1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

THIẾT KẾ MÁY BÀO CUỐN GỖ 2 MẶT

160 465 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 160
Dung lượng 3,27 MB
File đính kèm Ban ve.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với những ý nghĩa thiết thực trên, bản thân tôi được giao nhiệm vụ thiết kế MÁY BÀO CUỐN GỖ HAI MẶT là một trong những thiết bị chính trong ngành chế biến gỗ, là một trong những nguyên c

Trang 1

LỜI NÓI ĐẦUTrong quá trình đấu tranh cải thiện thiên nhiên nhằm mang lại lợi ích cho mình, con người phải chế tạo ra công cụ và thiết bị nhằm nâng cao hiệu quả lao động Nhịp độ phát triển của khoa học kỹ thuật ngày nay rất nhanh chóng, xuất hiện ngày càng nhiều chủng loại máy móc và mức độ phức tạp cũng như chất lượng máy móc ngày càng cao, làm cho khối lượng lao động, phí tổn và chu kỳ sản xuất ra chúng ngày càng nhiều.

Ngành chế tạo máy đóng vai trò then chốt trong công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, bảo đảm sản xuất ra nhiều thiết bị, công cụ cho mọi ngành trong nền kinh tế quốc dân Trong đó các ngành cắt gọt gỗ là trong những ngành công nghiệp lớn, phục vụ nhiều cho quốc kế dân sinh Chính vì vậy, ngay từ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Nghị Quyết của Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã chỉ rõ :”Phải đưa ngành chế biến gỗ lên thành một trong những ngành quan trọng nhất ” Hiện nay, ngành công nghiệp chế biến gỗ đang phát triển với qui mô chưa từng thấy Trên khắp đất nước có hàng trăm, hàng nghìn xí nghiệp chế biến gỗ, từ các cơ sở sản xuất nhỏ đến các cơ sở sản xuất lớn Trong đó có nhiều xí nghiệp xây dựng, thiết bị hiện đại với công suất lớn, nhiều xí nghiệp cũ cũng đã và đang được cải tạo, mở rộng đưa vào sản xuất

Với những ý nghĩa thiết thực trên, bản thân tôi được giao nhiệm vụ thiết kế MÁY BÀO CUỐN GỖ HAI MẶT là một trong những thiết bị chính trong ngành chế biến gỗ, là một trong những nguyên công đầu tiên để thực hiện quá trình gia công những chi tiết dạng gỗ Trên máy có khả năng gia công được nhiều chi tiết phôi có hình dạng kích thước, chiều dài và bề dày khác nhau Sản phẩm máy gia công có độ chính xác rất cao, độ bóng bề mặt sau khi gia công xong có thể đạt được từ ∆G7÷∆G9 Với loại máy này, người vận hành có thể dể dàng thực hiện các thao tác và điều khiển máy Đây là loại máy đang được sử dụng rộng rải trong các xí nghiệp chế biến gỗ ở nước ta, để sản xuất ra các loại đồ mộc dân dụng, các chi tiết gỗ công nghiệp kiến trúc, đòng tàu, toa xe, đặc biệt là sản xuất đồ mỹ nghệ chi tiết bằng gỗ xuất khẩu ra nước ngoài và tiêu thụ trong nước

Sau khi trình bày các khái niệm cơ bản về vật liệu gỗ, công nghiệp, nguyên lý gia công gỗ và các phương pháp bào cuốn gỗ hai mặt Tập thuyết minh đã đi sâu

Trang 2

vào phần lựa các phương án thiết kế máy bào cuốn hai mặt có hai trục dao(Trên và dưới) để thực hiện gia công cùng một lúc hai bề mặt gỗ Và kết thúc bằng các vấn đề vận hành, bảo quản máy, an toàn lao động khi thực hiện các thao tác trên máy

Trong quá trình hoàn thành nhiệm vụ thiết kế tốt nghiệp, với sự nổ lực của bản thân tự đi tìm hiểu, nghiên cứu, tham khảo các tài liệu liên quan gia công chế biến gỗ, cùng với sự giúp đỡ tận tình của thầy hướng dẫn Phạm Đăng Phước và các bạn đồng nghiệp Xong trong tập thuyết minh này không tránh khỏi những thiếu sót Vì kiến thức có hạn, bên cạnh lại thiếu các tài liệu cần thiết Rất mong sự thông cảm và góp ý của quý thầy cô để nội dung thuyết minh thiết kế máy này hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đà nẵng, Ngày 20 tháng 5 năm 2004

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Thượng Lý

Trang 3

PHẦN I:

GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT CHẾ BIẾN CÁC MẶT HÀNG GỖ TRONG

NƯỚC.

Trang 5

I.Vị trí của lâm sản trong nền kinh tế quốc dân

I.1 Lâm sản : Là nguyên liệu, vật liệu được sử dụng lâu đời và rộng rãi nhất, là một trong những vật tư chủ yếu của nền kinh tế quốc dân Lâm sản được dùng rộng rãi trong công nghiệp , nông nghiệp giao thông vận tải, kiến trúc xây dựng , giao thông vận tải

I.2 Lâm sản :Có thể thay thế bông vải, tơ tằm, lông cừu Với phương pháp chế biến hóa học từ 1m3 gỗ có thể phân ly thành 200 kg thớ và chế tạo ra 160 kg tơ nhân tạo , dệt vải có thể may được 300 bộ quần áo hoặc dệt thành 4000 đôi tất , tương đương với sản lượng bông của 1/2 ha trong 1 năm , hoặc bằng số tơ của 320.000 con tằm , hoặc bằng số lượng lông lấy được từ 25 đến 30 con cừu trong 1 năm

I.3 Với công nghệ thủy phân từ lâm sản có thể chế tạo thành đường, rượu, thức ăn cho gia súc, phần nguyên liệu chính để tạo nên tơ nhân tạo , làm phim, đĩa hát, giấy mica, áo mưa

I.4 Với công nghệ nhiệt phân từ gỗ tạo ra các sản phẩm than, axit axetit, phenol, rượu mêtylic, dầu gỗ

I.5 Gỗ có thể thay thế gang thép , gỗ do có nhiều tế bào hình ốnh tạo nên ,sau khi sấy khô, nước trong gỗ bốc hơi, nhường chỗ cho không khí Gỗ có khối lượng thể tích trung bình 0.5 đến 0.7 g/cm3, nếu lạng hoặc bóc gỗ thành những tấm mỏng , tấm keo, xếp thành nhiều lớp ngang dọc,rồi ép với áp suất và nhiệt độ cao sẽ biến gỗ thành loại vật liệu mới Loại gỗ này rất ít thấm nước, không co dản, cách nhiệt , cách điện tốt, chiệu được ma sát, khả năng chịu lực gần như gang thép, dùng

