1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

SKKN: Đề kiểm tra trắc nghiệm

44 632 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đề Kiểm Tra Trắc Nghiệm
Trường học Trường Tiểu Học
Chuyên ngành Giáo Dục
Thể loại Sáng Kiến Kinh Nghiệm
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 138 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với một vị trí quan trọng của môn toán nh vậy nên mỗi giáo viên trong côngtác giảng dạy của mình đều rất chú trọng tới việc tổ chức dạy và học môn toán, nhngdạy nh thế nào để tiết dạy, b

Trang 1

Toán học là môn học cung cấp các kiến thức cơ bản, hệ thống tri thức, kĩ năng,

kĩ xảo Toán học, qua đó phát triển t duy lô gíc, bồi dỡng và phát triển những thao táctrí tuệ cần thiết để nhận thức thế giới khách quan về mặt số lợng và hình dạng nh trừutợng hoá, khái quát hoá, phân tích tổng hợp nhờ đó biết cách hoạt động có hiệu quảtrong cuộc sống

Thực tế hiện nay, khoa học kỹ thuật tiến bộ mạnh mẽ, trẻ em đợc tiếp cận trithức qua nhiều kênh, nhiều nguồn khác nhau nh thông tin đại chúng, thông quatruyền hình Trẻ em sớm phát triển về t duy Khối lợng tri thức của trẻ em ngày mộtgia tăng, nhận thức của các em ngày càng mở rộng Trẻ em phát triển nhanh hơn cókhả năng nhận thức tốt hơn Vì thế dạy học không chỉ trang bị những kiến thức kỹnăng kỹ xảo xác định mà cũng cùng với việc dạy học đó cần phải tổ chức nh thế nào

để đảm bảo dạy học rèn t duy cho học sinh

Cựu Thủ Tớng Phạm Văn Đồng đã nhiều lần nhấn mạnh: "Chơng trình sáchgiáo khoa phải đảm bảo dạy cho học sinh những nguyên lý cơ bản, toàn diện về cácmặt đức dục, trí dục, mỹ dục Đồng thời tạo cho các em điều kiện phát triển óc thôngminh, khả năng độc lập sáng tạo Cái quan trọng của trí dục là: Rèn luyện óc thôngminh và sức suy nghĩ ”(Phạm Văn Đồng-Đào tạo thế hệ trẻ của dân tộc thànhnhững chiến sỹ cách mạng dũng cảm, thông minh sáng tạo-NXBGD-1996tr137)

Trang 2

Môn toán có vai trò lớn trong việc rèn luyện phơng pháp suy nghĩ, phơng phápsuy luận, phơng pháp giải quyết có vấn đề có căn cứ khoa học, linh hoạt, sáng tạo.Môn Toán còn góp phần hình thành và phát triển phẩm chất của ngời học sinh nhkiên trì, nhẫn nại, cẩn thận, ý thức vợt khó khăn làm việc một cách khoa học có hệthống Đồng thời nó cũng là công cụ để giúp học sinh học tập các bộ môn khác vàcần thiết cho mọi hoạt động trong cuộc sống, trong thực tiễn.

Xuất phát từ nhiệm vụ cơ bản của dạy học Toán trong trờng phổ thông là làmcho học sinh nắm đợc hệ thống kiến thức toán học phổ thông cơ bản, hiện đại vànhững kỹ năng cơ bản vận dụng kiến thức thực hành Trên cơ sở đó phát triển nănglực nhận thức, t duy độc lập sáng tạo , xây dựng những quan điểm t tởng tình cảm

đúng đắn có thái độ đúng đắn đối với sự vật hiện tợng trong đời sống thực tiễn BậcTiểu học là bậc học đầu tiên đặt nền móng đầu tiên cho giáo dục phổ thông Trongluật phổ cập giáo dục Tiểu học có ghi: "Giáo dục Tiểu học là bậc học nền tảng của

hệ thống giáo dục quốc dân, có nhiệm vụ xây dựng và phát triển tình cảm đạo đức, trítuệ, thẩm mỹ và thể chất của trẻ em nhằm hình thành cơ sở ban đầu cho sự phát triểntoàn diện nhân cách cho ngời Việt Nam XHCN"

Hội nghị quốc tế về giáo dục phổ thông họp ở Maxcơva năm 1968 đã có kếtluận rằng: Nếu đứa trẻ không đạt kết quả tốt ở Tiểu học thì chắc chắn nó cũng khôngtiến bộ đợc trong những năm sau

Với một vị trí quan trọng của môn toán nh vậy nên mỗi giáo viên trong côngtác giảng dạy của mình đều rất chú trọng tới việc tổ chức dạy và học môn toán, nhngdạy nh thế nào để tiết dạy, bài dạy đảm bảo đúng tinh thần: “nhẹ nhàng hơn, tự nhiênhơn và hiệu quả hơn” Đó là sự đổi mới phơng pháp dạy học Nh chúng ta đã biết: “Phơng pháp là con đờng, là biện pháp, cách thức thực hiện mục đích đã đề ra” và ph-

ơng pháp chính là sự vận động của nội dung, có nghĩa là: Nội dung dạy học nào sẽứng với phơng pháp dạy học ấy

Môn Toán ở bậc Tiểu học, mỗi lớp có một vị trí, yêu cầu và nhiệm vụ cụ thểkhác nhau Riêng môn Toán lớp 4 mới có một vị trí quan trọng vì nó hệ thống, kháiquát lại nội dung môn Toán ở các lớp 1, 2, 3 đồng thời nâng cao mở rộng và bổ sung

