1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tác phẩm Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm LTĐH

16 524 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 1,7 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Khởi đầu: “Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn” -> nhận thức: khởi thủy Đất nước là văn hóa kết tinh từ tâm hồn Việt Từ truyện cổ tích đến ca dao, tục ngữ, “miếng trầu” đã là

Trang 1

I- Tìm hiểu chung

1 Tác giả: sinh năm 1943- Quê: Thừa Thiên - Huế- Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ

thơ trẻ những năm chống Mĩ cứu nước - Phong cách nghệ thuật: giàu chất suy tư, chính luận, xúc cảm lắng đọng, thể hiện tâm tư của người tri thức tham gia tích cực vào cuộc chiến đấu của nhân dân.- TP chính: Đất ngoại ô (1972), Mặt đường khát vọng (1974)

2 Tác phẩm

2.1 Hoàn cảnh ra đời

- Sáng tác 1971, tại chiến khu Trị - Thiên (những năm cuối của cuộc k/c chống Mĩ cứu nước)

- In lần đầu năm 1974

2.2 Kết cấu, bố cục: gồm 9 chương

2.3 Thể loại : trường ca: Là thể loại tác phẩm có sự kết hợp hài hòa hai yếu tố tự sự và trữ tình 2.4 Đoạn trích

- Xuất xứ: phần đầu chương V của trường ca

- Chương V có vị trí đặc biệt, hội tụ chủ đề tư tưởng tác phẩm: sự thức tỉnh của thế hệ trẻ các thành thị miền Nam, (rộng hơn: sự tự nhận thức của tuổi trẻ VN) về sứ mệnh và trách nhiệm với dân tộc

2.5 Bố cục

- Phần 1 : Cảm nhận mới mẻ về đất nước: Đất nước có trong đời sống mọi mặt của nhân dân

- Phần 2 : Tư tưởng “Đất nước của nhân dân”: Nhân dân làm nên Đất nước

II- Đọc hiểu văn bản

1- Phần 1: Đất nước có trong đời sống mọi mặt của nhân dân (Bốn mươi hai dòng thơ đầu) 1.1 Chín dòng thơ đầu: lí giải cội nguồn của đất nước (Đất nước có từ bao giờ?)

- Không bắt đầu từ một cách trang trọng (mà lại hết sức bình dị, gần gũi)

"Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi

Đất nước có từ trong cái ngày xửa ngày mẹ thường hay kể

Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc "

Đất nước là những gì có thể bắt gặp ở ngay trong cuộc sống của mỗi gia đình, mỗi con người

“Đất nước có trong những cái ngày xửa, ngày xưa ” -> Đất nước có từ rất lâu, rất xa trong lịch

sử

+ Khởi đầu: “Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn” -> nhận thức: khởi thủy Đất nước là văn hóa kết tinh từ tâm hồn Việt (Từ truyện cổ tích đến ca dao, tục ngữ, “miếng trầu” đã là một

hình tượng nghệ thuật mang tính thẩm mĩ, là hiện thân của tình yêu thương, lòng thủy chung của tâm

hồn dân tộc)

+ Sự trưởng thành: “Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc” -> nhận thức về tính cách anh hùng- từ truyền thuyết dân gian đến tác phẩm thơ hiện đại, cây tre trở thành biểu tựơng cho sức mạnh tinh thần quật cường đánh giặc cứu nước và giữ nước, biểu tựợng cho những phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam Đất nước có trong truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm, chỉ lớn lên, trưởng thành trong chiến đấu -> Cảm nhận, lí giải cội nguồn đất nước bằng những hình ảnh

bình dị, đời thường, khẳng định: đất nước không xa xôi, trừu tượng mà gần gũi, thân quen ngay trong cuộc sống của mỗi con người

ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM (tiết 1)

Trang 2

- Giọng thơ: thâm trầm, trang nghiêm làm cho suy tư về cội nguồn đất nước giàu chất triết luận mà vẫn thiết tha, trữ tình Từ câu chuyện cổ tích của mẹ kể, miếng trầu của bà, hạt gạo ta ăn, ngôi nhà ta

ở, tất cả đều là hiện thân, là khởi nguồn của đất nước

- Để nói về lịch sử trường tồn của đất nước, nhà thơ đã không bắt đầu bằng việc đưa ra các sử liệu

mà những gì rất gần gũi, quen thuộc trong đời sống của nhân dân ta, được gợi ra từ những chất liệu của văn hoá dân gian, ca dao, tục ngữ

+ Những câu thơ mở đầu gợi nhớ đến những truyền thuyết và cổ tích, vào loại xa xưa nhất của dân

tộc (truyện Trầu cau, truyền thuyết Thánh Gióng) nền văn minh lúa nước đã hình thành từ thời Âu

Lạc xa xưa và những tập quán phong tục lâu đời (tóc mẹ thì bới sau đầu) Đó chính là sự cảm nhận

về chiều sâu lịch sử của đất nước

+ Ở đây có những phát hiện rất bất ngờ Nó cũng là bình diện về bề dày văn hoá Một đất nước mà chỉ dừng lại ở lãnh thổ, lịch sử không thôi thì chưa đủ Một đất nước muốn chứng tỏ sức sống của mình cần phải được đảm bảo bằng văn hoá Cho nên nói về đất nước, không thể thiếu được bề dày văn hoá của mình

