Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một hành vi pháp lý khác cho người thứ ba ngay tình thì hành vi phá
Trang 1BÀI TẬP LỚN HỌC KÌ Vấn đề 1: HẬU QUẢ HỢP ĐỒNG VÔ HIỆU
- Câu 1: Thay đổi về hệ quả của hợp đồng vô hiệu giữa BLDS 2005 và BLDS 2015.
+ Khôi phục tình trạng ban đầu:
Bên cạnh khoản 2 Điều 131 BLDS 2015 giống với khoản 2 Điều 137 BLDS 2005 thì BLDS 2015 đã bổ sung khoản 5 vào điều 131 với nội dung: “ Việc giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu liên quan đến quyền nhân thân do Bộ Luật này, luật khác có liên quan quy định” Việc bổ sung khoản 5 này là cần thiết và chủ yếu được lý giải bởi các quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.1
+ Hoa lợi, lợi tức:
Quy định về hoa lợi, lợi tức ở Khoản 2 điều 137 BLDS 2005 có 2 nhược điểm:
Thứ nhất, điều luật trên theo hướng vấn đề hoa lợi, lợi tức là vấn đề của “khôi phục
tình trạng ban đầu” Tuy nhiên, “ở thời điểm trước khi giao dịch được xác lập, hoa lợi, lợi tức chưa tồn tại nên nếu buộc bên nhận tài sản làm phát sinh hoa lợi, lợi tức trả cho bên giao tài sản hoa lợi, lợi tức thu được thì sẽ dẫn tới tình trạng bên giao tài sản nhận được những thứ không có ở tình trạng ban đầu, như vậy thì không những không khôi phục tình trạng ban đầu mà còn làm cho bên giao tài sản vào hoàn cảnh hơn tình trạng ban đầu Do thế, khó có thể giải quyết số phận của hoa lợi, lợi tức (phát sinh từ tài sản là đối tượng của hợp đồng vô hiệu) cơ sở quy định về khôi phục lại tình trạng ban đầu2 Tới BLDS
2015, Điều 131 đã theo hướng giải quyết việc khôi phục tình trạng ban đầu ở khoản 2 và giải quyết vấn đề hoa lợi, lợi tức ở khoản 3 Điều đó có nghĩa là BLDS 2015 đã tách vấn
đề hoa lợi, lợi tức ra khỏi quy định về khôi phục lại tình trạng ban đầu và như vậy là thuyết phục vì các lý do nêu trên.3
Thứ hai, quy định tại điều 137 BLDS 2005 không thống nhất với quy định về hoàn
trả tài sản do chiếm hữu không có căn cư pháp luật được quy định tại Điều 601 và tiếp theo BLDS 2005 (được duy trì trong BLDS 2015) Ở đây, “tiêu chí để xác định số phận của hoa lợi, lợi tức là sự ngay tình của người chiếm hữu tài sản không có căn cư pháp luật
và rất phù hợp với hoàn cảnh giao dịch( hợp đồng) vô hiệu” và trên thực tế Tòa án nhân
1 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, nxb.CTQG, tr163-164.
2 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam- Bản án và bình luận án,tập 2, nxb CTQG, bản án số 83-84, phần bình luận
số 2.
3 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, nxb.CTQG, tr164-165.
Trang 2dân tối cao “ không xử lý hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản là đối tượng của hợp đồng
vô hiệu trên cơ sở Điều 137 BLDS 2005 mà xử lý hoa lơi, lợi tức trên cơ sở Điều 601 BLDS 2005”4 Ngày nay, Khoản 3 điều 131 BLDS 2015 quy định “ bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó” Điều đó có nghĩa là việc trả hay không phụ thuộc vào sự ngay tình hay không ngay tình của người nhận tài sản như các quy định về hoàn trả tài sản do chiếm hữu không có căn cứ pháp luật Hướng sửa đổi trên là thuyết phục vì các lý do nêu trên.5
+ Bồi thường thiệt hại:
Về bồi thường thiệt hại thì BLDS 2015 không có thay đổi gì so với BLDS 2005.6 + Tịch thu tài sản:
BLDS 2015 có sự thay đổi là đã bỏ hẳn quy định về tịch thu tài sản, hoa lợi, lợi tức được quy định tại Điều 137 BLDS 2005 Việc sửa đổi này với lý do việc tịch thu tài sản, hoa lợi, lợi tức là việc của pháp luật hành chính, hình sự và không phải việc của BLDS.7
- Câu 2: Trong Quyết định số 319, lỗi của các bên được Tòa giám đốc thẩm xác định như thế nào?