Trang 6

để sản xuất thoi dệt, bánh xe răng , các loại đinh ốc, ống dẫn trong các phân xưởng hóa chất

II Tìm hiểu chung về gỗ

II.1Cấu tạo của gỗ

- Cấu tạo gỗ là nhân tố ảnh hưởng đến tính chất của gỗ Cấu tạo và tính chất của gỗ có quan hệ mật thiết với nhau Cấu tạo có thể xem là biểu hiện bên ngoài tính chất Những hiểu biết về cấu tạo là cơ sở để giải thích bản chất các hiện tượng sản sinh trong quá trình gia công chế biến và sử dụng gỗ Muốn nhận được mặt gỗ, xác định tên để buôn bán và sử dụng cho thích hợp ,trước hết ta cần nắm vững những kiến thúc cơ bản về cấu tạo Trong thực tế có rất nhiều loại gỗ rất giống nhau cần đi sâu vào tìm hiểu để phân loại một cách chính xác, phải tiến hành khảo sát cấu tạo hiển vi của gỗ.Mặt khác do ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài, không những các loại gỗ khác nhau mà từng cây trong cùng một loài và ngay cả từng bộ phận khác nhau trong cùng một cây cũng có sự khác nhau Muốn phân tích được những hiện tượng đó, cần có những kiến thức sâu sắc và toàn diện về cấu tạo hiển vi của gỗ

- Tóm lại muốn nhận biết được tên gỗ cho chính xác, muốn tìm hiểu về tính chất gỗ, muốn áp dụng các biện pháp kỹ thuật thích hợp trong quá trình gia công chế biến, sử dụng hợp lý và tiết kiệm gỗ trước hết phải hiểu biết về cấu tạo của gỗ.Đây là một trong những biện pháp căn bản để nâng cao chất lượng sử dụng gỗ

- Giới thực vật chia làm hai nhóm : thực vật thượng đẳng và nhóm thực vật hạ đẳng

 Đối tượng nghiên cứu của gỗ là gỗ lá kim và gỗ lá rộng

Trang 7

 Ở mỗi loài thực vật thân gỗ chia làm ba phần :

- Rể giữ cho cây đứng vững, hút nước và muối khoáng từ trong lòng đất làm nguyên liệu cho quá trình quang hợp tạo chất dinh dưỡng nuôi cây

- Gốc, thân, cành vừa là sườn, cột chống đỡ tàn lá, vừa là đường dẫn truyền nhựa nguyên qua gỗ và nhựa luyện được vận chuyển qua vỏ xuống các bộ phận khác nuôi cây Đây là bộ phận cung cấp gỗ chủ yếu

- Lá là cơ quan hô hấp, thoát hơi nước để ổn định nhiệt độ cho cây, là nơi tổng hợp chất hữu cơ nuôi cây

-Thực vật thân gỗ không ngừng lớn lên theo đường kính Sinh trưởng theo chiều cao dựa vào tác dụng phân sinh của chồi ngọn Lớn lên theo đường kính chủ yếu do hoạt động của tầng phát sinh libe- gỗ Tế bào của tầng phát sinh không ngừng phân sinh ra những tế bào mới về phía bên trong làm thành vòng gỗ, về phía bên ngoài làm thành lớp vỏ Trong quá trình phân sinh này số tế bào cung cấp cho phần gỗ luôn luôn nhiều hơn tế bào cung cấp cho phần vỏ, nên sự tăng trưởng theo chiều ngang của thân cây chủ yếu do phần gỗ ngày một dày thêm

II.1.1Tính chất hóa học của gỗ

Trong quá trình cắt gọt, tính chất lý học của gỗ ảnh hưởngtrực tiếp và vô cùng phức tạp Chúng ta chỉ đề cập đến những tính chất lý học của gỗ có ảnh hưởng đến quá trình cắt gọt

Trang 8

học của gỗ và tất nhiên các hiện tượng xảy ra trong quá trình cắt gọt cũng thay đổi theo.

II.1.1.2.Khối lượng của gỗ

- Khối lượng riêng của bất cứ loại gỗ nàocủng gần bằng nhau là 1,54 g/cm3 Song khối lượng riêng của gỗ thì khác nhau, gỗ có khói lượng riêng càng cao thì càng khó gia công và ngược lại.Tuy vậy có một số loại gỗ có khối lượng riêng không cao lắm nhưng do cấu tạo của gỗ, lại khó gia công như ngát, ràng ràng

II.1.1.3 Nhiệt độ của gỗ

-Dưới tác dụng của nhiệt độ, gỗ sẽthay đổi tính chất cơ lý quá trình cắt gọt cũng thay đổi.Do đó trong nhiều khâu cắt gọt gỗ cần lưu ý đến vấn đề này

II1.1.4Tính chất cơ học của gỗ

-Quá trình tách gỗ thành phoi khỏi phôi bằng cắt gọt, nhiều hiện tượng cơ học xuất hiện: như biến dạng đàn hồi, xê dịch, uốn, nén Những hiện tượng này chịu ảnh hưởng nhiều của tính chất cơ học gỗ

II.1.1.5 Độ cứng vững và đàn hồi của gỗ

- Nói dến tính chất cơ học của gỗ là nói đến khả năng chống lai tác dụng của ngoại lực Trong đó đáng chú ý là độ cứng, độ bền vững theo kéo, nén, uốn, tách Gỗ là hợp chất hữu cơ tự nhiên mang 3 tính chất: đàn hồi, dẻo ,dai Vì vậy dưới tác dụng của ngoại lực, gỗ sẽ bị biến dạng, song khi ngoại lực thôi tác dụng , gỗ có xu hướng trở lại trạng thái ban đầu, nhưng do tính dẽo nên sau khi lực thôi tác dụng gỗ vẫn bị biến dạng Tất nhiên do tính không đồng nhất , nên hiện tượng biến dạng không giống nhau theo các chiều của thớ gỗ Đặt trưng là tỉ số :

ε = ∆L L

Trang 9

L - Lượng biến dạng (mm)

L - Kích thước ban đầu

ε - Biến dạng tương đối

II.1.1.6Ứng suất nén

- Gỗ có cấu tạo xốp, lúc bị nén gỗ có hiện tượng co lại theo chiều tác dụng cảu lực nén, mặt khác theo chiều vuông góc cối chiều của lực nén gỗ có xu hướng nở ra Nếu chúng ta tìm cách hạn chế sự nở đó thì quá trình biến dạng của gỗ trong lúc nén sẽ khác đi Đó là đặc điểm của quá trình nén gỗ Có hai quá trình

a) Nén hở là quá trình nén được tiến hành theo hai mặt đối diện của vật, còn các chiều khác hoàn toàn tự do Biến dạng tăng từ lúc có lực tác dụng đến ứng suất phá hủy Tất nhiên sự biến dạng này khác nhau khi ta nén theo các chiều thớ gỗ khác nhau: nén dọc thớ, nén tiếp tuyến và nén xuyên tâm Khi nén gỗ, gỗ co lại theo chiều của lực nén, song lại có xu hướng nở ra theo chiều vuông góc với lực nén.b) Nén kín là quá trình nén mà các phía khác nhau của vật nén đều bị giới hạn.Trong quá trình cắt gọt, tùy từng dạng , hiện tượng nén kín toàn phần, một phần, hoặc hở đều có thể xảy ra

