Trong bất kỳ doanh nghiệp nào khi bắt đầu tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh đều phải được quản lý và sử dụng một lượng vốn nhất định. Số vốn này được doanh nghiệp sử dụng để mua sắm ( hoặc thuê) mặt bằng SXKD, xây dựng nhà xưởng, kho tàng, cơ sở hạ tầng, lắp đặt thiết bị, mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất hay chi trả lương cho CNV và các khoản khác. Bên cạnh việc thực hiện chức năng sản xuất và phân phối của cải vật chất cho xã hội, Doanh Nghiệp nào cũng quan tâm đến hiệu quả sử dụng đồng vốn, cũng phấn đấu sao cho một đồng vốn bỏ ra sau một thời gian nhất định phải sinh được lợi nhuận nhiều nhất. Để đạt được mục đích này, một biện pháp không thể thiếu là doanh nghiệp phải tổ chức ghi chép, theo dõi tình hình sử dụng tiền vốn của Doanh nghiệp một cách liên tục tại mọi thời điểm phát sinh của quá trình kinh doanh và tất cả các địa điểm, các bộ phận SXKD có liên quan hay nói cách khác phải tổ chức công tác kế toán. Ta thấy rằng có rất nhiều quan điểm về định nghĩa khái niệm kế toán: Xét trên khía cạnh khoa học thì kế toán được xác định là khoa học về thông tin thực hiện việc phản ánh và kiểm tra các hoạt động kinh tế tài chính thông qua việc sử dụng một hệ thống các phương pháp riêng biệt gồm: phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp cân đối kế toán. Xét trên khía cạnh nghề nghiệp thì kế toán được xác định là công việc tính toán và ghi chép bằng con số mọi hoạt động kinh tế tài chính phát sinh tại một tổ chức nhất định để cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời, trung thực và hợp lý về tài sản và sự vận động của tài sản, tình hình và kết quả hoạt động kinh tế của đơn vị cho những người ra quyết định. Theo Điều lệ tổ chức kế toàn Nhà nước ban hành theo Nghị định số 25HĐBT ngày 18 tháng 3 năm 1989 thì: “ Kế toán là công việc tính toán, ghi chép bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của các loại tài sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nước cũng như từng tổ chức, xí nghiệp”
Trang 1Chương 1 : KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KẾ TOÁN 1.1 Khái niệm, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của kế toán
1.1.1 Khái niệm:
Trong bất kỳ doanh nghiệp nào khi bắt đầu tiến hành hoạt động sản xuấtkinh doanh đều phải được quản lý và sử dụng một lượng vốn nhất định Số vốnnày được doanh nghiệp sử dụng để mua sắm ( hoặc thuê) mặt bằng SXKD, xâydựng nhà xưởng, kho tàng, cơ sở hạ tầng, lắp đặt thiết bị, mua sắm vật tư dự trữcho sản xuất hay chi trả lương cho CNV và các khoản khác
Bên cạnh việc thực hiện chức năng sản xuất và phân phối của cải vật chấtcho xã hội, Doanh Nghiệp nào cũng quan tâm đến hiệu quả sử dụng đồng vốn,cũng phấn đấu sao cho một đồng vốn bỏ ra sau một thời gian nhất định phải sinhđược lợi nhuận nhiều nhất Để đạt được mục đích này, một biện pháp không thểthiếu là doanh nghiệp phải tổ chức ghi chép, theo dõi tình hình sử dụng tiền vốncủa Doanh nghiệp một cách liên tục tại mọi thời điểm phát sinh của quá trìnhkinh doanh và tất cả các địa điểm, các bộ phận SXKD có liên quan hay nói cáchkhác phải tổ chức công tác kế toán
Ta thấy rằng có rất nhiều quan điểm về định nghĩa khái niệm kế toán:
- Xét trên khía cạnh khoa học thì kế toán được xác định là khoa học vềthông tin thực hiện việc phản ánh và kiểm tra các hoạt động kinh tế tàichính thông qua việc sử dụng một hệ thống các phương pháp riêng biệtgồm: phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tài khoản kế toán,phương pháp tính giá, phương pháp tổng hợp- cân đối kế toán
- Xét trên khía cạnh nghề nghiệp thì kế toán được xác định là công việctính toán và ghi chép bằng con số mọi hoạt động kinh tế tài chính phátsinh tại một tổ chức nhất định để cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời,trung thực và hợp lý về tài sản và sự vận động của tài sản, tình hình vàkết quả hoạt động kinh tế của đơn vị cho những người ra quyết định
- Theo Điều lệ tổ chức kế toàn Nhà nước ban hành theo Nghị định số
25/HĐBT ngày 18 tháng 3 năm 1989 thì: “ Kế toán là công việc tính toán, ghi chép bằng con số dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động, chủ yếu dưới hình thức giá trị để phản ánh, kiểm tra tình hình vận động của các loại tài
Trang 2sản, quá trình và kết quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, sử dụng vốn và kinh phí của Nhà nước cũng như từng tổ chức, xí nghiệp”
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về kế toán:
- Theo Gene Alle Gohlke Giáo sư, tiến sĩ viện Đại học Wisconsin: “Kếtoán là một khoa học có liên quan đến việc ghi nhận, phân loại tóm tắt và giảithích các nghiệp vụ tài chính của một tổ chức, giúp ban kiểm tra có thể dựa vào
- Theo ủy ban thực hành kiểm tra quốc tế (IAPC) thì “Một hệ thống kếtoán là hàng loạt các nhiệm vụ ở một doanh nghiệp mà nhờ hệ thống này cácnghiệp vụ được xử lý như một phương tiện duy trì các ghi chép tài chính”
- Chi tiết hơn, tác giả cuốn Nguyên lý kế toán Mỹ, Ronald J.Thacker kháiniệm kế toán được định nghĩa trên hai phương diện:
+ Phương diện sử dụng: “Kế toán là một phương pháp cung cấp thông tincần thiết cho quản lý có hiệu qủa và đánh giá hoạt động của một tổ chức”
+ Phương diện hoạt động kế toán: “Kế toán là sự thu thập, ghi chép, đolường, sắp xếp tóm tắt và phân tích kết quả hoạt động kinh tế của doanh nghiệpdưới dạng thông tin”
- Theo các tác giả Anderson, Needles, Caldwell: “Kế toán là một hệ thốngthông tin”
Nhìn chung, các khái niệm trên đã nhấn mạnh vào từng khía cạnh nhấtđịnh của kế toán, nhưng chưa làm rõ được đối tượng, chức năng cũng như đặcđiểm của kế toán
- Theo liên đoàn quốc tế về kế toán: “Kế toán là nghệ thuật ghi chép, phânloại và tổng hợp theo một cách riêng có bằng tiền các nghiệp vụ, sự kiện có tínhchất tài chính và giải thích kết quả của nó”
Theo khái niệm này, trước hết kế toán là một nghệ thuật Tính nghệ thuậtcủa kế toán thể hiện ở chỗ mặc dù kế toán có sử dụng một số phương pháp khoahọc để tính toán, ghi chép và xử lý số liệu, nhưng kết quả đầu ra của hệ thống kếtoán phụ thuộc rất nhiều vào người thực hiện Ví dụ: Khi xác định giá trị tồnkho, tính khấu hao tài sản cố định… người thực hiện có thể lựa chọn một trongnhững phương pháp khác nhau; hoặc khi ước lượng các khoản dự phòng sẽ tùythuộc vào các phán đoán và phương pháp tính cũng như kinh nghiệm của ngườithực hiện
Trang 3Kế toán là sự ghi chép: Để thông tin tất cả các nghiệp vụ kinh tế tài chínhtrong doanh nghiệp, trước hết kế toán phải ghi chép các nghiệp vụ làm cơ sở choviệc xử lý số liệu và cung cấp thông tin Việc ghi chép kế toán được thực hiệntheo quy trình nhất định tùy thuộc và hình thức kế toán được áp dụng tại doanhnghiệp.
Tổng hợp kế toán: Các số liệu sau khi đã được thu thập, phân loại thì sẽđược tổng hợp theo những cách thức riêng nhằm thỏa mãn các nhu cầu về cungcấp thông tin cho các nhà quản trị
Ở nước ta, khái niệm về kế toán được ghi trong Luật kế toán như sau: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động” Theo khái
niệm này thì:
- Kế toán trước kết là quá trình thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích vàcung cấp thông tin kinh tế, tài chính của các hoạt động kinh tế trong từng thời
kỳ, từng địa điểm phát sinh theo một trình tự nhất định
- Để thực hiện việc thu thập, tính toán, kế toán sử dụng cả 3 loại thước đo:giá trị, hiện vật và thời gian lao động Trong đó thước đo giá trị là chủ yếu
+ Thước đo giá trị: Là việc sử dụng tiền tệ làm đơn vị tính toán thống nhất
để báo cáo thông tin các chỉ tiêu kinh tế, các loại vật tư, tài sản, tiền vốn Trongnền kinh tế thị trường, mọi nguồn lực kinh tế của một tổ chức, doanh nghiệpcũng như việc sử dụng các nguồn lực kinh tế vào hoạt động sản xuất, kinh doanhđều có thể được biểu hiện bằng tiền Thước đo tiền tệ cho phép tính toán các chỉtiêu tổng hợp và các chỉ tiêu chi tiết của quá trình sản xuất kinh doanh Qua đó,kiểm soát chặt chẽ mọi hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp
+ Thước đo hiện vật: Dùng để xác định tài liệu về tình hình tài sản hiện cóhoặc đã tiêu hao, mà phương thức thực hiện là cân đo, đong, đếm… Đơn vị hiệnvật tùy thuộc vào tính tự nhiên của đối tượng được tính toán Ví dụ trọng lượng(tấn, tạ, kg), thể tích (m3), diện tích (m2), độ dài (m) … là những đơn vị đo lườnghiện vật Sử dụng thước đo hiện vật để hạch toán vật tư, tài sản và giám sát tìnhhình thực hiện các chỉ tiêu dự kiến về mặt số lượng Thông qua chỉ tiêu số lượngcũng thông tin về mặt chất lượng ở một mức độ nhất định Tuy nhiên, thước đohiện vật có mặt rất hạn chế là không thể dùng để tổng hợp số liệu của nhiều loạivật tư, tài sản khác nhau, vì vậy chỉ tiêu này thường sử dụng trong các báo cáothông tin chi tiết
+ Thước đo lao động: Được sử dụng để xác định số lượng thời gian laođộng hao phí trong quá trình sản xuất, kinh doanh hoặc thực hiện một dịch vụnào đó Đơn vị dùng để thể hiện thời gian lao động là ngày công, giờ công…Thước đo thời gian lao động được sử dụng để xác định năng suất lao động làmcăn cứ cho việc trả công lao động Thước đo thời gian lao động thường được sử
Trang 4dụng phối hợp với thước đo hiện vật để định mức lao động, thường sử dụng đểbáo cáo thông tin chi tiết.