Tòa án giám đốc thẩm xác định cả hai bên cùng có lỗi Vì trong trường hợp này, ông Vinh mới trả được 45000000 đồng trên tổng giá trị thửa đất 100000000 đồng tức là mới trả 45% giá trị thửa đất Ông Lộc cam kết sau khi nhận tiền đợt hai sẽ giao sổ đỏ cho ông Vinh Tuy nhiên sau đó ông Vinh không giao tiền tiếp cho ông Lộc và ông Lộc cũng không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vinh Và cả hai hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 9/9/2005 và ngày 17/7/2006 đều chưa được
cơ quan nhà nước có thẩm quyền công chứng hoặc chứng thực
Trong Quyết định số 319, lỗi của ông Vinh là không tiếp tục giao số tiền đã thỏa thuận cho ông Lộc, còn ông Lộc có lỗi là đã không giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Vinh
4 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam- Bản án và bình luận án, tập 2, nxb CTQG, bản án số 83-84, phần bình luận
số 3-5.
5 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, nxb.CTQG, tr165.
6 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, nxb.CTQG, tr165.
7 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của BLDS 2015, nxb.CTQG, tr167.
Trang 3- Câu 3: Quyết định số 319, Tòa dân sự cho biết ông Vinh sẽ được bồi thường như thế nào?
Theo Quyết định số 319, Tòa dân sự cho rằng ông Vinh mới trả được 45.000.000 đồng trên tổng giá trị thửa đất là 100.000.000 đồng, tức là mới trả 45% giá trị thửa đất và
cả hai bên cùng có lỗi Do đó ông Vinh sẽ được bồi thường ½ chênh lệch giá của 45% giá trị thửa đất theo giá thị trường
- Câu 4 : Suy nghĩ của anh/ chị về hướng giải quyết trên của Tòa dân sự.
Thứ nhất, về xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại.
Khoản 2 Điều 137 BLDS 2005 quy định: “Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường”
Ở đây Tòa dân sự xác định lỗi dẫn đến hợp đồng vô hiệu thuộc về cả hai bên tham gia hợp đồng nên dẫn tới trách nhiệm bồi thường, hướng giải quyết này là hợp lý
Cách giải quyết này cũng đã được Tòa dân sự TAND tối cao chấp nhận trong một trường hợp tương tự Tại Quyết định số 39/GĐT-DS ngày 26/7/2004 của Tòa dân sự TAND tối cao, Tòa án nhận định: “Tòa án xác định hai bên cùng có lỗi dẫn đến hợp đồng
vô hiệu nhưng chưa buộc các bên cùng chịu thiệt hại (theo giá trị quyền sử dụng đất khi tranh chấp) trên cơ sở lỗi của mỗi bên gây ra là chưa đúng” Vấn đề này cũng được nêu
trong Tài liệu phục vụ thảo luận tại tổ trong Hội nghị tổng kết ngành Tòa án nhân dân
năm 2006: “có trường hợp các bên giao kết hợp đồng có vi phạm về nội dung (như bán
nhà, đất là tài sản chung hoặc là di sản thừa kế chưa chia, nhà chưa được công nhận quyền sở hữu…) mà việc vi phạm này cả hai bên đều biết nhưng vẫn giao kết hợp đồng,
từ đó làm cho hợp đồng vô hiệu; nhưng khi giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu, Tòa án lại xác định bên bán (hoặc bên mua) có lỗi 100% là không đúng”8
Thứ hai, về xác định khoản tiền được bồi thường:
Trong Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán liên quan đến chuyển nhượng quyền sử dụng đất, “thiệt hại còn bao gồm khoản tiền chênh lệch giá trị quyền sử dụng đất do các bên thỏa thuận với giá trị quyền sử dụng đất tại thời điểm xét xử sơ thẩm hoặc các thiệt hại khác, nếu có”
Trong Quyết định được bình luận, Tòa dân sự đã đưa khoản tiền chênh lệch giá do các bên thỏa thuận với giá trị tài sản tại thời điểm xét xử vào loại thiệt hại do hợp đồng
vô hiệu Ngoài ra, để xác định được mức bồi thường thì Tòa án còn phải xác định mức độ lỗi của các bên dẫn tới hợp đồng vô hiệu Tòa dân sự đã xác định mức bồi thường là ½
8 Đỗ Văn Đại, Luật hợp đồng Việt Nam – Bản án và bình luận bản án, Nxb CTQG 2014 (tái bản
lần thứ tư), Bản án số 85 – 89, tr 57 – 58
Trang 4chênh lệch giá, có nghĩa là mức độ lỗi của hai bênh trong hợp đồng là bằng nhau Giá theo thỏa thuận là 100.000.000đ nhưng bên mua mới trả được 45.000.000đ đồng thời có
½ lỗi nên ông Vinh được bồi thường ½ chênh lệch giá của 45% giá trị của thửa đất theo giá thị trường
Theo nhóm, hướng giải quyết của Tòa án như vậy là hợp lý
- Câu 5: Với các thông tin trong Quyết định số 319, ông Vinh sẽ được bồi thường
số tiền cụ thể là bao nhiêu? Vì sao?