II.1.1.7 Hiện tượng trượt của gỗ

- Dưới tác dụng của ngoại lực , các lớp gỗ thường bị trượt hoặc xê dich lẫn nhau Đặc trưng là ứng suất trượt τ ứng suất trượt của gỗ biểu thị khả năng chống lại sự xê dịch hoặc trượt Giữa các lớp gỗ dưới tác dụng của ngoại lực theo một tiết diện nào đó cùng nằm trong phương tác dụng của ngoại lực Vì vậy nó được tính bằng N/cm2.Khi lực tác dụng lên gỗ thì hiện tượng trượt của gỗ xảy ra phức tạp hơn

so với một số vật liệu khác.Điều này có thể thấy được lúc nén gỗ theo hướng xuyên tâm, khi tách hoặc chẻ

Trang 10

II.1.1.8 Sự phá hủy của các thớ gỗ

- Quá trình cắt gọt là quá trình phân chia phôi theo từng lớp phoi để tạo ra sản phẩm Nói cách khác nó được tiến hành bằng cách phá hủy mối liên kết giữa các thớ gỗ dưới tác dụng của ngoại lực Sự phá hủy mối liên kết này đã gây ra nhiều hiện tượng khác nhau Một trong những hiện tượng đó là sự biến dạng của phoi Sự biến dạng này xảy ra khi cắt gọt ở điều kiện khác với điều kiện thử tính chất cơ lý

III Phân loại nhóm gỗ

-Tiêu chuẩn về gỗ phải dựa trên cơ sở những tính chất tự nhiên của gỗ nguyên liệu và các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất đó, đồng thời căn cứ vào yêu cầu kỹ thuật và kinh nghiệm của từng ngành và người sử dụng, cũng như các điều kiện và khã năng sản xuất và chế biến gỗ

- Trong nền sản xuất phát triển, tiêu chuẩn hóa là động lực nâng cao chất lượng sản phẩm, sử dụng hợp lý nguyên liệu, giảm bớt phế phẩm, đơn giản hóa và hợp lý hóa toàn bộ quá trình sản xuất từ đầu đến thành sản phẩm Điều quan trọng hơn là tiêu chuẩn hóa có tác dụng thúc đẩy việc tổ chức lao động , và giá thành sản phẩm, tạo điều kiện để sản xuất liên tục hàng loạt làm cho sản phẩm không ngừng phát triển

- Tùy theo tính chất và phạm vi ảnh hưởng của các loại sản phẩm mà phân loại tiêu chuẩn thành cấp nhà nước, cấp ngành hay cấp xí nghiệp Trong đó các tiêu chuẩn đưa ra không phải là vĩnh cửu, mà có sự thay đổi sau từng thời kì lịch sử , theo sự phát triển của sản xuất và những tiến bộ kỹ thuật Việc xét tiêu chuẩn sao cho phù hợp với thực tế sản xuất và đời sống là việc làm có tính chất kế thừa và liên tục, nhằm thúc đẩy nền sản xuất và kỹ thuật phát triển tốt hơn

Trang 11

- Trong công nghệ khai thác rừng thì gỗ là tài nguyên lớn và có vai trò quan trọng nhất trong nền kinh tế quốc dân nên việc xây dựmg những tiêu chuẩn và phân loại gỗ là cần thiết.

- Để xây dựng tiêu chuẩn cho các sản phẩm của công nghệ khai thác rừng và chế biến gỗ cần phải nguyên cứu những tính chất tự nhiên của nguyên liệu gỗ , các giai đoạn sản xuất ra sản phẩm gỗ và các điều kiện sử dụng gỗ

- Nguyên cứu những tính chất tự nhiên của nguyên liệu gỗ cần chú ý đến cơ cấu các loại gỗ khác nhau , các tính chất cơ bản của từng loại cây khác nhau như cấu tạo , tính chất vật lí , tính chất cơ học , tính chất hóa học , độ bền tự nhiên , khuyết tật gỗ , các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu và tính chất của gỗ , các yếu tố liên quan khác như trữ lượng , khả năng cung cấp và gây trồng rừng cũng là đối tượng của tiêu chuẩn hóa và phân loại các hạng gỗ

- Qua các giai đoạn sản xuất ra sản phẩm gỗ, tính chất riêng biệt của từng sản phẩm được biểu hiện bằng hình dạng và kích thước của sản phẩm Mỗi phương pháp pha chế của từng giai đoạn khác chế biến khác nhau cho những sản phẩm có hình dạng và kích thước khác nhau Tùy theo các giai đoạn chế biến, các hạng gỗ có những hình dạng , phẩm chất và kích thước khác nhau Vì vậy chính nó là tiêu chuẩn để phân loại xếp hạng các sản phẩm của công nghệ gỗ

- Trong các điều kiện sử dụng sản phẩm gỗ thì mục đích sử dụng là yếu tố quan trọng nhất, chỉ khi biết rõ được mục đích sử dụng thì mới có thể biết chắt chắn những yếu tố kỹ thuật cần thiết trong phân loại xếp hạng, tức là những yêu cầu tối thiểu cần và đủ để thỏa mãn cho nhu cầu sử dụng

-Việc xây dựng các tiêu chuẩn và phân loại sản phẩm công nghệ gỗ xuất phát từ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế xã hội, là cơ sở không thể thiếu để sử dụng hợp lý

Trang 12

và tiết kiệm nguyên liệu gỗ, đồng thời đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt đến tay người sử dụng về mặt hình dạng, kích thướt, phẩm chất và các đòi hỏi khác Đó là nhiệm vụ của tất cả các ngành từ nguyên cứu khoa học đến sản xuất và sử dụng đều có nhiệm vụ tham gia.

