1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Các loại bệnh của bò

27 571 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Loại Bệnh Của Bò
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Thú Y
Thể loại Bài Thuyết Trình
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 810,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh viêm não• Bệnh viêm não thể bọt biển ở bò tiếng Anh là bovine spongiform encephalopathy, viết tắt BSE, thông thường được gọi là bệnh bò điên, là một loại bệnh gây suy thoái hệ thầ

Trang 1

Mời cô và các bạn lắng nghe bài thuyết

trình của tổ 3

Trang 3

Bệnh viêm não

• Bệnh viêm não thể bọt biển ở bò (tiếng Anh là bovine

spongiform encephalopathy, viết tắt BSE), thông thường được gọi là bệnh bò điên, là một loại bệnh gây suy thoái

hệ thần kinh và gây chết ở gia súc, với cơ chế lây nhiễm gây sốc các nhà sinh vật học khi nó được khám phá vào cuối thế kỷ 20 và có vẻ như có thể lây nhiễm cho người Mặc dù số gia súc bị giết không đáng kể so với các bệnh gia súc khủng khiếp khác như bệnh lở mồm long móng và rinderpest, bệnh bò điên đã thu hút sự chú ý rộng rãi vì người ta cho rằng bệnh này có thể lây qua người, tuy

nhiên chưa chứng minh được là bệnh này có liên hệ với các dạng bệnh Creutzfeldt-Jakob là một loại bệnh viêm não ở người.

Trang 4

Bệnh lao bò là gì?

Đây là một bệnh truyền nhiểm do M.bovis gây ra và thường gặp

nhất ở loài bò Bệnh cũng có thể xảy ra ở tất cả loài hữu nhũ

khác kể cả loài người Tiên khởi, trực khuẩn M.bovis bắt đầu tấn công vào các hạch bạch huyết (ganglions lymphatiques,lymph

nodes) và gây viêm sưng các hạch nầy Sau đó theo thời gian

trực khuẩn lao lần lần lấn sang các cơ quan khác như phổi chẳng hạn…Tùy theo sức đề kháng của con vật mà biến chuyển của

bệnh có thể khác nhau Trường hợp bệnh nặng, khi mổ bò ra

chúng ta có thể thấy những u lao (tubercle)như những abcès nho

nhỏ từ 0.5-1.0cm đường kính và thường tập trung dưới dạng kết

chùm ở màng phổi (pleura), hoặc ở màng bụng (peritoneum) Ở

thú vật, bệnh lao biến chuyển rất chậm Dấu hiệu chung chung là

bò ốm đi, yếu sức, sốt nhiều ít không chừng, biếng ăn, mất cân và thỉnh thoảng hay ho từng cơn Đôi khi vi khuẩn ngủ cả đời trong

cơ thể mà không bao giờ gây thành bệnh cho con vật Rất khó

biết được là con vật đã mắc bệnh lao lúc nó đang còn sống Bệnh thường được phát hiện ra lúc con thú bị hạ thịt và được thú y sĩ khám tại lò sát sinh

Trang 5

• Bệnh lao bò có thể lây sang cho người nên được gọi đó là Zoonotic

TB… Cần nói rõ là tại các quốc gia Tây phương, nhờ các chương

trình xét nghiệm thường xuyên tại nông trại (programme

d’éradication) bằng test tuberculine (chích ở khấu đuôi bò, pli

caudal) để loại bỏ những con nào có dương tính với bệnh lao nên

ngày nay bệnh lao bò đã giảm đi rất nhiều tại các quốc gia kỹ nghệ Riêng Canada thì được xem như không có bò bị nhiễm lao nữa…Tại các lò sát sinh Canada , các quầy thịt bò được khám rất kỹ Chú

trọng đặc biệt nhắm vào các hạch bạch huyết để tìm bệnh tích

lésions lymphadénites granulomateuses là dấu hiệu có thể có của

bệnh lao bò…Khi cắt các hạch bạch huyết vùng hàm

(Submandibular), vùng sau yết hầu (retropharyngeal), vùng cuống

phổi (bronchial) và vùng màng ruột (mesenteric), chúng ta thấy

hạch có hơi xền xệt (caseous) đôi khi có thêm vài điểm calci hóa

Với các dấu hiệu nầy rất có thể là con vật đã bị lao Để cho việc

chẩn doán được chính xác hơn, quầy thịt bị giam lại trong phòng lạnh để chờ kết quả xét nghiệm của phòng thí nghiệm Theo kinh nghiệm làm việc của tác giả tại các nhà máy mổ bò ở Canada, thì rất hiếm thấy kết quả dương tính cho biết có sự hiện diện của trực

khuẩn lao M bovis trong bệnh phẩm, nhưng thay vào dó là các loại

vi khuẫn nhóm Actinobacillus hoặc Actinomyces, v.v…tức không

phải là vi trùng lao Trong chăn nuôi, nhằm bảo vệ sức khỏe công

Bệnh lao bò là một bệnh lây nhiễm từ thú sang cho

người (Zoonose)

Trang 6

• Các nhà khoa học Anh vừa phát hiện một

bệnh não bò mới làm liệt chết một con bò tơ

ở Anh.

