1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

C4 QUAN HỆ PHÁP LUẬT VPPL

6 324 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 98,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm và dấu hiệu của vi phạm pháp luật : • Khái niệm : Vi phạm pháp luật là hành vi hành động hoặc không hành động trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý

Trang 1

CHƯƠNG 4:

VI PHẠM PHÁP LUẬT - TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ – THỰC HIỆN PHÁP

LUẬT

4.1 Vi phạm pháp luật

4.1.1 Khái niệm và dấu hiệu của vi phạm pháp luật :

• Khái niệm :

Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp luật, có lỗi do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại hoặc đe dọa xâm hại các quan hệ

xã hội được pháp luật bảo vệ

• Dấu hiệu của vi phạm pháp luật :

- Là hành vi xác định của con người : Chỉ những hành vi (biểu hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động) cụ thể mới có thể bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật; những

ý nghĩ dù xấu cũng không thể coi là những vi phạm pháp luật

- Trái pháp luật

- Có lỗi

- Do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện

4.1.2.Cấu thành vi phạm pháp luật :

Là một sự kiện pháp lý, vi phạm pháp luật được cấu thành bởi : mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể vi phạm pháp luật

a Mặt khách quan của vi phạm pháp luật :

Mặt khách quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện ra bên ngòai của vi phạm pháp luật mà con người có thể nhận thức bằng trực quan

Mặt khách quan của vi phạm pháp luật bao gồm những yếu tố sau :

• Hành vi trái pháp luật

- Bất kỳ một hành vi vi phạm pháp luật nào cũng được cấu thành bởi hành vi trái pháp lụât, nghĩa là nếu trong thực tế không tồn tại hành vi trái pháp lụât của cá nhân hoặc họat động trái pháp luật của tổ chức cụ thể nào đó thì không có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra

- Hành vi trái pháp luật được thể hiện dưới dạng hành động hoặc không hành động

- Tính trái pháp luật được biểu hiện dưới các hình thức như :

+ Thực hiện hành vi mà pháp luật cấm

+ Thực hiện hành vi vượt quá giới hạn pháp luật cho phép

+ Không làm hoặc làm khác đi so với yêu cầu của pháp luật

• Hậu quả do hành vi trái pháp luật gây ra:

Hành vi trái pháp luật ở những mức độ khác nhau đều nguy hiểm và gây hại cho xã hội Tính nguy hiểm của hành vi trái pháp luật thể hiện ở chỗ nó đã hoặc có nguy cơ gây ra những thiệt hại về vật chất, về tinh thần và những thiệt hại khác cho xã hội Mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi trái pháp luật được xác định phụ thuộc vào tính chất và mức

độ thiệt hại thực tế hoặc nguy cơ gây hại cho xã hội mà hành vi trái pháp luật đó gây ra

• Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả mà nó gây ra cho xã hội

Trang 2

- Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và hậu quả mà nó gây ra cho xã hội thể hiện ở chỗ sự thiệt hại cho xã hội là hậu quả tất yếu của hành vi trái pháp luật

- Nếu giữa hành vi trái pháp luật và sự thiệt hại của xã hội không có mối quan hệ nhân quả thì sự thiệt hại cho xã hội không phải do hành vi trái pháp luật đó trực tiếp gây ra mà

có thể là do nguyên nhân khác

• Ngoài ra trong mặt khách quan của hành vi vi phạm pháp luật còn có các yếu tố khác như công cụ thực hiện hành vi vi phạm, thời gian, địa điểm, cách thức vi phạm

b Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật:

mặt chủ quan của vi phạm pháp luật là những biểu hiện tâm lý bên trong của của chủ thể

vi phạm pháp luật, bao gồm các yếu tố sau :

• Lỗi của chủ thể vi phạm pháp luật :

- Lỗi là trạng thái tâm lý phản ánh thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi trái pháp luật của mình và hậu quả do hành vi đó gây ra

- Dựa vào mức độ tiêu cực trong thái độ của chủ thể, khoa học pháp lý chia lỗi ra thành hai loại : lỗi cố ý và lỗi vô ý Lỗi cố ý có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp, lỗi vô ý

có thể là vô ý do quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả

+ Lỗi cố ý trực tiếp :

