Theo đó, họ quan niệm giới kinh doanh là những kẻ ti tiện, tiểu nhân và hành vi kinh doanh được đánh đồng với hành vi lừa đảo.Đối với phương Tây thì đạo đức kinh doanh xuất phát từ tín
Trang 1CHUYÊN ĐỀ 1
PHÂN BIỆT GIỮA ĐẠO ĐỨC KINH DOANH VÀ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP GIẢI THÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẠO ĐỨC KINH DOANH, TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
VÀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
GVHD: TS NGUYỄN NGỌC MINH Thực hiện: Nhóm 4
Lớp: MBA 3A
Trang 2TRƯƠNG HOÀNG TUẤN
LÝ PHÁT VIỆT LINH
LÊ DANH ĐỒNG
LÊ HOÀNG DIỄN
Trang 3 Văn hóa doanh nghiệp: Khái niệm và vai trò
Mối quan hệ giữa đạo đức kinh doanh, trách nhiệm xã hội và văn hóa doanh nghiệp.
Kết luận
Trang 4ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
Trang 5KHÁI NIỆM VÀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA
ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
Đạo đức là tập hợp các nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội nhằm điều chỉnh, đánh giá hành vi con người đối với bản thân và trong quan hệ với người khác, với xã hội.
Đạo đức kinh doanh là một tập hợp các nguyên tắc, chuẩn mực có tác dụng điều chỉnh, đánh giá, hướng dẫn và kiểm soát hành vi của chủ thể kinh doanh Đạo đức kinh doanh chính là đạo đức được vận dụng vào trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp Phạm vi áp dụng của đạo đức kinh doanh rất rộng, nó bao gồm tất
cả những thể chế xã hội, những tổ chức, các nhân có liên quan, tác động đến hoạt động kinh doanh.
Trang 6Ở phương Đông, theo quan điểm Nho giáo thì đạo đức kinh doanh không được coi trọng do tư tưởng trọng nông lúc bấy giờ Theo đó, họ quan niệm giới kinh doanh là những kẻ ti tiện, tiểu nhân và hành vi kinh doanh được đánh đồng với hành vi lừa đảo.
Đối với phương Tây thì đạo đức kinh doanh xuất phát
từ tín điều Tôn giáo, thể hiện ở các luật như luật Tiên tri (khuyên chừa một ít hoa màu cho người nghèo), ngày nghỉ lễ Sabbath hàng tuần, luật giáo hội La Mã (không nên trả lương thấp), hay luật Hồi giáo (cấm việc cho vay lãi) v.v…
Trang 7Trong thời cận đại thì nhiều tiêu chuẩn đạo đức kinh doanh được luật hóa như luật chống độc quyền, luật tiêu chuẩn chất lượng, luật bảo vệ người tiêu dùng v.v…
Thế giới - từ năm 2000 đến nay:
- Đạo đức kinh doanh là lĩnh vực nghiên cứu được quan tâm.
- Đạo đức kinh doanh được xem xét từ nhiều góc độ: luật pháp, triết học và các khoa học XH khác.
- Đạo đức kinh doanh đã gắn chặt với khái niệm trách nhiệm đạo đức và với việc ra quyết định.
- Các hội nghị thường xuyên về đạo đức kinh doanh.