- Dựa vào các điều kiện trên người ta phân loại gỗ thành 8 nhóm

Trang 13

+ BẢNG PHÂN LOẠI CÁC LOẠI GỖ SỬ DỤNG

Nhóm Số loại Ví dụ gỗ thuộc nhóm

Nhóm I Gồm 41 loại Cẩm lai, Dáng hương, Hoàng đàn, Huê mộc, Lát

xanh, Sơn huyết, Trầm hương

Nhóm II Gồm 26 loại Đinh, Dâu đen, Kiền kiền, Lim xanh, Nghiến, Sến

mật, Xoày, Trai lý, Song xanh, Táu nước

Nhóm III Gồm 24 loại Bàng lang, Bình linh, Cà chắc, Chai, Chò chi, Chua

khắc, Dâu vàng, Săng lẻ, Sao đen

Nhóm IV Gồm 34 loại Bời lờn, Chau chau, Dầu lông, Gội nếp, Hà nu, Long

não, Mít, Thông nàng

Nhóm V Gồm 65 loại Chò lông, Chò xanh, Chôm chôm, Dầu, Giẻ xanh,

Hoàng linh, Muồng, Sếu, Thông nhựa, Xà cừ

Nhóm VI Gồm 70 loại Bạch đàng chanh, Bứa núi, Khé, Lòng mang, Đước,

Mận rừng, Mù u, Quế, Thị rừng

Nhóm VII Gồm 46 loại Cao su, Cà lồ, Giẻ trắng, Trám trắng, Trám đen NhómVIII Gồm 48 loại Ba bét, ba soi, Chay, Dâu da bắc, Sồi bấc

Trang 14

PHẦN II :

GIỚI THIỆU VỀ NGUYÊN LÝ CẮT GỌT

GỖ

Trang 15

II Khái niệm về công nghệ gia công gỗ

II.1 Những đặc điểm chính của nguyên liệu làm đồ mộc

- Nguyên liệu làm đồ mộc khá phong phú, có nhiều loại như: gỗ xẻ, ván dăm, ván sợi ép , ván ép lớp , giấy trang trí bề mặt , chất dẻo, cốt ép

 Gỗ xẻ - Từ gỗ tròn qua quá trình cưa xẻ thành gỗ xẻ Trong sản xuất đồ mộc người ta dùng rộng rải tất cả các loại gỗ, tùy yêu cầu và mục đích sử dụng của sản phẩm Thường là các loại gỗ cá thớ mịn , vân hoa đẹp , ít co dãn , cong vênh , dễ dàng đánh vécni như : lát hoa , vàng tâm , mỡ , dổi , gụ , dẻ, xoan ta, Gỗ xẻ là nguyên liệu chủ yếu của các xí nghiệp sản xuất đồ mộc.Ván có ít nhất hai mặt song song với nhau Hộp cũng có ít nhất hai mặt song song với nhau, chiều dài hộp và ván đều trong khoảng từ 1-8 m Để hạn chế sự co ngót, cong vênh của gỗ khi lắp ghép thành đồ mộc, gỗ xẻ trước khi gia công đã được phơi sấy để giảm độ ẩm của nó đến mức quy định Do độ ẩm thăng bằng không khí của nước ta cao cho nên độ ẩm cuối cùng sau khi sấy của gỗ xẻ thường là 15%

 Ván dán gồm từ tấm ván mỏng trở lên được dán lại bằng các lớp keo, sao cho chiều thớ gỗ của hai lớp ván cạnh nhau vuông góc với nhau Ván dán thường dùng

3 loại keo chủ yếu là phenon, phooc man đê hýt, các ba mít và anbumin Ván dán nước ta sản xuất từ các loại gỗ như trám , vạng , ràng ràng, cống

 Ván dăm được chế tạo bằng cách trộn hỗn hợp giữa dăm (vỏ bào, gỗ vụn, mùn cưa được băm nhỏ) với keo rồi đem ép dưới một áp suất và nhiệt độ nhất định

 Ván sợi ép chế tạo từ các sợi gỗ được ép lại Ở nước ta hiện nay bước đầu đã sản xuất được loại ván này

Trang 16

 Ván mộc là tấm bên trong các đầu mẫu gỗ , bên ngoài được dán bằng ván mỏng hoặc ván dán

 Ván lạng là các tấm được lạng ra từ gỗ tròn hoặc các tấm gỗ thường , loại có vân thớ đẹp để dán trang trí bên ngoài của đồ mộc , như lát gội , sang , trám

II.2 Nhiệm vụ và nội dung của khoa học cắt gọt gỗ

 Để thực hiện được quá trình gia công gỗ bằng cơ giới , trong thực tiễn cần giải quyết hai vấn đề

- Một là cần có những thông số cơ bản ban đầu như lực , công suất , mối tương quan giữa các yếu tố Dựa trên những thông số cơ bản đó để tính toán thiết kế mới , cải tiến công cụ , máy thiết bị , giải quyết các quá trình gia công , tính toán kinh tế

- Hai là từ những điều kiện cho trước , như máy móc thiết bị , công cụ gỗ cần xác định chế độ gia công hợp lý để đạt dược năng suất cao nhất , hao tốn ít nhất về nguyên , nhiên liệu mà thành phẩm đạt được chất lượng cao nhất hoặc theo yêu cầu cho trước Hai vấn đề này có liên quan mật thiết với nhau , là một thể thống nhất của quá trình chế tạo và sử dụng Giải quyết vấn đề thứ nhất là giải quyết bài toán thuận , giải quyết vấn đề thứ hai là giải quyết bài toán nghịch Từ đó chúng ta thấy khoa học cắt gọt gỗ có nhiệm vụ cụ thể sau đây : xác định mối tương quan giữa các yếu tố của ba đối tượng vật liệu được gia công , công cụ cắt gọt và máy Ngoài

ra khoa học cắt gọt gỗ phải tìm các biện pháp gia công mới khoa học hơn , đạt kết quả cao hơn về năng suất , chất lượng , ứng dụng vào thực tế sản xuất để tạo ra các sản phẩm mới

Trang 17

 Giải quyết đúng đắn đối với khoa học cắt gọt gỗ sẽ tạo ra khả năng lớn cho việc hoàn thiện các quá trình kỹ thuật gia công chế biến gỗ , đẩy mạnh sản xuất đáp ứng được nhiệm vụ của ngành hiện nay cũng như sau này.