Trang 3

các kiến thức khác cha có ở các lớp dới Môn toán lớp 4 mở đầu cho giai đoạn họctập sâu

Nội dung Toán 4 gồm 4 mạch kiến thức cơ bản: Số học ; Đại lợng và đo đại ợng ; các yếu tố hình học và giải toán có lời văn.(Một số yếu tố đại số và yếu tốthống kê đợc tích hợp ở nội dung số học) Trong 4 mạch kiến thức cơ bản của Toán

l-4, mạch số học đóng vai trò trọng tâm, cốt lõi, thời lợng dành cho mạch nội dung sốhọc khoảng 70% tổng thời lợng Toán 4 Trong hệ thống kiến thức về số học thì nộidung về số tự nhiên lại là hạt nhân của mạch kiến thức số học

Mặt khác, bớc sang thế kỷ 21, nớc ta tiếp tục thực hiện chiến lợc đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá với mục tiêu đến năm 2020 cơ bản trở thành nớc côngnghiệp hiện đại Tình hình mới đặt ra cho giáo dục những thời cơ và thách thức mới.Việc chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung, bao cấp sang nền kinh tế thị trờng

định hớng XHCN đòi hỏi con ngời đợc nhà trờng đào tạo phải có năng lực thích ứngvới những biến động của thị trờng, biết khai thác các yếu tố tích cực của việc chuyển

đổi này để tiếp tục tự phát triển và góp phần phát triển xã hội

Khoa học công nghệ có những bớc nhảy vọt đòi hỏi ngời học phải thờngxuyên cập nhật các tiến bộ khoa học kỹ thuật , phải thay đổi căn bản phơng pháp họctập, chuyển từ việc học để tiếp thu kiến thức sang học cách tự mình tìm kiếm kiếnthức

Toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là xu thế khách quan đang tác động mạnh đếngiáo dục.Để chủ động bớc vào hội nhập, chúng ta cần chuẩn bị đội ngũ nhân lựckhông chỉ có đạo đức, kiến thức, kỹ năng mà còn phải t duy độc lập sáng tạo, có ýchí vơn lên mạnh mẽ, có những phẩm chất cơ bản của con ngời Việt Nam hiện đại

Nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân, xu hớng học tập suốt đời vàyêu cầu xây dựng xã hội học tập đòi hỏi giáo dục phải tạo cho ngời học lòng say mêhọc tập, ham hiểu biết óc tò mò khoa học, khả năng và phơng pháp tự học để tự họcsuốt đời

Các môn học trong nhà trờng trong đó có môn Toán cần phải có những đổimới về mục tiêu, nội dung, phơng pháp và hình thức dạy học, đổi mới về trang thiết

bị dạy học và kiểm tra đánh giá để đáp ứng tốt nhất những yêu cầu nêu trên của sự

Trang 4

nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nớc, để nắm lấy thời cơ và vợt qua tháchthức do tình hình mới đặt ra.

Để đáp ứng yêu cầu đổi mới về mục tiêu cấp học nêu trong luật giáo dục(1998) chơng trình Toán không quá coi trọng tính cấu trúc, hạn chế đa vào chơngtrình những kết quả có ý nghĩa lý thuyết thuần tuý Tăng tính thực tiễn và tính sphạm, tạo điều kiện để học sinh đợc tăng cờng luyện tập, thực hành, rèn luyện kĩnăng tính toán vận dụng kiến thức toán học vào đời sống và vào các môn học khác.Giúp học sinh phát triển t duy lôgic, khả năng diễn đạt chính xác ý tởng của mình,khả năng tởng tợng và bớc đầu hình thành cảm xúc thẩm mỹ qua học tập môn Toán

Xuất phát từ những yêu cầu đổi mới và những cơ sở lý luận trên và qua thực tếtrực tiếp giảng dạy tôi nhận thấy từ khi tiếp cận với chơng trình - SGK Toán mới thìviệc đánh giá học sinh có nhiều đổi mới Mặc dù ở các lớp 1, 2,3 các em đã đợc đánhgiá kết quả học tập dới dạng trắc nghiệm khách quan nhng thờng các em còn lúngtúng và còn mất nhiều thời gian để hoàn thành bài trắc nghiệm Mà việc đa các bàitrắc nghiệm khách quan vào đề kiểm tra lại chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 60%) Để đánh

giá đúng trình độ của học sinh và giúp học sinh rèn t duy học Toán, tôi đã chọn Kinh nghiệm nghiên cứu:

"Thiết kế bài toán trắc nghiệm khách quan phần số tự nhiên

môn toán lớp 4"

II -Lịch sử nghiên cứu

Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiểu học hiện nay nói chung, họcsinh lớp 4 nói riêng đã đợc ngành GDĐT đặc biệt quan tâm Có rất nhiều tài liệu racác bài tập trắc nghiệm Tuy nhiên để những bài tập trắc nghiệm đó chỉ dùng đểkiểm tra kết quả học tập của học sinh ở một nội dung trong một tiết học cụ thể chứcha xếp thành các đề kiểm tra kiến thức các em đã học một cách hệ thống và cha rèncho các em t duy học toán từ các đề kiểm tra kiến thức đó Trớc đây để đánh giá kếtquả học tập của học sinh thì đề bài thờng ra các câu hỏi tự luận Để giải đợc họcsinh mất rất nhiều thời gian (cùng một thời gian 40’ học sinh chỉ có thể làm đợc 4 -5

Trang 5

bài) mà số lợng bài ít không thể đánh giá đợc việc học của học sinh qua nhiều nộidung kiến thức khác nhau Hơn nữa học sinh còn có thể chép bài của bạn hay đa vàobài mẫu lại không phát huy hết sự nhạy bén của học sinh.