Trang 8VAI TRÒ CỦA ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
QUAN ĐIỂM
QUYỀN LỰC
CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT
CÔNG NGHỆ MARKETING
LỢI ÍCH
TRIẾT LÝ
QUAN HỆ
PHÂN PHỐI
Người lao động Chủ sở hữu Khách hàng
Trang 9Bản chất của vấn đề đạo đức chính là sự mâu thuẫn Mâu thuẫn có thể xuất hiện ở các khía cạnh khác nhau như triết
lý hành động, mối quan hệ quyền lực trong cơ cấu tổ chức, sự phối hợp trong các hoạt động tác nghiệp hay phân phối lợi ích, ở các lĩnh vực như markeitng, điều kiện lao động, nhân lực, tài chính hay quản lý Chủ sở hữu có những mong muốn nhất định về hành vi và kết quả đạt được ở người lao động bằng cách sử dụng những biện pháp tổ chức (cơ cấu quyền lực) và kỹ thuật (công nghệ), đồng thời họ cũng kỳ vọng những kết quả tốt đẹp từ khách hàng, đối tác kinh doanh v.v…
Trang 10ĐIỀU CHỈNH HÀNH VI CỦA CÁC CHỦ THỂ
Đạo đức kinh doanh bổ sung và kết hợp với pháp luật điều chỉnh các hành vi kinh doanh theo khuôn khổ pháp luật và quỹ đạo của các chuẩn mực đạo đức xã hội Không một pháp luật nào, dù hoàn thiện đến đâu chăng nữa cũng có thể là chuẩn mực cho mọi hành vi của đạo đức kinh doanh Nó không thể thay thế vai trò của đạo đức kinh doanh trong việc khuyến khích mọi người làm việc thiện, tác động vào lương tâm của doanh nhân
Trang 11GÓP PHẦN VÀO CHẤT LƯỢNG DOANH NGHIỆP
Phần thưởng cho một doanh nghiệp có quan tâm đến đạo đức là được các nhân viên, khách hàng và công luận công nhận là có đạo đức Phần thưởng cho trách nhiệm đạo đức và trách nhiệm xã hội trong các quyết định kinh doanh bao gồm hiệu quả trong các hoạt động hàng ngày tăng cao, sự tận tâm của các nhân viên, chất lượng sản phẩm được cải thiện, đưa ra quyết định đúng đắn hơn, sự trung thành của khách hàng và lợi ích về kinh tế lớn hơn
Trang 12Các tổ chức được xem là có đạo đức thường có nền tảng là các
khách hàng trung thành cũng như đội ngũ nhân viên vững mạnh,
bởi sự tin tưởng và phụ thuộc lẫn nhau trong mối quan hệ Nếu
các nhân viên hài lòng thì khách hàng sẽ hài lòng; và nếu khách
hàng hài lòng thì các nhà đầu tư sẽ hài lòng Các khách hàng có
xu hướng thích mua hàng của các doanh nghiệp liêm chính hơn,
đặc biệt là khi giá cả của doanh nghiệp đó cũng bằng với giá của
các doanh nghiệp đối thủ Khi các nhân viên cho rằng tổ chức của
mình có một môi trường đạo đức, họ sẽ tận tâm hơn và hài lòng
với công việc của mình hơn.
Trang 13Các doanh nghiệp cung ứng thường muốn làm ăn lâu dài với các doanh nghiệp mà họ tin tưởng để qua hợp tác họ có thể xóa bỏ được sự không hiệu quả, các chi phí và những nguy cơ để có thể làm hài lòng khách hàng Các nhà đầu tư cũng rất quan tâm đến vấn đề đạo đức, trách nhiệm xã hội và uy tín của các doanh nghiệp mà họ đầu tư, và các doanh nghiệp quản lý tài sản có thể giúp các nhà đầu tư mua cổ phiếu của các doanh nghiệp có đạo đức Các nhà đầu tư nhận ra rằng, một môi trường đạo đức là nền tảng cho sự hiệu quả, năng suất, và lợi nhuận
Trang 14GÓP PHẦN VÀO SỰ TẬN TÂM CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
Người lao động tin hình ảnh của DN đối với cộng đồng là vô cùng quan trọng và họ tin tưởng vào tương lai của DN
Người lao động thấy DN của mình tham gia tích cực công tác cộng đồng sẽ trung thành với cấp trên
và cảm thấy được vai trò tích cực của họ trong DN
Người lao động tin rằng làm việc trong môi trường đạo đức thì họ sẽ luôn được tôn trọng.