Về mặt lý trí : chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho

xã hội và thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra

Về mặt ý chí : chủ thể vi phạm mong muốn hậu quả xảy ra

+ Lỗi cố ý gián tiếp :

Về mặt lý trí : chủ thể vi phạm nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình là nguy hiểm cho xã hội và thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra

Về mặt ý chí : chủ thể tuy không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng lại có thái độ bàng quang để mặc cho hậu quả xảy ra

+ Lỗi vô ý do quá tự tin :

Về mặt lý trí: chủ thể vi phạm nhận thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra

Về mặt ý chí: chủ thể không mong muốn hậu quả xảy ra và tin tưởng rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được

+ Lỗi vô ý do cẩu thả:

Về mặt lý trí: do khinh suất, cẩu thả nên chủ thể vi phạm không nhận thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra mặc dù có thể hoặc cần phải thấy trước hậu quả đó

Về mặt ý chí: không đặt ra vấn đề ý chí

• Động cơ vi phạm: Động cơ đựợc hiểu là cái thúc đẩy chủ thể thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Thông thường khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật chủ thể thường được thúc đẩy bởi một động cơ nhất định nào đó Động cơ đó có thể là vụ lợi, trả thù, đê hèn

Trang 3

• Mục đích vi phạm: mục đích là kết quả cuối cùng mà trong suy nghĩ của mình chủ thể mong muốn đạt được khi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật Mục đích vi phạm của chủ thể cũng thể hiện tính chất nguy hiểm của hành vi Tuy nhiên không phải lúc nào kết quả mà chủ thể vi phạm đạt được trên thực tế cũng trùng với mục đích mà họ mong muốn đạt được

c Chủ thể vi phạm pháp luật:

- Là cá nhân, tổ chức có năng lực trách nhiệm pháp lý

- Năng lực trách nhiệm pháp lý: là khả năng của chủ thể tự chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước nhà nước

d Khách thể của vi phạm pháp luật:

Khách thể của vi phạm pháp lụật là những quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ, nhưng

bị hành vi vi phạm pháp luật xâm hại

4.2 Trách nhiệm pháp lý

4.2.1.Khái niệm - căn cứ truy cứu trách nhiệm pháp lý – phân lọai trách nhiệm pháp lý :

a Khái niệm trách nhiệm pháp lý :

+ Trong lĩnh vực chính trị đạo đức trách nhiệm được hiểu theo nghĩa bổn phận vai trò,

nó luôn mang nghĩa tích cực

+ Trong lĩnh vực pháp lý thuật ngữ trách nhiệm được sử dụng theo hai nghĩa : theo nghĩa tích cực, trách nhiệm được hiểu là nghĩa vụ ; trách nhiệm theo nghĩa thứ hai là phải gánh chịu những hậu quả bất lợi vì đã vi phạm pháp luật Ở đây chúng ta nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý theo nghĩa hậu quả bất lợi Theo đó, trách nhiệm pháp lý được hiểu như sau : « trách nhiệm pháp lý là hậu quả bất lợi đối với chủ thể vi phạm pháp luật, thể hiện ở mối quan hệ đặc biệt giữa nhà nước với chủ thể vi phạm pháp luật, được các quy phạm pháp luật xác lập và điều chỉnh, trong đó chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật »

b Các căn cứ truy cứu trách nhiệm pháp lý :

Để truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức hay cá nhân nào đó cần phải xác định được cơ sở thực tiễn và cơ sở pháp lý làm căn cứ cho việc truy cứu

• Cơ sở thực tiến của trách nhiệm pháp lý là vi phạm pháp luật

Trách nhiệm pháp lý chỉ xuất hiện khi trong thực tế xảy ra vi phạm pháp luật Nếu trong thực tế không có vi phạm pháp luật thì không được truy cứu trách nhiệm pháp lý

• Cơ sở pháp lý của trách nhiệm pháp lý là những quy định pháp luật hiện hành có liên quan đến vi phạm pháp đó và thẩm quyền, trình tự, thủ tục để giải quyết vụ việc đó

c Phân loại trách nhiệm pháp lý :

Căn cứ vào việc phân loại vi phạm pháp luật, có bốn loại trách nhiệm pháp lý :