+ Nguyễn Khoa Điềm điểm lại di sản văn hoá ông cha ta để lại không phải là những công trình, những tác phẩm văn hoá, những đền đài miếu mạo, pho tượng mà những giá trị, những vật phẩm văn hoá được nói đến rất rộng rãi Rất có thể một kiểu để tóc của người Việt Nam cũng là một giá trị văn hoá, hoặc tên gọi cái kèo, cái cột cũng là một giá trị văn hoá, gắn liền với văn hoá Việt Nam hoặc cách yêu nhau được biểu hiện bằng gừng cay muối mặn cũng thuộc về phạm trù văn hoá, hay cách làm ra hạt gạo, hạt lúa, "một nắng hai sương xay giã dần sàng" cũng là một phương diện Hoặc đơn giản là những câu ca dao, tục ngữ, thành ngữ, huyền thoại còn được lưu truyền trong kí ức cũng chính là tài sản về văn hoá

* Trong khi nói về văn hoá của đất nước, Nguyễn Khoa Điềm có những phát hiện rất bất ngờ Tác giả đã thức dậy trong chúng ta một điều giản dị: đừng coi thường những vật phẩm quen thuộc, bởi trong mỗi vật phẩm quen thuộc có thể chứa đựng những điều hết sức hệ trọng thiêng liêng Ví như hình ảnh miếng trầu- một sự vật bình thường, nhỏ nhoi, dễ bị quên lãng dưới con mắt của người hiện đại, nhưng Nguyễn Khoa Điềm lại phát hiện trong đó có một phần đất nước Miếng trầu thuỷ chung với người Việt, chia sẻ mọi vui buồn, mọi thăng trầm với con người Việt Nam suốt mấy nghìn năm qua Trong miếng trầu của bà ăn hôm nay có 4000 năm tuổi Có thể nói đây là phát hiện đột xuất, rất bất ngờ và cũng rất sắc sảo của Nguyễn Khoa Điềm Nó cho ta thấy đất nước này sở dĩ còn được đến bây giờ là bởi sự sống bền bỉ của nó gắn liền với những sự vật tưởng như là rất bình

thường nhỏ nhoi

+ Câu thơ còn có một nghịch lí bởi chữ "bắt đầu" Tại sao miếng trầu hôm nay lại là khởi

nguồn của đất nước 4000 năm trước? Ý niệm về thời gian đã bị xáo trộn làm cho người đọc chúng ta

có thể thấy rằng: cái của 4000 năm trước nó vẫn đang hiện diện với chúng ta hôm nay, và sự hiện diện của nó hôm nay luôn luôn nhắc ta nhớ về 4000 năm trước Phát hiện như thế không chỉ có chiều sâu về mặt nghệ thuật mà còn có chiều sâu về mặt tư tưởng, gắn với tư tưởng chung bao trùm lên

toàn bộ bài thơ Câu thơ gợi cho ta nhớ đến cùng một lúc ba tài sản về văn hoá tinh thần:

+ Những câu ca dao, thành ngữ quen

thuộc

+ Truyện cổ tích Trầu cau

+ Tập tục cổ truyền của người Việt

=>

Miếng trầu là một vật phẩm rất điển hình cho văn hoá dân gian làm nên bộ mặt của văn hoá Việt Nam

Trang 3

- Tiếp đó là sự cảm nhận về đất nước trong sự thống nhất của các phương diện địa lí và lịch sử, không gian và thời gian

Ý nghĩa về đất nước được gợi ra từ việc chia tách hai yếu tố hợp thành là Đất, Nước và những liên tưởng gợi ra từ đó

Trong bài thơ, tác giả nói đến đất nước khi thì như là một chữ khi thì như hai chữ Khi thì nó

liền lại thành Đất nước, khi thì nó tách ra thành Đất và Nước Đất và Nước như là hai tế bào gốc, hai nguyên tố chính của đất nước này Cho nên ban đầu nói về thời kì sơ khai, Đất và Nước tách nhau như hai nguyên tố riêng rẽ nhưng khi nó trở thành Đất nước thì Đất và Nước liền lại với nhau

Đất nước trong sự toàn vẹn của tổ tiên, Đất nước trong tình yêu của cá nhân

Sự sinh thành của Đất và Nước là gắn liền với tình yêu Tiếng nói tư duy trữ tình rất thống nhất với tư tưởng triết học: Đất như là một nguyên tố thuộc dương; Nước như là một nguyên tố thuộc âm Cả hai nguyên tố đó hoà hợp với nhau tạo thành sự sống Khi anh và em hò hẹn thì Đất và Nước không tách rời nữa mà nó liền lại Nó liền lại bởi tình yêu và đó chính là cơ sở, cội nguồn

sinh sôi nên đất nước Việt Nam suốt mấy nghìn năm qua Đất nước được bảo tồn bởi tình yêu của con người