• Bộ Nông thôn và môi trường Anh cho biết một cuộc điều tra đã được tiến hành sau khi người ta phát hiện có một phần trắng trong não con bò tơ đã chết (sau khi bị liệt 5-6 ngày).

• Một người phát ngôn cho biết con bò này đã được xét

nghiệm những bệnh ở bò đã biết nhưng không có bệnh nào được tìm ra (kể cả bệnh louping-ill ,một loại bệnh

truyền rất nhanh qua não và cột sống).

• Ông cho biết thêm, thêm Cơ quan nghiên cứu thú y (VLA) dường như đã phát hiện ra đây là một loại bệnh mới.

• Những thông tin mới nhất sẽ được đăng trên Veterinary Record Những chi tiết về tình trạng bệnh của bò đã thu hút sự chú ý của UK Zoonoses Group.

Trang 9

Bệnh lây sang người

• Nạn nhân là một người đàn ông ở Saskatchewan Theo các quan chức y tế Canada, trường hợp này không gây nguy hại nhiều cho cộng đồng Tuy nhiên, họ thừa nhận rằng nạn nhân có thể truyền bệnh qua ống nội soi cho một số người khác Có tới 71 bệnh nhân

đã dùng chung thiết bị với người đàn ông nói trên

• Các bác sĩ Canada lần đầu tiên nghi ngờ về căn bệnh này hồi tháng

tư năm nay Sau chẩn đoán ban đầu, người ta phải loại bỏ ngay máy nội soi đã dùng cho bệnh nhân đó Chẩn đoán xác định về bệnh

vCJD (biến thể của bệnh bò điên ở người) chỉ được đưa ra tuần

trước, sau khi bệnh nhân tử vong 71 bệnh nhân vô tình sử dụng

chung máy nội soi với nạn nhân đã được cảnh báo về nguy cơ

nhiễm bệnh Họ cũng được yêu cầu không cho máu hoặc hiến mô

• Các prion gây bệnh vCJD thường tích tụ ở một số tổ chức của cơ thể, trong đó có amiđan Máy nội soi đưa qua họng của người bệnh

để xuống đường tiêu hóa có thể tiếp xúc trực tiếp với prion ở

amiđan Trong cuộc họp báo tổ chức ngày 8/8, Shirley Paton thuộc Health Canada, thừa nhận rằng việc tẩy sạch các prion khỏi máy nội soi là điều rất khó khăn

Trang 10

• Theo cơ quan y tế Canada, chưa có cơ sở về việc bệnh bò điên đã thâm nhập nguồn cung cấp thức ăn của Canada Mọi bằng chứng đều cho thấy, người đàn ông nói trên không mắc bệnh ở Canada, rằng ông ta đã nhiễm bệnh sau nhiều chuyến đi dài ngày tới Anh

trong thời gian dịch bệnh đạt đỉnh điểm (những năm 80 và đầu thập

kỷ 90)

• Tới nay, 125 người ở Anh đã phát bệnh vCJD, 10 người trong số này vẫn còn sống Pháp ghi nhận 6 trường hợp bò điên ở người, trong khi Italy và Ireland mỗi nước ghi nhận 1 ca Bệnh xốp não ở bò

(BSE) được chẩn đoán lần đầu tiên tại Anh vào năm 1986 Tuy

nhiên, các biện pháp bảo vệ sức khỏe con người chỉ bắt đầu được

áp dụng 3 năm sau đó Ca tử vong vì bệnh vCJD đầu tiên được ghi nhận tại Anh năm 1996, và ăn thịt bò nhiễm bệnh được coi là con

đường lây truyền chính

• Nghiên cứu gần đây cho thấy, bệnh có thể lây qua đường truyền

máu Tại Anh, máu được lọc để bỏ hết tế bào bạch cầu, được coi là kho dự trữ tiềm ẩn của prion Phần lớn huyết tương (plasma) dùng trong điều trị đều nhập từ nước ngoài