III -Mục đích nghiên cứu

- Mục đích của của kinh nghiệm là: Tìm hiểu thế nào là trắc nghiệm kháchquan?

+ Nguyên tắc và cách thiết kế đề toán trắc nghiệm khách quan + Xây dựng hệ thống đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan và việc rèncho học sinh cách làm các làm các đề kiểm tra trắc nghiệm đó để nâng cao chất lợngdạy học

IV-Tóm tắt nội dung và kết quả nghiên cứu

- Tìm hiểu về nội dung, chơng trình SGK toán 4 phần số tự nhiên

- Tìm hiểu một số vấn đề về trắc nghiệm khách quan

- Tìm hiểu về các loại trắc nghiệm

- Nghiên cứu cách thiết kế bài toán trắc nghiệm khách quan

- Xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm phần số tự nhiên

- Đề xuất phơng án giúp học sinh giải các bài trắc nghiệm khách quan

V-Phơng Pháp nghiên cứu

Để thực hiện kinh nghiệm tôi đã sử dụng phơng pháp:

- Phơng pháp nghiên cứu lý luận

- Phơng pháp tổng kết kinh nghiệm

- Phơng pháp quan sát

Phần II Nội Dung

I Vị trí và tầm quan trọng

Trang 6

Thành tích học tập của học sinh sau mỗi năm học là thớc đo đánh giá ngờithầy trong năm học đó Bởi vậy ngời thầy trông đợi kết quả thi của trò với một hyvọng lớn lao Trò sẽ lớn lên về thể chất, trí tuệ, tâm hồn Bởi vậy ngòi giáo viên luôntìm cách nâng cao chất lợng thực sự bằng trí tuệ, công sức, thời gian, tâm huyết củamình.

Vậy làm thế nào để học sinh biết cách làm bài, làm thế nào để đề thi đánh giá

đợc đúng thực chất, chất lợng học của học sinh, chất lợng dạy của giáo viên? Muốnvậy thì đề thi đòi hỏi t duy tìm tòi sáng tạo của học sinh mà không cho phép chép bàicủa bạn, chép bài mẫu lại làm thế nào để phát hiện học sinh giỏi để bồi dỡng nhân tàicho đất nớc khi mà trớc đây để phân hoá học sinh chúng ta thờng ra một câu khótrong đề kiểm tra chính vì vậy mà báo chí, các phơng tiện thông tin đại chúng đã

“rùm beng” việc dạy thêm học thêm của ngành giáo dục ta Làm thế nào để phân hoá

đợc giữa học sinh khá và học sinh giỏi mà không phải dạy thêm học thêm nh hiệnnay?

Đây là một câu hỏi lớn không phải ngày một ngày hai ngành giáo dục có thể

có câu trả lời thấu đáo đợc và tất nhiên đã, đang và sẽ có nhiều chuyên gia giáo dụcnghiên cứu vấn đề này

Từ năm 2002 - 2003 cả nớc ta bắt đầu thực hiện chơng trình Tiểu học mới.Việc thực hiện này đòi hỏi chúng ta phải đổi mới đồng bộ cả nội dung dạy học, ph-

ơng pháp dạy học và cách kiểm tra đánh giá Trong đó đổi mới phơng pháp kiểm tra

đánh giá là khâu rất quan trọng

Trớc đây chúng ta thờng cho học sinh các đề toán, các đề kiểm tra, các đề thitheo kiểu tự luận Cách ra đề thi theo kiểu tự luận tuy có nhiều u điểm, nhng cũng cónhiều hạn chế nh:

- Trong một khoảng thời gian làm bài có hạn, không thể nêu nhiều vấn đềthuộc một phạm vi rộng của trơng trình

- Việc chấm bài thờng mang tính chủ quan và do đó thiếu chính xác, thiếukhách quan

Trang 7

- Rất khó có thể tổ chức cho học sinh tự đánh giá ( tự chấm ) hoặc đánh giánhau Điều này cũng có nghĩa ta cha có cách giúp học sinh trở thành nhân vật trungtâm trong quá trình kiểm tra đánh giá.

Để khắc phục đợc các nhợc điểm trên, từ lâu trên thế giới, ngời ta đã áp dụngrộng rãi lối ra đề toán theo kiểu trắc nghiệm khách quan, trong đó học sinh phải tựlựa chọn phơng án đúng trong nhiều phơng án đã cho

Hiện nay nhiều giáo viên Tiểu học có mong muốn đổi mới phơng pháp kiểmtra đánh giá theo hớng này để tiếp cận với giải pháp hiện đại của khu vực và thế giới

Trong phạm vi kinh nghiệm này tôi chỉ mạo muội đa ra một cách làm mà đã

đợc tham khảo, đọc qua các tài liệu nhằm giúp học sinh làm quen với bài tập trắcnghiệm ngay từ mỗi tiết học, mỗi mạch kiến thức cơ bản

II Phân tích đặc điểm chủ yếu, mục tiêu, phơng pháp dạy học, mạch kiến thức của chơng trình SGK toán 4 mới.