- Đoạn thơ chín câu, tám lăm chữ mà không hề có một từ Hán Việt Ngôn từ bình dị, cách nói biểu

cảm thân mật Hiện diện trong đoạn thơ là: ta, dân mình, bà, cha, mẹ Có miếng trầu, cây tre, tóc

mẹ,… Có "gừng cay muối mặn", cái kèo, cái cột, hạt gạo, v.v… Thật là thân thuộc và gần gũi, sâu xa

và thấm thía, rung động Tưởng tượng thì phong phú, liên tưởng thì bao la Đoạn thơ đã "nhịp mãi lên một tấm lòng sứ điệp" để ta yêu thêm Đất Nước và tự hào về Đất Nước Cấu trúc đoạn thơ: "tổng – phân – hợp"; mở đầu là câu "Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi", khép lại đoạn thơ là câu "Đất Nước có từ ngày đó" Tính chính luận đã làm sáng đẹp chất trí tuệ kết hợp hài hòa với chất trữ tình đậm đà Đoạn thơ mang vẻ đẹp độc đáo nói về cội nguồn Đất Nước thân yêu

1.2 Hai mươi dòng thơ tiếp theo: Định nghĩa Đất Nước (trả lời cho câu hỏi: Đất Nước là gì?)

- Cấu trúc: Đất là Định nghĩa Đất Nước bằng cách tách - ghép hai từ

Nước là

Đất Nước là Đất Nước -> lối tư duy “chiết tự”, gợi chiều sâu suy tưởng Đất Nước

là sự hài hòa giữa nhiều yếu tố, trong đó có sự thống nhất của yếu tố không gian địa lí và thời gian lịch sử

- Không gian địa lí:

+ là nơi sinh sống của mỗi con người (nơi anh đến trường, nơi em tắm, )

+ là nơi tình yêu lứa đôi nảy nở (nơi ta hò hẹn, nơi em đánh rơi chiếc khăn ) -> không gian hẹp

+ là núi, sông, rừng bể (hòn núi bạc, nước biển khơi, )

+ là không gian sinh tồn của cộng đồng dân tộc qua bao thế hệ (những ai đã khuất, dặn dò con

cháu )

-> không gian rộng lớn, mênh mông

- Thời gian lịch sử:

Thời gian ở đây được đo bằng những hình tượng huyền thoại lấy từ truyền thuyết: Lạc Long Quân,

Âu Cơ, truyền thuyết Hùng Vương, ngày giỗ Tổ Không gian thấm đẫm tính nguồn cội, hướng người đọc về với cội nguồn dân tộc, nhắc nhở các thế hệ nhớ về lịch sử dân tộc Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng sáng tạo các yếu tố ca dao, truyền thuyết dân gian để tạo nên được những hình tượng nghệ

Trang 4

thuật vừa gần gũi, vừa mới mẻ về đất nước trên cả bề rộng vè không gian địa lí và cả chiều dài thời gian lịch sử

1.3 Mười ba dòng thơ tiếp: Đất Nước hóa thân trong mỗi con người

Trong anh và em hôm nay .làm nên Đất Nước muôn đời

- Đất nước không phải là một khái niệm trừu tượng, xa xôi mà là sự hóa thân, kết tinh trong mỗi con người Bởi lẽ mỗi cuộc đời đều được thừa hưởng một phần di sản vật chất và tinh thần của dân tộc

- Mạch thơ dẫn đến suy ngẫm về trách nhiệm của mỗi người đối với đất nước Đó cũng là thông điệp

mà tác giả muốn gửi đến mỗi chúng ta Mặc dù viết với mục đích tuyên truyền, cổ động nhưng lời thơ của tác giả lại rất đỗi trữ tình, chỉ như một lời tự dặn mình chân thành, tha thiết

Em ơi em, Đất Nước là máu xương của mình

Phải biết gắn bó và san sẻ

Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở

Làm nên đất nước muôn đời…”

- Nhà thơ đã khéo léo tạo ra nhân vật “em” là đối tượng để gửi thông điệp Qua hình thức đối thoại trò chuyện, tâm tình, lời thơ như lời của đôi lứa yêu nhau nên ý thơ dễ đi vào lòng người và có sức

lan truyền mạnh mẽ

* Nét đặc sắc, mới mẻ trong cách cảm nhận về Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm:

Cảm nhận Đất Nước trên nhiều phương diện:

- từ chiều sâu của đời sống văn hoá, phong tục, truyền thống

- từ chiều rộng của không gian địa lí

- từ chiều dài của thời gian lịch sử

-> Đất nước hiện ra vừa thiêng liêng, sâu xa, lớn lao, vừa gần gũi, thân thiết với mọi người

=> am hiểu -> tự hào -> biểu hiện của lòng yêu nước

Trang 5

3- Những nét độc đáo trong nghệ thuật biểu hiện của đoạn trích Đất Nước

3.1 Lối thơ tự do, gần như văn xuôi, hướng sâu đến trí tuệ, vận động bằng chiều sâu của trí tuệ

(không véo von trong cảm xúc) Có những đoạn giãn ra đến mười hai chữ, có chỗ thắt lại trong ba chữ; lối gieo vần hỗn hợp với nhiều khúc biến tấu: vần chéo, vần lưng, không vần, nhạc điệu bên trong…có nhiều âm sắc lạ…