II.3 Các dạng gia công cắt gọt gỗ và những định nghĩa cơ bảnII.3.1 Các dạng gia công chế biến gỗ

- Công nghệ gỗ là tổng quát cả quá trình và cả phương tiện được áp dụng vào sản xuất để tạo ra được những sản phẩm từ gỗ

a) Gia công chế biến hóa học là quá trình gia công tạo từ gô ra các sản phẩm mà bản chất của gỗ đã bị thay đổi như sản xuất đường , giấy , rượu

b) Gia công cơ hóa là dạng gia công kết hợp giữa hóa học và cơ học như gia công áp lực có ngâm tẩm

c) Gia công chế biến cơ giới là quá trình gia công từ gỗ ra sản phẩm bằng cách thay đổi hình dạng , kích thướt , còn bản chất của gỗ thì cơ bản không thay đổi Dạng này có thể phân ra thành 4 phương pháp chủ yếu : gia công cắt gọt , gia công áp lực , gia công va đập , gia công tách chẻ

 Gia công cắt gọt làm pha hủy mối liên hệ giữa các phần tử vật chất gỗ theo một hướng nhất định nhờ công cụ cắt Vật gia công sẻ được chia thành hai thành phần cùng với phoi hoặc không có phoi Như cưa , bào bóc , phay , khoan là cắt gọt có phoi Như đột cắt, xén là cắt gọt không có phoi

 Gia công áp lực không làm phá hủy mối liên hệ giữa các phần tử của vật được gia công mà chủ yếu dùng áp lực để làm thay đổi hình dạng , kích thước vật gia công như kéo , nén uốn ,

Trang 18

 Gia công va đập làm phá hủy mối liên kết giữa các phần tử vật chất được gia công thành những phần nhỏ , không theo một dạng kích thướt hình hình học qui định trước , như gia công bọt gỗ làm giấy , thuốc súng ,

 Gia công tách chẻ làm phá hủy mối liên kết giữa các phần tử gỗ theo các lớp mà không theo một hướng nhất định cho trước ,như chẻ củi, tước gỗ,

II.3.2 Gia công cắt gọt cơ bản

a) Giới thiệu chung về nguyên lý cắt gọt gỗ

- Cắt gọt gỗ là quá trình cắt gọt lấy đi từvật gia công - phôi một lớp hoặc nhiều lớp phoi Quá trình này được thực hiện nhờ một vật rắn nhỏ có dạng hình nêm gọi là dao cắt Phần phôi còn lại với phoi được xác định theo một ranh giới quy định trước

- Cắt gọt là một quá trình công nghệ , nhờ tác dụng trực tiếp của dao mà phôi được phân chia để tạo ra sản phẩm có hình dạng và kích thước cho trước

- Phoi là một phần vật chất , thường rất nhỏ được cắt ra từ phôi sau một lần chuyển động của dao hoặc phôi Phoi được tạo ra phù hợp với khả năng cắt của dao và máy Như vậy , để thực hiện quá trình cắt gọt , phôi có thể đứng yên , dao chuyển động hoặc ngược lại Và sau mỗi lần chuyển động chúng ta sẽ có được một lớp phoi từ phôi Trong quá trình cắt gọt phải có hai chuyển động :

 Chuyển động thứ nhất là chuyển động của dao hay phôi để cắt được một lớp phoi Thường chuyển động này có tốc độ rất lớn gọi là chuyển động chính , được gọi là chuyển động cắt gọt Chuyển động tuyệt đối của dao hay phôi cần thiết và đủ để cắt được một phần phoi người ta gọi là chuyển động cắt gọt

 Chuyển động thứ hai là chuyển động của phôi hoặc dao để đảm bảo cho lần cắt tiếp theo tạo ra phoi mới Thường chuyển động này có tốc độ rất nhỏ so với

Trang 19

chuyển động thứ nhất gọi là chuyển động phụ , hay còn gọi là chuyển động ăn dao Chuyển động tuyệt đối của phôi hay dao để đảm bảo cho lần cắt tiếp theo tạo ra phoi mới gọi là chuyển động ăn dao

-Như vậy trong quá trình cắt gọt của dao được tiến hành theo một chu kỳ nhất định , cứ mỗi một chu kỳ chúng ta có được một phoi Trong một chu kỳ dao hoàn thành hai bước , nếu phôi đứng yên và ngược lại nếu dao đứng yên Bứoc thứ nhất trong chu kỳ phoi sẽ được cắt ra , ta gọi là bước hữu ích hoặc là bước có công Bước thứ hai dao hoặc phôi trở về vị trí ban đầu để chuẩn bị cắt phoi mới , trong bước này phoi không được tạo ra , người ta gọi là bước vô ích hay còn gọi là bước không công

-Nếu trong quá trình cắt gọt ở khoảng thời gian nào đấy không có chuyển động ăn dao mà chỉ có chuyển động cắt gọt, thì đường mũi dao vẽ nên gọi là quỹ đạo cắt gọt Ngược lại, nếu như trong quá trình cắt gọt, ở khoảng thời gian nào đấy không có chuyển động cắt gọt, thì quỹ đạo mũi dao vẽ nên gọi là quỹ đạo cắt gọt tương đối hay còn gọi là quỹ đạo cắt gọt thực

-Tốc độ chuyển động dao hoặc vật gia công theo quỹ đạo cắt gọt gọi tốc độ cắt gọt Vậy tốc độ cắt gọt là quảng đường đi được của dao hoặc phôi theo quỹ đạo cắt gọt trong một đơn vị thời gian, thường được kí hiệu bằng chữ v, đơn vị là mét/giây (m/s).Tốc độ của dao hoặc phôi theo quỹ đạo ăn dao, người ta gọi là tốc độ

ăn dao Vậy tốc độ ăn dao là quảng đường đi được của dao hoặc phôi theo quỹ đạo

ăn dao trong một đơn vị thời gian Thường tốc độ này được kí hiệu bằng chữ U Đơn

vị là mét/ phút ( ph m ).Trong gia công chế biến gỗ, tốc độ ăn dao có thể đạt tới 150 m/phút Nếu cả hai chuyển động đồng thời tồn tại, thì dao sẽ chuyển động tương

Trang 20

quan với phôi theo tốc độ bằng tốc độ tổng hợp hai vectơ tốc độ trên, người ta gọi là tốc độ tương đối hay gọi là tốc độ thực của dao Thường kí hiệu là Vt

-Vậy tốc độ tương đối hay tốc độ thực của dao hoặc phôi là quãng đường đi được của dao hoặc phôi theo quỹ đạo thực trong một đơn vị thời gian

Vt =v+u

b) Phân loại cắt gọt gỗ

- So với các quá trình cắt gọt một số nguyên vật liệu khát, quá trình cắt gọt gỗ phức tạp hơn.Vì gỗ có cấu trúc không đồng nhất, hơn thế nữa trong nhiều dạng gia công gỗ, phoi lại là thành phẩm, để đảm bảo cho phoi trong trường hợp này có chất lượng thì việc nguyên cứu các quá trình cắt gọt chúng đòi hỏi mức độ cao hơn

Do đó trong quá trình nghiên cứu cắt gọt gỗ người ta chia làm hai bước hay hai giai đoạn: bước thứ nhất là nghiên cứu cắt gọt cơ bản và bước thứ hai là nghiên cứu cắt gọt chuyên dùng

 Cắt gọt cơ bản -đặc điểm của cắt gọt này là có hạn chế một số điều kiện của các yếu tố tham gia vào quá trình cắt gọt, nhằm đưa đến dạng căn bản nhất, để dễ nghiên cứu chúng Những kiến thức nghiên cứu được về cắt gọt này sẽ làm cơ sở để nghiên cứu các dạng cắt gọt chuyên dùng