Trang 15LÀM HÀI LÒNG KHÁCH HÀNG
Khách hàng thích mua các sản phẩm của các công ty quan tâm đến cộng đồng và xã hội và sẽ ưu tiên lựa chọn những thương hiệu thường xuyên làm những việc thiện
Các doanh nghiệp có hành vi vô đạo đức sẽ đương nhiên làm mất khách hàng.
Ngoài việc quan tâm đến lợi ích của nhân viên, nhà đầu tư và cộng đồng thì doanh nghiệp phải luôn quan tâm đến lợi ích của khách hàng.
Trang 16GÓP PHẦN TẠO RA LỢI NHUẬN
Hành vi
Kinh doanh
Tư cách Doanh nghiệp
Thành bại của doanh nghiệp
MÔI TRƯỜNG
ĐẠO ĐỨC
LỢI NHUẬN DOANH NGHIỆP
Sự tin tưởng của
tổ chức
Trang 17Những doanh nghiệp cam kết thực hiện các hành
vi đạo đức và chú trọng đến việc tuân thủ các quy định đạo đức nghề nghiệp thường đạt được thành công lớn về mặt tài chính Sự quan tâm đến đạo đức đang trở thành một bộ phận trong các kế hoạch chiến lược của các doanh nghiệp, đây không còn là một chương trình do các chính phủ yêu cầu mà đạo đức đang dần trở thành một vấn
đề quản lý trong nỗ lực để dành lợi thế cạnh tranh.
Trang 18GÓP PHẦN VÀO SỰ VỮNG MẠNH CỦA NỀN KINH TẾ
Một câu hỏi quan trọng và thường được nêu ra là liệu hành động đạo đức trong kinh doanh có tác động đến kinh tế của một quốc gia hay không? Các nhà kinh tế học thường đặt câu hỏi tại sao một số nền kinh tế thị trường mang lại năng suất cao, công dân có mức sống cao, trong khi đó các nền kinh tế khác lại không như thế?
Trang 19Các thể chế xã hội, đặc biệt là các thể chế thúc đẩy tính trung thực, là yếu tố vô cùng quan trọng để phát triển sự phồn vinh về kinh tế của một xã hội Các nước phát triển ngày càng trở nên giàu có hơn vì có một hệ thống các thể chế, bao gồm đạo đức kinh doanh, để khuyến khích năng suất Trong khi đó, tại các nước đang phát triển, cơ hội phát triển kinh tế và xã hội bị hạn chế bởi độc quyền, tham nhũng, hạn chế tiến bộ cá nhân cũng như phúc lợi xã hội.
Trang 20TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
Trang 21KHÁI NIỆM TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI
Trách nhiệm xã hội là những nghĩa vụ mà một doanh nghiệp hay cá nhân phải thực hiện đối với xã hội nhằm đạt được nhiều nhất những tác động tích cực
và giảm thiểu những tác động tiêu cực đối với xã hội.
Trách nhiệm xã hội góp phần vào sự tận tụy của nhân viên và sự trung thành của khách hàng – những mối quan tâm chủ yếu của bất cứ một doanh nghiệp nào
để có thể tăng lợi nhuận.
Trang 22MÔ HÌNH THÁP TRÁCH NHIỆM CỦA A CARROLL
Trang 23Trách nhiệm kinh tế, thể hiện qua hiệu quả và tăng trưởng, là điều kiện tiên quyết bởi doanh nghiệp được thành lập trước hết từ động cơ tìm kiếm lợi nhuận của doanh nhân
Trách nhiệm tuân thủ pháp luật là một phần cam kết của doanh nghiệp với xã hội Đó là các quy tắc xã hội, đạo đức mà Nhà nước đưa vào văn bản luật để doanh nghiệp theo đuổi mục tiêu kinh tế trong khuôn khổ một cách công bằn, đáp ứng được các chuẩn mực và giá trị cơ bản mà xã hội mong đợi.