3.2 Giọng trữ tình có sự đan xen triết luận và chính luận tạo nên sức mạnh cảm hoá và thuyết

phục Mượn hình thức trữ tình để lí giải các vấn đề triết luận về đất nước Hình thức trữ tình trò chuyện lứa đôi - vốn để trao gửi những tình cảm riêng tư, cá nhân, ở đây lại dùng để gửi gắm những tình cảm chung, lớn lao, thiêng liêng: tình yêu đất nước, tình cảm với nhân dân Đất nước nhờ tình yêu của anh và em mà mênh mông thăm thẳm như một nỗi nhớ thầm…

- Ý nghĩa: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận:

• Tạo giọng thơ trữ tình, thủ thỉ, thiết tha, đằm thắm- dấu ấn thi pháp thơ trữ tình chính trị (liên hệ với Việt Bắc - Tố Hữu)

• Làm cho những lí giải mang tầm triết học về đất nước trở nên dung dị, dễ hiểu, thấm thía

(Nói thêm: Hình thức lời tâm tình trò chuyện của anh và em- mang tính giãi bày, bộc bạch, như lời

tự nói, một kiểu tùy bút thơ độc đáo, bộc lộ suy cảm rất sâu về tổ quốc, lồng vào đó suy nghĩ về trách nhiệm và nghĩa vụ của thế hệ mình Chất tư duy logic và chất thơ (chất hình tượng sinh động, chất

xúc cảm của thơ) được kết hợp khá nhuần nhuyễn làm nên chất trữ tình- chính luận của thơ

3.3 Sự cảm nhận về Đất nước một cách toàn vẹn, tổng hợp từ nhiều bình diện

+ Trong chiều dài thời gian lịch sử (Lạc Long Quân, Âu Cơ, vua Hùng, thời trung đại, hiện đại,- quá

khứ - hiện tại - tương lai)

+ Trong chiều rộng không gian địa lí (Trung- Nam- Bắc, vùng núi, đồng bằng, miền biển; không gian sinh hoạt, không gian riêng tư của tình yêu lứa đôi, không gian hùng vĩ của núi cao sông dài biển rừng vàng biển bạc…Văn của Eren bua cũng nói đến dòng suối đổ vào sông…tình yêu nước bắt đầu từ cái cây trồng trước nhà, con phố đổ ra bờ sông, mùi cỏ thảo nguyên, hơi rượu mạnh, từ cụ thể

đến khái quát, từ gần gũi thân thuộc đến thiêng liêng)

+ Trong bề dày của văn hoá - phong tục, lối sống, tâm hồn và tính cách dân tộc

=> Ba phương diện này được thể hiện trong sự gắn bó, thống nhất Bất kì ở đâu, thời nào, đất nước cũng là của nhân dân, nhân dân cũng làm nên đất nước, trên bất cứ phương diện nào thì tư tưởng cốt

lõi cũng là quan niệm "Đất nước của Nhân dân" Đó cũng chính là hệ quy chiếu mọi cảm xúc và

suy tưởng Nhờ đó mà tác giả đã có những phát hiện mới mẻ, đặc sắc, làm sâu sắc thêm ý niệm về

đất nước của thơ ca thời kì chống Mĩ, làm nổi bật tư tưởng Đất nước của nhân dân: Đất nước có

trong đời sống của nhân dân, do nhân dân làm ra, trường tồn bất diệt cùng nhân dân, được nói bằng tiếng nói của nhân dân

- Từ Nguyễn Trãi (có lật thuyền mới thấy dân như nước); Lê nin (Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng); Nguyễn Đình Chiểu (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc); Phan Bội Châu (dân là dân nước nước là nước dân) đến Nguyễn Đình Thi (Trời xanh đây là của chúng ta)…các nhà cách mạng, các nhà thơ

ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM (tiết 3)

Trang 6

nhấn mạnh vào quyền sở hữu, quyền làm chủ, đối lập với thời đại trước đó (Đất nước chưa thuộc

quyền làm chủ của nhân dân, nhân dân chưa có đất nước, coi nước là của Vua (Sông núi nước Nam

vua Nam ở); hay Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ (nói những vấn đề liên quan đến thái ấp của

ta, bổng lộc các ngươi) Nguyễn Khoa Điềm nhìn ra vai trò to lớn của nhân dân trong

3.4 Vận dụng sáng tạo chất liệu văn hoá, văn học dân gian

Tư tưởng bao trùm "Đất nước của Nhân dân" khiến cho chất liệu mà Nguyễn Khoa Điềm lựa

chọn để diễn tả phải là chất liệu phù hợp mà trong trường hợp này chất liệu ấy không thể là gì khác hơn là vốn văn hoá dân gian Trong trích đoạn thơ, tác giả sử dụng rất nhuần nhị, sáng tạo vốn ca dao, tục ngữ, thành ngữ, những câu chuyện về cổ tích thần thoại, huyền thoại, thậm chí phong tục, tập quán…gắn bó lâu đời với người Việt => Tư tưởng đất nước của Nhân dân được nói dựa trên chất liệu, kho kiến thức, vốn văn hoá nên có sức thuyết phục hơn