∗Dạng cắt gọt cơ bản có bốn đặc điểm sau đây:

- Qúa trình cắt gọt được thực hiện ở một cạnh chính của dao cắt, dao phải có dạng hình nêm, các mặt trước, sau của dao phải là mặt phẳng, góc cắt, góc sau phải cố định, độ dài của cạnh cắt phải lớn hơn chiều rộng của phôi và chiều rộng của phoi, hình thức cắt như vậy người ta gọi là cắt hở Nếu quá trình cắt gọtđược thực hiện ở hai cạnh cắt, chiều rộng của dao bằng chiều rộng của phoi, chiều rộng của

Trang 21

phôi lớn hơn chiều rộng của dao người ta gọi là cắt nửa kin Nếu như trong quá cắt gọt được thực hiệnở ba cạnh của dao và tạo ra ba mặt cắt, chiều rộng phoi bằng chiều rộng dao, chiều rộng phôi lớn hơn chiều rộng dao người ta gọi là cắt kín Hình thức đầu thuộc cắt cơ bản, còn hình thức hai và ba thuộc cắt phức tap.

- Qũy đạo cắt gọt thực của dao phải là đường thẳng, tốc độ cắt và tốc độ ăn dao cố định, hướng của các tốc độ cắt phải vuông góc cới cạnh cắt và không đổi

- Chiều dày của phoi là một đại lượng cố định

- Đặc điểm cuối cùng là mặt phẳng chuyển động và hướng chuyển động của dao phải vuông góc hoặc song song với chiều của thứ gỗ Từ đặc điểm này trong cắt gọt gỗ có thể có ba trường hợp cắt gọt cơ bản sau đây: cắt ngang, cắt dọc và cắt bên Chúng ta sẽ xét kĩ ở chương sau

Cắt gọt chuyên dùng - tức là các dạng cắt gọt đã được ứng dụng vào những trường hợp gia công cụ thể, nhằm những mục đích công nghệ nhất định như cưa, bào, lạng, phay Thường thì các dạng này phức tạp hơn, số lượng yếu tố tác động lên quá rình cắt gọt cũng nhiều hơn

Quá trình cắt gọt có 3 dạng : cắt hở , cắt nửa kín và cắt kín

Trang 22

Bp B

cắt hở

cắt nửa kín

Bd

Bp

Trang 23

cắt kín

Bd

Bp B

II.3.3 Những nhân tố ảnh hưởng đấn quá trình cắt gọt

- Gỗ là đối tượng gia công của ngành chế biến gỗ bằng cơ giới Gỗ có những tính chất đặc thù của nó Vì vậy để hiểu được các hiện tượng xảy ra trong quá trình cắt gọt gỗ, chúng ta xét những tính chất chính của gỗ có ảnh hưởng đến quá trình cắt gọt

a Hướng cắt : Theo ba mặt phẳng mặt cắt đầu , cắt xuyên tâm , cắt tiếp tuyến gỗ có những tính chất khác nhau Vì thế , theo các hướng cắt khác nhau thì trị số cản cắt sẽ khác nhau

b Loại gỗ : Loại gỗ khác nhau , tính chất của gỗ cũng khác nhau, bởi vậy trị số công suất cắt khác nhau và phụ thuộc vào loại gỗ thuộc nhóm nào

c Độ ẩm của gỗ: Đọ ẩm của gỗ có ảnh hưởng đến quá trình cắt gọt Tăng hay giảm độ ẩm của gỗ dẫn đến thay đổi tính chất cơ học của gỗ và tất nhiên các hiện tượng xảy ra trong quá trình cắt gọt cũng thay đổi theo Gỗ có độ ẩm càng lớn thì trở lực cản cắt càng nhỏ và cũng dễ bị sơ tướp Đối với trường hợp cắt dọc và

Trang 24

ngang thớ thì khi độ ẩm gỗ càng lớn thì công suất cắt sẽ giảm nhưng đối với cắt mặt đầu thì giảm không đáng kể.

d Khối lượng riêng của gỗ : Khối lượng riêng tuyệt đối của bất cứ loại gỗ nào cũng gần bằng nhau và bằng 1,54 g/cm3 Song khối lượng riêng của gỗ thì lại khác nhau , gỗ có khối lượng riêng càng cao thì càng khó gia công và ngược lại

e Nhiệt độ của gỗ : Dưới tác dụng của nhiệt độ gỗ sẽ thay đổi tính chất

cơ lý và quá trình cắt gọt cũng thay đổi

f Chiều dày phoi : Khi chiều dày cắt của phôi tăng thì công suất cắt sẽ giảm Phoi càng dày thì trị số công suất cắt riêng giảm và ngược lại

g Góc cắtδ , góc sauα, và góc mài trướcβ : Trị số góc cắt tăng lên ( khi góc sau không đổi ) trị số công suất cắt sẽ tăng lên Khi tăng góc sau trong giới hạn nhất định thì công suất cắt sẽ giảm xuống Nhưng nếu trị số góc sau tiến gần đến 00 thì không được vì cạnh cắt sau của lưỡi dao cắt sẽ tiếp xúc nhiều với gỗ gây nên sự biến dạng

h Mức độ cùn của dao : Lưỡi dao bao giờ cũng có một độ cùn nhất định , trong khi làm việc nó ngày càng bị cùn hơn ảnh hưởng đến quá trình cắt gọt và giảm độ chính xác gia công

k Tốc độ cắt : Khi tăng tốc độ cắt từ 30 đến 50-60 m/s công suất cắt riêng giảm nhưng tăng tốc độ cắt lên cao hơn nữa thì công suất cắt tăng lên

II.4 Chế độ cắt

-Để thực hiện một nguyên công cắt gọt gỗ , cần phải có nhiều điều kiện khác nhau gọi là chế độ cắt Những điều kiện đó là các thông số góc của dao, tốc độ cắt và tốc độ đẩy

Trang 25

-Trong quá trình làm việc phải biết chọn các loại dụng cụ cắt, tốc độ đẩy cho thích hợp, còn tốc độ cắt là trị số có thể thay đổi được.Trong lựa chọn chế độ cắt phải nhằm mục đích đạt được năng suất cao nhất.