1.1.2 Vai trò, vị trí của kế toán trong nền kinh tế thị trường Việt Nam:
a) Vai trò:
Từ năm 1986 đánh dấu một bước quan trọng trong nền kinh tế phát triển củanước ta: Nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hoá tập trung chuyển sang cơ chế thịtrường có định hướng xã hội chủ nghĩa Hiện nay và trong nhiều năm tới, nềnkinh tế Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn chuyển đổi,vì thế cho đến nay đặcđiểm nền kinh tế thị trường Việt Nam chưa được hình thành rõ nét
Những đặc điểm nền kinh tế thị trường Việt Nam dưới đây chỉ là những đặcđiểm có liên quan trực tiếp đến các hoạt động tài chính kế toán:
- Nền kinh tế nhiều thành phần
- Nền kinh tế mở
- Thị trường tự do mở rộng dưới sự quản lý của nhà nước
- Giá cả hình thành ngoài thị trường
- Hình thành nhiều loại hình kinh tế mới
Với những đặc điểm trên đã chi phối đến nội dung công tác kế toán của Doanhnghiệp
Kế toán là công cụ quản lý kinh tế không thể thiếu được ở mỗi đơn vịkinh tế và tổ chức kinh tế, thể hiện qua hình 1.1
Hoạt động kinh doanh
Người có lợi ích gián tiếp:
Cơ quan thuế
Cơ quan chức năng
Cơ quan thống kê
Trang 5Hình 1.1: Những người sử dụng thông tin kế toán:
b) Vị trí:
Kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản
lý kinh tế tài chính
1.1.3 Chức năng của kế toán:
a) Chức năng thông tin:
Chức năng thông tin của kế toán thể hiện ở chỗ kế toán thu nhận và cungcấp thông tin về toàn bộ tài sản và sự vận động của tài sản trong quá trình hoạtđộng của đơn vị , những thông tin của kế toán cung cấp cho phép các nhà quản
lý kinh tế có được những lựa chọn hợp lý để định hướng hoạt động của đơn vị
Hoạt động kinh tế
tài chính
Nhà QL ra quyết định
Dữ
liệu
Trang 6- Tiếp theo là quá trình xử lý các dữ liệu thu nhận được thành nhữngthông tin có ích theo yêu cầu của người sử dụng thông tin Quá trình xử lý đượctiến hành qua việc phân loại, sắp xếp, hệ thống hoá và tổng hợp các dữ liệu(được thực hiện trên hệ thống tài khoản và sổ kế toán)
- Tiếp sau cùng, những thông tin đã được xử lý được truyền đạt qua hệthống báo cáo kế toán đến cho những người cần sử dụng thông tin kế toán, giúp
họ đề ra quyết định kinh tế đúng đắn
b) Chức năng kiểm tra:
Chức năng kiểm tra của kế toán được thể hiện ở chỗ thông qua việc ghichép, tính toán, phản ánh kế toán sẽ nắm được một cách có hệ thống toàn bộ tìnhhình và kết quả hoạt động của đơn vị Qua đó, kiểm tra việc tính toán, ghi chép,phản ánh cuả kế toán về các mặt chính xác, kịp thời, trung thực rõ ràng; kiểm traviệc chấp hành các chế độ, thể lệ kế toán và kết quả công tác của bộ máy kếtoán Thông qua kiểm tra đánh giá được tình hình chấp hành các chính sách, chế
độ quản lý kinh tế tài chính của nhà nước, tình hình sử dụng và bảo quản tài sản,tình hình chấp hành kỷ luật thanh toán, thu nộp,… Thực hiện tốt chức năng kiểmtra là cơ sở để kế toán cung cấp thông tin đáng tin cậy phục vụ cho công tácphân tích, đánh giá được đầy đủ, đúng đắn tình hình và kết quả hoạt động củađơn vị trong từng thời kỳ nhất định, ra quyết định đúng đắn, phù hợp nhằmkhông ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
Với 2 chức năng vốn có như trên của hạch toán kế toán và xuất phát từthực tế yêu cầu quản lý hoạt động kinh tế ở đơn vị Cho nên hạch toán kế toántrở thành một công cụ quản lý hết sức quan trọng không những đối với bản thâncủa đơn vị hạch toán mà còn rất cần thiết và quan trọng đối với những người cóích trực tiếp và gián tiếp nằm ngoài doanh nghiệp như: người mua, người bán,nhà đầu tư, cổ đông, các tổ chức tín dụng, cơ quan tài chính, cơ quan thuế, cơquan pháp luật, các tổ chức đoàn thể xã hội nói chung
1.1.4 Nhiệm vụ và yêu cầu của công tác kế toán:
a) Nhiệm vụ của kế toán:
Trang 7- Kế toán phải tiến hành ghi chép, tính toán, phản ánh số hiện có, tình hìnhluân chuyển và sử dụng tài sản, vật tư, tiền vốn, quá trình và kết quả hoạt độngsản xuất – kinh doanh và sử dụng kinh phí của đơn vị.
- Kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất, kinh doanh; kế hoạch thu,chi tài chính, kỷ luật thu nộp, thanh toán, kiểm tra việc giữ gìn, sử dụng tài sản,vật tư, tiền vốn, kinh phí, phát hiện và ngăn ngừa kịp thời những hành động lãngphí, tham ô, vi phạm chính sách, chế độ, kỷ luật kinh tế tài chính
- Cung cấp các số liệu, tài liệu cho việc điều hành hoạt động sản xuất – kinhdoanh, kiểm tra và phân tích hoạt động kinh tế tài chính, phục vụ công tác lập vàtheo dõi thực hiện kế hoạch, phục vụ cho công tác thống kê và thông tin kinh tế
b) Yêu cầu đối với công tác kế toán:
- Tài liệu kế toán cung cấp phải đảm bảo tính thống nhất về nội dung vàphương pháp tính toán với các tài liệu
- Tài liệu kế toán cung cấp phải phản ảnh chính xác, trung thực và kháchquan tình hình thực tế hoạt động quản lý kinh tế tài chính của đơn vị
- Tài liệu kế toán cung cấp phải phản ánh kịp thời các hoạt động kinh tế tàichính ở đơn vị
- Tài liệu kế toán cung cấp phải phản ánh đầy đủ các mặt hoạt động, các hiệntượng kinh tế xảy ra trong đơn vị
- Tài liệu kế toán cung cấp phải rõ ràng, dễ hiểu
- Tổ chức công tác kế toán ở đơn vị phải quán triệt nguyên tắc tiết kiệm, nhằmđảm bảo công tác kế toán có hiệu suất cao, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt độngcủa đơn vị
1.2 Một số khái niệm và nguyên tắc kế toán
1.2.1 Một số khái niệm:
- Thực thể kinh doanh: đơn vị kế toán là đơn vị kinh tế nắm trong tay các
tiềm năng và tiến hành các hoạt động kinh doanh Đó là đơn vị ghi chép tổnghợp và báo cáo kế toán, kế toán và báo cáo của nó là một thực thể, một tổ chức
- Hoạt động liên tục: khái niệm này giả thiết rằng các đơn vị vẫn tiếp tục hoạt
động vô thời hạn hoặc ít nhất không bị giải thể trong tương lai gần ( nếu tổ chứcchấm dứt hoạt động thì áp dụng những qui định kế toán đặc biệt)
Trang 8- Thước đo tiền tệ: thước đo tiền tệ là đơn vị tính toán đồng nhất, ghi nhận các
nghiệp vụ kinh tế phát sinh và kế toán chỉ phản ánh những gì có thể biểu hiệnbằng tiền
- Kỳ kế toán: kỳ kế toán là khoảng thời gian nhất định trong đó các báo cáo
được lập lên để tiện cho việc so sánh, các kỳ kế toán thường dài như nhau ( cóthể là tháng,quí, năm)
Có bốn khái niệm căn bản của kế toán Căn bản nhất là khái niệm thực thể
kế toán hay đơn vị kế toán, nó vẽ ra một đường biên giới rõ ràng cho một đơn vị
kế toán Việc ghi chép và báo cáo kế toán dựa trên giả thuyết là tiếp tục hoạtđộng Nghĩa là đơn vị đó sẽ hoạt động liên tục, nó không bị giải thể trong mộttương lai gần và vì thế nó không quan tâm nhiều đến những tài sản mà nó đangnắm giữ Khái niệm kỳ kế toán là cơ sở cho việc báo cáo các thông tin kế toáncho từng thời kỳ nhất định dài bằng nhau để thuận tiện cho việc so sánh Kỳ kếtoán chính thức là một năm, các kỳ tạm thời có thể là tháng hay quý Khái niệmthước đo thể hiện tiền tệ ổn định là sự giả thuyết rằng sức mua của đơn vị tiền tệ
là thay đổi không đủ lớn để ảnh hưởng tới việc đo lường kế toán
1.2.2 Nguyên tắc kế toán được thừa nhận:
Để hiểu được các thông tin trên báo cáo tài chính, chúng ta cần phải biếtđược các nguyên tắc kế toán được thừa nhận vì những nguyên tắc này hướngdẫn việc ghi chép lãi lỗ và trình bày các số liệu trên báo cáo tài chính
Các nguyên tắc kế toán là những tuyên bố chung như là các chuẩn mực