Theo Quyết định, khung giá đất của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Thuận ban hành đối với đất nông nghiệp tại thị xã Lagi là 72.000đ/1m2 Diện tích đất trong giao dịch là 953
m2
Vì ông Vinh sẽ được bồi thường ½ chênh lệch giá của 45% giá trị thửa đất theo giá thị trường nên khoản tiền bồi thường mà ông Vinh nhận được là:
(953 72.000) * 45% * 1/2 = 15.438.600 đồng
- Câu 11: Suy nghĩ của anh/chị về Điều 138 BLDS (giữ nguyên hay cần thay đổi? Vì sao?
Về chế định bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu quy định tại Điều 138 BLDS 2005, dự thảo sửa đổi BLDS 2005 đã sửa đổi quy định này như sau:
“Điều 135 Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi hành vi pháp lý vô hiệu
1 Trong trường hợp hành vi pháp lý vô hiệu nhưng tài sản giao dịch là động sản không phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì hành vi pháp lý được xác lập, thực hiện với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp quy định tại Điều 184 của Bộ luật này
2 Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu thì việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình được giải quyết như sau:
- Phương án 1:
Nếu tài sản đã được đăng ký quyền sở hữu, vật quyền khác và đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì việc chuyển giao vẫn có hiệu lực pháp luật
-Phương án 2:
Trang 5Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc là động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được chuyển giao bằng một hành vi pháp lý khác cho người thứ ba ngay tình thì hành vi pháp lý được xác lập, thực hiện với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc xác lập, thực hiện hành vi pháp lý với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa”
Theo dự thảo sửa đổi, quyền của người thứ ba ngay tình được bảo vệ triệt để hơn theo nguyên tắc nếu tài sản đã được đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng và đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì việc chuyển giao vẫn có hiệu lực pháp luật Quy định này sẽ bảo đảm công bằng, hợp lý đối với người thiện chí, ngay tình và bảo đảm sự ổn định trong các quan hệ dân sự và phù hợp với nguyên tắc đăng ký bất động sản hiện nay
Tuy nhiên, theo nhóm, bảo vệ người thứ ba ngay tình trong trường hợp này không
có nghĩa là không tôn trọng và bảo vệ quyền của chủ sở hữu Trong trường hợp do tài sản chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc tài sản đã được đăng ký tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng được chuyển giao cho người thứ ba không ngay tình thì chủ sở hữu vẫn có quyền kiện đòi tài sản từ người thứ ba Trong trường hợp tài sản đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền và được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì chủ sở hữu có quyền yêu cầu bồi hoàn giá trị tài sản, bồi thường thiệt hại, thậm chí kiện bồi thường Nhà nước đối với cơ quan có thẩm quyền về đăng ký tài sản Ngoài ra, theo nhóm, ở khoản 2 Điều 135 Dự thảo sửa đổi BLDS 2005, chúng ta nên diễn giải như sau thì sẽ cụ thể, rõ ràng hơn:
“2 Trong trường hợp tài sản giao dịch là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu thì việc bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình được giải quyết như sau:
- Phương án 1:
Nếu tài sản giao dịch là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu đã được đăng ký quyền sở hữu, vật quyền khác và đã được chuyển giao cho người thứ ba ngay tình thì việc chuyển giao vẫn có hiệu lực pháp luật
- Phương án 2:
Nếu tài sản giao dịch là bất động sản hoặc động sản phải đăng ký quyền sở hữu nhưng chưa được đăng ký quyền sở hữu và đã được chuyển giao bằng một hành vi pháp
Trang 6lý khác cho người thứ ba ngay tình thì hành vi pháp lý được xác lập, thực hiện với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá hoặc xác lập, thực hiện hành vi pháp lý với người mà theo bản án, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản nhưng sau đó người này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết định bị huỷ, sửa”
Vấn đề 2: BỒI THƯỜNG TỔN THẤT VỀ TINH THẦN DO TÍNH MẠNG BỊ XÂM PHẠM
- Câu 1: Trong BLDS, trong trường hợp nào tổn thất về tinh thần được bồi thường? Nêu rõ quy định liên quan khi trả lời (trả lời lần lượt đối với BLDS 2005 và BLDS 2015).