1 Đặc điểm chủ yếu của toán 4.

1.1 Toán 4 mở đầu cho giai đoạn mới của dạy học toán ở Tiểu học.

Quá trình dạy học toán trong Chơng trình tiểu học đợc chia thành hai giai đoạn:Giai đoạn các lớp 1, 2, 3 và giai đoạn các lớp 4, 5

- Giai đoạn các lớp 1, 2, 3 có thể coi là giai đoạn học tập cơ bản vì ở giai đoạn này

HS đợc chuẩn bị những kiến thức, những kỹ năng cơ bản nhất về đếm, đọc, viết, sosánh, sắp thứ tự các số tự nhiên và bốn phép tính về số tự nhiên ( trong phạm vi các

số đến 100 000)

về đo lờng với các đơn vị đo và dụng cụ đo thông dụng nhất; về nhận biết, vẽ cáchình học đơn giản, thờng gặp; về phát hiện và giải quyết các tình huống có vấn đềtrong học tập và trong đời sống, chủ yếu thông qua giải và trình bày bài giải các bàitoán có lời văn, Đặc biệt, ở giai đoạn này, HS đợc chuẩn bị về phơng pháp tự họctoán dựa vào các hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo.Nhờ sự hỗ trợ củacác đồ dùng học toán đơn giản, dễ làm nh: hình vẽ, mô hình, của SGK, học sinh đ-

ợc tập dợt tự pháp hiện, tự giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnh kiến thức mới, kết hợp

Trang 8

học cá nhân với hợp tác học nhóm, trong lớp; thực hiện học gắn với thực hành, vậndụng một cách linh hoạt, dới sự tổ chức, hớng dẫn của giáo viên Với cách chuẩn bịphơng pháp tự học toán nh trên, HS không chỉ biết cách tự học mà còn phát triểnngôn ngữ ( nói, viết) để diễn đạt chính xác, ngắn gọn và đầy đủ các thông tin, để giaotiếp khi cần thiết; không chỉ bớc đầu phát triển các năng lực t duy ( phân tích, tổnghợp, trừu tợng hoá, khái quát hoá đúng mức ) mà còn từng bớc hình thành t duy phêphán, biết lựa chọn và tìm cách giải quyết vấn đề một cách hợp lí.

- Giai đoạn các lớp 4, 5 có thể coi là giai đoạn học tập sâu ( so với giai đoạn

tr-ớc ) ở các lớp 1, 2, 3, HS chủ yếu chỉ nhận biết các khái niệm ban đầu, đơn giản quacác ví dụ cụ thể với sự hỗ trợ của các vật thực hoặc mô hình, tranh ảnh, do đó chủyếu chỉ nhận biết “ cái toàn thể “, “ cái riêng lẻ “, cha làm rõ các mối quan hệ, cáctính chất của sự vật, hiện tợng Giai đoạn các lớp 4, 5, HS vẫn học tập các kiến thức

và kĩ năng cơ bản của môn Toán nhng ở mức sâu hơn,khái quát hơn, tờng minh hơn.Nhiều nội dung toán học có thể coi là trừu tợng, khái quát đối với học sinh ở giai

đoạn các lớp 1, 2, 3 thì đến các lớp 4, 5 lại trở lên cụ thể, trực quan và dùng làm chỗdựa ( cơ sở ) để học các nội dung mới Do đó, tính trừu tợng khái quát của nội dungmôn Toán ở các lớp 4, 5 đợc nâng lên một bậc ( so với các lớp 1, 2, 3 ) HS có thểnhận biết và vận dụng một số tính chất của số, phép tính, hình học ở dạng khái quáthơn Một trong những đổi mới trong dạy học toán ở giai đoạn các lớp 4, 5 của CTTH

là không quá nhấn mạnh lí thuyết và tính hàn lâm nh trớc mà cố gắng tạo điều kiện

để tinh giản nội dung, tăng hoạt động thực hành - vận dụng, tăng chất liệu thực tếtrong nội dung, đặc biệt, tiếp tục phát huy dạy học dựa vào hoạt động của học sinh đểphát triển năng lực làm việc bằng trí tuệ cá nhân và hợp tác trong nhóm với sự hỗ trợ

Trang 9

trợ lẫn nhau giữa các nội dung của môn Toán, tạo thành môn Toán thống nhất trongnhà trờng Tiểu học.

- ở học kì I của lớp 4, môn Toán chủ yếu tập trung vào bổ sung, hoàn thiện,tổng kết, hệ thống hoá, khái quát hoá ( dù còn rất đơn giản, ban đầu ) về số tự nhiên

và dãy số tự nhiên, hệ đếm thập phân, bốn phép tính ( cộng, trừ, nhân, chia ) và một

số tính chất của chúng Từ các nội dung này có thể làm nổi rõ dần một số đặc điểmcủa tập hợp số tự nhiên

Gắn bó với quá trình tổng kết số tự nhiên và hệ đếm thập phân là sự bổ sung

và tổng kết thành bảng đơn vị đo khối lợng ( tơng tự nh bảng đơn vị đo độ dài ở lớp 3), giới thiệu tơng đối hoàn chỉnh về các đơn vị đo thời gian và tiếp tục giới thiệu một

số đơn vị đo diện tích

Nhờ khái quát hoá bằng các công thức chữ ( hoặc khái quát hoá bằng lời )trong số học mà học sinh có điều kiện tự lập một số công thức tính chu vi, tính diệntích của một số hình đã và đang học Một số quan hệ toán học và ứng dụng củachúng trong thực tế cũng đợc giới thiệu gắn với dạy học về biểu đồ, giải toán liênquan đến tìm số trung bình cộng của nhiều số,