và những hướng dẫn để phục vụ cho việc lập các bản báo cáo tài chính đạt đượcmục tiêu dễ hiểu ( Uderstandability), đáng tin cậy (reliability), dễ so sánh( comparability) Các quy tắc nền tảng cho báo cáo tài chính được gọi là “ cácnguyên tắc kế toán được thừa nhận” ( GAAP)
Cần lưu ý rằng các nguyên tắc kế tóan được thừa nhận không phải là quyluật tự nhiên như các quy luật lý, hoá… mà nó là các nguyên tắc được con ngườiđặt ra và thống nhất của các thành viên trong hội đồng chuẩn mực kế toán quốc
Trang 9tế ( IASC) và liên đoàn quốc tế các kế toán gia (IFAC) Lịch sử các nguyên tắc
kế toán quốc tế thường được xuất phát từ các hiệp hội kế toán Hoa Kỳ
Các nguyên tắc kế toán được thừa nhận:
1 Nguyên tắc giá phí: Việc đo lường, tính toán tài sản, công nợ, vốn và
chi phí phải đặt trên cơ sở giá phí Giá phí nêu lên là giá được định ra trong mộtnghiệp vụ kinh doanh
2 Nguyên tắc doanh thu thực hiện (Revenue realization principle):
Doanh thu là số tiền kiếm được và được ghi nhận khi quyền sở hữu hàng hoábán ra được chuyển giao và khi các dịch vụ được thực hiện chuyển giao
3 Nguyên tắc phù hợp (Maching principle): là tất cả các giá phí phải
gán chịu để tạo nên các doanh thu đã ghi nhận trong kỳ
4 Nguyên tắc nhất quán/ liên tục (Consistency principle): Tức là quá
trình kế toán phải áp dụng tất cả các khái niệm, các nguyên tắc, các chuẩn mực
và các phương pháp tính toán trên cơ sở nhất quán từ kỳ này sang kỳ khác
5 Nguyên tắc/yêu cầu khách quan (ojectivity principle): Trong trường
hợp phải dùng giá trị thường để ước tính giá hàng tồn kho (khi giá trị thườngxuống thấp hơn giá vốn) thì phải quyết định khách quan trong phạm vi đầy đủnhất có thể được
6 Nguyên tắc/bóc trần toàn bộ (Full disclosure): Còn có thể gọi là
nguyên tắc đầy đủ dễ hiểu: Là yêu cầu báo cáo tài chính phải đầy đủ dễ hiểu đốivới người sử dụng khôn ngoan và phải bao gồm tất cả các thông tin quan trọngliên quan đến công việc kinh tế của đơn vị
7 Nguyên tắc thận trọng (Conservatism/ Prudence): Khi có nhiều giải
pháp để lựa chọn giải pháp nào có ảnh hưởng ít nhất đến vốn của chủ sở hữu
8 Nguyên tắc tính chất trọng yếu (Materialty): Việc bám sát triệt để lý
thuyết kế toán là không cần thiết khi mà các khoản mục không đủ ý nghĩa quantrọng ảnh hưởng đến tính trung thực của báo cáo tài chính
Như vậy các nguyên tắc kế toán được thừa nhận (GAAP) được thiết lập từhội đồng chuẩn mực kế toán tài chính (FASB) để hướng dẫn việc trình bày cácbáo cáo tài chính (các thông tin kế toán đạt được mục tiêu dễ hiểu, đáng tin cậy,
dẽ so sánh Tính dễ hiểu hay thông tin thích hợp cho phép người sử dụng đánh
Trang 10giá được các quyết định, các sự kiện trong quá khứ cũng như trong tương lai gần
về doanh nghiệp Số liệu đáng tin cậy là đảm bảo trung thực, các số liệu không
bị bóp méo bởi người làm thông tin kế toán hay cùng một doanh nghiệp từ kỳnày với kỳ khác và so sánh giữa các doanh nghiệp cùng loại với nhau
Các nguyên tắc kế toán để hướng dẫn việc ghi chép các nghiệp và báo cáocác thông tin kế toán Nguyên tắc giá phí để hướng dẫn kế toán về tài sản, công
nợ Nguyên tắc doanh thu hướng dẫn việc ghi chép về chi phí Nguyên tắc côngkhai đầy đủ yêu cầu doanh nghiệp phải báo cáo đầy đủ các thông tin quan trọngliên quan đến doanh nghiệp như các chính sách kế toán, các khoản lỗ có thể xảy
ra trong tương lai, các thay đổi trong kế toán Nguyên tắc thận trọng yêu cầu khi
có giải pháp để lựa chọn giải pháp nào có ảnh hưởng ít nhất đến vốn của chủ sởhữu Nguyên tắc khách quan yêu cầu việc ghi chép kế toán phải đặt trên cơ sở các
số liệu và quyết định khách quan nhất có thể được, các số liệu có thể kiểm trađược Nguyên tắc tính chất trọng yếu cho phép kế toán viên không dần phải tuânthủ triệt để lý thuyết kế toán đối với các khoản mục nhỏ không đủ ảnh hưởng đếntính trung thực của báo cáo kế toán tài chính
1.3 Đối tượng của kế toán
1.3.1 Đối tượng chung của hạch toán kế toán:
Để tiến hành các hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh hay bất cứmột lĩnh vực nào khác, các đơn vị cần phải có một khối lượng tài sản nhất định
Nó biểu thị lợi ích mà đơn vị sẽ thu được trong tương lai, là tiềm năng của đơn
vị phục vụ cho các hoạt động kinh tế theo chức năng, nhiệm vụ của đơn vị Tàisản của các đơn vị bao gồm nhiều thứ, nhiều loại với đặc điểm và tính chất khácnhau, giữ một vị trí, vai trò khác nhau trong quá trình hoạt động của đơn vị Mặtkhác những tài sản này được hình thành từ nhiều nguồn khác đơn vị là vừa phảinắm được từng thứ, từng loại cũng như vậy, mới đảm bảo sử dụng một cách hợp
lý và có hiệu quả, phát huy được toàn bộ nguồn lực vào việc phục vụ cho mụctiêu hoạt động của mình
Mặt khác, trong quá trình tái sản xuất, tài sản của các đơn vị vận độngkhông ngừng qua các giai đoạn khác nhau, qua mỗi giai đoạn vận động, tài sản
Trang 11của các đơn vị không những biến đổi về mặt hình thái mà còn biến đổi cả về giátrị.
Với tư cách là một công cụ quản lý kinh tế quan trọng, với chức năng thôngtin và kiểm tra, hạch toán kinh tế giữ vai trò quan trọng trong công tác quản lý tàisản, thông tin do hạch toán kế toán cung cấp sẽ giúp nhà quản lý biết được tài sảncủa đơn vị theo từng loại, tổng số, đánh giá tình hình trang bị và sử dụng, biếtđược tài sản của mình được hình thành từ đâu, bằng cách nào và xác định rõ tráchnhiệm của mình đối với Nhà nước, ngân hàng, cổ đông, người cung cấp về sốtài sản được hình thành từ nguồn vốn của họ Đồng thời thông qua chức năngthông tin và kiểm tra của mình, hạch toán kế toán giúp cho nhà quản lý nắm đượcmột cách kịp thời, đầy đủ về quá trình cũng như kết quả của sự vận động tài sảntrong quá trình tiền hành các hoạt động kinh tế của đơn vị, là cơ sở để phân tích
và đánh giá hiệu quả của quá trình vận động ấy
Như vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý, hạch toán tàisản, hạch toán kế toán nghiên cứu, xem xét tài sản của đơn vị theo 2 hình tháibiểu hiện là giá trị tài sản (hình thái của giá trị tài sản) và nguồn hình thành tàisản, đồng thời cũng xem xét và nghiên cứu quá trình vận động của tài sảm trongquá trình hoạt động kinh tế của đơn vị
Nói cách khác, tài sản và sự vận động của tải sản trong quá trình hoạt động của các đơn vị là đối tượng nhiệm vụ chung của hạch toán kế toán.
1.3.2 Biểu hiện cụ thể của đối tượng hạch toán kế toán trong các đơn vị:
Như phần trên đã trình bày, đối tượng chung của hạch toán kế toán là tàisản và sự vận động của tài sản trong quá trình hoạt động của các đơn vị Trongnền kinh tế xã hội, các đơn vị thuộc các loại hình kinh tế khác nhau đảm nhậncác khâu khác nhau trong quá trình tái sản xuất xã hội và có vai trò, chức năng,nhiệm vụ khác nhau đối với nền kinh tế Chính vì thế, quá trình hình thành vàvận động giống nhau, nên việc nghiên cứu đối tượng hạch toán kế toán sẽ trởnên vô cùng phức tạp và không thể thực hiện được khi sắp xếp các loại hình đơn
vị kinh tế phù hợp với các giai đoạn khác nhau của quá trình tái sản xuất xã hội
để lần lượt nghiên cứu
Trang 12Để nghiên cứu đối tượng của hạch toán kế toán chỉ có thể chọn một loạihình đơn vị ở đó nó thể hiện tượng đối đầy đủ các khâu khác nhau của quá trìnhtái sản xuất và từ đó suy rộng cho các loại hình đơn vị khác Rõ ràng, các đơn vịsản xuất – kinh doanh là loại hình đơn vị biểu hiện tương đối đầy đủ các khâukhác nhau của quá trình tái sản xuất, nên việc lựa chọn đơn vị sản xuất – kinhdoanh để nghiên cứu đối tượng của hạch toán kế toán và từ đó suy rộng cho cácloại hình đơn vị khác là hợp lý nhất.