-Theo BLDS 2005 trong các trường hợp sau đây được bồi thường tổn thất về tinh thần:
+ Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Khoản 2 – Điều 609)
+Thiệt hại do tính mạng bị xâm hại (Khoản 2 – Điều 610)
+Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại (Khoản 2 – Điều 611)
+Thiệt hại do xâm phạm thi thể (Khoản 3 – Điều 628)
-Theo BLDS 2015 trong các trường hợp sau đây được bồi thường tổn thất về tinh thần:
+Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Khoản 2 – Điều 589)
+Thiệt hại do tính mạng bị xâm hại (Khoản 2 – Điều 591)
+Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm hại (Khoản 2 – Điều 592)
+Thiệt hại do xâm phạm thi thể (Khoản 3 – Điều 606)
+Thiệt hại do xâm phạm mồ mả (Khoản 3 – Điều 608)
- Câu 2: Theo pháp luật hiện hành, bồi thường tổn thất về tinh thần khi tài sản
bị xâm phạm và khi mồ mả bị xâm phạm có được bồi thường không? Vì sao?
Trang 7- Theo pháp luật hiện hành, tổn thất về tinh thần khi tài sản bị xâm phạm và khi mồ
mả bị xâm phạm không được bồi thường Nhưng trên thực tế, việc bồi thường nên được công nhận
- Nhìn từ góc độ văn bản, thiệt hại về tài sản và mồ mả bị xâm phạm không được bồi thường:
+Điều 608 BLDS 2005 quy định: “Trong trường hợp tài sản bị xâm phạm thì thiệt
hại được bồi thường bao gồm:
1 Tài sản bị mất;
2 Tài sản bị huỷ hoại hoặc bị hư hỏng;
3 Lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản;
4 Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại”.
Quy định thiệt hại do tài sản bị xâm phạm chỉ liệt kê thiệt hại vật chất không đề cập tới tổn thất về tinh thần
+Khi mồ mả bị xâm phạm Điều 629 BLDS 2005: “Cá nhân, pháp nhân, chủ thể
khác gây thiệt hại đến mồ mả của người khác phải bồi thường thiệt hại Thiệt hại do xâm phạm mồ mả gồm chi phí hợp lý để hạn chế, khắc phục thiệt hại” cũng chỉ đề cập tới thiệt
hại vật chất mà không đề cập tới thiệt hại về tinh thần
- Tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều trường hợp tồn tại tổn thất về tinh thần thiệt hại về tài sản và mồ mả bị xâm phạm :
+Đối với thiệt hại về tài sản: Tổn thất về tinh thần không hoàn toàn bị loại trừ khi tài sản bị xâm phạm
Bởi trên thực tế có những tài sản có giá trị rất lớn về tinh thần đối với một chủ thể như kỷ vật của gia đình Việc làm hư hỏng, mất mát tài sản có thể gây tổn thất về tinh thần cho chủ sở hữu như mất ăn, mất ngủ, đau buồn….Thiết nghĩ nếu tổn thất về tinh thần tồn tại thực tế thì nên được bồi thường Ở nước ngoài, chẳng hạn như Pháp, bên cạnh việc chấp nhận thiệt hại về vật chất, Tòa án không ít lần buộc người xâm phạm tài sản phải bồi thường tổn thất về tinh thần khi ai đó làm chết động vật gần gũi với người như chó, ngựa đua… Ở Châu Âu, Tòa án Châu Âu về quyền con người đã cho rằng tổn thất về tinh thần có thể tồn tại khi tài sản bị xâm phạm Do vậy, tùy từng trường hợp cụ thể mà chúng ta chấp nhận sự tồn tại tổn thất về tinh thần và cho người bị thiệt hại được quyền bồi thường
Trang 8+Đối với thiệt hại do mồ mả bị xâm phạm: Việc xâm phạm mồ mả có thể để lại những tổn thất về tinh thần bởi mồ mả thuộc về truyền thống tâm linh của người Việt Việc thờ cúng, mồ mả của người Việt là hết sức thiêng liêng, thể hiện sự tưởng nhớ, yêu quí của người còn sống đối với người đã khuất
Vì vậy, khi mồ mả bị xâm phạm, không ít trường hợp chủ thể luôn ray rứt, áy náy không yên Cho nên tổn thất về tinh thần do mồ mả bị xâm phạm có tồn tại trong thực tế Thực tiễn xét xử cũng theo hướng công nhận có tổn thất về tinh thần tồn tại Vì vậy, việc xâm phạm mồ mả nên được bồi thường tổn thất về tinh thần trong những trường hợp chứng minh được thiệt hại
-Qua đây, việc pháp luật không quy định việc bồi thường tổn thất về tinh thần khi