Trang 24Trách nhiệm từ thiện là những hành vi của doanh nghiệp vượt ra ngoài sự trông đợi của
xã hội, như quyên góp ủng hộ cho người yếu thế, tài trợ học bổng, đóng góp cho các dự án cộng đồng… Điểm khác biệt giữa trách nhiệm từ thiện và đạo đức là doanh nghiệp hoàn toàn tự nguyện.
Trang 26ĐIỂM KHÁC BIỆT GIỮA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
- Liên quan đến việc chỉ đạo những quyết định của cá nhân và tổ chức
- Thể hiện những mong muốn, kỳ vọng xuất phát
từ bên trong
Đạo đức kinh doanh
- Là những quy định về đạo đức của DN
- Liên quan đến việc chỉ đạo những quyết định của cá nhân và tổ chức
- Thể hiện những mong muốn, kỳ vọng xuất phát
từ bên trong
Trang 27MỐI QUAN HỆ GIỮA TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI VÀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
Tuy khác nhau nhưng có quan hệ chặt chẽ với nhau Đạo đức kinh doanh là sức mạnh trong trách nhiệm xã hội vì tính liêm chính và sự tuân thủ đạo đức của các tổ chức phải vượt xa cả
sự tuân thủ các luật lệ và quy định Có nhiều bằng chứng cho thấy trách nhiệm xã hội bao gồm đạo đức kinh doanh liên quan tới việc tăng lợi nhuận Đạo đức của doanh nghiệp cũng được coi là lí do quan trọng giải thích tại sao khách hàng mua hay không mua sản phẩm của doanh nghiệp đó
Trang 28Trên thực tế, đạo đức kinh doanh thẩm thấu vào tất cả các tầng bậc của trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, nó trở thành sức mạnh, nhân tố chi phối trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Đạo đức kinh doanh đóng vai trò chi phối trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp thể hiện qua ý thức đạo đức, sự thôi thúc nội tâm vươn lên cái thiện quy định các hành vi.
Trang 29Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, ở một chừng mực nhất định, là cái cần phải hướng tới khi tìm kiếm những chuẩn mực chung trong kinh doanh, là sự hiện thực hóa những yêu cầu luật pháp và đạo đức Nó đáp ứng tính toàn cầu hóa của thế giới hiện đại và muốn đi đến những thỏa ước chung mang tính toàn cầu, ở đó hiện thực hóa những phẩm chất của đạo đức kinh doanh của chính doanh nghiệp đó.
Trang 30Xét về vai trò, chức năng, cả đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đều nhằm điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp theo hướng ngăn ngừa hành
vi gây hậu quả với xã hội của cá nhân hay
tổ chức trong kinh doanh, thông qua các quy tắc, tiêu chuẩn, chuẩn mực đạo đức hoặc luật lệ.
Trang 31Trách nhiệm xã hội góp phần vào sự tận tụy của nhân viên và sự trung thành của khách hàng – những mối quan tâm chủ yếu của bất cứ một doanh nghiệp nào
để có thể tăng lợi nhuận Chỉ khi các doanh nghiệp có những mối quan tâm về đạo đức trong cơ sở và các chiến lược kinh doanh của mình thì trách nhiệm xã hội mới như một quan niệm mới có thể có mặt trong quá trình đưa ra quyết định hàng ngày được.
Trang 32Với tư cách là một nhân tố không thể tách rời của hệ thống kinh tế – xã hội, doanh nghiệp luôn phải tìm cách hài hòa lợi ích của các bên liên đới và đòi hỏi, mong muốn của
xã hội Khó khăn trong các quyết định quản lý không chỉ ở việc xác định các giá trị, lợi ích cần được tôn trọng, mà còn cân đối, hài hòa và chấp nhận hy sinh một phần lợi ích riêng hoặc lợi nhuận
Trang 33VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
Trang 34KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
Văn hoá doanh nghiệp là một hệ thống các ý nghĩa, giá trị, niềm tin chủ đạo, nhận thức và phương pháp tư duy được mọi thành viên của một tổ chức cùng đồng thuận và có ảnh hưởng ở phạm vi rộng đến cách thức hành động của các thành viên.