Tài sản và nguồn vốn - Đối tượng của kế toán
Để hiểu rõ và cụ thể hơn về đối tượng kế toán, chúng ta sẽ nghiên cứu cụthể trong một tổ chức kinh tế làm nhiệm vụ kinh doanh Để thu nhận thông tinkinh tế đầy đủ, đối tượng kế toán là tài sản được phân loại thành tài sản và nguồnvốn hình thành nên tài sản
1.3.2.1 Phân loại đối tượng kế toán theo kết cấu của tài sản
Dựa trên cơ sở tài sản có thể chuyển đổi nhận tiền từ nhanh đến chậm ta
có tài sản lưu động và tài sản cố định
* Tài sản ngắn hạn: Là giá trị tài sản của đơn vị biểu hiện bằng tiền ngoài
tài sản cố định, bao gồm:
- Tiền mặt: Gồm tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển
- Đầu tư chứng khoán ngắn hạn: Là các khoản tín phiếu, trái phiếu, cổphiếu thường có thể thu hồi trong một chu kỳ kinh doanh nhiều nhất là một nămtrở lại
- Khoản phải thu: Là tài sản của đơn vị đơn vị mua và bạn hàng chiếmdụng như khoản phải thu của khách hàng, phải thu nội bộ, phải thu về thế chấp,
ký quỹ, ký cược ngắn hạn tại kho bạc, Ngân hàng Nhà nước, trong và ngoài cơquan kinh doanh
- Tạm ứng: Là khoản chi phí tạm ứng cho cán bộ đi công tác, mua vật tưphục vụ nhu cầu công tác cho đơn vị
- Hàng tồn kho: Là tài sản tồn kho của đơn vị như nguyên vật liệu, thànhphẩm, dụng cụ nhỏ, sản phẩm dở dang
+ Nguyên vật liệu: Là những yếu tố chính hay phụ để tạo ra thực thểchính của sản phẩm thành phẩm sau quá trình sản xuất
Trang 13+ Thành phẩm: Là sản phẩm hoàn thành sau quá trình sản xuất đã đượckiểm nghiệm đúng quy cách, chất lượng nhập kho hoặc tiêu thụ ngay.
+ Công cụ dụng cụ nhỏ: Là những tư liệu sản xuất không đủ tiêu chuẩntrở thành tài sản cố định hữu hình như cào, cuốc, bàn ghế
+ Sản phẩm dở dang: Là các chi phí sản xuất kinh doanh sản phẩm laođộng dịch vụ đến cuối kỳ kế toán chưa hoàn thành thành phẩm
+ Hàng hoá: Là giá trị hàng hoá tại doanh nghiệp không tự sản xuất được,
đi mua về để bán
* Tài sản dài hạn: Là những tư liệu sản xuất có giá trị lớn (Theo quy định
hiện hàng là từ 5 triệu đồng trở lên), thời gian sử dụng dài từ một năm trở lên.Tài sản cố định trong doanh nghiệp là cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng, là điềukiện để doanh nghiệp là cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng, là điều kiện đểdoanh nghiệp thực hiện kinh doanh có hiệu quả Tài sản cố định gồm có:
+ Tài sản cố định hữu hình: Là giá trị tài sản cố định hữu hình trongdoanh nghiệp như nhà cửa, máy móc thiết bị
+ Tài sản cố định vô hình: Phản ánh giá trị tài sản cố định vô hình như:Giá trị sử dụng đất, khả năng phát minh sáng chế, chi phí lợi thế thương mại
+ Tài sản cố định đi thuê dài hạn: Là giá trị tài sản cố định đi thuê tàichính dài hạn theo hợp đồng và phải đảm bảo thời gian sử dụng tài sản cố định ítnhất bằng 80% thời gian trong hợp đồng
+ Tài sản tài chính khác: Gồm các khoản đầu tư dài hạn, đầu tư dài hạnkhác, kỹ quỹ, ký cước dài hạn
1.3.2.2 Phân loại đ ối t ư ợng kế toán theo nguồn hình thành tài sản gọi là nguồn vốn (vốn):
Tổng vốn kinh doanh trong doanh nghiệp gồm có:
* Nợ phải trả: Là những khoản tiền nợ doanh nghiệp được sử dụng trong
một thời gian nhất định khi chưa trả cho chủ nợ, gồm:
+ Vay ngắn hạn: Là khoản tiền vay thời hạn thanh oán dưới một năm+ Nợ dài hạn đến hạn trả
+ Thanh toán công nhân viên
+ Thuế phải nộp Nhà nước
Trang 14+ Phải trả cho người bán về cung cấp lao vụ dịch vụ
+ Chi phí phải trả: Là những chi phí tính trước vào chi phí sản xuất nhưngthực tế chưa phát sinh, cuối kỳ điều chỉnh theo số phát sinh thực tế
+ Các khoản phải trả phải nộp khác
+ Vay dài hạn: Là khoản tiền vay thời hạn thanh toán trên một năm
+ Nợ dài hạn: Là khoản tiền nợ đầu tư dài hạn trên một năm
+ Các khoản ký qũy ký cược dài hạn
* Vốn chủ sở hữu: Gồm các loại vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp và
những thành viên tham gia liên doanh hoặc các cổ đông trong công ty cổ phần,hoặc của Nhà nước Đó là khoản tiền mà chủ sở hữu không phải cam kết thanhtoán, không phải là một khoản nợ của doanh nghiệp
+ Vốn kinh doanh: Là tiền đóng góp của các nhà đầu tư là tài sản cố định
Tổng tài sản = Nợ phải trả + Vốn chủ sở hữu
Vốn chủ sở hữu =Tổng tài sản - Nợ phải trả
Nợ phải trả = Tổng tài sản - Vốn chủ sở hữu
1.3.2.3 Sự vận động của tài sản - Đối tượng của kế toán
Trong hoạt động kinh doanh, tài sản của doanh nghiệp luôn biến đổi khôngngừng qua các hình thái kế tiếp nhau Quá trình đó gọi là quá trình tái sản xuất
Sự chuyển hoá từ hình thái này sang hình thái khác của tài sản trong doanhnghiệp theo một chu kỳ gọi là sự tuần hoàn vốn Trong các doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh vòng tuần hoàn của vốn trải qua các giai đoạn sau: Dự trữ - sản xuất -tiêu thụ - phân phối
Trang 15- Giai đoạn dự trữ (cung cấp): Đơn vị kinh doanh thực hiện việc mua sắmvật tư thiết bị, máy móc, chuẩn bị cho quá trình sản xuất tiếp theo Đối tượng kếtoán trong giai đoạn này là quá trình mua hàng, thu nhận thông tin về để tính đủgiá của tài sản, nhằm chuẩn bị cho quá trình sản xuất tiếp theo.
- Giai đoạn sản xuất: Là quá trình kết hợp giữa lao động tuyển chọn vớithiết bị máy móc, vật tư kỹ thuật nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ yêu cầu xã hội.Đối tượng kế toán trong giai đoạn này là những chi phí sản xuất chung Nhữngthông tin về chi phí nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất sẽ giúp cho việc đánhgiá, nghiên cứu đánh giá kết quả của quá trình sản xuất được kịp thời, nhằm tìm
ra những phương án sản xuất có hiệu quả nhất với giá thành thấp nhất mà vẫnđảm bảo chất lượng sản phẩm tốt nhất
+ Quá trình tiêu thụ: Là khâu cuối cùng của quá trình sản xuất kinhdoanh Thực hiện quá trình tiêu thụ tức là thực hiện trao đổi sản phẩm hoànthành của quá trình sản xuất thông qua thị trường, doanh nghiệp thu về tiền thubán hàng Đối tượng của kế toán trong giai đoạn này là doanh thu và các khoảngiảm doanh thu, các chi phí thời kỳ, chi phí khác Đồng thời tính toán và xácđịnh kết quả tiêu thụ của doanh nghiệp thể hiện ở chỉ tiêu lỗ hay lãi Vì vậy mọithông tin về quá trình này cần được theo dõi đầy đủ nhàm xác định kết quả saumột vòng tuần hoàn vốn để doanh nghiệp có định hướng cho kỳ sản xuất tiếptheo
+ Giai đoạn phân phối thu nhập (phân phối lãi): Là giai đoạn cuối cùngcủa vòng tuần hoàn vốn: Khoản tiền thu bán hàng sau khi hoàn thành nghĩa vụnộp ngân sách Nhà nước, doanh nghiệp bù đắp các khoản chi phí phân phối tríchlập bổ sung cho các quỹ nhằm tái sản xuất mở rộng, nâng cao nguồn lực tài chínhcho doanh nghiệp
Như vậy, trong quá trình sản xuất – kinh doanh, tài sản của doanh nghiệpvận động không ngừng và thường xuyên biến đổi cả về hình thái hiện vật và giátrị Để đạt được mục tiêu và lợi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh tế của quá trìnhtái sản xuất, cần thiết phải thông tin kịp thời, đầy đủ về quá trình vận động củatài sản đây chính là một phần nội dung công việc của hạch toán kế toán Hay nói
Trang 16cách khác quá trình vận động của tài sản trong quá trình hoạt động sản xuất –kinh doanh của các đơn vị là đối tượng của hạch toán kế toán.
* Khác với hoạt động sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất, trong cácdoanh nghiệp kinh doanh thương mại chức năng cơ bản là mùa, bán hàng hóa
Do đó, các doanh nghiệp thương mại cũng cần có một khối lượng tài sản (Tàisản lưu động và tài sản cố định) tưng ứng với qui mô hoạt động của từng đơn vị.Thông thường tỷ trọng TSCĐ trong tổng số tài sản của các đơn vị kinh doanhthương mại nhỏ hơn so với các đơn vị sản xuất
Quá trình hoạt động kinh doanh tài sản của doanh nghiệp thương mại chỉvận động qua hai giai đoạn: Giai đoạn mua hàng và do đó tài sản của đơn vịchuyển từ hình thai tiền tệ sang hiện vật
- Giai đoạn bán hàng: Giai đoạn này đơn vị xuất kho hàng hoá chuyển chongười mua để thu về một lượng tiền tương ứng và do đó tài sản của đơn vị biếnđổi từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ
* Đối với các đơn vị hành chính – sự nghiệp: Đơn vị hành chính – sựnghiệp là các đơn vị thực hiện chức năng quản lý hành chính Nhà nước, sự nghiệp
y tế, văn hoá, giáo dục, sự nghiệp khoa học công nghệ, sự nghiệp kinh tế Để tiếnhành các hoạt động theo chức năng, nhiệm vụ đã được Nhà nước giao, các đơn vịhành chính sự nghiệp cần có một khối lượng tài sản nhất định Tài sản của cácđơn vị hành chính sự nghiệp chủ yếu là do ngân sách nhà nước cấp bao gồm: tàisản lưu động và tài sản cố định
Tài sản cố định trong đơn vị hành chính – sự nghiệp chủ yếu là nhà cửa vàcác thiết bị phục vụ cho hoạt động chuyên môn của đơn vị
Tài sản lưu động trong đơn vị hành chính – sự nghiệp chủ yếu là vật liệu,dụng cụ phục vụ cho hoạt động chuyên môn của đơn vị các khoản chi cho hoạtđộng chuyên môn chưa được quyết toán, chưa duyệt
Quá trình vận động của tài sản trong quá trình hoạt động của các đơn vịhành chính – sự nghiệp là quá trình ch tiêu các loại tài sản phục vụ cho hoạtđộng chuyên môn của đơn vị Nguyên tắc cơ bản trong chi tiêu của các đơn vịhành chính – sự nghiệp là không bồi hoàn trực tiếp các khoản đã chi Mọi khoản
Trang 17chi trong các đơn vị hành chính – sự nghiệp đều phải tuân theo dự toán và tuânthủ theo các quy định của chế độ tài chính hiện hành của Nhà nước.