có thiệt hại về tài sản và mồ mả bị xâm phạm là một điều còn thiếu sót, cần được khắc phục
- Câu 3: Theo HĐTP, ai được hưởng bồi thường tổn thất về mặt tinh thần do tính mạng của anh Nam bị xâm phạm? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo HĐTP, những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Nam gồm
mẹ, vợ và con mới sinh cùng được hưởng bồi thường tổn thất về mặt tinh thần do tính mạng của anh Nam bị xâm phạm Đoạn được nêu ở phần xét thấy của Quyết định đã cho
câu trả lời: “Tòa án cấp phúc thẩm đã không khắc phục được sai lầm nêu trên, mà còn
ghi sai họ của bị đơn dân sự, đồng thời buộc bị đơn dân sự (bà Nguyễn Thị Thoại) bồi thường tổn thất tinh thần cho vợ anh Nam là không đúng; vì những người thân thích thuộc hang thừa kế thứ nhất của anh Nam gồm mẹ, vợ và con mới sinh cùng được hưởng bồi thường tổn thất về mặt tinh thần do anh Nam bị thiệt hại về tính mạng”.
- Câu 4: Theo HĐTP, ai được hưởng bồi thường tổn thất về mặt tinh thần do tính mạng của cháu Hà và Quảng bị xâm phạm? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo HĐTP, chị Phin được hưởng bồi thường tổn thất về mặt tinh thần do tính mạng của cháu Hà và Quảng bị xâm phạm Đoạn được nêu ở phần xét thấy của Quyết
định đã cho câu trả lời: “Riêng khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do cháu Vũ Thu
Hà và Vũ Văn Quảng bị thiệt hại về tính mạng thì chỉ có chị Phin (là mẹ của hai cháu) được hưởng”.
- Câu 5: Việc xác định người được bồi thường tổn thất về tinh thần trên có phù hợp với pháp luật hiện hành không? Nêu cơ sở pháp lý khi trả lời.
Trang 9Khoản 2 Điều 610 BLDS 2005 có quy định : “Người xâm phạm tính mạng của
người khác phải bồi thường thiệt hại theo quy định tại khoản 1 Điều này và một khoản tiền khác để bù đắp tổn thất về tinh thần cho những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị thiệt hại, nếu không có những người này thì người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng, người đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại được hưởng khoản tiền này Mức bồi thường bù đắp tổn thất về tinh thần do các bên thoả thuận; nếu không thoả thuận được thì mức tối đa không quá sáu mươi tháng lương tối thiểu do Nhà nước quy định.”
Bên cạnh đó, điểm a tiểu mục 2.4 mục 2 phần II của Nghị quyết
03/2006//NQ-HĐTP cũng có quy định : “Người được nhận khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần
trong trường hợp này là những người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người
bị thiệt hại bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị thiệt hại.”
Như vậy, việc HĐTP xác định mẹ, vợ (chị Phin) và con mới sinh (cháu Tuyết) của anh Nam cùng được hưởng bồi thường tổn thất về mặt tinh thần do tính mạng của anh Nam bị xâm phạm và xác định chị Phin được hưởng bồi thường tổn thất về mặt tinh thần
do tính mạng của cháu Hà và Quảng bị xâm phạm là hoàn toàn phù hợp với pháp luật hiện hành
- Câu 6: Theo HĐTP, anh Đông có được hưởng bồi thường tổn thất về tinh thần
do tính mạng của anh Nam bị xâm hại không? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo HĐTP, anh Đông không được hưởng bồi thường tổn thất về tinh thần do tính mạng của anh Nam bị xâm hại Đoạn được nêu trong phần Xét thấy cho câu trả lời : “
Như vậy, người đại diện hợp pháp của anh Nam gồm có mẹ và vợ là chị Phin, nhưng Tòa
án cấp sơ thẩm không xác minh để đưa mẹ của anh Nam tham gia tố tụng mà xác định anh Vũ Quốc Đông là em trai của anh Nam (chỉ được chị Phin ủy quyền) là người đại diện hợp pháp của người bị hại và quyết định buộc bị cáo, bị đơn dân sự bồi thường cho gia đình anh Nam là chưa đầy đủ và chính xác.”