- Sử dụng các chất liệu văn hóa dân gian một cách sáng tạo, không trích nguyên văn, không kể lể dài dòng mà chỉ nắm bắt lấy rất nhạy cái hồn của văn hóa dân gian để gợi liên tưởng, suy ngẫm cho độc giả, tạo cảm giác vừa quen vừa lạ Quen vì tự thuở ấu thơ, ta đã nằm trong tiếng hát đưa nôi, hồn dân tộc Việt trong mỗi người đã đắm trong những câu ca dao, tục ngữ; cổ tích, truyền thuyết, tâm hồn ta

đã căng sẵn một sợi dây đàn, chỉ cần một rung động nhỏ là tâm hồn ấy sẽ ngân rung bao hồi ức, bao rung động; lạ vì từ những chất liệu văn hóa dân gian rất gần gũi ấy, tác giả đã thâu tóm được nhiều ý tưởng bất ngờ và rất thơ, làm cho người đọc hiểu sâu hơn đất nước nhân dân mình

- Ngoài ra, việc thể hiện sâu tư tưởng Đất nước của nhân dân (Sau này, trong trường ca “Đất nước

hình tia chớp”, Nhà thơ Trần Mạnh Hảo viết năm 1976-1977, cũng sử dụng rất nhiều chất liệu văn hóa dân gian trong chương V/10 chương- Thương nhau cởi áo cho nhau) còn có tác dụng:

+ Tạo thành bầu khí quyển bao bọc cả bài thơ, cuốn ta vào không khí của ân tình, hoài niệm

+ Nét mới mẻ (so với các nhà thơ khác) là những chất liệu lấy trong đời sống dân gian: có chất văn hóa nghệ thuật gợi ca dao cổ tích, mang tính chất sang trọng, phù hợp với đối tượng thuyết phục là những người trí thức trẻ, có trình độ văn hóa, phải chinh phục bằng văn hóa Bản thân người đọc cũng phải được tiếp nhận bằng học vấn, phải liên tưởng tìm tòi, đồng sáng tạo cùng tác giả

3.5 Tư duy nghệ thuật hiện đại: mượn những nghịch lí để diễn đạt logic những khám phá, tư tuởng mới mẻ của mình Nhà thơ không chuộng sáng tạo những từ ngữ mới lạ, mà tạo ra quan hệ mới lạ

của những từ ngữ thân quen Những câu đẳng thức gồm hai vế đồng nhất hóa hai đại lượng trái

ngược: bên này là cái nhỏ bé, bên kia là cái lớn lao, phát hiện vẻ đẹp của chân lí dưới những điều

nghịch lí, điều đó xui khiến người đọc phải đập vỡ cái phi lí để đi tìm chân lí (Đất Nước bắt đầu với

miếng trầu bây giờ bà ăn; Em ơi em hãy nhìn rất xa Đất Nước là nơi ta hò hẹn )

3.6 Ngôn ngữ

- Tác giả viết hoa từ Đất Nước thể hiện thái độ trân trọng, tôn kính

- Việc tách hai thành tố Đất và Nước như soi chiếu trong nhiều quan hệ để cảm nhận sâu sắc hơn, tách ra rồi lại nhập vào: đất là, nước là, đất nước là, ba lần như thể hát ru đất nước lớn dần lên, từ nơi

hò hẹn đến nơi dân mình đoàn tụ, để rồi đẻ ra đồng bào ta, Đất và Nước đã thắm lại thành xương và máu trong mỗi cơ thể chúng ta, trong thơ Nguyễn Khoa Điềm Từ ta, anh, em đến đồng bào ta, máu xương của mình, con ta vv…xuất, nhập, xuất, nhập, cứ thế, hình tượng Đất Nước lớn dần lên, rồi lại nhỏ lại để nằm trong máu thịt ta, bồi hồi trong bao niềm rung cảm mà vẫn rất giàu chất trí tuệ giàu

suy luận triết lí hơn…(so với hình ảnh quê hương trong bài thơ Bài học đầu cho con của nhà thơ Đỗ Trung Quân: quê hương là chùm khế ngọt… hình ảnh bình dị mà tao nhã, gắn liền với kỉ niệm tuổi

thơ)

- Ngôn ngữ mang vẻ thô phác nhưng cũng đầy mãnh liệt gợi về nguồn cội xa xăm: yêu nhau và sinh

con đẻ cái…đẻ ra đồng bào ta…, đàn bà cũng đánh; nhớ ngày giỗ Tổ: mở rộng khái niệm từ “tổ”-

Trang 7

giống nòi, tổ tiên; - cội nguồn, nơi cưu mang chở che; - xứ sở (ba nghĩa); hóa thân: quan niệm nhà

