trong mọi sự vật, hiện tượng

- Khi phân tích mâu thuẫn phải xét toàn diện các mặt đối lập, quá trình phát sinh, phát triển và yếu tố tác động đến

- Khi mâu thuẫn đã chín mùi phải biết giải quyết mâu thuẫn đúng lúc, đúng chỗ Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện và mâu thuẫn chỉ được giải quyết bằng con đường đấu tranh chứ không phải dung hoà các mặt đối lập

- Mâu thuẫn khác nhau phải được giải quyết bằng phương pháp khác nhau

g) Liên hệ vận dụng quy luật ở Việt Nam

Hiện nay Việt Nam đi lên CNXH bỏ qua giai đoạn TBCN nên xuất hiện nhiều mâu thuẫn Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã chỉ ra những mâu thuẫn chủ yếu sau:

- Mâu thuẫn giữa trạng thái kinh tế xã hội kém phát triển với yêu cầu xây dựng một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh

- Mâu thuẫn giữa con đường đi lên CNXH và TBCN

- Mâu thuẫn giữa mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH với các thế lực cản trở con đường phát triển đất nước theo mục tiêu đó

- Mâu thuẫn giữa nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan trong quá trình đi lên CNXH

Trên cơ sở đánh giá đúng tình hình, phân tích cụ thể mâu thuẫn Đảng ta đã đề

ra phương pháp giải quyết mâu thuẫn như sau :

- Giải quyết mâu thuẫn trong nước không thể tách rời những vấn đề toàn cầu Đây là việc giữ gìn hòa bình, chống chiến tranh và bảo vệ môi trường

- Để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh theo con đường XHCN điều quan trọng nhất là cải cách căn bản kinh tế xã hội kém phát triển, Nhà nước là đại diện cho ý chí và quyền lực của nhân dân, Nhà nước của dân, do dân, vì dân, phát huy sức mạnh toàn của dân tộc Đó là động lực trực tiếp có ý nghĩa quyết định đối với công cuộc đổi mới Cùng với động lực kinh tế và chính trị, văn hoá, khoa học, giáo dục cũng là động lực quan trọng

- Ngoài các nguồn lực bên trong, nguồn lực bên ngoài cũng rất quan trọng Đó

là sức mạnh thời đại, sức mạnh đại đoàn kết quốc tế là căn bản, cần tranh thủ thành tựu khao học công nghệ, văn minh của nhân loại cùng với sự hợp tác có hiệu quả của các quốc gia

Trang 8

Câu 3: Thực tiễn và vai trò của thực tiễn

a) Khái niệm, tính chất và hình thức của hoạt động thực tiễn

* Khái niệm

Thực tiễn là những hoạt động vật chất có mục đích mang tích lịch sử xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội

- Hoạt động thực tiễn khác với hoạt động tư duy ý thức, trong hoạt động thực tiễn con người đã sử dụng những công cụ, những phương tiện vật chất tác động vào những đối tượng vật chất để làm biến đổi chúng Do vậy hoạt động thực tiễn trước hết là hoạt động vật chất của con người

- Hoạt động thực tiễn là hoạt động có mục đích của con người, nếu con vật chỉ hoạt động theo bản năng để thích nghi với môi trường và thừa hưởng những gì có sẳn trong tự nhiên, thì ở con người, hoạt động phải theo mục đích nhằm cải tạo thế giới và tạo ra của cải vật chất thỏa mãn nhu cầu vật chất thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của mình Con người không chỉ thỏa mãn với những gì mà tự nhiên có sẳn bằng hoạt động thực tiễn mà trước hết là lao động sản xuất con người đã sáng tạo ra những vật phẩm vốn đã không tồn tại sẵn trong thiên nhiên

- Thực tiễn là phương thức tồn tại của bản thân con người và xã hội, là phương thức đầu tiên và chủ yếu của mối quan hệ giữa con người với giới tự nhiên, là tiêu chí cơ bản để phân biệt con người với con vật

* Tính chất

Hoạt động thực tiễn cũng là hoạt động bản chất của con người và của cả xã hội người Hoạt động đó chỉ có thể tiến hành trong môi trường xã hội, trong các quan hệ xã hội Vì vậy thực tiễn cũng có quá trình vận động và phát triển của mình cùng với sự vận động phát triển của xã hội loài người Trình độ phát triển của thực tiễn nói lên trình độ chinh phục giới tự nhiên và làm chủ xã hội của con người Mỗi một thời kỳ, một giai đoạn trình độ đó đuợc biểu hiện khác nhau Do đó, về mặt nội dung cũng như về phương thức thực hiện, thực tiễn có tính lịch sử - xã hội