Có thể nói, trong CHTH mới, việc dạy học số tự nhiên đợc thực hiện liên tục

từ đầu lớp 1 đến cuối kì I của lớp 4, theo các mức độ từ đơn giản và cụ thể đến kháiquát và trừu tợng hơn Việc dạy học và thực hành, vận dụng số tự nhiên luôn gắn bóvới các đại lợng thờng gặp trong đời sống nh độ dài, khối lợng, thời gian ( khoảngthời gian và thời điểm ), diện tích, ; với các mối quan hệ trong so sánh hoặc tínhtoán thực hiện trên các số, trong quá trình giải quyết các vấn đề gần gũi với đời sốngcủa HS Tiểu học

1.3.Toán 4 kế thừa và phát huy các kết quả của đổi mới PPDH toán và đổi mới cách đánh giá kết quả học tập toán ở các lớp 1, 2, 3

Cụ thể là:

- GV phải lập kế hoạch dạy học; tổ chức, hớng dẫn và hợp tác với HS triểnkhai các hoạt động học tập để thực hiện kế hoạch dạy học ( cả năm học, từng tuần lễ,từng bài học )

Trang 10

- HS phải tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, có trách nhiệm và cóhứng thú đối với học tập môn Toán.

- Cả GV và HS đều phải chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong dạy và học; pháttriển năng lực học tập toán theo từng đối tợng học sinh; tạo ra môi trờng học tập thânthiện và hợp tác giữa GV và HS, giữa HS và HS; sử dụng hợp lí các thiết bị dạy vàhọc toán theo đặc điểm của giai đoạn các lớp 4 và 5

- Phối hợp giữa kiểm tra thờng xuyên và định kì, giữa các hình thức kiểm tra( miệng, viết, tự luận và trắc nghiệm khách quan, )

- Thực hiện dạy học và kiểm tra theo chuẩn chơng trình đảm bảo công bằng,trung thực, khách quan, phân loại tích cực trong kiểm tra

2 Mục tiêu dạy học Toán 4 phần số tự nhiên

- Nhận biết một số đặc điểm chủ yếu của dãy số tự nhiên

- Biết đọc, viết, so sánh, sắp thứ tự các số tự nhiên

- Biết công, trừ các số tự nhiên; nhân số tự nhiên với số tự nhiên có đến ba chữ

số ( tích không quá sáu chữ số ); chia số tự nhiên có đến sáu chữ số cho số tự nhiên

có đến ba chữ số ( chủ yếu là chia cho số có đến hai chữ số )

- Biết tìm một thành phần cha biết của phép tính khi biết kết quả tính và thànhphần kia

- Biết tính giá trị của biểu thức số có đến ba dấu phép tính ( có hoặc không códấu ngoặc ) và biểu thức chứa một, hai, ba, chữ dạng đơn giản

- Biết vận dụng tính chất giao hoán và kết hợp cuả phép cộng và phép nhân,tính chất nhân một tổng với một số để tính bắng cách thuận tiện nhất

- Biết tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính, nhân với 10; 100; 1000; ; chiacho 10; 100; 1000; ; nhân số có hai chữ số với 11

- Nhận biết dấu hiệu chia hết cho 2; 3; 5; 9

3 Ph ơng pháp dạy học Toán 4

Định hớng chung của PPDH Toán 4 là dạy học trên cơ sở tổ chức và hớng dẫncác hoạt động học tập tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh Cụ thể là GV phải tổchức, hớng dẫn cho HS hoạt động học tập với sự trợ giúp đúng mức và đúng lúc củaSGK Toán 4 và của các đồ dùng dạy và học toán, để từng học sinh (hoặc từng nhóm

Trang 11

HS ) tự phát hiện và tự giải quyết vấn đề của bài học, tự chiếm lĩnh nội dung học tậprồi thực hành, vận dụng các nội dung đó theo năng lực cá nhân của HS.

Toán 4 kế thừa và phát huy các PPDH toán đã sử dụng trong giai đoạn các lớp

1, 2, 3 đồng thời tăng cờng sử dụng các PPDH giúp HS tự nêu các nhận xét, các quytắc, các công thức ở dạng khái quát hơn( so với lớp 3).Đây là cơ hội tiếp tục pháttriển năng lực trừu tợng hoá, khái quát hoá trong học tập môn toán ở đầu giai đoạncác lớp 4 và 5; tiếp tục phát triển khả năng diễn đạt và tập suy luận của HS theo mụctiêu của môn toán ở lớp 4

III.Phân tích thực trạng phần thiết kế hệ thống bài tập toán ở lớp 4 chơng trình mới

1 Thực trạng của giáo viên:

Hiện nay trong nhà trờng tiểu học, ngoài các bài tập trong chơng trình, giáoviên đã chú ý đến việc ra các bài tập thêm để bồi dỡng học sinh giỏi, phụ đạo họcsinh yếu Song giáo viên mới chỉ dừng lại ở mức độ ra bài tập mà mình tham khảo ởcác sách, cha chú ý đến việc bổ xung nguồn bài tập hoặc thay thế các bài tập cùngdạng trong SGK cho phù hợp những đặc điểm về trình độ của học sinh, về thực tiễncủa địa phơng