Phật- sự hi sinh cho Tổ quốc: có phải thịt da em hóa thành mây trắng (Lâm Thị Mĩ Dạ); từ dáng đứng của anh trên đường băng Tân Sơn Nhất- Dáng đứng Việt Nam- Lê Anh Xuân; Em sẽ là hoa

trên đỉnh núi – Núi đôi- Vũ Cao) Con sẽ mang Đất Nước đi xa (tôi dang tay ôm nước vào lòng- Tế

Hanh; ôm đất nước những người áo vải- Nguyễn Đình Thi)

- Giọng điệu: lúc tha thiết bồi hồi, lúc trang nghiêm lắng đọng, lúc trầm lắng trong chính luận suy tư: Thời gian đằng đẵng, không gian mênh mông: chất chứa suy tư…lúc nhắn nhủ âm thầm mà tha thiết: những ai đã khuất, những ai bây giờ…cúi đầu: thiêng liêng, sâu nặng, thành kính, ngưỡng vọng tổ

tiên (và đến lượt mình, ta cũng muốn cúi đầu xin nhận nợ tháng năm xa)

* Tóm lại, qua đoạn trích, tác giả đã đem đến cho ta cái nhìn mới mẻ, mang tính phát hiện về Đất Nước:

+ Đất nước gắn liền với những gì bình dị, thân thiết;

+ Đất nước gắn với cội nguồn

+ Đất nước không chỉ ở quanh ta mà còn ở trong tra, hiện hữu trong mỗi con người, làm nên sự sống thiêng liêng, cao đẹp,

+ Đất nước là sự gắn bó hài hòa giữa cái riêng và cái chung (hai đứa cầm tay là kết hợp bền chặt, tạo

nên sự sống và thắm tình; cầm tay mọi người là sự liên kết với cộng đồng, có sức mạnh, có tầm vóc)

+ Đất nước là cuộc chạy tiếp sức giữa các thế hệ (những ai đã khuất, những ai bây giờ, yêu nhau và sinh con đẻ cái…) (hình tượng lực lưỡng)- đến TƯƠNG LAI TƯƠI ĐẸP HUY HOÀNG (những ngày ta từng mơ mộng)

+ Nhà thơ cảm nhận đất nước từ nhiều bình diện để làm nổi bật tư tưởng, tình cảm và trách nhiệm với hiện tại

Trong nền thơ Việt Nam không hiếm những bài thơ hay về đất nước Mỗi bài thơ có một vẻ đẹp

riêng, bổ sung một góc nhìn làm cho hình ảnh đất nước hiện lên thêm đa dạng, đẹp đẽ: “Những định

nghĩa cao sang xin dành cho người khác/ Dân tộc tôi khi đứng dậy làm người/ Là đứng theo dáng

hình của mẹ/ Đòn gánh tre chín dạn hai vai”

- “Và cứ thế nhân dân thường ít nói

Như mẹ tôi lặng lẽ suốt đời

Và cứ thế nhân dân cao vời vợi

Hơn cả những ngôi sao cô độc trên đời” (Thanh Thảo- Những người đi tới biển)

- “Thầy đã giảng cho con về đất nước nhân dân

Để khi mặc lành không quên người áo vá

Ăn miếng ngon nhớ bàn tay trồng khoai dỡ củ

Câu ca dao đau đáu một đời” (Thăm thầy giáo cũ- Nguyễn Bùi Vợi)

- “Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu”- Tạ Hữu Yên

- Hơi ấm ổ rơm, Tre Việt Nam (Nguyễn Duy)

Điều các nhà thơ suy ngẫm, điều họ rung cảm trong nỗi niềm thổn thức xót xa có lẽ cũng là nỗi lòng chung của mỗi chúng ta, những người con nước Việt biết yêu tổ quốc mình Hai tiếng Đất Nước thiêng liêng đã đi vào nhịp đập trái tim mỗi người và trở thành nguồn xúc cảm nghệ thuật cho nhiều

thế hệ Trong đó, trích đoạn Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm cũng có những đóng góp riêng, độc

đáo, trở thành một sáng tác có giá trị, được bạn đọc yêu mến và trân trọng ngay từ khi mới ra đời

Trang 8

Có được thành công đó là do tác giả đã nhập cuộc hết mình vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc,

đã tận mắt chứng kiến những đóng góp to lớn và những hi sinh không kể xiết của nhân dân nên đã nói bằng tất cả sự trải nghiệm và xúc động thật của lòng mình, truyền được cảm xúc cho bạn đọc Không thực sự xúc động và tin tưởng, không thể đồng hóa được vào cách nói, cách nghĩ của nhân dân Chất chính luận ở bề mặt, chất trữ tình rất sâu, rọi cái nhìn khám phá lên bản đồ đất nước và bản

đồ của tình yêu nước trong mỗi con người

Trang 9

3- Những nét độc đáo trong nghệ thuật biểu hiện của đoạn trích Đất Nước

3.1 Lối thơ tự do, gần như văn xuôi, hướng sâu đến trí tuệ, vận động bằng chiều sâu của trí tuệ

(không véo von trong cảm xúc) Có những đoạn giãn ra đến mười hai chữ, có chỗ thắt lại trong ba chữ; lối gieo vần hỗn hợp với nhiều khúc biến tấu: vần chéo, vần lưng, không vần, nhạc điệu bên trong…có nhiều âm sắc lạ…