- Câu 7: Theo HĐTP, mẹ anh Nam có được hưởng tổn thất về tinh thần do tính mạng của cháu Hà và Quảng bị xâm hại? Đoạn nào của Quyết định cho câu trả lời?
Theo HĐTP, mẹ anh Nam không được hưởng tổn thất về tinh thần do tính mạng của cháu Hà và Quảng bị xâm hại Đoạn được nêu trong phần Xét thấy cho câu trả lời :
“Riêng khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do cháu Vũ Thu Hà và Vũ Văn Quảng bị
thiệt hại về tính mạng thì chỉ có chị Phin (là mẹ của hai cháu) được hưởng ”
Trang 10- Câu 8: Suy nghĩ của anh/chị về quy định hiện hành và hướng giải quyết trên của HĐTP liên quan đến tổn thất về tinh thần của anh Đông (đối với cái chết của anh Nam) và của mẹ anh Nam (đối với cái chết của cháu Hà và Quảng).
Theo khoản 2 Điều 610 BLDS 2005 thì người được bồi thường tổn thất về tinh thần
là “người thân thích thuộc hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại” Như vậy BLDS năm
2005 đã quy định người được bồi thường tổn thất về tinh thần phải là “người thân thích” thuộc hàng thừa kế thứ nhất Ở đây, BLDS đã kết hợp cả hai yếu tố đó là “hàng thừa kế thứ nhất” và “người thân thích” Theo Nghị quyết số 03/2006/NQ-HĐTP thì người được bồi thường tổn thất về tinh thần bao gồm: “vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người bị hại”
TS Đỗ Văn Đại có quan điểm cho rằng :“Thiết nghĩ, liên quan đến người được bồi thường tổn thất về tinh thần khi tính mạng bị xâm phạm , BLDS và Nghị quyết hướng dẫn hiện nay không thuyết phục và chúng ta nên theo hướng người được bồi thường là người “thân thích gần gũi với người bị hại”, những người này có thể là người thuộc hàng thừa kế thứ nhất hay ngoài hàng thừa kế này”9
Nhóm tôi hoàn toàn cũng có cùng quan điểm với TS Đỗ Văn Đại bởi vì trong thực tiễn không hiếm trường hợp cho dù là hàng thừa kế thứ nhất của người bị hại nhưng quan
hệ giữa họ không tốt thì khi người bị hại chết họ cũng không có tổn thất tinh thần để được bồi thường nhưng cũng có nhiều trường hợp dù không thuộc hàng thừa kế thứ nhất hoặc không là người mà người bị thiệt hại đã trực tiếp nuôi dưỡng hoặc không là người
đã trực tiếp nuôi dưỡng người bị thiệt hại nhưng vẫn có một mối quan hệ “thân thích” và khi người bị hại chết vẫn có tổn thất về tinh thần Ví dụ như người đã ăn hỏi nhưng chưa đăng ký kết hôn, hoặc người yêu của người bị thiệt hại về tính mạng là những người chịu tổn thất nặng nề về tinh thần nhưng không thuộc đối tượng mà Luật quy định
Trong quyết định trên, anh Đông là em trai của anh Nam và theo HĐTP thì anh Đông cũng hoàn toàn không có quyền được hưởng bồi thường tổn thất về tinh thần do tính mạng của anh Nam bị xâm phạm HĐTP xác định những người được bồi thường tổn thất trong trường hợp này chỉ có mẹ, vợ và con mới sinh của anh Nam Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với quy định hiện hành Tuy nhiên, về mặt “tình” nó chưa hoàn toàn
thuyết phục Bởi có thể anh Đông tuy không thuộc hàng thừa kế thứ nhất của anh Nam
nhưng khi tính mạng anh Nam bị xâm phạm thì có thể anh Đông cũng bị tổn thất về tinh thần vì quan hệ thân thiết giữa 2 người (anh Nam và anh Đông là anh em ruột)
9 Đỗ Văn Đại, Luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Việt Nam-Bản án và bình luận bản án, Nxb ĐH Quốc gia
TP.HCM 2014, tr422