2 Thực trạng của học sinh.

Qua tìm hiểu điều tra cho thấy đa số học sinh làm đợc các bài tập trongSGK Song khi làm đến bài tập nâng cao thì học sinh thờng gặp khó khăn trong nhậndạng bài toán, cha hiểu sâu sắc bản chất của bài toán từ đó dẫn đến kết quả cha đúng

Ví dụ: Học sinh sẽ lúng túng khi làm bài tập toán về “ Tìm hai số khi biết tổng vàhiệu của hai số đó” Do học sinh không xác định đợc đâu là số lớn, đâu là số bé, đâu

là tổng, đâu là hiệu khi ở bài toán cho dới dạng ẩn: Tổng của hai số bằng 8, hiệu củachúng cũng bằng 8

Tìm hai số đó

IV Hệ thống bài tập Trắc Nghiệm khách Quan cho học sinh lớp 4 phần Số Tự Nhiên

Trang 12

1.Khái niệm Trắc nghiệm kháh quan, hệ thống bài tập Trắc nghiệm kháh quan 1.1 Khái niệm Trắc nghiệm kháh quan:

Bài trắc nghiệm đợc gọi là khách quan, vì hệ thống cho điểm là khách quanchứ không chủ quan nh bài trắc nghiệm tự luận Thông thờng có nhiều câu trả lời đợccung cấp cho mỗi câu hỏi của bài trắc nghiệm nhng chỉ có một câu là câu trả lời là

đúng hay câu trả lời tốt nhất Bài trắc nghiệm đợc chấm bằng cách đếm số lần mà

ng-ời làm trắc nghiệm đã chọn đợc câu trả lng-ời đúng trong số các câu trả lng-ời đã đợc cungcấp.( Một số cách chấm điểm còn có cả sự phạt điểm do đoán mò, ví dụ nh trừ đi một

tỷ lệ nào đó có câu trả lời sai đối với số câu trả lời đúng ) Có thể coi là kết quả chấm

điểm sẽ nh nhau không phụ thuộc vào ai chấm bài chắc nghiệm đó Thông thờng mộtbài trắc nghiệm khách quan gồm có nhiều câu trả lời hơn một bài trắc nghiệm tựluận, và mỗi câu hỏi thờng có thể đợc trả lời bằng một dấu hiệu đơn giản Nội dungcủa một bài trắc nghiệm khách quan cũng có phần chủ quan theo nghĩa là nó đại diệncho một sự phán xét của một ngời nào đó về bài trắc nghiệm Chỉ có việc chấm điểmkhách quan Có một số loại hình câu hỏi và các thành tố của bài trắc nghiệm đợc sửdụng trong khi viết một bài trắc nghiệm khách quan

1.2.Hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan:

Hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan là hệ thống gồm các bài tập trắcnghiệm khách quan với nhiều mức độ phức tạp khác nhau, có nội dung lo gic vớinhau giúp học sinh rèn luyện t duy

1.3.Yêu cầu với hệ thống bài tập Trắc nghiệm kháh quan

- Hệ thống bài tập bao gồm các bài tập với nhiều mức độ phức tạp khác nhau phù hợpvới trình độ học sinh khá- giỏi

- Hệ thống bài tập chứa đựng những phơng pháp giải quyết các vấn đề điển hình, vừasức với học sinh và có ý nghĩa quan trọng đối với nội dung môn toán ở Tiểu học,

đặc biệt với nội dung môn toán ở lớp 4

- Hệ thống bài tập bao gồm các bài tập có phơng pháp giải logic với nhau, kiến thứctrong các bài tập đi liền mạch với nhau

Trang 13

- Hệ thống bài tập bao gồm các bài tập nhằm rèn luyện t duy cho học sinh: bài tậprèn luyện khả năng tính toán, khả năng lí luận, khả năng ghi nhớ, khả năng nhận biết

và khả năng sáng tạo

2.Cách thiết kế bài tập trắc nghiệm khách quan:

2.1 Yêu cầu khi thiết kế bài tập trắc nghịêm khách quan.

- Đảm bảo nội dung: Nội dung của bài trắc nghiệm phụ thuộc vào loại trắc nghiệm

và lứa tuổi làm trắc nghiệm Nội dung các bài tập có văn phải phù hợp với thực tiễn

- Đảm bảo tính vừa sức:Nội dung bài trắc nghiệm phù hợp với cấp lớp (cấp tiểu lớp 4) và hiểu biết kiến thức toán sẵn có của lứa tuổi, thời gian làm bài phù hợp vớitrình độ học sinh lớp 4

học-2.2 Cách thiết kế một bài tập trắc nghiệm khách quan nói chung.

Khi thiết kế một bài tập trắc nghiệm khách quan, ta tiến hành theo ba bớc sau:

B

ớc 1 : Xác định mục tiêu và điều kiện của bài trắc nghiệm.

- Mục tiêu của bài trắc nghiệm là rèn luyện phần kiến thức nào? Sử dụng bài tập đó

để làm gì? ( Rèn luyện các thao tác t duy, các loại hình t duy nào? )

- Điều kiện của bài trắc nghiệm là thời gian làm bài, hình thức làm bài

1.1 Ưu điểm và hạn chế của dạng trắc nghiệm đúng - sai.

Ưu điểm của dạng trắc nghiệm đúng - sai.