• Các dụng cụ dùng một lần để cắt amiđan đã được đưa vào sử dụng

ở Anh nhưng sau đó lại bị bỏ vì gây nhiều biến chứng Ít nhất đã có 2 người chết sau khi được mổ bằng dụng cụ dùng 1 lần này

Bệnh bò điên

Trang 11

Prion tạo nên nhiều lỗ hổng trong não

người bệnh

Trang 12

Bệnh lở mồm long móng

Bệnh lở mồm long móng (tiếng Anh: Foot-and-mouth

disease, viết tắt FMD; tiếng Latin: Aphtae epizooticae), là một loại bệnh bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm do virus gây ra trên động vật móng guốc chẵn như lợn, bò, trâu, hươu, dê Bệnh này rất nguy hiểm vì bệnh lây lan rất nhanh qua nhiều con đường khác nhau như tiếp xúc trực tiếp giữa động vật với nhau, truyền qua không khí Chính vì vậy mà Tổ chức Y

tế Thế giới xếp bệnh lở mồm long móng đứng đầu các bệnh truyền nhiễm của động vật.

Năm 1897, Friedrich Loeffler đã phát hiện bệnh lở mồm long móng đầu tiên do virus gây ra Cho đến nay, người ta đã xác định có 7 dạng virus gây bệnh gồm các dạng A, O, C, SAT1, SAT2, SAT3 và Asia1 Ở vùng Đông Nam Á chủ yếu là 3

dạng A, O và Asia1

Trang 13

Triệu chứng

Khi nhiễm bệnh, nhiệt độ cơ thể của gia súc khá cao (khoảng 40°C) Đồng thời, gia súc trở nên kém ăn, ủ rũ, tiết nước bọt nhiều và nhiễu xuống; ở vùng miệng (miệng, lợi và lưỡi), vùng chân (kẽ móng và bờ móng chân)

và vú xuất hiện các mụn nước chứa dịch màu vàng nhạt Trong vòng 24 giờ, mụn nước sẽ tự vỡ, làm bờ móng sưng đau dẫn tới con vật đi lại khó khăn, phải nằm một chỗ Nếu bệnh phát triển mạnh, khoảng từ 5 đến 6 ngày, con vật sẽ yếu, khó thở và chết

Cách phòng chống

Tùy từng điều kiện mà mỗi nơi có nhiều cách phòng chống với hiệu quả khác nhau Cách tốt nhất để phòng bệnh là sử dụng vắc xin Tuy nhiên, khi con vật đã nhiễm bệnh, hữu hiệu nhất là tiêu hủy toàn bộ số gia súc bị bệnh, điều này các nước châu Âu đã thực hiện khá hoàn hảo đầu năm 2001

Trang 14

Ở Việt Nam, người ta sử dụng một số hóa chất sát trùng như dung dịch xút 1%, nước vôi 5-10%, nước ôzôn và dung dịch anolit để khử trùng môi

trường, rửa bên ngoài vết thương Nhưng các hóa chất này không thể dập tắt hoàn toàn dịch bệnh.

Cùng năm đó, dịch cũng đã xảy ra tại Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan Đến cuối năm 2003, dịch xảy ra ở vùng Đông Nam Á (Thái Lan, Lào, Campuchia, Malaysia, Myanma, Philippines và Việt Nam Một năm sau, dịch lan tới

Trung Quốc, Nga, Mông Cổ và tiếp tục ở Myanma.

Trong 2 năm 2005 và 2006, dịch tràn tới Nam Mỹ ở các quốc gia như Brasil, Argentina và Paraquay cũng như ở châu Phi (Nam Phi).

Việt Nam

Năm 2006 là năm bệnh dịch lở mồm long móng xảy ra rất mạnh ở hầu hết các tỉnh thành của Việt Nam với hàng chục nghìn gia sục bị nhiễm bệnh Tuy nhiên, do điều kiện cũng như ý thức của người dân, trình độ và sự

thiếu trách nhiệm của cán bộ thú y[1][2] và chính quyền địa phương mà

dịch bệnh không thể khống chế dễ dàng Một số nơi, còn sử dụng các con

Trang 15

17/2, các nhà nghiên cứu Italia đã phát hiện một dạng bò điên

mới Não của các con bò mắc dạng bệnh này trông rất khác so với

bò mắc bệnh xốp não cổ điển (bò điên hay BSE) và giống não của người bị bệnh Creutzfeldt-Jakob (nhũn não hay CJD).