* Hình thức hoạt động thực tiễn

Triết học Mác xít cũng chỉ rõ thực tiễn bao gồm 3 dạng hoạt động cơ bản sau:

- Hoạt động sản xuất của cải vật chất: Đây là dạng hoạt động thực tiễn nguyên thuỷ nhất và cơ bản nhất, vì nó quyết định sự tồn tại và phát triển của con người và quyết định các dạng khác của hoạt động thực tiễn, nó tạo thành cơ sở của tất cả các hình thức khác của hoạt động sống của con người, giúp con người thoát khỏi giới hạn tồn tại của động vật

- Hoạt động chính trị xã hội: là hoạt động nhằm biến đổi các quan hệ xã hội, chế độ xã hội; có tác dụng trực tiếp trong việc thúc đẩy sự chuyển biến sự thay đổi của các chế độ xã hội, đặc biệt là sự đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội

- Hoạt động thực nghiệm khoa học: đây là một dạng hoạt động đặc biệt của thực tiễn được tiến hành trong môi trường trong điều kiện nhân tạo nhằm nhận thức và cải tạo tự nhiên xã hội Dạng hoạt động này ngày càng trở nên quan trọng trong sự phát triển của xã hội đặc biệt là trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại

b) Vai trò của thực tiễn

Thực tiễn có vai trò hết sức quan trọng đối với nhận thức, vai trò đó được thể hiện trên các điểm chính sau:

Trang 9

- Thực tiễn là cơ sở của nhận thức Con người trong quan hệ với thế giới

không phải bắt đầu bằng lý luận mà bằng thực tiễn Chính từ quá trình hoạt động thực tiễn cải tạo thế giới mà nhận ở con người được hình thành và phát triển Bằng hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới, buộc thế giới phải bộc lộ những thuộc tính, những tính quy luật để con người nhận thức chúng Ban đầu con người thu nhận những tài liệu cảm tính, sau đó tiến hành so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá,… để phản ánh bản chất, quy luật vận động của

sự vật, hiện tượng trong thế giới, từ đó xây dựng thành các khoa học, lý luận Như vậy, thực tiễn cung cấp những tài liệu, cho nhận thức, cho lý luận

- Thực tiễn là động lực của nhận thức Trong quá trình hoạt động thực tiễn

biến đổi thế giới, con người cũng biến đổi luôn cả bản thân mình, phát triển năng lực bản chất, năng lực trí tuệ của mình Nhờ đó, con người càng đi sâu vào nhận thức thế giới, khám phá những bí mật của thế giới, làm phong phú và sâu sắc tri thức của mình về thế giới Thực tiễn luôn đề ra nhu cần, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức Nhu cầu thực tiễn đòi hỏi phải có tri thức mới, phải tổng kết kinh nghiệm, khái quát lý luận, nó thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các ngành khoa học

- Thực tiễn là mục đích của nhận thức Nhận thức phải quay về phục vụ

thực tiễn Kết quả nhận thức phải hướng dẫn chỉ đạo thực tiễn Lý luận, khoa học chỉ có ý nghĩa thực sự khi chúng được vận dụng vào thực tiễn, cải tạo thực tiễn

- Thực tiễn là tiêu chuẩn của nhận thức Quá trình nhận thức sẽ đưa đến kết

quả và hình thành nên những tri thức mới và những tri thức đó đứng trước khả năng đúng, sai và gần đúng Tiêu chí dùng để đánh giá các khả năng này là thực tiễn Chỉ có những tri thức được thực tiễn kiểm nghiệm và khẳng định là phù hợp với hiện thực khách quan, nâng cao hiệu qủa cho hoạt động con người thì nó mới trở thành chân lý

c) Ý nghĩa

- Cần quán triệt quan điểm thực tiễn trong nhận thức và hoạt động thực tiễn Quan điểm này đòi hỏi trong nhận thức và hoạt động phải lấy thực tiễn làm cơ sở cho nhận thức; cần phải sâu sát thực tế để nắm bắt thế giới được đầy đủ, chính xác hơn; coi trọng công tác tổng kết thực tiễn để khái quát thành lý luận

- Thực hiện phương châm học đi đôi với hành, lý luận đi đôi với thực tiễn Nếu xa rời thực tiễn sẽ rơi vào bệnh duy ý chí, chủ quan, giáo điều Nếu tuyệt đối hoá thực tiễn sẽ rơi vào chủ nghĩa thực dụng