3.2 Giọng trữ tình có sự đan xen triết luận và chính luận tạo nên sức mạnh cảm hoá và thuyết

phục Mượn hình thức trữ tình để lí giải các vấn đề triết luận về đất nước Hình thức trữ tình trò chuyện lứa đôi - vốn để trao gửi những tình cảm riêng tư, cá nhân, ở đây lại dùng để gửi gắm những tình cảm chung, lớn lao, thiêng liêng: tình yêu đất nước, tình cảm với nhân dân Đất nước nhờ tình yêu của anh và em mà mênh mông thăm thẳm như một nỗi nhớ thầm…

- Ý nghĩa: sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cảm xúc và suy nghĩ, trữ tình và chính luận:

• Tạo giọng thơ trữ tình, thủ thỉ, thiết tha, đằm thắm- dấu ấn thi pháp thơ trữ tình chính trị (liên hệ với Việt Bắc - Tố Hữu)

• Làm cho những lí giải mang tầm triết học về đất nước trở nên dung dị, dễ hiểu, thấm thía

(Nói thêm: Hình thức lời tâm tình trò chuyện của anh và em- mang tính giãi bày, bộc bạch, như lời

tự nói, một kiểu tùy bút thơ độc đáo, bộc lộ suy cảm rất sâu về tổ quốc, lồng vào đó suy nghĩ về trách nhiệm và nghĩa vụ của thế hệ mình Chất tư duy logic và chất thơ (chất hình tượng sinh động, chất

xúc cảm của thơ) được kết hợp khá nhuần nhuyễn làm nên chất trữ tình- chính luận của thơ

3.3 Sự cảm nhận về Đất nước một cách toàn vẹn, tổng hợp từ nhiều bình diện

+ Trong chiều dài thời gian lịch sử (Lạc Long Quân, Âu Cơ, vua Hùng, thời trung đại, hiện đại,- quá

khứ - hiện tại - tương lai)

+ Trong chiều rộng không gian địa lí (Trung- Nam- Bắc, vùng núi, đồng bằng, miền biển; không gian sinh hoạt, không gian riêng tư của tình yêu lứa đôi, không gian hùng vĩ của núi cao sông dài biển rừng vàng biển bạc…Văn của Eren bua cũng nói đến dòng suối đổ vào sông…tình yêu nước bắt đầu từ cái cây trồng trước nhà, con phố đổ ra bờ sông, mùi cỏ thảo nguyên, hơi rượu mạnh, từ cụ thể

đến khái quát, từ gần gũi thân thuộc đến thiêng liêng)

+ Trong bề dày của văn hoá - phong tục, lối sống, tâm hồn và tính cách dân tộc

=> Ba phương diện này được thể hiện trong sự gắn bó, thống nhất Bất kì ở đâu, thời nào, đất nước cũng là của nhân dân, nhân dân cũng làm nên đất nước, trên bất cứ phương diện nào thì tư tưởng cốt

lõi cũng là quan niệm "Đất nước của Nhân dân" Đó cũng chính là hệ quy chiếu mọi cảm xúc và

suy tưởng Nhờ đó mà tác giả đã có những phát hiện mới mẻ, đặc sắc, làm sâu sắc thêm ý niệm về

đất nước của thơ ca thời kì chống Mĩ, làm nổi bật tư tưởng Đất nước của nhân dân: Đất nước có

trong đời sống của nhân dân, do nhân dân làm ra, trường tồn bất diệt cùng nhân dân, được nói bằng tiếng nói của nhân dân

- Từ Nguyễn Trãi (có lật thuyền mới thấy dân như nước); Lê nin (Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng); Nguyễn Đình Chiểu (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc); Phan Bội Châu (dân là dân nước nước là nước dân) đến Nguyễn Đình Thi (Trời xanh đây là của chúng ta)…các nhà cách mạng, các nhà thơ

ĐẤT NƯỚC – NGUYỄN KHOA ĐIỀM (tiết 3)

Trang 10

nhấn mạnh vào quyền sở hữu, quyền làm chủ, đối lập với thời đại trước đó (Đất nước chưa thuộc

quyền làm chủ của nhân dân, nhân dân chưa có đất nước, coi nước là của Vua (Sông núi nước Nam

vua Nam ở); hay Trần Quốc Tuấn trong Hịch tướng sĩ (nói những vấn đề liên quan đến thái ấp của

ta, bổng lộc các ngươi) Nguyễn Khoa Điềm nhìn ra vai trò to lớn của nhân dân trong