- Trách nhiệm hình sự

- Trách nhiệm hành chính

- Trách nhiệm dân sự

- Trách nhiệm kỷ luật

4.2.2.Công tác phòng chống vi phạm pháp luật :

a Những nguyên nhân dẫn tới tình trạng vi phạm pháp luật trong xã hội ta

Trang 4

• Nguyên nhân khách quan :

+ Những tàn dư của xã hội cũ để lại trong kinh tế và sinh hoạt

+ Ảnh hưởng của lối sống và sinh hoạt không lành mạnh từ các nước khác

+ Xã hội phát triển chưa cao, năng suất lao động còn thấp nên dẫn tới tình trạng nghèo nàn lạc hậu của một số không nhỏ những người lao động trong xã hội

+ Sự chống phá của các thế lực thù địch

• Nguyên nhân chủ quan :

+ Sự yếu kém trong công tác quản lý xã hội

+ Hệ thống pháp luật chưa thực sự hoàn thiện và đồng bộ

+ Công tác giáo dục chính trị, pháp luật và đạo đức chưa tốt

+ Tện nạn và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội còn nhiều

+ Hoạt động của các cơ quan chuyên môn đấu tranh phòng chống tội phạm và những hiện tượng tiêu cực trong xã hội còn thiếu sót và hiệu quả thấp

+ Những nguyên nhân khác

b Những phương hướng cơ bản để phòng và chống vi phạm pháp luật trong xã hội ta :

• Nghiên cứu, tìm hiểu, phân tích những nguyên nhân, những điều kiện dẫn tới tình trạng nảy sinh hiện tượng vi phạm pháp luật trong xã hội để từng bước có kế hoạch xoá bỏ những nguyên nhân và điều kiện đó

• Củng cố nâng cao hiệu quả hoạt động của các trung tâm, các viện nghiên cứu về khoa học pháp lý nói chung, nghiên cứu về tội phạm học và các loại vi phạm pháp luật nói riêng

• Thường xuyên xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

• Đấy mạnh hoạt động phổ biến, giáo dục, giải thích, hướng dẫn việc thi hành pháp luật

• Tăng cường công tác kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật, phát hiện và xử lý kịp thời các hiện tượng vi phạm pháp luật

• Kiện toàn và củng cố các cơ quan bảo vệ pháp luật

• Tạo ra môi trường xã hội, tập thể và gia đình lành mạnh, an toàn, mang tính nhân văn cao

4.3 Thực hiện pháp luật

4.3.1.Khái niệm thực hiện pháp luật – Các hình thức thực hiện pháp luật

a Khái niệm :

Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật

b Các hình thức thực hiện pháp luật :

Tuân theo pháp luật :

+ Nội dung : chủ thể kiềm chế mình không thực hiện điều pháp luật cấm

+ Dạng hành vi : không hành động

+ Quy phạm tương ứng : quy phạm cấm

+ Loại chủ thể thực hiện : mọi chủ thể

Thi hành pháp luật :

+ Nội dung : chủ thể bằng hành vi của mình tích cực thực hiện điều pháp luật yêu cầu

Trang 5

+ Dạng hành vi : hành động

+ Quy phạm tương ứng : quy phạm bắt buộc

+ Loại chủ thể : mọi chủ thể

Sử dụng pháp luật :

+ Nội dung : chủ thể thực hiện cách thức xử sự pháp luật cho phép

+ Dạng hành vi : hành động hoặc không hành động

+ Quy phạm tương ứng : quy phạm cho phép

+ Loại chủ thể thực hiện : mọi chủ thể

Áp dụng pháp luật :

+ Nội dung : là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước, thông qua cơ quan, cán bộ nhà nước có thẩm quyền, hoặc tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền, tổ chức cho các chủ thể thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp luật quy định

+ Dạng hành vi : hành động

+ Quy phạm tương ứng : các loại quy phạm

+ Loại chủ thể thực hiện : cơ quan, cán bộ nhà nước có thẩm quyền, hoặc tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền

4.3.2.Hoạt động áp dụng pháp luật - Đặc điểm :

a Khái niệm áp dụng pháp luật :

Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước, thông qua cơ quan, cán bộ nhà nước

có thẩm quyền, hoặc tổ chức xã hội được nhà nước trao quyền, tổ chức cho các chủ thể thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp luật quy định

b Đặc điểm :

• Mang tính tổ chức, quyền lực nhà nước:

+ Do cơ quan nhà nước thực hiện (hoặc được trao quyền)

+ Mang tính tổ chức

+ Là trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan nhà nước

• Có hình thức, thủ tục chặt chẽ :

+ Theo quy trình, thủ tục nhất định Để đảm bảo tính khách quan trong hoạt động áp dụng pháp luật các thủ tục được pháp luật quy định cụ thể và chặt chẽ, nếu cơ quan

có thẩm quyền thực hiện sai, tuỳ tiện bị xác định vi phạm thủ tục (thủ tục giải quyết

vụ án dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự, thủ tục giải quyết vụ án hình sự trong Bộ luật tố tụng hình sự)

+ Theo cách thức, hình thức nhất định : hình thức của họat động áp dụng pháp luật

là văn bản áp dụng pháp luật

• Mang tính cá biệt, cụ thể :

+ Có chủ thể xác định

+ Nội dung hoạt động cụ thể

• Có tính sáng tạo : Pháp luật là những quy tắc xử sự chung không thể chỉ ra từng trường hợp cụ thể, do vậy khi áp dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người

có thẩm quyền phải nghiên cứu kỹ lưỡng vụ việc, làm sáng tỏ cấu thành pháp lý của nó

để từ đó lựa chọn quy phạm, ra văn bản áp dụng pháp luật và tổ chức thi hành

c.Các trường hợp cần áp dụng pháp luật :

Trang 6

• Khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế của nhà nước đối với các chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật

• Khi các quyền và nghĩa vụ của chủ thể không thể mặc nhiên phát sinh, thay đổi, chấm dứt nếu thiếu sự can thiệp của nhà nước

• Khi có tranh chấp mà các chủ thể không thể tự giải quyết được và yêu cầu nhà nước can thiệp

• Khi Nhà nước thấy cần tham gia để kiểm tra, giám sát các bên trong quan hệ pháp luật hoặc để xác nhận sự tồn tại hay không của một sự kiện thực tế nào đó Chẳng hạn toà

án tuyên bố mất tích, tuyên dố chết đối với một người; tuyên bố không công nhận vợ chồng đối với nam nữ sống chung với nhau không có đăng ký kết hôn hoặc đăng ký kết hôn tại cơ quan không có thẩm quyền

4.3.3.Văn bản áp dụng pháp luật :

- Hình thức thể hiện chủ yếu của hoạt động áp dụng pháp luật là văn bản áp dụng pháp luật Văn bản áp dụng pháp luật là văn bản pháp lý cá biệt, mang tính quyền lực do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhà chức trách hoặc các tổ chức xã hội được nhà nước uỷ quyền ban hành trên cơ sở những quy phạm pháp luật, nhằm xác định các quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể cụ thể hoặc xác định những biện pháp trách nhiệm pháp lý đối với chủ thể vi phạm pháp luật

- Văn bản pháp luật có các đặc điểm sau :

+ Một là, văn bản áp dụng pháp luật do những cơ quan (nhà chức trách, tổ chức) có thẩm

quyền ban hành và được bảo đảm thực hiện bằng cưỡng chế nhà nước

+ Hai là, văn bản áp dụng pháp luật có tính chất cá biệt, chỉ áp dụng một lần đối với các

cá nhân, tổ chức cụ thể trong những trường hợp xác định

+ Ba là, văn bản áp dụng pháp luật phải hợp pháp và phù hợp với thực tế Nó phải phù

hợp với luật và dựa trên những quy phạm pháp luật cụ thể, nếu không phù hợp thì văn bản áp dụng pháp luật sẽ bị đình chỉ hoặc hủy bỏ

+ Bốn là, văn bản áp dụng pháp luật được thể hiện trong những hình thức pháp lý xác

định như: bản án, quyết định, lệnh,

+ Năm là, văn bản áp dụng pháp luật là một yếu tố của sự kiện pháp lý phức tạp, thiếu nó

nhiều quy phạm pháp luật không thể thực hiện được

Ngày đăng: 06/12/2016, 09:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w