CJD là một dạng bệnh bí ẩn, xảy ra ngẫu nhiên ở 1 trong 1 triệu người

và không phải là bệnh mà con người mắc phải do ăn thịt bò điên

(vCJD) CJD là căn bệnh vô phương cứu chữa và luôn gây tử vong Nó được lây truyền thông qua cấy ghép mô và truyền máu Ngoại trừ một vài trường hợp là do di truyền, không một ai biết các ca còn lại bắt

nguồn từ đâu

Salvatore Monaco và đồng nghiệp thuộc Viện Zooprofilattico

Sperimentale delle Lombardia đã phân tích não của 8 con bò ở độ tuổi

từ 5 tới 15 Chúng đều có kết quả dương tính đối với bệnh bò điên BSE

và dường như rất khoẻ mạnh khi được giết mổ Kết quả cho thấy 6 con mắc BSE cổ điển - căn bệnh mà giới khoa học cho rằng phát sinh từ thức ăn làm bằng thịt cừu phế phẩm

Trang 16

Hơn 139 người đã tử vong do vCJD, tập trung chủ yếu tại Anh Trái ngược với các dạng CJD truyền thống gây ảnh hưởng tới những

người ở độ tuổi từ 65 trở lên, vCJD ảnh hưởng tới các bệnh nhân có tuổi trung bình là 29 Thời kỳ mắc vCJD tương đối dài (14 tháng so với 4,5 tháng ở CJD).Tuy nhiên, 2 con còn lại mắc một dạng rất khác biệt Thay vì có các lỗ trông giống như bọt biển, não của chúng có các cục protein giống như ở não người mắc CJD Mọi phần khác

nhau trong não đều bị ảnh hưởng Điều đáng lo ngại hơn là mặc dù

những con bò mắc dạng bệnh mới đã cao tuổi song chúng không bộc

lộ những triệu chứng rõ ràng của BSE và chỉ được chẩn đoán sau khi giết mổ.

Theo nhóm nghiên cứu, phát hiện này làm dấy lên nghi ngờ: một số người mắc CJD do ăn thịt bò nhiễm dạng bò điên mới này Tuy

nhiên, Paul Brown, chuyên gia BSE và CJD tại Viện Rối loạn Thần kinh và Đột quỵ quốc gia Anh cho biết khả năng trên là không thể bởi chưa có dịch CJD

Trang 17

Viêm tử cung bò cái sinh sản và

cách can thiệp

• Bệnh viêm tử cung ở trâu, bò cái sinh sản ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sản xuất của vật nuôi như làm cho trâu,

bò cái mất sữa, chậm động dục trở lại, không thụ thai,

làm giảm năng suất Trường hợp nặng trâu, bò cái giảm khả năng sinh sản dẫn đến vô sinh vĩnh viễn.

• Tử cung là bộ phận sinh dục của trâu, bò cái, là đường đi của tinh trùng để gặp tế bào trứng, nuôi dưỡng phôi phát triển thành thục và đẩy thai ra ngoài khi đẻ Sự cân bằng giữa estrogen có tầm quan trọng trong sự tham gia chuẩn

bị niêm mạc tử cung đón nhận hợp tử và phát triển phôi thai giai đoạn đầu Niêm mạc tử cung ở từng giai đoạn thích hợp còn là nơi chế tiết các hormon tương ứng (tế bào nội tiết)

Trang 18

Nguyên nhân

Sự thoái hoá, chết phôi, không thụ thai, tinh trùng bị chết, chậm động

dục sau khi đẻ…do 2 nguyên nhân chính là :

- Rối loạn chức năng nội tiết và sinh lý mô bào tử cung mà chủ yếu là niêm mạc tử cung.

- Sự xâm nhiễm của các loại vi khuẩn, virus.

Sự rối loạn nội tiết như tăng foliculin trong máu tăng Progesteron mất thăng bằng động thái Estrogen/Progesteron đều là những yếu tố gây viêm tử cung Nói chung, trong thời kỳ động dục ở giai đoạn thể vàng thích hợp cho vi khuẩn xâm nhiễm Rối loạn nội tiết và biến đổi bệnh

lý mô bào tử cung làm cho vi khuẩn có điều kiện thuận lợi để xâm

nhập, tồn tại, phát triển và gây bệnh.

Đẻ khó, không chăm sóc tốt, thời kỳ hồi phục tử cung sau khi đẻ

không giữ vệ sinh, sót nhau, sát nhau, dãn cổ tử cung, âm đạo tích chất dơ, tích nước tiểu, những thao tác đưa dụng cụ vào cổ tử cung không an toàn, không vệ sinh là những yếu tố thuận lợi cho mầm

bệnh xâm nhập và phát triển ở tử cung gây viêm.