Văn hoá kinh doanh thể hiện sự đồng thuận về quan điểm, sự thống nhất trong cách tiếp cận và trong hành vi của các thành viên một doanh nghiệp Nó có tác dụng giúp phân biệt giữa doanh nghiệp này với các doanh nghiệp khác.
Trang 35Văn hoá doanh nghiệp được mọi thành viên trong doanh nghiệp chấp thuận có ảnh hưởng trực tiếp, hàng ngày đến hành động và việc ra quyết định của từng người và được hướng dẫn cho những thành viên mới để tôn trọng
và làm theo Chính vì vậy được gọi là “bản sắc riêng” hay “bản sắc văn hoá” của một doanh nghiệp mà mọi người có thể xác định được và thông qua đó có thể nhận
ra được quan điểm và triết lý đạo đức của một doanh nghiệp.
Trang 36Văn hoá doanh nghiệp liên quan đến nhận thức Các cá nhân nhận thức được văn hoá của doanh nghiệp thông qua những gì họ nhìn thấy, nghe được trong phạm vi doanh nghiệp Cho dù các thành viên có thể có trình độ hiểu biết khác nhau, vị trí công tác khác nhau, họ vẫn luôn có xu thế mô tả văn hoá doanh nghiệp theo cách tương tự Đó chính là “sự chia sẻ” về văn hoá doanh nghiệp
ĐẶC ĐIỂM
Trang 37+ Về nội dung: Doanh nghiệp xây dựng văn hóa doanh nghiệp thông qua việc lựa chọn một hệ thống các giá trị và triết lý, xác định cách thức ra quyết định và hành động điển hình thông qua nó
để tạo dựng hình ảnh, phong cách đặc trưng cho mình;
+ Về mục đích: các nội dung về văn hóa doanh nghiệp được xây dựng và triển khai nhằm định hướng nhận thức và hành động cho các thành viên tổ chức, giúp hình thành năng lực hành động nhất quán cho mọi thành viên;
+ Về ý nghĩa: từ việc xây dựng và triển khai VHDN của tổ chức về mặt quản lý nhằm giúp hiện thực hóa nhận thức, năng lực của các thành viên thành hành động thống nhất phù hợp với đặc trưng, mục tiêu của tổ chức, từ đó hình thành phong cách của tổ chức
Trang 38VAI TRÒ CỦA VĂN HÓA DOANH NGHIỆP
GIÚP NHÂN VIÊN THẤY ĐƯỢC GIÁ TRỊ CỦA BẢN THÂN VỚI TỔ CHỨC
Một tổ chức chỉ có thể phát triển khi tất cả mọi thành viên đều hiểu được họ đang đi đâu? Họ đang làm gì? Và vai trò của họ đến đâu? Với những mục tiêu rất cụ thể, họ được sống trong một môi trường tự do cống hiến, chia
sẻ ý tưởng, được ghi nhận khi thành công… tất cả đều được hiểu rằng, họ là thành phần không thể thiếu của công ty Họ như một mắt xích trong một chuỗi dây truyền đang hoạt động Và nếu mắt xích đó ngừng hoạt động, toàn bộ hệ thống cũng phải ngừng theo
Trang 39KHÍCH LỆ TINH THẦN LÀM VIỆC TẬP THỂ VỚI NHAU
Khi những chuẩn mực của xã hội về sự thành công không còn được đo bằng sự thành công của một cá nhân nữa, mà nó được đẩy lên tầm tập thể Và cho dù trên góc độ cá nhân, thì cá nhân đó sẽ không bao giờ được coi là thành công, nếu tập thể của anh ta không thành công, tức là chỉ có làm việc tập thể thì giấc mơ thành công của ta mới thành hiện thực Khả năng lãnh đạo được đo bằng khả năng lãnh đạo một tập thể Một tập thể càng lớn thì khả năng lãnh đạo càng cao, vàcàng
có nhiều người cùng tham gia thì công việc càng sớm được hoàn thành