-Cần tính toán từng yếu tố trong chế độ để có bề mặt gia công đạt độ nhẵn cần thiết, sử dụng hết công suất và khả năng gia công của dụng cụ cắt

Trang 26

PHẦN III

THIẾT KẾ MÁY BÀO CUỐN ĐỂ GIA CÔNG GỖ

Trang 27

III Giới thiệu về máy bào gia công gỗ

 Máy bào thẩm hai mặt

 Máy bào cuốn gỗ một mặt

 Máy bào cuốn gỗ hai mặt

 Máy bào cuốn gỗ bốn mặt

+ Quy cách sản phẩm gia công trên máy

- Sản phẩm gia công trong máy bào cuốn gỗ bao gồm ván lạng , ván bóc, ván gián mặt, đạt dược độ nhẵn bóng từ ∆G7 − ∆G10

- Sản phẩm gia công có độ ẩm tương đối thấp, gần độ ẩm thăng bằng 12%- 19%

- Sản phẩm tạo ra có chiều dày nhỏ, tiết diện ngang và dọc đều có dạng hình chữ nhật, mặt cắt bao giờ cũng trùng với mặt gia công, chiều rộng của phoi bằng chiều rộng vật cắt

III.3 Phân tích các phương án máy và lựa chọn phương án

hợp lý

III.3.1 Các phương án

a Phương án thứ nhất:

b Phương án thứ hai:

Trang 28

III.3.2 Phân tích các phương án

2.1 Phương án 1: Máy bào cuốn gỗ hai mặt dùng trục cuốn, cuốn gỗ:

15

14

Hình 6: Sơ đồ động học máy bào cuốn gỗ hai mặt dùng trục cuốn cuốn gỗ

1 Bàn di động phía sau trục dao dưới

2, 3, 6, 9, 10 Trục đẩy gỗ

4 Quả nén phôi

5 Trục dao dưới

14 Tay quay nâng hạ bàn theo chiều cao

b) Nguyên lý hoạt động:

Trang 29

Máy bào cuốn gỗ hai mặt có hai trục dao: Dao trên và dao dưới, trục đẩy phía dưới 2 cùng với bàn 7 làm thành một khối Nhờ tay quay 11, nó có thể thay đổi vị trí theo chiều cao tuỳ theo kích thướt của phôi gia công.

Bàn 1 và trục đẩy 2 điều chỉnh lên xuống theo chiều cao nhờ tay quay 15, phụ thuộc vào chiều dày mỗi lần bào Trục đẩy 10 cũng được điều chỉnh được so với mặt bàn Phôi được ép xuống mặt bàn nhờ các trục đẩy 3, 6, 9 và quả nén phôi 4 đã giữ cho phôi ổn định khi gia công

• Ưu điểm:

Máy bào cuốn hai mặt có năng suất cao

Bào được hai mặt cùng một lúc

Kết cấu tương đối gọn

Trang 30

14 13 12

11 10 09 08 07 06

05 04 03 02 01

15 16 17 18 19 20 21

22

23

24 25

Hình 8: Sơ đồ cấu tạo máy bào cuốn gỗ hai mặt dùng băng tải cuốn gỗ

1 Động cơ nâng hạ bàn

2 Bộ truyền trục vít bánh vít

3 Thân máy

4 Bộ truyền vít đai ốc

5 Tay quay điều chỉnh

17, 21 Trục dao trên và trục dao dưới

19 Bàn máy sau

Trang 31

23, 24, 25 Xích, bộ phận căng xích và bánh xích

b) Nguyên lý hoạt động:

Máy bào có bàn máy trước 7 di động lên xuống được nhờ tay quay 5, bàn máy sau 19 được cố định vào thân bàn máy Trong quá trình gia công phôi được đưa vào máy nhờ băng tải10 Phôi được ép xuống mặt bàn nhờ các trục trơn 8, 16, 20, 22, làm cho phôi ổn định và di chuyển được nhẹ nhàng trong khi gia công

Tuỳ theo kích thước của phôi đưa vào, ta điều chỉnh thân máy trên cao thấp thông qua động cơ nâng hạ 1 và các cơ cấu dẫn động khác

Cơ cấu truyền động đẩy gỗ bao gồm: Động cơ điện qua hộp giảm tốc thông qua hệ thống xích đến băng tải 10, trục cuốn 18 và các trục trơn Thay đổi tốc độ đẩy gỗ bằng cách thay đổi cấp tốc độ động cơ

• Ưu điểm:

Máy bào hai mặt dùng băng tải cuốn gỗ có năng suất rất cao, làm việc êm ít gây tiếng ồn

Chất lượng sản phẩm cao, đạt yêu cầu độ chính xác gia công

Bào được cùng lúc hai mặt, nhờ lưỡi cắt hợp kim cứng và tốc độ cao nên sản phẩm cho ra rất đẹp và chính xác

Bào được những chi tiết dày và có chiều dài lớn

Phôi khó bị đẩy lùi

• Nhược điểm:

Có kết cấu tương đối phức tạp

Chỉ phù hợp với dạng gia công loạt lớn ở những phân xưởng lớn

Không bào được những chi tiết ngắn hơn khoảng cách giữa băng tải và trục cuốn

3 Lựa chọn phương án hợp lý để thiết kế:

Qua sự phân tích các dạng máy bào gỗ đặc biệt máy bào cuốn hai mặt, so sánh

ưu nhược điểm của từng hai loại máy trên, tôi thấy máy bào hai mặt dùng băng tải cuốn gỗ rất phù hợp với sự phát triển của công nghệ chế biến gỗ ở nước ta hiện nay Tôi chọn phương án thiết kế này bởi những lý do sau đây:

Trang 32

 Sản phẩm gỗ hiện nay rất được ưa chuộng và tiêu thụ rất lớn trên thị trường

Do đó cần có những máy có năng suất cao để đáp ứng được

 Sản phẩm làm ra trên máy có chất lượng và độ chính xác cao mà những máy khác không thể đáp ứng được

 Máy có độ cứng vững và tính ổn định cao Ít gây tiếng ồn nhờ có bằng tải cuốn gỗ

 Máy dùng cơ cấu băng tải để cuốn gỗ rất nhanh và tiện lợi, phôi không bị đẩy lùi

4 Đối tượng mà máy sẽ gia công

- Máy bào cuốn gỗ có các đối tượng gia công như sau: Ván lạng, ván bóc, ván dán mặt, ván dăm

- Đối tượng gia công của máy bào cuốn gỗ rất nhiều, song lấy phôi liệu cơ bản ban đầu làm cơ sở để tính toán thiết kế Phoi tạo ra có chiều dày nhỏ, tiết diện ngang và dọc có hình dạng chữ nhật với các kích thước như sau:

 Chiều rộng của sản phẩm gia công B = 350 mm

 Chiều dài của sản phẩm gia công L = 2000 mm

 Chiều cao của sản phẩm gia công H = 140 mm

Trang 33

- Đảm bảo được độ nhẵn theo yêu cầu ∆G7 − ∆G8 vật liệu gỗ ban đầu thuộc nhóm II với các thông số sau:

 Ứng suất nén dọc 525.105N / mm2

Kích thước cơ bản của bàn máy :

+ Chiều dài lớn nhất của bàn máy : 2670 mm

+ Chiều rộng lớn nhất của bàn máy : 1240 mm

Kích thước cơ bản của phôi liệu mà máy sẽ gia công được

+ Chiều dài lớn nhất 170 mm

+ Chiều dày lớn nhất 20 mm

+ Chiều rộng lớn nhất 1200 mm

Các thông số động học :

Chọn theo máy chuẩn :

+ Công suất động cơ của hai trục dao : N =11 KW

- Số vòng quay : n = 1450 v/p

Trang 34

+ Công suất động cơ cho bộ truyền xích : 2,2 KW.