Vi khuẩn là những mầm bệnh rất đa dạng, có loại vi khuẩn gây viêm tử cung đặc hiệu như lao, sẩy thai, sẩy thai truyền nhiễm Có loại vi

khuẩn gây viêm tử cung không đặc hiệu như tụ cầu trùng, cầu khuẩn trực tràng, trực tràng sinh mủ…

Trang 19

Triệu chứng

• Tuỳ theo loại vi khuẩn, mức độ phát triển và hoạt động của vi khuẩn,

sự rối loạn chức năng sinh lý và nội tiết tử cung mà biểu hiện các triệu chứng lâm sàng khác nhau về mức độ viêm nặng hay nhẹ có thể phân loại như sau :

• Viêm nội mạc tử cung mức độ 1 (viêm cata đơn)

• Gia súc động dục bình thường, khi động dục tiết dịch, có thể có

những gợn trắng ở niêm dịch, trạng thái niêm dịch khác thường

không thống nhất Cổ tử cung sưng, tụ huyết, khám trực tràng không thể phân biệt được tử cung bị bệnh hay động dục

• Viêm nội mạc tử cung mức độ 2 (viêm nội mạc niêm dịch có mủ)

• Gia súc động dục không bình thường, niêm dịch có mủ, cổ tử cung

mở rộng hay hé mở và sung huyết, sừng tử cung cong, cứng dày Buồng trứng bình thường và có thể vàng lưu bệnh lý

Trang 20

• Viêm tử cung mức độ 3 (viêm nội mạc có mủ)

• Gia súc ngưng động dục, mủ chảy ra ngoài, nhiều nhất là lúc nằm

Cổ tử cung sưng, mở rộng hay hé mở phủ màu trắng hay trắng

vàng, niêm mạc âm đạo sung huyết Khám trực tràng thấy sừng tử cung tăng kích thước, thành tử cung dày, tử cung kéo dài nhất là

trâu, bò cái già, buồng trứng có thể vàng lưu bệnh lý

• Viêm tử cung mức độ 3 thường viêm cổ tử cung, viêm âm đạo và không chỉ nội mạc tử cung bị rối loạn sinh lý và tổn thương mà cả lớp

cơ trơn cũng bị viêm

• Viêm tử cung tích mủ.

• Gia súc không động dục và người ta thường nhầm với có chửa

nhưng không bao giờ thể hiện triệu chứng lâm sàng, có thể có

trường hợp chảy mủ ra ngoài Khám âm đạo thấy âm đạo kéo dài về phía xoang bụng vì sức nặng của tử cung chứa mủ, cổ tử cung có thể đóng lại và bịt kín bằng dịch mủ như có chửa hoặc bị bao phủ chất nhầy, mủ Cổ tử cung và âm đạo viêm, khám trực tràng thấy hai sừng tử cung tăng dung tích và kích thước Tử cung sa xuống xoang bụng nhiều hay ít tuỳ thuộc lượng mủ tích lại nhiều hay ít (có trường hợp 20-25 lít mủ) Khi khám có thể nhằm với có chữa nhưng không thấy có thai, không có núm nhau, không cảm nhận có nhịp đập của động mạch giữa tử cung, ở buồng trứng có thể vàng tồn tại

Trang 21

Điều trị

Để điều trị bệnh viêm tử cung phải tuỳ thuộc theo loại viêm và mức độ nặng nhẹ với phương pháp điều trị sớm, kịp thời, vừa tiêu diệt mầm bệnh, vừa bảo vệ và phục hồi chức năng tử cung, nếu mầm bệnh đặc hiệu (lao, sẩy thai truyền nhiễm ) phải đồng thời điều trị toàn

thân với viêm tử cung

Viêm nội mạc mức độ 1:

Rửa bằng dung dịch Lugol 1,5-2% (tuỳ theo nơi sản xuất mà tên thương mại và liều lượng có khác nhau có ghi sẵn trên nhãn hoặc chai) để thụt rửa tử cung và lập lại lần 2 sau 5 ngày, dung dịch lugol rửa cổ tử cung phải được đưa vào tới từng sừng tử cung 50-60ml/sừng, cần thiết nên dùng Lugol rửa cổ tử cung và âm đạo 500-1000ml, thường viêm tử cung ở mức độ này chỉ cần bơm và giữ dung dịch Lugol 1,5-2% là có kết quả Ngoài ra có thể thay dung dịch Lugol bằng

Penicilline 1.000.000 UI và Streptomycine 1 gram hòa với 100ml

nước cất bơm vào hai sừng

Ngày đăng: 23/06/2013, 01:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w