(Như vậy, biểu hiện cụ thể của đối tượng hạch toán kế toán trong các đơn
vị sản xuất – kinh doanh là tài sản và sự vận động của tài sản trong quá trình hoạt động sản xuất – kinh doanh của các đơn vị.)
Trang 18Chương 2: PHƯƠNG PHÁP TỔNG HỢP - CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
2.1 Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán
2.1.1 Khái niệm phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán
Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán là phương pháp khái quát tìnhhình tài sản, nguồn vốn, kết quả kinh doanh và các mối quan hệ kinh tế khácthuộc đối tượng hạch toán trên những mặt bản chất và các mối quan hệ cân đốivốn có của đối tượng kế toán
Phương pháp tổng hợp và cân đối là sự sàng lọc, lựa chọn, liên kết nhữngthông tin riêng lẻ từ các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trong sổ kế toán, theo cácquan hệ cân đối mang tính tất yếu vốn có của các đối tượng kế toán, để hìnhthành nên những thông tin tổng quát nhất về tình hình vốn, kết quả kinh doanhcủa đơn vị, thể hiện dưới dạng các báo cáo tổng hợp và cân đối như: Bảng cânđối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh…
Tổng hợp và cân đối kế toán được ứng dụng rộng rãi trong công tác kếtoán, có thể ứng dụng trên từng bộ phận tài sản và nguồn vốn, từng quá trìnhkinh doanh hoặc cân đối toàn bộ tài sản, nguôồnvốn hay tổng hợp kết quả kinhdoanh chung cho toàn bộ quá trình kinh doanh của đơn vị trong một thời kỳ nhấtđịnh
2.1.2 Ý nghĩa của phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán
Phương pháp tổng hợp và cân đối kế toán cung cấp những thông tin kháiquát, tổng hợp nhất về vốn, nguồn vốn, quá trình kinh doanh mà các phươngpháp chứng từ, đối ứng tài khoản, tính giá thành sản phẩm, hàng hoá khôngthể cung cấp được Những thông tin được xử lý lựa chọn trên các báo cáo kếtoán do phương phấp tổng hợp, cân đối tạo ra, có ý nghĩa to lớn cho nhữngquyết định quản lý có tính chiến lược trong nhiều mối quan hệ qua lại của cácyếu tố, các quá trình, kiểm tra tình hình chấp hành kế hoạch, phát hiện và ngănngừa tình trạng mất cân đối và dựa vào kết quả đã thực hiện để điều chỉnh, cụthể hoá các kế hoạch kinh tế, quản lý một cách tốt hơn việc thực hiện kế hoạchcủa doanh nghiệp trong các lĩnh vực tài chính và quá trình kinh doanh
2.2 Một số báo cáo kế toán tổng hợp và cân đối kế toán
Trang 19Trong công tác kế toán, hầu hết các báo cáo tài chính được ứng dụngphương pháp tổng hợp và cân đối, vì vậy các báo cáo vừa cung cấp được nhữngthông tin cần thiết theo yêu cầu quản lý, nhưng vừa có thể tự kiểm tra được tínhchính xác của số liệu.
Trong công tác kế toán các báo cáo là khâu cuối cùng nhằm tổng kết một
kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh Nhưng để tiếp cận công tác kế toán có thể tìmhiểu một cách trình tự theo công việc kế toán, tức là từ khâu chứng từ rồi đến tàikhoản sau đó là sổ sách và cuối cùng là báo cáo kế toán
2.2.1 Bảng cân đối kế toán
2.2.1.1 Khái niệm, nội dung và kết cấu của bảng cân đối kế toán.
- Khái niệm:
Bảng cân đối kế toán là báo cáo tài chính tổng hợp, dùng để phản ánhtổng quất tình hình tài sản và nguồn vốn của doanh nghiệp tại một thời điểmnhất định (thời đểm lập báo cáo)
Tài sản của một đơn vị đang hoạt động luôn luôn vận động biến đổi về số lượng,
về cơ cấu và nguồn hình thành do các nghiệp vụ kinh tế phát sinh gây ra Vìvậy số liệu trên bảng cân đối kế toán chỉ phản ánh tình trạng tài chính của doanhnghiệp tại một thời điểm lập bảng Bảng cân đối kế toán giống như máy chụpngưng các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời dđểm để chụp lại tìnhtrạng vốn và nguồn vốn của một đơn vị ở một thời điểm đó Trong thực tế thờiđiểm lập bảng cân đối kế toán có thể là cuối tháng, cuối quý, cuối năm hoặc cuốichu kỳ sản xuất kinh doanh, tuỳ theo tửng quy định và đặc điểm của từng ngành
và từng loại đơn vị cụ thể và như vậy số liệu của bảng có tính chất tổng kết saumột quá trình sản xuất kinh doanh cho nên trước đây bảng cân đối kế toán người
ta còn gọi là bảng tổng kết tài sản hay bảng cân đối tài sản và nguồn vốn
- Tác dụng của bảng cân đối kế toán: Bảng cân đối kế toán có tác dụngquan trọng trong công tác quản lý, căn cứ vào số liệu trình bày trên bảng ta cóthể biết được toàn bộ tài sản và cơ cấu của tài sản hiện có của doanh nghiệp, tìnhhình nguồn vốn và cơ cấu của nguồn vốn Thông qua đó ta có thể đánh giá kháiquát tình hình tài chính của đơn vị, tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh
Trang 20doanh, trình độ sử dụng vốn, triển vọng kinh tế tài chính, sự tăng giảm củanguồn vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp.
- Nội dung và kết cấu của bảng cân đối kế toán
+ Nội dung: Bảng cân đối kế toán phản ánh mối quan hệ cân đối tổng thểgiữa tài sản và nguồn vốn của đơn vị theo các đẳng thức:
Tổng tài sản (vốn) = Các khoản nợ phải trả + Nguồn vốn CSH (1)
Ban đầu bảng cân đối kế toán có dạng như sau:
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
Tại ngày tháng năm .
số
Số đầu kỳ
Số cuối kỳ
số
Số đầu kỳ
Số cuối kỳ
Trang 21Tổng tài
sản
Tổng nguồn vốn
Với cách thiết kế 2 phần tài sản và nguồn vốn của bảng cân đối kế toánđược thể hiện ở hai bên, người ta dễ dàng so sánh và kiểm tra số liệu cân đốigiữa tài sản và nguồn vốn nhưng nhược điểm là nhiều cột trang nên cột ghi sốtiền hẹp, không phù hợp đối với các đơn vị có giá trị tài sản và nguồn vốn lớn
Hiện nay bảng cân đối kế toán được thiết kế theo chiều dọc, trình bày hếtphần tài sản sau đó đến phần nguồn vốn kết cấu Bảng cân đối kế toán ban hànhtheo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộtrưởng Bộ tài chính được trình bày bằng mẫu biểu sau:
Ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC)
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN
A Tài sản ngắn hạn (100 =110 +120 +130 + 140 + 150) 100
2 Dự phòng giảm giá chứng khoán đầu tư ngắn hạn (*) 129
4 Phải thu theo tiến độ KH hợp đồng XD 134
6 Dự phòng phải thu ngắn hạn khó đòi (*) 139
Trang 223 Thuế và các khoản khác phải thu NN 153
B Tài sản dài hạn (200 = 210 + 220 + 240 + 250 + 260) 200
2 Vốn kinh doanh ở đơn vị trực thuộc 212
5 Dự phòng phải thu dài hạn khó đòi (*) 213
2 Đầu tư vào công ty liên kết, liên doanh 252
4 Dự phòng giảm giá đầu tư tài chính dài hạn (*) 259
4 Thuế và các khoản phải nộp Nhà nước 314
8 Phải trả theo tiến độ KH hợp đồng XD 318
9 Các khảon phải trả, phải nộp ngắn hạn khác 319
Trang 2310 Lợi nhuận sau thuế chưa phân phối 420
(Ký, họ tên) Kế toán trưởng(Ký, họ tên) (Ký, họ tên, đóng dấu)Giám đốc
2.2.1.2 Tính chất cân đối của bảng cân đối kế toán
Tính chất quan trọng nhất của bảng cân đối kế toán là tính cân đối: Tổng
số tiền phần tài sản và tổng số tiền phần nguồn vốn ở bất cứ thời điểm nào baogiờ cũng luôn bằng nhau
Trong quá trình hoạt động của đơn vị, các nghiệp vụ kinh tế tài chính diễn
ra thường xuyên liên tục, đa dạng và phong phú gây nên sự biến động, sự thayđổi về giá trị của các loại tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu đượctrình bày trên bảng cân đối kế toán, nhưng vẫn không làm mất đi tính cân đốicủa bảng cân đối kế toán, sự cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn bao giờ cũngđược tôn trọng
Phân tích sự thay đổi của từng đối tượng cụ thể trong bảng cân đối kế toáncho ta thấy, dù có nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinh đến đâu cũng luôn luôn làmcho các đối tượng kế toán có tính hai mặt là tăng lên hoặc giảm xuống và chỉdiễn ra trong các trường hợp sau đây:
* Xét trong mối quan hệ theo đẳng thức (1)
Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn
Sự thay đổi của bảng cân đối kế toán có thể diễn ra theo 4 trưởng hợp sau:
Tài sản tăng - Tài sản giảm
Nguồn vốn tăng - Nguồn vốn giảm
Trang 24 Tài sản tăng - Nguồn vốn tăng
Tài sản giảm - Nguồn vốn giảm
Đồng thời số tăng và số giảm ở cùng 1 phần hoặc cùng tăng hay cùng giảm ở 2phần của bảng cân đối kế toán bao giờ cũng bằng nhau
* Xét trong mối quan hệ theo đẳng thức (2)
Tổng tài sản = Nợ phải trả + Nguồn vốn chủ sở hữu
Sự thay đổi của bảng cân đối kế toán có thể diễn ra theo các trường hợp sau:
Tài sản tăng - Tài sản giảm
Nguồn vốn tăng - Nguồn vốn giảm
Nợ tăng - Nợ giảm
Nguồn vốn tăng - Nợ giảm
Nguồn vốn giảm - Nợ tăng
Tài sản tăng - Nguồn vốn tăng
Tài sản tăng - Nợ tăng
Tài sản giảm - Nguồn vốn giảm
Tài sản giảm - Nợ giảm
Cũng như các trường hợp nêu trên dù có nhiều nghiệp vụ kinh tế phát sinhđến đâu, thì số tăng và số giảm ở cùng 1 phần hoặc cùng tăng hay cùng giảm ở 2phần của bảng cân đối kế toán bao giờ cũng bằng nhau
Để làm rõ bản chất các trường hợp thay đổi của bảng cân đối kế toán tacũng có thể suy ra từ việc phân tích nội dung của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh
để xác định ảnh hưởng mà nó đã gây ra cho các đối tượng nằm ở 1 phần tài sản,
1 phần nguồn vốn hay ảnh hưởng đồng thời đến cả hai phần của bảng cân đối kếtoán
Bảng cân đối kế toán nào cũng chỉ có giá trị vào một thời điểm nhất định Khi cónghiệp vụ kinh tế thay đổi thì bảng cân đối kế toán sẽ thay đổi theo, nhưng baogiờ cũng đảm bảo sự cân bằng giữa tài sản và nguồn vốn Ta có thể đơn giản hoábằng bảng cân đối kế toán ở một doanh nghiệp mới hình thành để nghiên cứu
Ví dụ 1: Giả sử một công ty trách nhiệm hữu hạn Cờ Hồng được thành lập
với số vốn ban đầu các hội viên đóng góp 500,0 (đvt triệu đồng), trong đó ông
Trang 25Cờ góp tiền mặt 200,0; ông Hồng góp 300,0 bằng nhà cửa sản xuất Ta có bảngcân đối khi mới thành lập như sau:
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN 1
Đơn vị tính: triệu đồng
Ví dụ 3: Mua chịu nguyên vật liệu của đơn vị bán đã nhập kho 300,0.