3.4 Vận dụng sáng tạo chất liệu văn hoá, văn học dân gian

Tư tưởng bao trùm "Đất nước của Nhân dân" khiến cho chất liệu mà Nguyễn Khoa Điềm lựa

chọn để diễn tả phải là chất liệu phù hợp mà trong trường hợp này chất liệu ấy không thể là gì khác hơn là vốn văn hoá dân gian Trong trích đoạn thơ, tác giả sử dụng rất nhuần nhị, sáng tạo vốn ca dao, tục ngữ, thành ngữ, những câu chuyện về cổ tích thần thoại, huyền thoại, thậm chí phong tục, tập quán…gắn bó lâu đời với người Việt => Tư tưởng đất nước của Nhân dân được nói dựa trên chất liệu, kho kiến thức, vốn văn hoá nên có sức thuyết phục hơn

- Sử dụng các chất liệu văn hóa dân gian một cách sáng tạo, không trích nguyên văn, không kể lể dài dòng mà chỉ nắm bắt lấy rất nhạy cái hồn của văn hóa dân gian để gợi liên tưởng, suy ngẫm cho độc giả, tạo cảm giác vừa quen vừa lạ Quen vì tự thuở ấu thơ, ta đã nằm trong tiếng hát đưa nôi, hồn dân tộc Việt trong mỗi người đã đắm trong những câu ca dao, tục ngữ; cổ tích, truyền thuyết, tâm hồn ta

đã căng sẵn một sợi dây đàn, chỉ cần một rung động nhỏ là tâm hồn ấy sẽ ngân rung bao hồi ức, bao rung động; lạ vì từ những chất liệu văn hóa dân gian rất gần gũi ấy, tác giả đã thâu tóm được nhiều ý tưởng bất ngờ và rất thơ, làm cho người đọc hiểu sâu hơn đất nước nhân dân mình

- Ngoài ra, việc thể hiện sâu tư tưởng Đất nước của nhân dân (Sau này, trong trường ca “Đất nước

hình tia chớp”, Nhà thơ Trần Mạnh Hảo viết năm 1976-1977, cũng sử dụng rất nhiều chất liệu văn hóa dân gian trong chương V/10 chương- Thương nhau cởi áo cho nhau) còn có tác dụng:

+ Tạo thành bầu khí quyển bao bọc cả bài thơ, cuốn ta vào không khí của ân tình, hoài niệm

+ Nét mới mẻ (so với các nhà thơ khác) là những chất liệu lấy trong đời sống dân gian: có chất văn hóa nghệ thuật gợi ca dao cổ tích, mang tính chất sang trọng, phù hợp với đối tượng thuyết phục là những người trí thức trẻ, có trình độ văn hóa, phải chinh phục bằng văn hóa Bản thân người đọc cũng phải được tiếp nhận bằng học vấn, phải liên tưởng tìm tòi, đồng sáng tạo cùng tác giả

3.5 Tư duy nghệ thuật hiện đại: mượn những nghịch lí để diễn đạt logic những khám phá, tư tuởng mới mẻ của mình Nhà thơ không chuộng sáng tạo những từ ngữ mới lạ, mà tạo ra quan hệ mới lạ

của những từ ngữ thân quen Những câu đẳng thức gồm hai vế đồng nhất hóa hai đại lượng trái

ngược: bên này là cái nhỏ bé, bên kia là cái lớn lao, phát hiện vẻ đẹp của chân lí dưới những điều

nghịch lí, điều đó xui khiến người đọc phải đập vỡ cái phi lí để đi tìm chân lí (Đất Nước bắt đầu với

miếng trầu bây giờ bà ăn; Em ơi em hãy nhìn rất xa Đất Nước là nơi ta hò hẹn )

3.6 Ngôn ngữ

- Tác giả viết hoa từ Đất Nước thể hiện thái độ trân trọng, tôn kính

- Việc tách hai thành tố Đất và Nước như soi chiếu trong nhiều quan hệ để cảm nhận sâu sắc hơn, tách ra rồi lại nhập vào: đất là, nước là, đất nước là, ba lần như thể hát ru đất nước lớn dần lên, từ nơi

hò hẹn đến nơi dân mình đoàn tụ, để rồi đẻ ra đồng bào ta, Đất và Nước đã thắm lại thành xương và máu trong mỗi cơ thể chúng ta, trong thơ Nguyễn Khoa Điềm Từ ta, anh, em đến đồng bào ta, máu xương của mình, con ta vv…xuất, nhập, xuất, nhập, cứ thế, hình tượng Đất Nước lớn dần lên, rồi lại nhỏ lại để nằm trong máu thịt ta, bồi hồi trong bao niềm rung cảm mà vẫn rất giàu chất trí tuệ giàu

suy luận triết lí hơn…(so với hình ảnh quê hương trong bài thơ Bài học đầu cho con của nhà thơ Đỗ Trung Quân: quê hương là chùm khế ngọt… hình ảnh bình dị mà tao nhã, gắn liền với kỉ niệm tuổi

thơ)

- Ngôn ngữ mang vẻ thô phác nhưng cũng đầy mãnh liệt gợi về nguồn cội xa xăm: yêu nhau và sinh

con đẻ cái…đẻ ra đồng bào ta…, đàn bà cũng đánh; nhớ ngày giỗ Tổ: mở rộng khái niệm từ “tổ”-

Ngày đăng: 21/12/2016, 22:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w