Đây là loại câu hỏi đơn giản nhất để trắc nghiệm mọi lĩnh vực kiến thức khácnhau

Loại câu hỏi đúng - sai giúp cho việc trắc nghiệm bao gồm một lĩnh vực rộng lớntrong khoảng thời gian ngắn

Soạn loại câu hỏi đúng - sai tuy cũng cần nhiều công phu nhng chỉ trong thời gianngắn có thể soạn đợc nhiều câu hỏi Có thể viết ít nhất 10 câu hỏi loại đúng - sai

Trang 14

trong khoảng thời gian cần thiết để viết đợc 1 câu hỏi có 4 hay 5 câu trả lời cho sẵn

để chọn

Có tính chất khách quan khi chấm điểm

Khi làm bài, học sinh chỉ cần chọn một trong hai câu trả lời cho sẵn cần điền

đúng ( Đ ) hoặc sai ( S ) vào ô trống

Hạn chế của dạng trắc nghiệm đúng - sai.

Có thể khuyến khích sự đoán mò, học sinh có khuynh hớng đoán may rủi để có50% hy vọng trả lời đúng

Do yếu tố đoán mò nên khó phát hiện ra điểm yếu của học sinh

Loại trắc nghiệm đúng - sai có độ tin cậy thấp Học sinh có thể đợc điểm cao nhờ

đoán ra câu trả lời

Khi dùng loại câu hỏi này để kiểm tra phần lý thuyết, giáo viên thờng có khuynhhớng trích nguyên vẹn các câu trong danh sách và do đó học sinh tập thói quen họcthuộc lòng hơn là tìm hiểu suy nghĩ

Với các học sinh còn bé, những câu phát biểu sai có thể khiến cho học sinh những

điều sai lầm một cách vô thức

1.2.Những nguyên tắc khi soạn câu hỏi loại trắc nghiệm “Đúng - sai “

Một câu trắc nghiệm đúng - sai thờng gồm một câu phát biểu để học sinhphán đoán xem nội dung đúng hay sai hoặc một phần phát biểu chính gọi là phần dẫn

và hai phơng án trả lời cho sẵn để học sinh chọn phơng án trả lời đúng:

+ Nếu câu hỏi gồm một phần phát biểu chính và hai phơng án trả lời cho sẵn thì phầnchính hay câu dẫn của câu hỏi phải mạch lạc rõ ràng Trong hai phơng trả lời chosẵn có một phơng án đúng và một phơng án sai Phơng án sai phải có lí, cách tạo raphơng án sai dựa vào những hớng suy nghĩ sai mà học sinh thờng mắc phải

+ Nếu câu hỏi gồm một câu phát biểu để học sinh phán đoán xem nội dung đúng haysai thì nên dùng những chữ chính xác và thích hợp để câu hỏi đơn giản và rõ ràngmang ý nghĩa xác định, trọn vẹn Mỗi câu hỏi loại đúng - sai chỉ nên mang một ý t-ởng chính yếu hơn là có cái hay nhiều ý tởng trong mỗi câu Nội dungcủa các câuhỏi đa ra phải có nghĩa hoàn toàn đúng hoặc hoàn toàn sai Không nên trích nguyênvăn câu hỏi từ SGK Nên diễn tả lại các điều đã học dới dạng những câu mới Không

Trang 15

nên dùng số câu đúng nhiều hơn số câu sai hay ngợc lại Số câu đúng và số câu sainên bằng nhau.

1.3 Các dạng bài tập có thể đa vào bài tập trắc nghiệm đúng - sai "

Có thể đa tất cả các dạng bài tập trong chơng trình toán lớp 4 kể cả phần bàitập lý thuyết vào dạng trắc nghiệm “ đúng - sai”

1.4 Cách thiết kế hệ thống bài tập trắc nghiệm đúng - sai

Thiết lập bài tập trắc nghiệm đúng - sai cũng tuân theo 3 hớng chính nh thiết

kế bài tập trắc nghiệm khách quan nói chung, cụ thể

Bớc 1: Xác định mục tiêu, điều kiện của bài trắc nghiệm.

Bớc 2: Đa ra tình huống

- Đa ra 2 hớng suy nghĩ trong đó một hớng suy nghĩ đúng, một hớng suy nghĩ sai màhọc sinh thờng gặp

- Giải tình huống theo hai hớng đã suy nghĩ rồi ghi lại kết quả

Bớc 3: Viết lại thành bài trắc nghiệm hoàn chỉnh

Ví dụ: Đúng điền Đ, sai điền S vào ô trống.

248 x 311 = 77028

205 x 378 = 77490

164 x 125

372 x 604 = 223 688

1.5-Một số bài tập dạng trắc nghiệm đúng - sai

Đúng ghi Đ, sai ghi S vào ô trống Bài 1: 457 895 < 467 895

350 001 > 360 001

Trang 16

Bài 3: Một đoàn xe có hai loại xe 6 xe mỗi xe chở đợc 3 tấn 4 xe mỗi xe chở đợc 2

tấn Trung bình mỗi xe chở đợc bao nhiêu tấn hàng ?