Nghiệp vụ kinh tế trên ảnh hưởng tới 2 đối tượng kế toán nguyên vật liệuthuộc tài sản và phải trả người cung cấp thuộc nguồn vốn, làm cho cả 2 đốitượng đều tăng lên và tổng cộng cũng tăng nhưng vẫn đảm bảo cân bằng
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN 3
Trang 26Đây là trường hợp ảnh hưởng giảm tài sản giảm nguồn vốn:
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN 4
Ví dụ 5: Vay ngắn hạn thanh toán với người bán 100,0
Trường hợp này ảnh hưởng bên nguồn vốn, số tổng cộng cuối cùngkhông đổi, vẫn đảm bảo cân bằng trên bảng cân đối kế toán
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN 5
Ví dụ 6: Xuất kho vật liệu để sản xuất sản phẩm 150,0 Các chi phí tiền
lương phải trả công nhân trực tiếp 50,0 Chi phí khác chi bằng tiền mặt phục vụsản xuất 10,0
Nghiệp vụ kinh tế này giá trị chi phí sản xuất đều tăng để hình thành mộtsản phẩm mới nhưng chưa hoàn thành: Giá trị sản phẩm dở dang 210,0
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN 6
Trang 27Tổng 700,0 750,0 Tổng 700,0 750,0
Ví dụ 7: Giá trị sản phẩm dở dang hoàn thành nhập kho 200,0
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN 7
Ví dụ 8: Xuất kho thành phẩm để bán giá vốn 100,0 Giá bán 150,0 thu
chuyển khoản Thuế doanh thu phải nộp 2% Chi phí bán hàng chi bằng tiền mặt5,0 Chi phí quản lý doanh nghiệp chi bằng tiền mặt 8,0
Nghiệp vụ này ta thấy đối tượng kế toán thay đổi:
- Tiền mặt giảm: 5,0 + 8,0 =13,0 => Chi phí thời kỳ tăng 13,0
- Thành phẩm giảm 100,0 => Giá vốn hàng bán tăng 100,0
- Tiền gửi ngân hàng tăng 150,0 => Doanh thu tăng 150,0
- Thuế phải nộp tăng 3,0
BẢNG CÂN ĐỐI KẾ TOÁN 8
2.2.2 Nội dung và kết cấu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Nội dung và kết cấu của báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh ban hành theoquyết định số 15/2006/QĐ - BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng Bộtài chính được trình dưới dạng bảng số liệu như sau:
Đơn vị báo cáo: Mẫu số B 02 – DN
Trang 28Địa chỉ:………… (Ban hành theo QĐ số 15/2006/QĐ-BTC
Ngày 20/03/2006 của Bộ trưởng BTC)
BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Năm nay
Năm trước
1 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ 01
3 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch
10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động KD
17 Lợi nhuận sau thuế TNDN
(Ký, họ tên) Kế toán trưởng(Ký, họ tên) (Ký, họ tên, đóng dấu)Giám đốc
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh gồm có 5 cột:
- Cột số 1: Các chỉ tiêu báo cáo
- Cột số 2: Mã số của các chit tiêu tương ứng
- Cột số 3: Số hiệu tương ứng với các chỉ tiêu của báo cáo này được thể hiện chỉ tiêu trên bảng thuyết minh báo cáo tài chính
-Cột số 4: Tổng số phát sinh trong kỳ báo cáo năm
- Cột số 5: Số liệu của năm trước (để so sánh)
Nội dung các chỉ tiêu trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh như sau:
Trang 291 Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ (Mã số 01): Chỉ tiêu này phảnánh tổng doanh thu bán hàng hoá, thành phẩm, bất động sản đầu tư và cung cấpdịch vụ trong năm báo cáo của doanh nghiệp
2 Các khoản giảm trừ doanh thu (Mã 02): Chỉ tiêu này phản ánh tổng hợpcác khoản được ghi gảim trừ vào tổng doanh thu trong năm, bao gồm: các khoảnchiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại và thuế tiêu thụđặc biệt, thuế xuất khẩu
3 Doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ (Mã số 10): Chỉ tiêunày phản ánh số doanh thu bán hàng hoá, thành phẩm, bất động sản đầu tư vàcung cấp dịch vụ đã trừ các khoản trừ Mã số 10 = Mã số 01 - Mã số 02
4 Giá vốn hàng bán (Mã số 11): Chỉ tiêu này phản ánh tổng giá vốn củahàng hoá, BĐS đầu tư, giá thành sản xuất của thành phẩm đã bán, chi phí trựctiếp của khối lượng dịch vụ hoàn thành đã cung cấp, chi phí khác được tính vàogiá vốn hoặc ghi giảm giá vôốnhàng bán trong kỳ báo cáo
5 Lợi nhuận gộp về bán hàng hoá và cung cấp dịch vụ (Mã số 20): Chỉ tiêunày phản ánh số chênh lệch giữa doanh thu thuần về bán hàng hoá, thành phẩm,BĐS đầu tư và cung cấp dịch vụ với giá vốn hàng bán phát sinh trong kỳ báocáo Mã số 20 = Mã số 10 - Mã số11
6 Doanh thu hoạt động tài chính (Mã số 21): Chỉ tiêu này phản ánh daonhthu hoạt động tài chính thuần (Tổng doanh thu trừ (-) Thuế GTGT theo phươngpháp trực tiếp (nếu có) liên quan đến hoạt động khác) phát sinh trong kỳ báo cáodoanh nghiệp
7 Chi phí tài chính (Mã số 22): Chỉ tiêu này phản ánh tổng chi phí tài chính,gồm tiền lãi vay phải trả, chi phí bản quyền, chi phí hoạt động liên doanh, phát sinh trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp
Chi phí lãi vay (Mã số 23): Chỉ tiêu này phản ánh chi phí lãi vay phải trảđược tính vào chi phí tài chính trong kỳ báo cáo Số liệu để ghi vào chỉ tiêu nàyđược căn cứ vào sổ kế toán chi tiết Tài khoản 635
8 Chi phí bán hàng (Mã số 24): Chỉ tiêu này phản ánh tổng chi phí bán hànghoá, thành phẩm đã bán, dịch vụ đã cung cấp phát sinh trong kỳ báo cáo
Trang 309 Chi phí quản lý doanh nghiệp (Mã số 25): Chỉ tiêu này phản ánh tổng chiphí quản lý doanh nghiệp phát sinh trong kỳ báo cáo.