- Cần kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn xây dựng hệ thống lý luận từ thực tiễn và dùng thực tiễn để kiểm nghiệm, kiểm chứng lý luận, kịp thời bổ sung điều chỉnh, bổ sung lý luận khi nó không phù hợp với thực tiễn

Câu 4: Quy luật về sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX Sự vận dụng quy luật này ở Việt Nam.

a) Vị trí và ý nghĩa của quy luật

- Đây là một quy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình của lịch sử nhân loại; là quy luật căn bản nhất trong hệ thống các quy luật xã hội, nó có vai trò chi phối toàn bộ sự tồn tại, vận động, phát triển của mọi hình thái kinh tế-xã hội

Trang 10

- Việc vận dụng quy luật này lại ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển kinh tế,

do đó có ảnh hưởng to lớn đến sự vận động, phát triển của xã hội

- Quy luật này vạch rõ tính chất phụ thuộc khách quan của QHSX đối với sự phát triển của LLSX Đến lượt mình, QHSX lại tác động trở lại tới LLSX Thực tiễn cách mạng VN chúng ta đã từng vi phạm quy luật này và đó cũng là 1 trong những nguyên nhân chủ yếu đến khủng hoảng KT – XH trong thập kỷ 80 Và hiện nay trong sự nghiệp đổi mới, chúng ta đã đổi mới tư duy, nhận thức về quy luật này và áp dụng có hiệu quả trong thời gian qua

b) Nội dung quy luật

- Để hiểu rõ hơn nội dung của quy luật này, trước hết, chúng ta nghiên cứu veà trình độ và tính chất của lực lượng sản xuất

+ Trình độ của lực lượng sản xuất trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử loài người thể hiện trình độ chinh phục tự nhiên của con người trong giai đoạn lịch

sử đó Khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất nói lên khả năng của con người thông qua việc sử dụng công cụ lao động thực hiện quá trình cải biến giới tự nhiên nhằm đảm bảo cho sự sinh tồn và phát triển của mình Trình độ của lực lượng sản xuất thể hiện ở: Trình độ của công cụ lao động; trình độ của tổ chức lao động xã hội; trình độ ứng dụng khoa học vào sản xuất; kinh nghiệm và kỹ năng lao động của con người và trình độ phân công lao động

+ Bên cạnh khái niệm trình độ của lực lượng sản xuất, còn có khái niệm trình

độ của lực lượng sản xuất Chính Ăngghen đã sử dụng khái niệm này để phân tích lực lượng sản xuất trong các phương thức sản xuất khác nhau Khi nền sản xuất được thực hiện với những công cụ ở trình độ thủ công, lực lượng sản xuất chủ yếu mang tính chất cá nhân Khi sản xuất đạt đến trình độ cơ khí, lực lượng sản xuất đòi hỏi phải được vận động trong sự hợp tác xã hội rộng rãi trên cơ sở chuyên môn hoá Tính tự cấp, tự túc, cô lập của nền sản xuất nhỏ lúc đó phải được thay thế bởi tính chất xã hội hoá

- Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là 2 mặt của phương thức sản xuất tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng

- Sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất là “hình thức phát triển” tất yếu của lực lượng sản xuất Nghĩa là trạng thái mà ở đó các yếu tố cấu thành quan

hệ sản xuất “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển Trong trạng thái phù hợp, cả 3 mặt của quan hệ sản xuất đạt tới thích ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện tối ưu cho việc sử dụng và kết hợp giữa lao động

và tư liệu sản xuất Với trạng thái phù hợp như vậy, lực lượng sản xuất sẽ có cơ sở

để phát triển hết khả năng của nó

- Khi tới một giai đoạn nào đó, lực lượng sản xuất phát triển chuyển sang một trình độ mới với tính chất xã hội hoá ở mức cao hơn Lúc đó trình trạng phù hợp sẽ

bị phá vỡ, trình trạng mâu thuẫn xuất hiện Mâu thuẫn sẽ ngày càng gay gắt và đến một lúc nào đó quan hệ sản xuất “trở thành xiềng xích của lực lượng sản xuất” Sự phát triển khách quan của lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến việc xã hội phải xoá

bỏ bằng cách này hay cách khác quan hệ sản xuất cũ và thay thế nó bằng quan hệ sản xuất mới, phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất đã thay đổi,

mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển Việc xoá bỏ quan hệ sản xuất cũ, thay

Ngày đăng: 01/03/2017, 08:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w