Trang 17

Bµi 5: MÑ h¬n con 24 tuæi Sau 5 n¨m n÷a th× tæng sè tuæi cña hai mÑ con lµ 46 Hái

tuæi cña mÑ vµ tuæi con hiÖn nay

C Sè nµo chia hÕt cho 3 th× tËn cïng lµ 5

D Sè nµo chia hÕt cho 9 th× tËn cïng lµn 3

Bµi 8:

A 31007 x 4 - 74876 = 49153

B 45365 + (10432 + 21425) x 3 = 140936

C 7698 x 4 + 6715 x 4 = 97616

Trang 18

2 Trắc nghiệm có nhiều phơng án trả lời để lựa chọn.

- Đây là loại câu hỏi đa ra nhiều phơng án để lựa chọn Mỗi câu hỏi có ít nhất 3 lựachọn cũng có thể có tới 5, 6 lựa chọn, trong đó chỉ có 1 phơng án đúng, các phơng áncòn lại là phơng án gây nhiễu dựa vào những sai lầm của học sinh để xây dựng

- Câu hỏi loại này thờng gồm 2 phần: Phần dẫn trình bày dới dạng 1 câu hỏi hoặc 1câu cha hoàn chỉnh Phần các phơng án trả lời gồm 1 số câu hỏi trả lời hoặc các ýhoàn chỉnh câu dẫn Học sinh lựa chọn câu trả lời đúng rồi khoanh vào chữ cái trớccâu trả lời đúng mà mình đã chọn

2.1 Ưu điểm và hạn chế của dạng trắc nghiệm có nhiều phơng án trả lời để lựa chọn.

Trang 19

- Đảm bảo tính khách quan khi chấm.

* Hạn chế:

- Khó soạn câu hỏi vì để soạn đợc 1 bài trắc nghiệm có nhiều phơng án hay, đúng,chuẩn đòi hỏi giáo viên phải có nhiều kinh nghiệm, khả năng, mất nhiều thời gian vàcông phu Việc phải tìm cho đợc 1 câu trả lời đúng nhất trong lúc các câu, các phơng

án trả lời khác cũng có vẻ hợp lí là rất khó thêm vào đó các câu hỏi phải rèn luyện

đ-ợc mức độ kiến thức cao hơn mức ghi nhớ

- Các câu hỏi lựa chọn có thể không đo đợc khả năng phán đoán và khả năng giảiquyết vấn đề khéo léo 1 cách hiệu quả bằng câu hỏi loại tự luận

2.2 Nguyên tắc khi soạn câu hỏi trắc nghiệm có nhiều phơng án trả lời để lựa chọn.

- Một bài toán dạng này gồm 1 phần phát biểu chính gọi là phần dẫn "hay câuhỏi" và 4, 5 hay nhiều phơng án trả lời cho sẵn để học sinh chọn câu trả lời đúngnhất

- Phần chính hay câu dẫn của câu hỏi phải diễn đạt rõ ràng phải mạch lạc 1vấn đề (bao gồm tất cả các thông tin cần thiết)

- Trong 4 hoặc 5 ph\ơng án trả lời cho sẵn chỉ có 1 câu đúng các câu còn lạiphải có vẻ hợp lí đối với học sinh (gọi là câu nhiễu):

+ Câu đúng phải chính xác, không đợc gần đúng hoặc suy ra là đúng + Câu nhiễu phải có lí và có dạng câu đúng Các nguồn để tạo ra câunhiễu là những hớng suy nghĩ sai, cách hiểu sai từ đề bài và những sai lầm học sinhthờng mắc phải trong quá trình học sinh làm bài tập

- Phân bố một cách ngẫu nhiên câu trả lời đúng Câu trả lời đúng phải đợc đặt ởnhững vị trí khác nhau số lần tơng đơng nhau (nếu bài trắc nghiệm có 5 phơng án trảlời thì câu trả lời đúng nhất ở vị trí A, B, C, D, E số lần ngang nhau)

- Vị trí các câu trả lời để lựa chọn đợc sắp xếp nên theo một thứ tự "tự nhiên nào đónếu có thể đợc"

2.3 Các dạng bài tập có thể đa vào bài tập trắc nghiệm có nhiều phơng án lựa chọn.

Trang 20

Các dạng bài tập có thể đa vào là các loại bài về đọc, viết, so sánh số, dãy số

tự nhiên, cấu tạo số, các phép tính

2.4 Cách thiết kế bài tập trắc nghiệm có nhiều phơng án để lựa chọn.

- Khi thiết kế ta tuân theo các bớc của một bài trắc nghiệm nói chung

Bớc 1: Xác định mục tiêu của bài trắc nghiệm.

Bớc 3: Viết lại thành bài trắc nghiệm hoàn chỉnh.

Ví dụ: Khoanh vào chữ cái trớc câu trả lời đúng

Có hai dãy ghế, dãy thứ nhất có 45 cái, đợc xếp thành các hàng, mỗi hàng có 6cái Hỏi tất cả có bao nhiêu hàng

Trang 21

Khoanh vào chữ cái trớc kết quả đúng Câu 1

Số gồm có năm vạn tám nghìn hai chục và sáu đơn vị đợc viết là:

Câu 5: Một cửa hàng trong 3 ngày bán đợc 720 kg gạo Hỏi trong tám ngày cửa

hàng bán đợc bao nhiêu ki lô gam gạo ? Biết rằng số gạo mỗi ngày bán đợc là nhnhau

A, 1820 kg C 1220 kg

B 1920 kg D 1290 kg

Câu 6

Trong các số :5 647 532, 7 685 421, 8 000 000, 11 048 502, 4 785 367, 7 071 071

Trang 22

KÓ tõ tr¸i sang ph¶i c¸c ch÷ sè 3 trong sè 53 683 230 lÇn lît chØ

(A) 3 triÖu, 3 ngµn, 3 chôc

Ngày đăng: 24/06/2013, 01:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w