10 Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh (Mã số 30): Chỉ tiêu này phảnánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo
11 Thu nhập khác (Mã số 31): Chỉ tiêu này phản ánh các khoản thu nhậpkhác (Sau khi đã trừ thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp), phátsinh trong kỳ báo cáo
12 Chi phí khác (Mã số 32): Chỉ tiêu này phản ánh tổng các khoản chi phíkhác phát sinh trong kỳ báo cáo
13 Lợi nhuận khác (Mã số 40): Chỉ tiêu này phản ánh số chênh lệch giữa thunhập khác (sau khi đã trừ thuế GTGT phải nộp tính theo phương pháp trực tiếp)với các chi phí phát sinh trong kỳ báo cáo Mã số 40 = Mã số 31 - Mã số 32
14 Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế (Mã số 50): Chỉ tiêu này phản ánhtổng số lợi nhuận kế toán thực hiện trong năm báo cáo của doanh nghiệp trướckhi trừ chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp từ hoạt động kunh doanh, hoạt độngkhác phát sinh trong kỳ báo cáo Mã số 50 = Mã số 30 + Mã số 40
15 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành (Mã số 51): Chỉ tiêu nàyphản ánh chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hiện hành phát suinh trong nămbáo cáo
16 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại (Mã số 52): Chỉ tiêu nàyphản ánh chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại hoặc thu nhập hoãn lạiphát sinh trong năm báo cáo
17 Lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp (Mã số 60 = Mã số 50 - (Mã
Trang 31BÁO CÁO KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
Lãi thuần từ hoạt động kinh doanh 34,0
Kết luận: Qua các ví dụ trên có thể rút ra các kết luận sau:
- Nguyên tắc cơ bản nhất của kế toán là tổng tài sản bằng tổng vốn
- Khi doanh nghiệp mới thành lập, các yếu tố tài sản phát sinh chưa nhiều,càng tiến hàng các hoạt động kinh doanh thì các đối tượng kế toán phát sinh càngphức tạp và phong phú
- Trong kinh doanh nếu có lãi thì yếu tố tài sản cuối kỳ sẽ lớn hơn yếu tốtài sản đầu kỳ, lãi chờ phân phối được thể hiện bên nguồn vốn Nguồn lực tàichính của doanh nghiệp được tăng lên và ngược lại thì nguồn lực tài chính củadoanh nghiệp bị giảm đi
Để thống nhất các chi tiêu tính toán trong các báo cáo tài chính, Bộ tàichính đã thống nhất biểu mẫu báo cáo dùng trong các doanh nghiệp sản xuấtkinh doanh Giữa 2 báo cáo có mối liên hệ rất chặt chẽ với nhau thể hiện qua chỉtiêu Lợi nhuận chưa phân phối
Trang 32Chương 3: PHƯƠNG PHÁP CHỨNG TỪ KẾ TOÁN
3.1 Chứng từ kế toán và ý nghĩa của chứng từ kế toán
3.1.1 Chứng từ kế toán và các yếu tố cấu thành chứng từ kế toán
3.1.1.1 Khái niệm
Để tiến hành các hoạt động kinh tế, các đơn vị phải có một khối lượng tàisản nhất định Trong quá trình hoạt động của đơn vị, tài sản của đơn vị luôn luônvận động.Trong mỗi sự vận động luôn gắn liền với sự thay đổi, dịch chuyển về sốlượng, giá trị của một hay một số tài sản cụ thể ở tại một thời điểm và không gian
cụ thể Trong hạch toán kế toán gọi là sự vận động nói trên của tài sản là "nghiệp
vụ kinh tế tài chính phát sinh" Để thu nhận, cung cấp đầy đủ, kịp thời thông tin
về từng nghiệp vụ kinh tế phát sinh phục vụ cho công tác quản lý kinh tế và côngtác kế toán, hạch toán kế toán xây dựng một phương pháp khoa học đó là phươngpháp chứng từ kế toán
Luật kế toán đã chỉ rõ: "Chứng từ kế toán là những giấy tờ và vật mang tin phản ánh nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh và đã hoàn thành, làm căn cứ ghi
sổ kế toán"
Chứng từ kế toán có nhiều loại và được tập hợp thành hệ thống chứng từ.Trong đó có 2 hệ thống chứng từ kế toán là: hệ thống chứng từ kế toánthống nhất bắt buộc và hệ thống chứng từ kế toán hướng dẫn
Hệ thống chứng từ kế toán thống nhất bắt buộc là hệ thống những chứng
từ phản ánh quan hệ kinh tế giữa các pháp nhân hoặc có yêu cầu quảnlý chặt chẽmang tính chất phổ biến rộng rãi Đối với loại chứng từ này Nhà nước tiêuchuẩn hoá về quy cách biểu mẫu, chỉ tiêu phản ánh, phương pháp lập và áp dụngthống nhất cho tất cả các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế
3.1.1.2 Các yếu tố cấu thành phương pháp chứng từ:
Gồm 2 yếu tố cơ bản sau đây:
+ Hệ thống bản chứng từ để chứng minh tính hợp pháp của việc hìnhthành các nghiệp vụ kinh tế thuộc đối tượng kế toán và căn cứ ghi sổ
+ Trình tự luân chuyển chứng từ nhằm cung cấp thông tin kịp thời trạngthái và sự vận động của đối tượng kế toán
3.1.2 Ý nghĩa của chứng từ:
Trang 33Chứng từ có ý nghĩa quan trọng trong quản lý kinh tế, thể hiện: phản ánhđầy đủ, chính xác và kịp thời các nghiệp vụ kinh tế phát sinh theo thời gian và địađiểm cụ thể.
Giúp cho việc thể hiện kiểm tra tình hình tài chính của đơn vị, là căn cứpháp lý cho mọi số liệu kế toán
Chứng từ mang tính pháp lý rất cao thể hiện thông qua việc lập chứng từ
sẽ kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của tài liệu kế toán, ngăn ngừa hiện tượng làmsai, làm ẩu, làm thất thoát tài sản của đơn vị
Chứng từ kế toán lập sẽ là cơ sở ghi chép vào sổ kế toán, chỉ có căn cứvào chứng từ kế toán thì số liệu phản ánh trên sổ sách kế toán mới có giá trịpháp lý Chứng từ còn là cơ sở để kiểm tra tài chính, kiểm toán giải quyết nhữngtranh chấp về tài chính
3.1.3 Các yếu tố cơ bản của chứng từ:
Hệ thống chứng từ kế toán hướng dẫn chủ yếu là những chứng từ sử dụngtrong nội bộ đơn vị Nhà nước hướng dẫn các chỉ tiêu đặc trưng để các ngành,các thành phần kinh tế trên cơ sở đó vận dụng vào từng trường hợp cụ thể thíchhợp Các ngành, các lĩnh vực có thể thêm bớt một số chỉ tiêu cụ thể, thích hợpvới yêu cầu và nội dung phản ánh nhưng phải bảo đảm những yếu tố cơ bản củachứng từ và có sự thoả thuận bằng văn bản của Bộ Tài chính
Bất cứ chứng từ gốc sổ nào cũng phải có đủ những yếu tố cần thiết sauđây:
- Tên gọi chứng từ (hoá đơn, phiếu lĩnh vật tư, phiếu giao hàng )
- Tên, địa chỉ của đơn vị, cơ quan hoặc cá nhân lập chứng từ
- Tên, địa chỉ của doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân nhận chứngtừ
- Nội dung sự việc phát sinh ra chứng từ
- Số lượng, giá đơn vị, thành tiền
- Ngày, tháng, năm lập chứng từ
- Chữ ký của những người có liên quan, chịu trách nhiệm về tính chấtchính xác của nghiệp vụ kinh tế đó và thủ tục của chứng từ, đầu của cơ quandoanh nghiệp
Trang 34Ngoài ra theo tính chất nghiệp vụ, tuỳ theo loại chứng từ có thể còn thêmmột số yếu tố khác nữa.
3.2 Phân loại chứng từ kế toán
Mỗi giác độ quản lý và phân tích thông tin kinh tế khác nhau có cáchphân loại chứng từ khác nhau Trên thực tế có nhiều cách phân loại chứng từ:
3.2.1 Phân loại theo công dụng của chứng từ, chứng từ được chia làm 4 loại:
- Chứng từ mệnh lệnh: là chứng từ mang tính quyết định của chủ thể quản
lý như lệnh xuất vật tư, lệnh chi tiền Loại này biểu thị nghiệp vụ kinh tế tàichính cần dược thực hiện, chứng minh kết quả của nghiệp vụ kinh tế, chưa đủcăn cứ để ghi sổ kế toán
- Chứng từ chấp hành (chứng từ thực hiện): Là chứng từ phản ánh nghiệp
vụ kinh tế tài chính đã hoàn thành như phiếu nhập kho, phiếu chi các loại nàycho thấy mức độ thực hiện các nghiệp vụ kinh tế tài chính, là căn cứ để ghi sổ kếtoán
- Chứng từ thủ tục kế toán: Là loại chứng từ tổng hợp các nghiệp vụ kinh
tế tài chính, hệ thống hoá các nghiệp vụ, tiện lợi cho ghi sổ kế toán như: chứng
từ ghi sổ
- Chứng từ liên hợp: Là loại chứng từ mang đặc điểm của hai hoặc ba loại
chứng từ trên, như hoá đơn kiêm phiếu xuất kho, lệnh kiêm phiếu chi
3.2.2 Phân loại theo địa điểm lập chứng từ ,chứng từ được chia làm 2 loại:
- Chứng từ bên trong: là chứng từ được lập trong phạm vi đơn vị,
như phiếu xuất vật tư, phiếu nhập, phiếu thu vv
- Chứng từ bên ngoài: là chứng từ nghiệp vụ kinh tế có liên quan đến đơn
vị nhưng lại được lập từ đơn vị khác, như hoá đơn kiêm phiếu xuất kho (của đơn
vị bán hàng); giấy báo Có; giấy báo Nợ của ngân hàng vv…
* Tác dụng:
Trang 35Cách phân loại này nhằm làm cơ sở cho kế toán xác định được trọng trâmcủa việc kiểm tra chứng từ, từ đó đưa ra những biện pháp thích hợp cho công táckiểm tra từng loại chứng từ Thông thường chứng từ bên ngoài có thể phản ánhthiếu trung thực các nghiệp vụ kinh tế phát sinh nên cần có sự kiểm tra chặt chẽ.
Cách phân chia này tiện cho việc kiểm tra đối chiếu các nghiệp vụ kinh tế.Tuy nhiên chỉ có nghĩa tương đối vì có thể có loại chứng từ được lập cả trong vàngoài đơn vị Vì vậy khi phân loại cần dựa vào nơi lập chứng từ
3.2.3 Phân loại theo số lần thì các nghiệp vụ kinh tế theo chứng từ Chia làm
2 loại:
- Chứng từ một lần: Ghi một nghiệp vụ kinh tế diễn ra.