- Số vòng quay : n = 1420 v/p

+ Công suất của động cơ nâng hạ bàn máy N = 1/2 HP = 0,75 KW

- Số vòng quay n = 1450 v/p+ Vận tốc nâng hạ bàn máy v = 8 m/s

+ Sản phẩm gia công có độ chính xác ∆G7÷∆G9

3.1 Tính và chọn lại tốc độ của 2 trục dao, tốc độ đẩy gỗ và chọn lại công suất cắt

4 5 6 7

Trục dao bào

1- Gối đỡ trục2- Bánh đai bị động 3- Ốp lưỡi dao bào4- Vít điều chỉnh dao5- Lưỡi dao

6- Bu lông

Trang 35

7- Thân trục

- Máy bào cuốn gỗ hai mặt gồm có hai trục dao: Trục dao trên và trục dao dưới Từ kích thước ban đầu cũng như các tính chất của vật liệu gỗ như: kích thước, độ bóng, ứng suất, độ ẩm, Từ đó ta có thể xác định được công suất cắt, tốc độ cắt của dao

- Do máy gia công vật liệu là gỗ có hai mặt tương đối giống nhau, nên để thuận tiện việc tính toán thiết kế dao bào dưới và dao bào trên ta chỉ cần tính toán thiết kế cho một dao Về cấu tạo của dao, công suất động cơ truyền cho dao, tốc độ cắt, kích thướcvà đường kính của dao

- Để chọn đường kính và các thông số của dao thông thường được dựa vào 3 chỉ tiêu để đánh giá:

 Chất lượng sản phẩm gia công là tốt nhất

 Lực cắt nhỏ nhất

 Không xảy ra hiện tượng gãy quá lớn (do hao mòn đột biến)

- Để thực hiện chuyển động bào nhẵn hai mặt phẳng song song (trên, dưới) của vật liệu ,dao thường quay tròn (tại chỗ), gỗ chuyển động tịnh tiến theo chiều chuyển động mang tải đẩy gỗ Trục dao được gắn vào bàn máy và nhô lên khỏi mặt bàn 0.5-0.7 mm

- Góc cắt δ được tạo thành giữa mặt trước của dao cắt và mặt cắt Để tránh hiện tượng xước thớ gỗ, nên chọn góc cắt phải nhỏ

 δ =450 −550 ( sách máy gia công gỗ của Hoàng Nguyên trang 25 )

- Góc sau α là góc được tạo thành giữa mặt sau của dao cắt và mặt cắt

0

10

Trang 36

- Góc trước γ là góc được tạo thành giữa mặt trước và mặt phẳng vuông góc với mặt cắt đi qua cạnh cắt chính của dao cắt.

0

0 35

- Với các điều kiện trên ta chọn kích thước của dao như sau:

 Đường kính của dao D=124 mm

 Thông số kích thước của dao 610×6.35×38 mm

 Với số lượng dao cắt 4 dao

 Vật liệu của dao BK8 ( hợp kim cứng một cácbít )

 Góc cắt δ =450

 Góc sau α =100

 Góc trước γ = 450

 Góc mài β =350

 Số vòng quay của dao 4000 v/p ( chọn theo máy chuẩn DSP )

- Trục dao được lắp 4 lưỡi dao, để giữ chặt trục dao trên trục dao ta dùng các

bu lông và ốp

Trang 37

β γ

3.2 Tốc độ đẫy của băng tải

- Trong quá trình thực hiện chuyển động cắt gọt, ngoài chuyển động cắt chính còn có chuyển động chạy dao đó được gọi là chuyển động đẩy Còn tốc độ đẩy phoi được kí hiệu: u , đơn vị m/ph

- Trên máy bào cuốn gỗ hai mặt, việc lựa chọn tốc độ đẩy gỗ tùy thuộc vào chiều dày phôi, chiều rông gỗ cần bào, độ cứng của gỗ và cấp độ nhẵn bóng của đối tượng gia công

- Cấp độ nhẵn bóng và chế độ cắt được xác định như sau

L

L 1

L L

R : bán kính vòng tròn cắt

Trang 38

l : chiều dài vết gợn sóng

y :chiều cao nhấp nhô của sóngCông thức tính chiều dài nhấp nhô sóng

u : lượng đẩy của gỗ vào một dao

- Do phôi là các loại gỗ như kiềng kiềng, thông, gỗ dẻ, thuộc nhóm hai có:

 Cấp độ nhẵn bóng g∆7÷g∆8

 Số vòng quay của dao n = 4000 v/p

 Trục dao được lắp z = 4 lưỡi dao bào

 Chiều dày của lớp phôi h = 5 mm

- Ta có trị số chiều cao gợn sóng y đối với g∆7÷g∆8 không vượt quá 0.1mm

- Từ công thức

R

l y

Trang 39

- Tốc độ đẩy được tính theo công thức

z n

u u

.71000

=u

-Theo bảng 32 trang 88 sách máy gia công gỗ Phạm Quang Đẩu

Chọn tốc độ đẩy u= 28 m/p

Suy ra 1,8

4

2,74

= z z

u

u mm Chọn uz=18 mm3.3 Xác định công suất cắt cần thiết của động cơ

- Xác định công suất cắt cần thiết của động cơ dựa theo tốc độ đẩy u = 28 m/p và lượng đẩy của gỗ vào một dao u z =1,8 m/p

- Từ công thức tính công suất động cơ trang 36 sách máy gia công gỗ Phạm Quang Đẩu

Trang 40

60

2853504.3102

Ngày đăng: 17/11/2016, 13:59

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 8: Sơ đồ cấu tạo máy bào cuốn gỗ hai mặt dùng băng tải cuốn gỗ - THIẾT KẾ MÁY BÀO CUỐN GỖ 2 MẶT
Hình 8 Sơ đồ cấu tạo máy bào cuốn gỗ hai mặt dùng băng tải cuốn gỗ (Trang 30)
Hình vẽ biểu đồ mo men đối với trục vít - THIẾT KẾ MÁY BÀO CUỐN GỖ 2 MẶT
Hình v ẽ biểu đồ mo men đối với trục vít (Trang 124)
Hình vẽ biểu đồ mômen đối với trục bánh vít - THIẾT KẾ MÁY BÀO CUỐN GỖ 2 MẶT
Hình v ẽ biểu đồ mômen đối với trục bánh vít (Trang 126)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w