- Chứng từ nhiều lần: Là chứng từ ghi một loại nghiệp vụ kinh tế tiếp
diễn nhiều lần trong một kỳ hạn mức
3.2.5 Phân loại chứng từ theo tính cấp bách của thông tin chia làm 2 loại:
- Chứng từ bình thường: là loại chứng từ phản ánh các nghiệp vụ kinh tế
xảy ra bình thường, hợp quy luật như phiếu nhập, phiếu xuất vật tư
- Chứng từ báo động: Là các loại chứng từ không bình thường, khẩn
trương Những loại chứng từ này có vạch xanh
3.2.6 Phân loại theo tính chất khái quát của chứng từ:
Trang 36- Chứng từ ban đầu ( chứng từ gốc): là chứng từ bắt đầu phát sinh nghiệp
vụ kinh tế Ví dụ như phiếu thu, phiếu chi, phiếu nhập, phiếu xuất
- Chứng từ tổng hợp: Là loại chứng từ được dùng để tổng hợp số liệu từ
các chứng từ gốc ( chứng từ ban đầu) theo từng nghiệp vụ kinh tế ( nội dung kinh tế) nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc ghi sổ kế toán
* Tác dụng:
- Giúp cho những người làm công tác nghiên cứu và công tác kế toán cụthể cần nghiên cứu xây dựng và tăng cường sử dụng chứng từ tổng hợp để giảmbớt số lần ghi sổ kế toán
- Xác định được tầm quan trọng của từng loại chứng từ mà có cách sửdụng và bảo quản thích hợp
Sau đây là danh mục các chứng từ kế toán doanh nghiệp, được ban hànhkèm theo Quyết định số 15/2006/QĐ-BTC ngày 20 tháng 03 năm 2006 của BộTài chính là hệ thống chứng từ kê toán như sau:
Tính chất BB
(*)
HD (*)
I Lao động tiền lương
6 Phiếu xác nhận SP hoặc công việc hoàn thành 05-LĐTL x
10 Biên bản thanh lý (nghiệm thu) hợp đồng giao
khoán
11 Bảng kê trích nộp các khoản theo lương 10-LĐTL x
3 Biên bản kiểm nghiệm vật tư, công cụ, sản
phẩm, hàng hoá
Trang 375 Biên bản kiểm kê vật tư, công cụ, sản phẩm,
7 Bảng kê vàng bạc, kim khí quý, đá quý 07-TT x
9 Bảng kiẻm kê quỹ (dùng cho ngoại tệ, vàng
CHỨNG TỪ BAN HÀNH THEO CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT KHÁC
2 Danh sách người nghỉ hưởng trợ cấp ốm đau,
thai sản
x
4 Hoá đơn bán hàng thông thường 02GTGT-3LL x
5 Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ 03PXK-3LL x
6 Phiếu xuất kho hàng gửi đại lý 04HDL-3LL x
7 Hoá đơn dịch vụ cho thuê tài chính 05TTC-LL x
8 Bảng kê thu mua hàng hoá mua vào không có
hoá đơn
04/GTGT x
9
Ghi chú: BB là bắt buộc các doanh nghiệp phải thực hiện
HD là hướng dẫn các doanh nghiệp
Trang 383.3 Xử lý luân chuyển chứng từ
Chứng từ kế toán thường xuyên vận động kế tiếp nhau liên tục từ giaiđoạn này sang giai đoạn khác, bắt đầu từ khi lập (hoặc tiếp nhận) đến khi đưavào lưu trữ chứng từ được gọi là chương trình luân chuyển chứng từ
Do hoạt động kinh tế đa dạng nên chứng từ dùng để phản ánh cũng mangnhiều nội dung, đặc điểm và luân chuyển khác nhau Tuy nhiên, có thể khái quátquá trình luân chuyển chứng từ qua các bước sau:
Bước 1: Kiểm tra và hoàn chỉnh chứng từ:
Bước này nhằm xem xét tình hợp lý, hợp pháp, hợp lệ của chứng từ, việctính toán trên chứng từ đúng hay sai, có ghi đầy đủ các yếu tố quy định không?Nội dung của chứng từ có hợp pháp không? có đúng chế độ thể lệ tài chính hiệnhành không? có phù hợp với các định mức và dự toán được phê chuẩnkhông? Đồng thời kiểm tra việc chấp hành quy chế quản lý nội bộ của ngườilập và xét duyệt đối với từng loại nghiệp vụ kinh tế Trong quá trình kiểm tranếu phát hiện có sự sai sót hoặc gian lận của người thực hiện nghiệp vụ, ngườilập chứng từ phải tiến hành hoàn chỉnh chứng từ hoặc có biện pháp xử lý phùhợp
Bước 2: Tổ chức luân chuyển chứng từ để ghi sổ kế toán và thông tin kinhtế
Chứng từ sau khi được kiểm tra và hoàn chỉnh được sử dụng để thông tinkinh tế và ghi sổ kế toán
Căn cứ vào nội dung kinh tế mà chứng từ phản ánh, kế toán tiến hànhphân loại chứng từ theo từng loại nghiệp vụ, từng tính chất các khoản chi phí,theo địa điểm phát sinh, tổng hợp số liệu rồi định khoản ghi vào sổ tài khoản
kế toán liên quan
Bước 3: Lưu trữ chứng từ:
Chứng từ kế toán vừa là căn cứ pháp lý để ghi sổ kế toán, căn cứ pháp lýcho mọi thông tin kinh tế, vừa là tài liệu lịch sử kinh tế của đơn vị Bởi vậy, saukhi ghi sổ và kết thúc kỳ kế toán, chứng từ cần phải được tổ chức lưu trữ, bảoquản một cách khoa học, hợp lý nhằm bảo đảm an toàn, tránh mất mát và tiện
Trang 39việc tra cứu khi cần thiết Khi hết thời hạn lưu trữ theo quy định, chứng từ đượcđem ra huỷ.
Mọi trường hợp mất chứng từ gốc đều phải báo cáo với thủ trưởng và kếtoán đơn vị biết để có biện pháp xử lý kịp thời Riêng mất hoá đơn bán hàng,biên lai, séc trắng phải báo cáo cho cơ quan thuế và cơ quan công an địa phương
số lượng mất, hoàn cảnh bị mất để có biện pháp xác minh, xử lý theo pháp luật
Quản lý và sử dụng biểu mẫu chứng từ kế toán: Tất cả các cá nhân thuộccác thành phần kinh tế đều phải áp dụng chế độ chứng từ kế toán của Bộ tàichính ban hành Đối với hệ thống chứng từ bắt buộc, các đơn vị hoặc các bộ chủquản không được thêm, bớt sửa đổi theo mẫu quy định trong chế độ chứng từ.Nếu muốn thêm, bớt phải có sự thoả thuận bằng văn bản với Bộ tài chính vàđược Bộ tài chính chấp nhận trước khi thực hiện văn bản
Mẫu in sẵn chứng từ phải bảo quản cẩn thận, không được để hư hỏng.Những chứng từ thuộc chỉ tiêu bán hàng như hoá đơn kiêm phiếu xuất kho,phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội bộ được quản lý theo chế độ sử dụng ấnchỉ
- In và phát hàng biểu mẫu chứng từ: Tất cả các đơn vị thuộc các ngành,các cấp khi in các biểu mẫu chứng từ thuộc các hệ thống kế toán thống nhất bắtbuộc (trừ csc chứng từ thuộc chỉ tiêu bán hàng) phải tuân theo đúng các thiết kếmẫu quy định trong chế độ chứng từ Biểu mẫu chứng từ kế toán thuộc chỉ tiêubàn hàng do Bộ tài chính thống nhất phát hành Đơn vị nào có nhu cầu tự in phảiđược tổng cục thuế chấp nhận bằng văn bản, trước khi thực hiện phải đăng kýsê-ri của Bộ tài chính
3.4 Kiểm kê tài sản hình thức đặc thù của phương pháp chứng từ kế toán
3.4.1 Khái niệm về kiểm kê:
Trong quá trình ghi chép, doanh nghiệp thường có phát sinh giữa số thực
có chênh lệch với số trên sổ sách kế toán Do khi thu, phát, đo lường, kiểm trathiếu chính xác, lập chứng từ nhầm lẫn; hao hụt tự nhiên trong quá trình bảoquản; tham ô, mất mát, hư hỏng
Trang 40Để đảm bảo số liệu kế toán được chính xác, phản ánh đúng thực tế cầnphải tiến hành kiểm kê tài sản của đơn vị Kết quả việc kiểm kê được bổ sungđảm bảo cho chứng từ kế toán được chính xác.
Kiểm kê là phương pháp nghiệp vụ trực tiếp, kiểm tra lại số vật tư tài sản, tiền vốn hiện có đối chiếu với số liệu ghi trong sổ kế toán, nhằm xác nhận số thực có về tài sản để điều chỉnh chứng từ cho phù hợp với thực tế Tuỳ theo thời gian và phạm vi kiểm kê mà có các loại kiểm kê khác nhau.
3.4.2 Các loại kiểm kê:
- Theo phạm vi tiến hành kiểm kê: Kiểm kê được chia làm 2loại:
+ Kiểm kê đầy đủ: áp dụng kiểm tra mặt số lượng hiện vật, hiện có thực tế của
tài sản
+ Kiểm kê điển hình (chọn mẫu): áp dụng để kiểm tra mặt chất lượng của vật
tư , hàng hoá
- Theo đối tượng tiến hành kiểm kê: Kiểm kê được chia làm 2 loại.
+ Kiểm kê toàn bộ: Là kiểm kê toàn bộ các loại tài sản của đơn vị, tài sản
cố định, vật tư, thành phẩm, tiền vốn, Loại kiểm kê này mỗi năm tiến hành ítnhất một lần trước khi lập bảng cân đối kế toán cuối năm
+ Kiểm kê từng phần: là kiểm kê từng loại tài sản nhất định hoặc kiểm kê ở
từng kho, từng bộ phận trong doanh nghiệp nhằm phục vụ yêu cầu quản lý
- Theo thời gian tiến hành kiểm kê: chia thành 2 loại
+ Kiểm kê định kỳ: là kiểm kê theo thời hạn quy định, tuỳ theo từng loại tài
sản mà định kỳ kiểm kê khác nhau như: Tiền mặt kiểm kê hàng ngày, vật tư,thành phẩm kiểm kê hàng tháng, quý, tài sản cố định thường kiểm kê hàng năm
+ Kiểm kê bất thường: là kiểm kê đột xuất ngoài kỳ hạn quy định Kiểm
kê bất thường tiến hành trong trường hợp thay đổi người quản lý tài sản khi có
sự cố phát sinh hư hao, tổn thất tài sản bất thường hoặc khi cơ quan tài chính,chủ quản thanh tra, kiểm tra
Muốn kiểm kê thu được kết quả tốt, cần phải có sự chỉ đạo, tổ chức lãnhđạo chặt chẽ nhằm thu hút đông đảo quần chúng tham gia, kế toán phải khoá sổtrước khi kiểm kê Thành lập ban kiểm kê
*Cách thức kiểm kê: