LỊCH SỬ VĂN HỌC TRUNG QUỐC của trường TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC VÀ NHÂN VĂN TP.HCM KHOA NGỮ VĂN VÀ BÁO CHÍ TS. TRẦN LÊ HOA TRANH TƢ LIỆU THAM KHẢO. 1.Bài giảng văn học Trung Quốc Lƣơng Duy Thứ NXB ĐH Tổng Hợp TP.HCM 1995. 2.Văn học Trung Quốc giản yếu Phạm Thị Hảo NXB ĐHTH TP.HCM 1992. 3.Thơ ca cổ điển Trung Quốc GS. Lƣơng Duy Thứ chủ biên NXB Trẻ Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TP.HCM 1997. 4.Thơ văn cổ Trung Hoa, mảnh đất quen mà lạ Nguyễn Khắc Phi
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
VÀ NHÂN VĂN TP.HCM KHOA NGỮ VĂN VÀ BÁO CHÍ
Trang 2TƯ LIỆU THAM KHẢO 1.Bài giảng văn học Trung Quốc- Lương Duy Thứ- NXB ĐH Tổng Hợp TP.HCM
1995
2.Văn học Trung Quốc giản yếu- Phạm Thị Hảo- NXB ĐHTH TP.HCM 1992 3.Thơ ca cổ điển Trung Quốc- GS Lương Duy Thứ chủ biên- NXB Trẻ- Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học TP.HCM 1997
4.Thơ văn cổ Trung Hoa, mảnh đất quen mà lạ- Nguyễn Khắc Phi- NXB Giáo dực
8.Khái yếu lịch sử văn học Trung Quốc (2 tập)- NXB Thượng Hải 2000
9.Câu chuyện văn chương phương Đông- Phan Nhật Chiêu- NXB Giáo dục 1997
10 Giáo trình văn học Phương Đông- Lương Duy Thứ chủ biên- NXB ĐH Quốc gia TP.HCM 1999
7.Các bộ tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc tiêu biểu: Tam quốc chí, Thủy hử, Tây
du ký, Hồng Lâu Mông, Liêu trai chí dị, Kim Bình Mai, Chuyện làng nho… 8.Truyện ngắn Lỗ Tấn, kịch Tào Ngu, thơ Quách Mạt Nhược…
9.Truyện Giả Bình Ao, Kim Dung, Quỳnh Dao
A.NHỮNG VẤN ĐỀ GIỚI THUYẾT
(3 tiết)
A.1.CÁCH CHIA THỜI KỲ VĂN HỌC
Văn học Pháp chia làm nhiều thời kỳ, mỗi thời kỳ tương ứng với một thế kỷ: như thế kỷ XVII là thời kỳ cổ điển, thế kỷ XVIII là thời kỳ ánh sáng, thế kỷ XIX là lãng mạn…
Văn học Anh vừa chia theo thế kỷ, như thế kỷ XVIII là thế kỷ xung đột giữa hai phái duy lý và kinh nghiệm, nhưng cũng chia theo từng triều đại, như có triều đại Elisabeth, tức thời kỳ văn học Phục hưng, triều đại Victoria, là thời kỳ văn học hiện thực…
Trang 3Nhưng văn học Trung Quốc thì ta phải chia theo triều đại Các học giả Trung Hoa
từ xưa đến nay đều nhận rằng ở nước họ, chính trị ảnh hưởng mật thiết đến văn học Các thể loại văn học đều nhờ sự thúc đẩy, giúp đỡ của chính trị mà phát triển, như phú thịnh đời Hán, thơ thịnh đời Đường, từ đời Tống, tuồng đời Nguyên, tiểu thuyết đời Minh- Thanh…
Như vậy chúng tôi sẽ triển khai học phần này theo hướng trên, đi vào từng triều đại, nêu nét nổi bật, thành tựu văn học của triều đại đó, triều đại nào không có gì nổi bật
sẽ bỏ qua
Bố cục chung của mỗi phần sẽ là:
- Vài nét về tình hình chính trị- xã hội
- Tình hình văn học
- Các tác giả hoặc thể loại chính của thời kỳ đó
A.2.CÁC TRIỀU ĐẠI LỊCH SỬ TRUNG HOA
Khoảng 50 vạn năm trước, trên lưu vực sông Hoàng Hà đã có dấu vết của loài người, tính từ khi có xã hội loài người thì lịch sử Trung Quốc đã tồn tại khoảng 5000 năm Người ta chia lịch sử Trung Quốc làm 6 giai đoạn lớn:
-Nguyên thủy: hàng vạn năm về trước đến đời Hạ (-2200)
-Nô lệ: Hạ đến Tần (-220)
-Phong kiến: Tần đến chiến tranh thuốc phiện (-220 đến 1840)
-Cận đại: chiến tranh thuốc phiện đến 1919
-Hiện đại: từ 1919-1949
-Đương đại:từ 1949 đến nay
Đó là cách phân chia lịch sử của các nhà nghiên cứu Trung Quốc, còn đối với các học giả phương Tây thì lịch sử Trung Quốc chỉ được xác định rõ ràng từ năm 1000 trước Công nguyên mà thôi Theo họ, cuốn sách lịch sử cổ nhất là Kinh Thư của Khổng Tử (cuốn sách này cho rằng lịch sử Trung Quốc bắt đầu từ năm 2205 trước Công nguyên ) là cuốn sách không đáng tin cậy vì không thể kiểm chứng được mức độ chân thực lịch sử từ
nó vì đây là một tác phẩm văn chương Họ chỉ công nhận lịch sử Trung Hoa từ đời Chu trở đi (-1150 )
Tương truyền rằng ông tổ của dân tộc Trung Hoa là Bàn Cổ Rồi tới các đời Tam Hoàng (Thiên hoàng, Địa hoàng, Nhân hoàng), Hữu Sào, Toại Nhân, Phục Hy, Thần Nông Lúc bấy giờ Trung Quốc gồm nhiều bộ lạc
Hoàng Đế (-2700 đến –2600) dẹp các chư hầu và được tôn làm thiên tử, truyền ngôi được 5 đời (Ngũ Đế)
Sau đó đến Đường Nghiêu (-2359 đến –2259) và Ngu Thuấn (-2256 đến -2208) Hai vua Nghiêu Thuấn đều nhưòng ngôi cho những người tài đức trong thiên hạ Trung Quốc thời này rất thịnh trị và văn minh, đây là những triều đại đưọc đời sau nhắc đến như một mẫu mực của sự thái bình, an lạc Vua Nghiêu, Thuấn được xem như những ông vua hiền, tài giỏi
Đến vua Võ (nhà Hạ) (-2205 đến –1784), Trung Quốc bắt đầu là một nước có tổ chức, ngôi báu lại là cha truyền con nối đến vua Kiệt Vua Thành Thang diệt vua Kiệt lập ra nhà Thương (-1783 đến –1135), An là cuối Thương (thời Thánh Gióng ở ta), đến đời vua Trụ lại bị nhà Chu diệt
Nhà Chu chia làm hai thời kỳ: thời kỳ thứ nhất đóng đô ở đất Phong nên gọi là Tây Chu (-1134 đến –770), đến đời U Vương sợ rợ Tây Nhung nên dời đô đến Lạc Dương, gọi là Đông Chu (-770 đến –247) Từ khi nhà Chu dời sang Đông, vua suy nhược, chư hầu lộng quyền, đánh nhau không ngớt, dân tình vô cùng khốn khổ Đầu nhà Chu, chư hầu có đến trên 1000, thôn tính lẫn nhau sau còn độ 100, những nước mạnh là:
Trang 4Tề, Sở, Tấn, Tần, Lỗ, Tống Những nước này thay nhau làm Bá là Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tống Tương Công, Sở Trang Công, Tần Mục Công Khổng Tử chép thời loạn lạc ấy trong cuốn kinh Xuân Thu, vì thế người đời sau gọi thời này là thời Xuân Thu
Từ năm –403 đến –221, các chư hầu đánh nhau liên miên, đó là thời Chiến Quốc,
có 7 nước mạnh nhất là Tần, Sở, Yên, Tề, Triệu, Ngụy, Hàn Sau Tần diệt nhà Chu và 6 nước chư hầu kia, thống nhất Trung Quốc
Nhà Tần chỉ tồn tại được 15 năm Lưu Bang và Hạng Võ lật đổ nhà Tần, rồi đánh nhau 10 năm (Hán Sở tranh hùng), cuối cùng Lưu Bang thắng lập nên nhà Hán
Nhà Hán (-206-211) chia ra hai thời: Tây Hán và Đông Hán Thời Đông Hán, Trung Quốc là một đế quốc rộng lớn, hùng mạnh, chuyên đi thôn tính các nước khác (Việt Nam thời Hai Bà Trưng) Cuối đời Hán là loạn Tam Quốc (Thục, Ngụy, Ngô) từ năm 211 đến 264
Ngụy thắng, lập nhà Ngụy, được hơn 40 năm, lại bị họ Tư Mã lật đổ, lập nên nhà Tấn Nhà Tấn tồn tại 125 năm Cuối đơi Tấn, 5 tộc hồ ở phương Bắc vào uy hiếp nên dời
đô về phương Nam (Đông Tấn), rồi bị Tống cướp ngôi Từ đó Trung Quốc chia làm hai khu vực: Bắc và Nam, Lục triều thay nhau cai quản… hơn 300 năm loạn lạc Thời này gọi là Ngụy- Tấn- Nam Bắc triều là vì vậy
Cuối thế kỷ 6, Tuỳ( họ Dương) thống nhất Trung Quốc về một mối nhưng chỉ tồn tại 37 năm, nhà Đường(họ Lý) lật đổ và thay thế (618-905), đây là thời đại hoàng kim của chế đô phong kiến Trung Quốc
907- 960 là thời Ngũ Đại- Thập quốc: Ngũ đại là Hậu Lương, Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu ở phía Bắc Ở phía Nam là 9 nước Ngô, Nam Đường, Ngô Việt, Tiền Thục, Hậu Thục, Nam Hán, Sở, Mân, Nam Bình, cùng với Bắc Hán là 10 nước, sử gọi là Thập quốc
Triệu Khuông Dẫn thống nhất Trung Quốc, lập ra nhà Tống (960-1212), đầu tiên gọi là Bắc Tống (960-1127), sau rợ Kim tàn phá nên dời đô xuống phía Nam gọi là Nam Tống
Thành Cát Tư Hãn (1162-1227) xâm lược Trung Quốc, lập ra nhà Nguyên 1368), chính quyền ngoại bang đầu tiên
(1260-Chu Nguyên Chương lãnh đạo nông dân khởi nghĩa lật đổ nhà Nguyên, lập ra nhà Minh (1368-1644) Cuối đời Minh triều đình suy yếu, khởi nghĩa nông dân nổ ra liên tục
Lý Tự Thành lãnh đạo khởi nghĩa thành công nhưng Ngô Tam Quế phản, mở cửa cho người Mãn Châu vào cướp đoạt thành quả khởi nghĩa, lập ra nhà Thanh (1644-1912), chính quyền ngoại bang thứ hai Đây là triều đại phong kiến cuối cùng của Trung Hoa
Nhìn chung, lịch sử Trung Hoa có những đặc điểm sau:
-Trung Quốc là môt trong những cái nôi văn minh sớm nhất của nhân loại, nhiều phát minh thời cổ đại của nhân loại phải ghi công người Trung Quốc Theo nhận xét của một nhà khoa học người Mỹ trong cuốn China, Land of Discovery and Invention (Trung Quốc, Xứ sở của phát kiến và phát minh) thì “ Có lẽ tới hơn một nửa số phát minh và phát kiến quan trọng được lấy làm nền tảng cho sự phát triển của thế giới ngày nay đều xuất xứ từ Trung Quốc” đặc biệt là những phát kiến trong nông nghiệp như kỹ thuật trồng cây thành luống, làm cỏ nhiều lượt, gieo hạt thẳng hàng, lưỡi cày sắt… Ngoài ra người Trung Quốc còn có 3 phát minh lớn: giấy viết, nghề in, thuốc súng và la bàn nam châm Thời Tần đã xuất hiện hệ thống cân đo, thời Hán số pi đã được phát hiện…
-Người Trung Quốc đi trước về sau: đời Đường văn hóa Trung Quốc cao nhất thế giới, nhưng sau đó thì phát triển chậm chạp, đến thời cận đại thì trở nên lạc hậu
-Chế độ phong kiến kéo dài (21 thế kỷ) đã kìm hãm sự phát triển của xã hội Đó là chế độ phong kiến kiểu tông pháp thị tộc (theo chiều dọc của dòng họ) chứ không phải thành bang dân chủ như phương Tây Lại do Nho giáo thống trị (lấy đức làm đầu, đào tạo
Trang 5hiền giả chứ không phải trí giả, chủ trương sĩ, nông, công, thương, trọng nông ức thương…), tư tưỏng kém giải phóng, khoa học thực nghiệm kém phát triển, vì thế sự lạc hậu, trì trẽ kéo dài
-Cách mạng tư sản nổ ra quá muộn, lại non yếu, què quặt
A.3.CÁC THỜI KỲ VĂN HỌC
Khó có thể tìm thấy nền văn học nào có quá trình phát triển lâu dài mà liên tục như Trung Quốc
Lịch sử nền văn học ấy qua 25 thế kỷ là một đại dương của vô số tác phẩm mà nhiều nền văn học khác hợp lại cũng chưa thể sánh nổi
-Văn học tiên Tần: +Thơ: Kinh Thi, Sở Từ
+Văn: Văn nghị luận của các triết gia (tản văn chư tử)
Văn ký sự thời Xuân Thu (tản văn lịch sử)
-Văn học từ đời Tần- Tùy:
+Thời Tần- Hán (chủ yếu là đời Hán vì Tần chỉ tồn tại 15 năm): Thơ ca Nhạc phủ: được xem là Kinh thi của đời Hán, là tập hợp thơ ca dân gian
Sử ký Tư Mã Thiên, Phú Tư Mã Tương Như (đời Hán),
+Thời Ngụy:Thơ Kiến An thất tử và ba cha con họ Tào
+Thời Tấn:Văn chương hình thức chủ nghĩa nhưng có một nhà thơ khác lạ: Đào Tiềm
+ Nam Bắc triều: chiến tranh liên miên nên văn học không phát triển, nhưng lý luận phát triển: Lưu Hiệp, Chung Vinh
-Văn học đời Đường: tất cả các thể loại đều phát triển, nổi bật nhất là thơ Đường
và tiểu thuyết truyền kỳ đời Đường
-Văn học đời Tống: Thơ Tô Đông Pha, Lục Du Học “Đường(2)- Tống(6) bát đại
gia”, Từ
-Văn học đời Nguyên: văn xuôi không phát triển nhiều duy chỉ có một loại: ca
kịch Học tạp kịch Quan Hán Khanh, Vương Thực Phủ
-Văn học đời Minh- Thanh: tiểu thuyết cổ điển, Tuồng Thang Hiển Tổ
-Văn học cận đại: Lương Khải Siêu
-Văn học hiện đại: Lỗ Tấn, Quách Mạt Nhược, Tào Ngu, Mao Thuẫn
-Văn học đương đại: Trương Hiền Lượng, Giả Bình Ao (Đại lục), Kim Dung
(Hồng Kông), Quỳnh Dao (Đài Loan)
A.4.VÀI NÉT VỀ VĂN HỌC NGUYÊN THỦY CỦA TRUNG QUỐC
Văn học Trung Quốc là một trong những nền văn học cổ nhất trên thế giới Từ hơn 3000 năm trước đã xuất hiện nhiều bài thơ ca ngắn, thần thoại và truyền thuyết Tuy vậy, cho đến nay chưa có một công trình nào sưu tập đầy đủ và có hệ thống mảng văn học dân gian của Trung Quốc (giải thích: có nhiều lý do, có lẽ là do ngày xưa xã hội Trung Quốc không coi trọng mảng văn học truyền miệng, cho là không có giá trị Hoặc
là tầng lớp nho gia rất thực tế, cho thần thoại, truyền thuyết là tưởng tượng, không thực
tế nên không sưu tầm, hay văn học Trung Quốc bắt nguồn từ phương Bắc, người phương Bắc thực tế, không thích lãng mạn, bay bổng nên không đánh giá cao thần thoại.)
1.Thơ ca: một số bài trong các sách thời Chiến Quốc (-480 đến -221) như
Thượng Thư, Lã Thị Xuân Thu, Sử ký Tư Mã Thiên… Ba bài được xem là cổ nhất là Kích nhưỡng ca, Khanh Vân ca và Nam Phong ca, tuy vậy những bài thơ này do
Trang 6truyền miệng nên có lẽ đã được người đời sau trau chuốt lại nên tình điệu rất giống thơ
Sở Từ
2.Thần thoại: một số truyện trong bộ Sơn hải kinh, Trang tử, Liệt tử (Chiến
quốc), Hoài nam tử (Hán) Qua một số truyện như Tinh Vệ lấp biển, Khoa Phụ đuổi theo mặt trời, Nữ Oa luyện đá vá trời… Tuy ít nhưng thần thoại Trung Quốc cũng mang
đầy đủ những đặc điểm của thần thoại: vừa thực tế (xuất phát từ hiện thực, xã hội), vừa lãng mạn, bay bổng Nó mang cái đẹp hồn nhiên, chất phác, mộc mạc của con người nguyên thủy, nói lên những nhận thức ấu trĩ của con người về vũ trụ, tự nhiên, phản ánh ước mơ chinh phục và gần gũi với thiên nhiên Thần thoại Trung Quốc thường ngắn, gọn, rõ ràng, ít hình ảnh, ít chi tiết, sức tưởng tượng như thần thoại phương Tây Nhân vật cũng không có nguồn gốc, phả hệ như thần thoại Hy Lạp Nói chung là chưa có sức hấp dẫn nghệ thuật cao, tuy vậy vẫn là nguồn vốn quý giá cho các nhà sáng tác sau này
(ví dụ: truyện Nữ Oa luyện đá vá trời: những viên đá của bà trải qua mấy ngàn năm trở thành hòn đá sau là Giả Bảo Ngọc trong Hồng Lâu Mộng…)
-Truyện Tinh Vệ lấp biển: “Trên ngọn núi Phát Cưu, cây cối mọc um tùm xanh
tốt Có một con chim hình dạng tựa giống con quạ nhưng đầu có vằn, mỏ trắng, chân đỏ, gọi là chim Tinh Vệ vì nó thường kêu “tinh vệ!”, “tinh vệ!” Chim này vốn là con gái nhỏ của Viêm đế tên Nữ Oa Nữ Oa đi chơi ở biển Đông gặp nước dâng to, bị chết đuối không về được mới hóa thành chim Tinh Vệ Ngày ngày, Tinh Vệbay lên ngọn núi phía Tây, nhặt từng viên đá ngậm vào mỏ đem thả xuống như để lấp kín biển Đông” -> niềm khát khao của con người muốn chiến thắng nạn lũ lụt, chinh phục thiên nhiên Hình ảnh con chim miệt mài lấp biển có lẽ muốn nói đến tinh thần kiên trì, nhẫn nại của con người
-Truyện Khoa Phụ đuổi theo mặt trời: Người nguyên thủy ở hang rất sợ bóng tối,
sợ lạnh giá, rắn rết Họ muốn níu kéo mặt trời lại, chiếu sáng và sưởi ấm họ mãi mãi:
“Trên ngọn núi Thành Đô có môt vị thần tên là Khoa Phụ, hình dáng kỳ lạ, hai tai đeo hai con rắn vàng, hai tay quấn hai con rắn vàng Khoa Phụ đuổi theo mặt trời, đuổi mãi
mà chẳng kịp Khát nước, uống một hơi cạn cả sông Hà sông Vị, vẫn chưa hết khát, lại uống khô cả đầm Đại Trạch Thế mà vẫn không kịp mặt trời Cuối cùng Khoa Phụ khát quá ngã xuống chết, cây gậy cầm tay quăng ra bỗng hóa thành một vườn cây xanh tươi” Chi tiết cuối cùng thật lãng mạn
3 Truyền thuyết: Thần thoại là truyện hoàn toàn hư cấu và thiên về hiện tượng
tự nhiên còn truyền thuyết là truyện có một chút dấu vết lịch sử rồi gia cố thêm, chủ yếu nói về hiện tượng xã hội Ví dụ như truyện về Tam Hoàng, Ngũ Đế, về Phục Hy, Thần Nông, về Đế Cốc, Đế Nghiêu, Thuấn, truyện nhường ngôi của Nghiêu Thuấn, truyện Nghiêu gả Nga Hoàng và Nữ Anh cho Thuấn… những truyền thuyết này phần nào mang
ý nghĩa dã sử
Trang 7B.CÁC THỜI KỲ VĂN HỌC
B.1 VĂN HỌC TIÊN TẦN- KHỞI NGUYÊN CỦA VĂN
HỌC VIẾT TRUNG HOA
Văn học tiên Tần là khởi nguồn của dòng sông văn học Trung Hoa, là móng nền vững chắc cho toà nhà văn học Trung Quốc Giai đoạn này rất quan trọng Không phải sự
mở đầu nào cũng non nớt, ấu trĩ mà rất tiêu biểu, có ảnh hưởng đến các giai đoạn sau và các nưóc trong khu vực
Đến thời Đông Chu (-770), nhờ phát minh ra đồ sắt, công cụ lao động đưọc cải tiến, sản xuất nông nghiệp càng phát triển Từ đó, thương nghiệp bắt đầu hình thành và ngày càng phát đạt
Về chính trị, thời Tây Chu, vua Chu tự xưng là thiên tử Thiên tử phong đất cho chư hầu Giai đoạn đầu, chế độ đẳng cấp và tông pháp còn được duy trì, về sau, vương triều nhà Chu suy yếu, không khống chế được các nước chư hầu, nhiều nước lớn thôn tính nước nhỏ dẫn đến tình trạng chiến tranh liên miên không dứt
Về tư tưởng và văn hóa, xã hội hình thành một giai tầng mới- sĩ, tạo thành lực lưọng quan trọng của hoạt động văn hóa xã hội đương thời Từ đó nổi lên không khí
“bách gia tranh minh” rất sôi nổi Các học thuyết, học phái cũng xuất hiện Hoạt động của tầng lớp Sĩ có tác dụng tích cực thúc đẩy nền văn hóa và văn học đương thời
B.1.2 VĂN HỌC
B.1.2.1 KINH THI.(3 tiết)
B.1.2.1.1 KHÁI QUÁT
-Kinh thi là thành tựu văn học đầu tiên đánh dấu sự chuyển tiếp từ văn học truyền
miệng sang văn học viết của Trung Quốc Đây là tuyển tập thơ cổ gồm 305 bài được sáng tác cách dây 2500 năm vào khoảng thế kỷ 6 trước Công nguyên trong khoảng thời gian hơn 500 năm từ đầu Tây Chu ( -1100) đến giữa Xuân Thu (-600), đây là giai đoạn cuối nô lệ đầu phong kiến, chủ yếu là áp bức bóc lột kiểu nô lệ, lễ giáo phong kiến chưa
ăn sâu như sau này
-Biên soạn: có ba thuyết:
+Do Khổng Tử biên soạn: trong sách Sử ký Tư Mã Thiên viết: từ 3000 bài Kinh
thi, Khổng Tử soạn lại thành 300 bài để dạy học trò Không đúng, vì trước Khổng Tử đã
có quyển Kinh thi 305 bài Nhưng Khổng Tử có san định và giải thích Sách Luận ngữ
có nhiều chỗ ghi lại những câu nói chứng tỏ ông rất coi trọng thơ, Kinh thi trước đây chỉ dùng cho mục đích giải trí, trong các nghi lễ hoặc trình bày quan niệm xã hội, chính trị,
về sau nhờ Khổng Tử đề cao mà trở thành tài liệu văn học, giáo dục của tầng lớp quí tộc,
ông gắn nó với “tam cương”: Thi khả dĩ hưng, khả dĩ quan, khả dĩ quần, khả dĩ oán, nhĩ chi sự phụ, viễn chi sự quân, đa thức ư điểu thú, thảo mộc chi danh”( thơ có thể làm
Trang 8phấn khởi ý chí, có thể xem xét việc hay dở, có thể hoà hợp mọi người, bày tỏ nỗi sầu
oán, gần thì thờ cha, xa thì thờ vua, lại biết được nhiều tên chim muông, cây cỏ), “Bất học thi, dĩ vô ngôn” (Không học thơ thì không ăn nói được)…
+Do các quan “thái thi” (thu nhặt thơ ca) đời Chu chọn lựa để dâng vua Có một phần nhưng không phải tất cả
+Công lao chính là của các nhạc quan (quan coi âm nhạc) thu thập âm nhạc Công lao chính là của nhiều thế hệ lưu truyền
Đến đời Tần, Kinh thi bị thiêu hủy cùng nhiều sách vở khác trong vụ “đốt sách
chôn nho” của Tần Thủy Hoàng, đến đời Hán được sưu tập lại và truyền dạy chính thức
cho đệ tử nho gia Có nhiều dị bản Kinh thi được lưu truyền như Lỗ thi do Thần Bồi
nước Lỗ truyền, Tề thi do Viêm Cố nước Tề, Hàn thi do Hàn Anh nước Yên, Mao thi do Mao Hanh nước Triệu), trong đó bản Mao thi được công nhận là tương đối chính xác và lưu truyền đến nay Ba bản kia đến đời Tùy là mất hẳn
-Phân loại:Tiêu chuẩn phân loại là nhạc điệu (vì đời Chu thơ thường gắn liền với nhạc), thường chia làm 3 bộ phận:
+Phong: còn gọi là Quốc Phong gồm 160 bài, là các bài dân ca của các địa phương và nước chư hầu Là phần giá trị nhất trong Kinh thi, chủ yếu là thơ ca dân gian, phản ánh cuộc sống hiện thực của nhân dân lao động
+Nhã: gồm Tiểu Nhã (nhạc khúc của quí tộc, sĩ đại phu, gồm 80 bài, nội dung gần với Phong) và Đại Nhã (nhạc khúc triều đình gồm 25 bài, là sáng tác của quí tộc nhằm ca ngợi trời đất, vua chúa…
+Tụng: 40 bài, tán tụng thượng đế, thần linh, dùng trong các cuộc tế lễ
Cách chia trên không hoàn toàn chính xác vì trong nhã cũng có nhiều bài theo nhạc phong, trong phong lại cũng có bài của quí tộc… mà lại không nói lên được nội dung tác phẩm
Ngưòi ta thường theo cách chia mới: thơ ca quí tộc và thơ ca dân gian Dân gian bao gồm hầu hết Phong, một phần Tiểu Nhã Chúng ta chủ yếu học phần thơ ca dân gian
B.1.2.1.2.NỘI DUNG
*Cuộc sống áp bức bóc lột và tinh thần phản kháng của nhân dân lao động
-Phu phen tạp dịch: hai phương thức bóc lột phong kiến cơ bản là địa tô và lao dịch Người lao đông thời kỳ tiền phong kiến này phải đi phu, làm tạp dịch cho lãnh
chúa: Bảo vũ, Quân tử vu dịch, Thức mị, Thỏ viên, Cát lũy… miêu tả cảnh cơ cực, nỗi
đắng cay, lòng oán giận của nhân dân
-Tinh thần phản kháng: Nếu trong Thất nguyệt ngưòi lao động còn an phận thủ thường thì trong hai bài Phạt đàn và Thạc thử lòng oán hận đã bùng nổ Người lao động
đã chất vấn thẳng vào mặt bọn bóc lột, họ ý thức được nguyên nhân gây nên cảnh sống cực khổ của mình
*Phản đối chiến tranh phi nghĩa
Từ Tây Chu đến giữa Xuân Thu trong vòng 500 năm có hàng nghìn cuộc chiến
tranh (Xuân Thu vô nghĩa chiến-Mạnh Tử), có 3 loại chiến tranh: chiến tranh bành
trướng xâm lược, chiến tranh tranh giành đất đai giữa các lãnh chúa, chiến tranh chống
sự xâm lược của ngoại tộc Nhiều bài thơ trong Kinh thi đã phản ánh cuộc sống điêu linh, tâm trạng đau buồn và thái đô phê phán, oán trách: Hà thảo bất hoàng (Cỏ nào chẳng vàng úa), Đông sơn (Núi Đông), Thái vi (Hái rau vi)-cảnh người lính trở về không phải trong khúc khải hoàn mà trong mưa sa gió táp buồn thảm, Kích cổ (Đánh trống)- sự chia ly tử biệt gây đau xót (Do lai chinh chiến địa, bất kiến kỷ nhân hoàn- Lý Bạch), Trắc hỗ (Trèo lên đồi trọc)-người lính thương nhớ quê hương, tưởng tượng nghe tiếng than thở của người thân, Phỉ phong (Gió kia)…
*Thơ nói về tình yêu, hôn nhân
Trang 91.Những bài thơ trong sáng, đẹp đẽ, táo bạo, thẳng thắn, chân thật nhất trong Kinh thi là nói về tình yêu trong lao động Từ Tần về sau,đạo đức của chế độ phong kiến
chuyên chế và chế độ tông pháp gia trưởng, khó có thể tìm thấy hình ảnh những cô gái
chủ động, tinh nghịch, tươi vui, dí dỏm như trong Kinh thi, những cô gái gọi người yêu
là “chú bé kháu khỉnh” (Giảo đồng), rủ người yêu đi trẩy hội, tặng hoa cho ngưòi yêu dưới ánh nắng xuân (Trăn vĩ), yêu cầu ngưòi yêu hát giữa đất trời gió lộng (Thác hề), bắt người yêu lội qua sông rộng (Khiên thường), hẹn người yêu đến rồi trốn đi để cuộc hẹn hò thêm xao xuyến, hồi hộp, nhớ mong (Tĩnh nữ)… Tình yêu của ngưòi lao động
không có cái kiểu cách quí tộc như Thôi Oanh Oanh, cái suy tính của giai cấp bóc lột như Tiết Bảo Thoa… nó phản ánh nhân sinh quan lành mạnh của người lao động
Mở đầu Kinh thi là bài Quan thư nổi tiếng Đó là bài áp quyển (để lên đầu vì
hay) Khổng Tử khen: “Quan thư vui mà không sa đà, buồn mà không thảm thương”,
nghĩa là đúng mức, hợp đạo trung dung Bài thơ có năm chương thể hiện một chàng trai theo đuổi một cô gái trẻ đẹp Nghe tiếng chim cưu gọi nhau, anh ta mơ tưởng đến cô gái, rồi nhớ thương, trằn trọc, rồi tưỏng tượng đến ngày cưới… Điểm quan trọng của bài thơ,
đó là tình yêu bắt nguồn từ lao động Chàng trai cảm cô gái qua cái đẹp uyển chuyển, khéo léo của cô gái khi cô đang hái rau hạnh
Quan thư hay còn vì cách tỉ (tiếng chim gù ví với sự quyến luyến của đôi lứa),
hứng (từ tiếng chim đến tiếng lòng) Tác giả đã từ xa đến gần, từ vật đến người, từ ướm đến hỏi, làm ta liên tưởng đến bài ca dao Cô kia tát nước đầu đình của VN
Cùng một chủ đề như thế là bài Tĩnh nữ, so với Quan thư đã tiến thêm một bước trong cung bậc tình yêu Ở Quan thư là sự nhớ mong của người con trai, còn ở đây là
người con gái hẹn gặp, Khổng Tử không đề cao bài này vì người con gái chủ động
(giống như bài Giảo đồng)
Ca ngợi đời sống vợ chồng hài hoà, đầm ấm: Nữ viết kê minh (Vợ bảo gà gáy rồi), Đào yêu, Xuất kỳ đông môn…
2.Thế nhưng trong một xã hội đã có bóng dáng của phân biệt giai cấp, tư tưởng
trọng nam khinh nữ, nam quyền thì Kinh thi cũng có những bài dựng lên sinh động hình
ảnh người phụ nữ đau khổ Mới đầu có thể chỉ là sự khắc khoải, chờ đợi tình yêu đến
(Phiến hữu mai-Quả mai rụng), sau đó tăng dần lên: nhớ người yêu nhưng sợ cha mẹ quở trách, dư luận xì xào (Nhớ anh Trọng tử), người phụ nữ bị chồng ruồng bỏ (Manh- Chàng trai, Cốc phong-Gió đông), Bách chu (chiếc thuyền gỗ bách) là lời nguyền rủa
hôn nhân bao biện, là khát vọng hôn nhân tự chủ Cho nên Hồ Xuân Hương mới ví thân phận người phụ nữ là
Chiếc bách buồn về phận nổi nênh
Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh
Tóm lại: thơ tình yêu chiếm quá nửa trong Kinh thi Đó là những bài tình ca trong
sáng, tươi mát, khẳng định hạnh phúc của tình yêu trong lao động Tuy vậy, trong một
xã hội bước đầu có những tư tưởng bất bình đẳng nam nữ, thì Kinh thi cũng là tiếng nói
oán hờn lên án lễ giáo phong kiến ngăn cản tình yêu, hôn nhân tự do
Trang 102 Phú, tỉ, hứng là thủ pháp nghệ thuật nổi bật của Kinh thi Anh hưởng rộng rãi
đến thơ ca sau này
Phú là phô bày, diễn tả, chỉ thẳng sự vật mà nói
Tỉ là so sánh, mượn cái cụ thể nói cái trừu tượng (thạc thử)
Hứng là khêu gợi, mượn sự vật bên ngoài để khêu gợi tình cảm bên trong, trước tả
sự vật, sau tả lòng mình (Quan thư- từ tiếng chim gù đến tiếng lứa đôi, là tỉ mà cũng là hứng)
3.Về kết cấu, nổi bật là lối trùng chương điệp cú, các chương thường được lặp lại Lặp lại nhưng mức độ cao hơn, sâu hơn do thay đổi một số từ Điều đó một phần do sự
chi phới của âm nhạc, và có cả vũ đạo Phạt đàn, Thạc thử khiến ta liên tưởng đến vừa
hát vừa múa
4.Văn điệu tự nhiên, không câu nệ số chữ, nổi bật nét dân ca, ca dao, tiết tấu uyển chuyển, du dương như có nhạc điệu
Kinh thi có ảnh hưởng sâu rộng đến các đời sau: điển tích sinh động, phong phú:
tang trung bộc thượng (trên bộc trong dâu) chỉ sự hẹn hò trai gái, đào yêu để chỉ người con gái ít tuổi, cù lao chín chữ: công lao cha mẹ, chiếc bách: thân phận người phụ nữ,
cầm sắt: duyên vợ chồng… lối thơ 4 chữ bắt nguồn từ Kinh thi, các nhà lý luận, nhà thơ đời sau mỗi khi chống lại các loại văn học hình thức chủ nghĩa đều kêu gọi học tập Kinh thi (vì tính chân thực và hiện thực) Còn có thể xem Kinh thi là một loại “bách khoa toàn
thư” mà nghiên cứu bất cứ mặt nào trong đời sống tinh thần và xã hội của Trung Quốc cổ đại đều không thể bỏ qua
B.1.2.2.SỞ TỪ
(2 tiết)
B.1.2.2.1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ SỞ TỪ VÀ KHUẤT NGUYÊN
1-Nếu Kinh thi tiêu biểu cho văn hóa phương Bắc thì Sở từ tiêu biểu cho văn hóa
phương Nam (về triết học: Khổng Mạnh phương Bắc, Lão Trang phương Nam) Đến đây nói qua một số điểm khác biệt giữa phương Bắc và phưong Nam về địa lý, văn hóa…
-Địa lý: phía Bắc trên lưu vực sông
Trên lưu vực sông Dương Tử
-Khí hậu ấm áp, cây cỏ xanh tươi, sản vật phong phú
-sống an vui, nhàn nhã, lãng mạn, thiên
về tình cảm, ít thực tế -Phương Nam trọng sự mềm mại, diễm
lệ ( Vương Duy bút pháp mềm mại, chữ viết Vương Hy Chi tươi đẹp, phóng khoáng…)
-Là bước phát triển mới so với Kinh thi, cùng với Kinh thi là hai viên ngọc quí
giá có tác dụng khơi nguồn cho sự phát triển của thơ ca cổ Trung Quốc: “Mạc bất đồng
tổ Phong Tao” (Thẩm Ước thời Tề Lương) tức là không có thơ ca nào mà không cùng tổ
tiên với Kinh thi (Phong) và Sở từ (Tao) Sở Từ tiếp theo Kinh thi, cũng phản ánh sâu
sắc hiện thực theo những nội dung xoáy sâu hơn và bằng một nghệ thuật trau chuốt hơn
Kinh thi phản ánh những vấn đề xã hội chung chung, Sở Từ có nhân vật, hình tượng cụ thể hơn, Kinh thi chủ yếu là thơ bốn chữ, ngôn từ giản dị trong sáng, Sở từ năm đến bảy
chữ, ngôn từ hàm súc mỹ lệ, văn pháp cách điệu uyển chuyển, thường dùng trợ từ “hề”
Trang 11-Thể hiện sắc thái địa phương rõ rệt: tác giả có tên họ, thân thế cụ thể Giọng điệu,
sự vật, tên đất, tên sông, cỏ cây hoa lá đều là của đất Sở Mang đậm nét cá tính qua lý tưởng, cảnh ngộ, nhiệt tình…
-Sở từ là tuyển tập thơ ca được Khuất Nguyên sáng tác theo một thể văn mới dựa trên cơ sở những ca dao dân ca nước Sở, người Hán gọi là thể Tao (vì thiên Ly Tao là tác phẩm tiêu biểu) hoặc Sở từ (lời ca nước Sở)
2-Khuất Nguyên (340-278 TCN) Khuất Nguyên tên Bình, Nguyên là tên chữ Ông người nước Sở, sống vào nửa sau đời Chiến Quốc, lúc tình trạng bảy nước Tần, Sở,
Tề, Ngụy, Triệu, Hàn (3 nước này vốn là nước Tấn), Yên (thất hùng) đang xâu xé và đi vào giai đoạn quyết định, cũng là lúc nước Sở từ chỗ cường thịnh đi đến diệt vong Dưới thời Sở Hoài Vương, từng được trọng dụng, làm đến chức Tả đồ, chỉ dưới lệnh doãn (tương đương Tể tướng) Khuất Nguyên chủ trương đối nội bằng biện pháp hạn chế đặc quyền của bọn đại quí tộc, đối ngoại, chủ trương liên Tề chống Tần (hợp Tung)
Lúc bấy giờ trong 7 nước mạnh hình thành hai phái khác nhau: phái hợp tung do
Tô Tần khởi xướng, chủ trương liên hiệp các nước theo chiều dọc Nam Bắc ở phía đông
để chống Tần phía Tây; phái liên hoành do Trương Nghi khởi xướng, chủ trương liên hiệp các nước theo chiều ngang đầu hàng thỏa hiệp với Tần, tôn Tần là hoàng đế Biết khai thác và làm nổi bật được thế mạnh của Tần nên đi đến đâu Trương Nghi cũng được hoan nghênh Nhưng khi về nước thì tình hình lại thay đổi, Trương Nghi không được trọng dụng, sáu nước còn lại biết tin, lại quay sang chống Tần, tuy đường lối liên hoành không thành công trọn vẹn nhưng hoạt động của Trương Nghi cũng đã làm sứt mẻ khối hợp tung, tạo nên những bất hoà, nghi kỵ, và Tần, với những ưu thế sẵn có, tiếp tục phát triển mạnh Rốt cuộc, năm 221 TCN, sau khi lần lượt thôn tính các nước lớn nhỏ, Tần Doanh Chính lên ngôi hoàng đế, thống nhất toàn lãnh thổ, lập nên chế độ phong kiến trung ương tập quyền đầu tiên ở Trung Quốc, chấm dứt những cuộc chiến tranh “vô nghĩa chiến”
Trở lại tình hình nước Sở, lúc đầu Sở theo đường lối “hợp tung”, sau Sở Hoài Vương ngu muội và bất lực, nghe lời những kẻ gian nịnh như Trịnh Tụ, Cận Thượng, Hoài Vương dần dần bỏ rơi Khuất Nguyên, cách chức Tả đồ, thậm chí còn đày đi Hán Bắc Sau khi Hoài Vương bỏ mạng ở đất Tần, Khoảnh Tương Vương nối nghiệp, tình hình chính trị nước Sở càng thêm rối ren, Khuất Nguyên lại bị đày xuống vùng Giang Nam và đến khi Sính đô bị quân Tần tấn công, tận mắt thấy trăm họ điêu linh, tan tác, Khuất Nguyên nhảy xuống sông Mịch La tự tử, tương truyền ông qua đời vào ngày 5.5
âm lịch, nhân dân thương tiếc ông và có nhiều hình thức tưỏng nhớ ông đã trở thành tục
lệ hàng năm trong dân gian
Tác phẩm Khuất Nguyên gồm thơ, từ, phú, gọi chung là Sờ từ Cửu chương gồm
9 bài: Tích tụng (Tiếc làm thơ), Thiệp giang (Qua sông), Ai Sính (Thương nhớ Sính đô), Trừu tư (Tỏ bày tâm sự), Hoài Sa (Nhớ Trường Sa), Tư Mỹ nhân (Nhớ người đẹp), Tích vãng nhật (Nhớ xưa), Bi hồi phong (Buồn nhớ gio1), đặc biệt là bài Quất tụng (Ca tụng quýt), dùng vẻ đẹp của hoa, lá, quả quýt để biểu hiện phẩm chất trong sạch của mình (cách miêu tả ẩn dụ giống Ly tao), ông miêu tả chùm rễ cắm sâu vào đất
để thể hiện tinh thần kiên định (giống như Nguyễn Trãi ca ngợi cây tùng “cội rễ bền, dời
chẳng động”) Cửu ca gồm 11 bài dân ca được Khuất Nguyên cải biên (Đông Hoàng Thái Nhất, Đông quân, Vân Trung quân, Tương quân, Tương phu nhân, Đại tư mệnh, Hà bá, Thiếu tư mệnh, Sơn quỷ, Quốc thương, Lễ hồn), nói về việc tế các thần mặt trời, núí, mây, nữ thần sông Tương, thần coi việc sinh con… đặc biệt có bài Quốc thương (Hồn tử sĩ) có âm hưởng văn tế các chiến sĩ trận vong.Thiên vấn là một bài thơ
độc đáo viết theo thể thơ 4 chữ gồm trên 170 câu hỏi về đủ các vấn đề tự nhiên, xã hội, qua đó có thể thấy kiến thức uyên bác, khuynh hướng tư tưởng khai sáng của nhà thơ, cũng là dấu ấn của thời đại “trăm nhà đua tiếng”
Trang 12B.1.2.2.LY TAO-TÁC PHẨM TIÊU BIỂU NHẤT CỦA KHUẤT NGUYÊN VÀ CỦA SỞ TỪ
1.Ly tao gồm 373 câu, 2490 chữ, là bài thơ trữ tình cá nhân đầu tiên, thiên trường
thi đầu tiên trong lịch sử thơ ca Trung Quốc Có 3 cách giải thích nghĩa tên bài thơ: Lo
buồn trong chia ly( Ly tao giả, ly ưu giả- Tư Mã Thiên), Gặp phải điều lo âu (Ban Cố),
buồn bực (Du Quốc An), như vậy có thể xác định Ly tao được sáng tác lúc nhà thơ bị
vua Sở ruồng bỏ, có nghĩa là nỗi đau buồn chia ly, ở đây là chia ly với Sở vương, với Sính đô và nước Sở
2.Cảm hứng chủ đạo: Ly tao là thơ trữ tình, tác giả bộc bạch tâm sự Ở đây tác giả
nói đến lịch sử, hoa thơm cỏ lạ, thế giới thần tiên… nhưng đó chỉ là mượn ngoài để nói
trong, mượn người để nói mình.Mọi hình ảnh trong Ly tao đều nhuốm chung một cảm
hứng, đó là:Nỗi niềm cay đắng khi khát vọng làm giàu mạnh cho đất nước bị vùi dập, nhân cách bị bôi nhọ song song đó là tinh thần bất khuất, quyết không bỏ chính thay tà,
bỏ trong thay đục, thà chết để bảo toàn khí tiết
3.Bài thơ chia làm 3 phần:
Phần 1: nặng về tả thực, trình bày gia thế và sự ra đời đẹp đẽ của mình, sự tu dưỡng bản thân và hoài bão to lớn muốn xây dựng đất nước Tiếp theo đó là những vấp váp của nhà thơ trên con đường chính trrị do sự mù quáng của nhà thơ và sự xúc xiểm của bọn nịnh thần, tuy vậy nhà thơ vẫn kiên trì với lý tưởng của mình
Phần 2: đậm màu sắc lãng mạn, nhà thơ lên đường đi tìm tương lai tươi sáng, thổ
lộ tâm sự trong đền vua Thuấn, rồi ra đi khắp nơi tìm kiếm người bạn lòng, tìm đến những thế giới hư ảo nhưng đều thất bại
Phần 3: Nhà thơ đi tìm thầy bói Mâu thuẫn trong tâm trạng nhà thơ: Linh Phân khuyên Khuất Nguyên bỏ nước Sở mà đi song Vu Hàm khuyên nán lại chờ đợi Nhìn thực tế ngày càng tồi tệ của nước Sở, Khuất Nguyên quyết định dứt áo ra đinhưng tâm tư vẫn xót xa, dằn vặt Vừa mới lên đường, nhìn lại quê hương, nhà thơ không thể cất bước
Và Ly tao cũng kết thúc tại đây, đúng lúc nỗi đau khổ của nhà thơ đã đến độ tột cùng,
mâu thuẫn dường như đã đến chỗ bế tắc (rời quê hương thì không đành, ở lại thì không ai hợp chí hướng) nhưng thực chất đã được giải quyết viên mãn trên cơ sở lòng yêu nước nồng nàn, Ông chỉ còn con đường “theo chân Bành Hàm” để giữ trọn khí tiết, đó cũng là
dự cảm về một kết thúc bi ai của cuộc đời nhà thơ
Một số học giả đời Thanh lại có cách chia khác Họ chia Ly tao làm 2 phần, phần
trên là thực (có hư), phần dưới là hư (có thực) Rõ ràng thế giới hư ảo chỉ là cái bóng của thế giới hiện thực Thất bại trong hư ảo là sự phản ánh độc đáo thất bại trong hiện thực
4.Giá trị tư tưởng: Ly tao thể hiện đầy xúc động bi kịch Khuất Nguyên Đó là bi
kịch của một nhà chính trị sáng suốt nhưng không gặp thời, là bi kịch của một nhân cách cao cả không chịu vướng bùn nhơ thế tục
5.Giá trị nghệ thuật
-Thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ độc đaó của Ly tao là khoa trương mạnh mẽ, nhân
cách hóa và đặc biệt là ẩn dụ, tỷ dụ rất nhiều (chăm lo tu dưỡng tài năng thì nói là uống sương sa, ăn hoa quí, khoác hoa thơm cỏ lạ lên mình cho thêm đẹp thêm xinh; đào tạo người tài giỏi cho đất nước thì nói là chăm bón vun xới hoa huệ, hoa lan; trung với vua thì nói là chung thủy với người yêu; trách vua trước trọng dụng sau ruồng bỏ thì nói là người yêu thay dạ đổi lòng….) Bài thơ mang màu sắc lãng mạn rất rõ thông qua hàng loạt chi tiết thần thoại, truyền thuyết, nhân vật lịch sử, thầy bói, mây, núi, sônghoa cỏ,
thú vật… đã tạo nên một bài thơ hoàn chỉnh, tráng lệ Đọc Ly tao như bước vào một rừng
hình ảnh nhưng không rườm rà mà liên kết, nhất quán chạy suốt bài thơ
Đất Sở thịnh hành Vu giáo, vì thế không ngạc nhiên khi Sở từ mang màu sắc thần thoại sâu đậm, thời đại Khuất Nguyên, người Sở vẫn còn chìm đắm trong một thế giới thần thoại + tưởng tượng ly kỳ + tình cảm nồng cháy
Trang 13-Hiếm có bài thơ nào xúc động hàng bao thế hệ độc giả như Ly tao, mỗi chữ là
một tiếng thở dài, mỗi giọt nước mắt, đó là những dòng thơ gan ruột, chân thành, tha thiết Lý Bạch nói:
Khuất Bình từ phú huyền nhật nguyệt
Sở vương đài tạ không sơn khâu
(thơ từ Khuất Nguyên vẫn sáng cùng mặt trăng, mặt trời
Còn lâu đài của vua Sở đã biến thành gò hoang)
Không chỉ đối lập hai loại nhân cách mà còn khẳng định cái trường cửu của văn chương nghệ thuật khi nó đạt đến chân thiện mỹ
B.1.2.3.KẾT LUẬN
-Xét về địa vị, Khuất Nguyên là nhà chính trị, nhưng với thành tựu sáng tác, ông được đời sau thừa nhận là bậc thầy thơ ca Ông là người mở đầu cho thơ trữ tình lãng
mạn của Trung Quốc Ly tao trở thành biểu tượng của thơ ca (nàng Ly tao, Tao đàn…)
Những thi nhân đời sau có cá tính và xúc cảm mạnh mẽ như Lý Bạch đều nhận được sự gợi mở của Khuất Nguyên: khoáng đạt, tráng lệ, không gian mở rộng…
-Anh hưởng của ông đối với đời sau không phải chỉ bằng thơ mà còn bằng cả nhân cách, đạo lý làm người Ông ảnh hưởng sâu sắc đến các nhà thơ cổ điển Việt Nam (Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Cao Bá Quát…), đặc biệt là Nguyễn Du Hai lần đi
sứ Trung Quốc, Nguyễn Du đều viếng Khuất Nguyên và làm tất cả 5 bài thơ vịnh Khuất Nguyên:
Bất thiệp Hồ Nam đạo
An tri Tương thủy thâm,
Bất độc Hòai sa phú
An thức Khuất Nguyên tâm
Khuất Nguyên tâm, Tương giang thủy
Thiên thu, vạn thu thanh kiến để
(Không đi qua đường Hồ Nam,
Làm sao biết sông Tương sâu
Không đọc bài phú Hòai Sa,
Làm sao biết được tấm lòng Khuất Nguyên
Lòng dạ Khuất Nguyên trong suốt như nước sông Tương
Ngàn vạn năm vẫn nhìn thấy đáy)
-Năm 1953 toàn thế giới đã kỷ niệm 2230 năm sinh Khuất Nguyên Nhân dân thế giới đã xem tác phẩm của ông như một thành quả chung của nhân loại
B.1.2.3 VĂN XUÔI- TẢN VĂN THỜI CHIẾN QUỐC
( 1 tiết)
Về thơ ca có hai thành tựu lớn là Kinh thi và Sở từ thì về văn xuôi cũng có sự
phát triển rực rỡ Bộ phận này được chia thành hai loại: Tản văn lịch sử và tản văn chư
tử
B.1.2.3.1.TẢN VĂN LỊCH SỬ (Văn ký sự)
Là các tác phẩm ghi chép, trình bày các sự kiện lịch sử song có giá trị văn chương
Cuối thời Xuân Thu đầu thời Chiến Quốc mới bắt đầu có người thu thập, chỉnh lý,
biên soạn những trước tác lịch sử Bộ đầu tiên là Xuân Thu do Khổng Tử biên soạn, ghi
chép các sự việc từ khoảng –722 đến –480, văn phong ngắn gọn, súc tích nhưng chỉ là
những tác phẩm sử học Phải đến các bộ Tả truyện, Quốc ngữ, Chiến quốc sách… mới
được xem là thành tựu văn học
Trang 14-Tả truyện: là tên viết tắt của Tả Thị Xuân Thu truyện được viết theo biên niên, Quốc ngữ viết theo từng nước Do Tả Khâu Minh người nước Lỗ dựa vào bộ Xuân Thu
và một số sử liệu khác viết ra, những sự kiện lịch sử trong gần 3 thế kỷ được tái hiện khéo léo và chân thật, đó là những cuộc chiến tranh phức tạp và ác liệt nhằm tranh bá đồ vương và thôn tính lẫn nhau của bọn vua chúa các nước chư hầu, tác phẩm ít khi miêu tả cảnh chiến trường mà chú ý nhiều hơn đến quá trình chuẩn bị cũng như nêu hậu quả của
nó, đặc biệt là chú ý phản ánh tính chất chiến tranh và những nỗi đau khổ của dân chúng
Cách trình bày sự việc rất khéo, rõ ràng mà không vụn vặt, cô đọng mà uyển chuyển, đặc biệt hấp dẫn là miêu tả những trận đánh, qua đó nêu bật tính cách nhân vật: Trận Tề và Lỗ ở Trường Thược (nhân vật Tào Uế), Trận Sở và Tống ở sông Hoành (Tử Ngư), Trận Tần và Tấn ở Hào Sơn (Kiển Thúc)…
Tả truyện đạt được hiệu quả “không tả biển lớn mà nghe tiếng sóng, không vẽ núi cao mà thấy nhấp nhô” (ví dụ chỉ qua tiếng khóc tiễn con của Kiển Thúc ta thấy được bao điều: hình ảnh một hiền thần dũng cảm, có tầm nhìn xa trông rộng, tính chất phi nghĩa của cuộc chiến do Tần phát động, tính quyết liệt của chiến tranh, sự thất bại thảm
hại tất yếu của Tần…), đặt cơ sở cho loại tiểu thuyết như Tam Quốc Chí diễn nghĩa đời
sau
Tào Uế luận chiến được dạy ở bậc Sơ trung (trung học cơ sở) và Trận Hào Sơn
được dạy ở bậc Cao trung (phổ thông trung học) của Trung Quốc -> nhiều bài học sinh
động về chiến tranh bổ ích mà Tả truyện truyền lại cho hậu thế
-Quốc ngữ: bộ biệt sử đầu tiên của Trung Quốc Ghi chép những sự kiện lịch sử
quan trọng của một số nước thời Xuân Thu Đây là công trình của một số người kế tiếp nhau hoàn thành vào thời Chiến Quốc Quốc ngữ ít ghi sự việc mà ghi nhiều những câu nói của một số nhân vật lịch sử Nhiều đoạn văn khá hay, có ý nghĩa giáo dục
-Chiến Quốc sách: tác giả chưa biết, ghi lại những mưu kế, sách lược ngoại giao,
chính trị mà các biện sĩ nêu lên cho các vua chúa đương thời, khẳng định vai trò kẻ sĩ trong đời sống kinh tế xã hội cuối thời Đông Chu
Giá tri nghệ thuật của bộ sách thể hiện ở việc khắc họa tính cách nhân vật: Phùng Noãn (còn đọc là Phùng Huyên) trong thiên Phùng Noãn làm thực khách của Mạnh Thường Quân, Tô Tần với thuyết hợp tung, liên hoành… Tư Mã Thiên về sau chịu ảnh hưởng bộ sách này khi xây dựng một số nhân vật (Kinh Kha…); ở lối văn lưu loát, phóng túng, uyển chuyển; vận dụng những chuyện ngụ ngôn sinh động mà người Trung Quốc ai cũng biết như “ngao cò tranh nhau, ngư ông đắc lợi”, “vẽ rắn thêm chân”, “cáo mượn oai hổ”, “mất dê mới sửa chuồng”…
B.1.2.3.2.TẢN VĂN CHƯ TỬ (văn nghị luận của các triết gia)
Còn gọi là tản văn triết học Sau Xuân Thu, xã hội Trung Quốc có nhiều biến đổi lớn do sản xuất phát triển, do sự rối ren của tình hình chiến tranh… Nhiều luồng tư tưởng đại biểu cho lợi ích của nhiều tầng lớp và giai cấp khác nhau xuất hiện, đây là thời kỳ sử gọi là Bách gia tranh minh (trăm nhà đua tiếng), và Bách gia chư tử (một cách gọi khoa trương thực ra không có đến 100 nhà), nhờ vậy mà học thuật phát triển rất nhanh Rất nhiều trưóc tác thể hiện sự tu dưỡng nghệ thuật khá cao của tác giả Đáng chú ý có các
bộ Luận ngữ, Mạnh Tử, Mặc Tử, Trang Tử, Tuân Tử, Hàn Phi Tử…
-Luận ngữ: Luận ngữ tuy không phải là một bộ sách lớn, nhưng là một trong
những bộ sách kinh điển của Nho gia, thái độ về cuộc sống, quan niệm về tư tưởng mà
nó thể hiện có một ảnh hưởng sâu rộng trong lịch sử văn hóa và tư tưởng của Trung Quốc Sách gồm 20 thiên, viết theo thể ngữ lục (văn xuôi thời cổ, ngôn ngữ nói miệng nên đơn giản, rõ ràng), ghi lại những lời nói và hoạt động của Khổng Tử cùng một số học trò của ông Khổng Tử là người sáng lập ra đạo Nho Tư tưởng của ông về cơ bản là bảo thủ (vì sinh ở phương Bắc), ủng hộ lợi ích của tập đoàn quí tộc thống trị, tôn trọng đẳng
Trang 15cấp, mặt khác có điểm tiến bộ đó là: tôn trọng hiền tài, đưa ra những chính sách đúng đắn
về giáo dục, nghệ thuật
-Mạnh Tử: cũng là bộ sách kinh điển của Nho gia, có tất cả bảy chương, do Mạnh
Kha là học trò của Khổng Tử biên soạn Phát huy những nội dung của Nho gia có cải
cách chút ít cho hợp thời Trong văn xuôi của chư tử đời Tiên Tần, sách Mạnh Tử và Trang Tử mang tính văn học rõ nét nhất Về mặt nghệ thuật, có giá trị hơn Luận ngữ vì
sử dụng nhiều ngụ ngôn, tỷ dụ, văn hùng biện, dí dỏm, giàu sức thuyết phục
-Mặc Tử: ghi lại học thuyết của Mặc Địch, ngưòi sáng lập ra phái Mặc gia, cạnh
tranh ảnh hưởng với Nho gia đương thời Xuất thân dân nghèo nên học thuyết của ông về
cơ bản đại biểu cho lợi ích của tầng lớp nông dân, tiểu thủ công và thưong nhân Chủ trương của ông là :kiêm ái, tiết dụng, phi công… tiến bộ nhưng chỉ là ảo tưởng trong xã hội đương thời Văn chương ông mộc mạc, chất phác, tự nhiên Ông chủ trương “thượng chất” chứ không :thượng văn”, cốt thực dụng, không cần hoa mỹ, vì thế đọc văn ông thấy
rõ ràng, lý lẽ chặt chẽ, phân minh, khởi đầu cho lối văn biện luận sau này
-Trang Tử: Trang Chu soạn, sống cùng thời với Mạnh Tử, tiếp thu tư tưởng của
Lão Tử, tức là về mặt triết học đã nhìn thấy một số qui luật trong tự nhiên theo thuyết duy vật nhưng thô sơ Về chính trị thì phủ nhận hiện thực, muốn quay về xã hội nguyên thủy Bộ sách này là tác phẩm triết học nhưng không khô khan, nặng nề mà giàu ý vị văn học, ngôn ngữ trong sáng tươi đẹp, khoa trương mạnh bạo, ngụ ngôn sắc sảo…Sách Trang Tử chính là bộ sách tiêu biểu cho thành tựu cao nhất của văn xuôi Tiên Tần
B.2.VĂN HỌC ĐỜI TẦN- HÁN
Chủ yếu là đời Hán vì nhà Tần chỉ tồn tại có 15 năm
B.2.1 BỐI CẢNH XÃ HỘI.(1 tiết)
Năm 221 trước CN Tần tiêu diệt được Tề, thống nhất Trung Quốc, dựng lên vương triều phong kiến chuyên chế trung ương tập quyền đầu tiên trong lịch sử, nhưng nhà Tần chỉ tồn tại 15 năm, 3 đời vua, chính sự hà khắc, thuế khóa nặng nề, khởi nghĩa nông dân nổi lên khắp nơi Hạng Võ và Lưu Bang đã dựa vào các lực lượng khởi nghĩa
để diệt Tần Sau đó Lưu Bang lại diệt Hạng Võ Lên ngôi hoàng đế, lập nên nhà Hán
Nhà Hán bắt đầu từ năm 206 trước CN, chia làm hai thời kỳ: Tây Hán (-206đến 8 SCN), và Đông Hán (25-219), ở giữa là cuộc nổi lên rồi thất bại của Vương Mãng
Kinh tế Trung Quốc thời kỳ này phát triển khá mạnh: nông nghiệp có nhiều tiến
bộ về công cụ, thủ công nghiệp phát đạt kích thích hoạt động thương mại, các thành thị buôn bán ngày một nhiều lên: Lạc Dương, Thành Đô, Lâm Truy, Dương Lịch…
Về chính trị, nhà Hán sau khi ổn định trật tự xã hội ra sức xây dựng đế quốc Hán, tiến hành mở rộng biên cương, thôn tính nhiều bộ lạc và các nước nhỏ lân cận
Về văn hóa, vì là chính quyền chuyên chế nên có những biện pháp để bảo vệ và tăng cường sự thống trị của nó, tình trạng trăm nhà đua tiếng thời Chiến Quốc không thể tồn tại nữa Tần Thủy Hoàng khi tiến hành thống nhất văn tự, pháp lệnh, áo mão cũng tiến hành khống chế tư tưởng, sử thi các nước (trừ Tần), thi thư, sách vở đều bị đốt hết,
460 nho sinh bị đem chôn sống, ông muốn dùng chính sách ngu dân và luật pháp nghiêm khắc để thống trị đất nước
Khi nhà Hán lên thay, đã cho thu gom lại các sách đã bị đốt, thực thi chính sách mềm dẻo hơn là “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” của Đổng Trọng Thư, thực chất Nho học của Đổng khác với của Khổng Tử: duy trì và bảo vệ tuyệt đối quyền lực của nhà vua, hoàn toàn mang tư tưởng thống trị của nhà nước
Trang 16B.2.2.TÌNH HÌNH VĂN HỌC
Thời đại nhà Hán chính là thời đại mà giá trị văn hóa bắt đầu được trọng thị Văn học đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của nhân dân (sự xuất hiện của Hán phú là một thể loại hoàn toàn mang tính văn học, không dính đến sử, triết…) Sáng tác văn học rất hưng thịnh, số lượng dồi dào Đã xuất hiện một nhóm người chuyên hoạt động văn học, dựa vào tài năng văn học mà được quan chức, lấy việc sáng tác văn học làm sự nghiệp chính Đây là một đặc điểm nổi bật, hiện tượng này chưa từng có trong thời Tiên Tần (chỉ có nhà quân sự, ngoại giao… không có nhà văn, Khuất Nguyên là nhà chính trị), từ đây về sau hiện tượng này là bình thường Từ đời Hán trở về sau, dạng thức văn học mang tính địa phương dần dần bị xoá mất, thay vào đó là dạng thức văn học mang tính toàn quốc và lấy kinh đô làm trung tâm
Sự hình thành một quốc gia trung ương tập quyền khiến cho văn nhân đời Hán có một tầm nhìn xa rộng hơn, từ đó sinh ra những tác phẩm lớn (chuyến đi của Tư Mã Thiên có ý nghĩa tượng trưng là vậy: ông có dịp đối diện không phải với các nước chư hầu mà là một thế giới hoàn chỉnh, rộng lớn, từ ý thức không gian và thời gian hoàn chỉnh như vậy mới có thể miêu tả hoàn chỉnh tác phẩm của mình, do vậy mà bộ Sử ký có quy mô chưa từng có, đó chính là sản phẩm của thời đại)
Văn học Tiên Tần là nguồn cội của văn học Trung Quốc, có ảnh hưởng sâu xa, nhưng những thể loại thời này về sau ít dùng (thơ 4 chữ và thể Tao…) Đời nhà Hán xuất hiện nhiều thể loại văn học mới đặt nền tảng quan trọng cho đời sau: thơ ngũ ngôn, từ phú, ai điếu, tụng…
Những thành tựu đáng chú ý của thời Hán là:
Sở từ tuy có nhân tố văn xuôi hóa nhưng vẫn là một loại thơ trữ tình, nồng nhiệt Giả
Nghị (201-169 TCN) là nhà phú giai đoạn chuyển tiếp với hai bài Điếu Khuất Nguyên phú và Phục điểu phú (phú chim bằng); Tư Mã Tương Như có nhiều bài phú nổi tiếng lưu danh (29 bài) nhưng thất truyền chỉ còn 6 bài: Tử hư phú, Thượng lâm phú, Đại nhân phú, Trường môn phú, Mỹ nhân phú, Ai nhị thế phú Hai bài đầu là sáng tác tiêu
biểu của ông và xác lập thể chế, cấu trúc một bài phú đển hình Các tác giả sau này cơ bản mô phỏng theo thể thức của hai bài nói trên, chỉ thay đổi đề tài và ngôn ngữ
Điểm nổi bật của hai bài phú nói trên là phô trương và hoa mỹ, điều này phản ánh tinh thần của thời đại Thời Hán Võ Đế, vật chất, tài nguyên dồi dào, bản đồ Trung Quốc
mở rộng, kinh tế phát triển… dục vọng bành trướng, vì thế những bài phú “khuyên trăm châm biếm một” của Tư Mã Tương Như cũng một mặt thuận theo dục vọng của giai cấp thống trị mà trở thành văn học bành trướng, một mặt lại tuân theo tư tưởng Nho gia tranh thủ nền tảng đạo đức “nhân nghĩa bề ngoài” Nội dung hai bài phú được triển khai bằng cách đối đáp qua một cái khung hư cấu: sứ giả nước Sở đi sứ nuớc Tề khoe với vị đại thần nước Tề về phong cảnh đất Sở, rồi vị quan nước Tề cũng không thua kém khoe non sông nước Tề hùng vĩ hơn Bài phú dài hơn 4000 chữ chỉ để miêu tả chuyện đi chơi, săn bắn Lấy đó làm trung tâm để bao quát tất cả núi, biển, cung điện, ngự uyển, rừng rậm, sản vật, chim muông, âm nhạc ca vũ, phục sức đồ dùng, tiệc tùng yến ẩm… tác giả đã dùng một ngòi bút khoa trương, ngôn từ hoa mỹ miêu tả một không gian vĩ đại tạo nên một bức tranh hoành tráng, phong phú và một khí thế tráng lệ
Hai bài phú đã thể hiện một ý thức và kỹ xảo tu từ cao độ, hoàn toàn loại bỏ những từ ngữ giản đơn còn sót lại trong Sở từ Về mặt hình thức câu, câu sáu chữ chỉ còn
Trang 17được dùng để trang sức cho những đoạn quan trọng, câu bốn chữ được dùng nhiều nhất chen với ba chữ và bảy chữ Tuy vậy, ngôn ngữ được tu từ hóa cao độ khó tránh khỏi sự
trúc trắc khó hiểu, khô khan nặng nề (ví dụ Cung oán ngâm khúc của ta), nhưng nếu bỏ
những khuyết điểm đó thì đặc điểm cơ bản của phú cũng không còn tồn tại nữa
B.2.2.2.THƠ CA NHẠC PHỦ.(2 tiết)
1.Tình hình chung về nhạc phủ
Đầu tiên nó chỉ cơ quan nhà nước (quan phủ) chủ quản về âm nhạc, đặc biệt phát triển vào đời Hán Vũ Đế, nhiệm vụ cụ thể của nó bao gồm việc chế định nhạc phổ, huấn luyện nhạc công, sưu tập dân ca, sáng tác ca từ Đặc biệt việc sưu tập dân ca phát triển rất mạnh, từ các địa phương trải rộng ra cả nước Có bốn loại nhạc phủ đời Hán là: Giao miếu ca từ, Cổ súy khúc từ (quân nhạc), Tương hòa ca từ, Tạp khúc ca từ (những tác phẩm đã bị thất truyền) Giao miếu là các nhạc chương do các văn nhân sáng tạo để dùng vào việc cử hành điển lễ của triều đình Còn dân ca chủ yếu ở ba loại sau, nhất là trong loại Tương hòa
2.Thành tựu của nhạc phủ dân ca đời Hán
Nhạc phủ dân ca được xem là sáng tác trong dân gian, có sức sống mãnh liệt, nên
có địa vị cao trong văn học sử Trung Quốc, thường được ví là Kinh thi thời Hán Vì sao gọi là Kinh thi thời Hán, có một số đặc sắc của Kinh thi nhưng lại còn phát triển hơn, đó là:
+Mang hơi hướng cuôc sống rất đậm đà, lần đầu tiên phản ảnh rất cụ thể nỗi khó khăn và đau khổ trong cuộc sống hàng ngày của nhân dân tầng lớp dưới (lưu ý là các thể loại khác như Từ phú, Sử ký chỉ ghi chép một số giai cấp đặc thù, ít có nhân dân lao
động), chỉ có phần Quốc Phong trong Kinh thi có vài bài như Phạt đàn, Tháng Bảy…
nhưng chỉ kể lại một cách khái quát, không cụ thể và sâu sắc Còn trong nhạc phủ, nhiều
bài rất mới mẻ: Phụ bệnh hành (Một người phụ nữ bị bệnh nặng, trước khi chết dặn
chồng nuôi con đừng hắt hủi chúng, nhưng sau khi bà chết, con đói, phải đi xin ăn, lại
còn không biết mẹ đã chết nên khóc đòi mẹ , rất cảm động), bài Cô nhi hành (cô nhi
con một gia đình giàu có, nhưng sau khi cha mẹ chết, trở thành nô lệ trong nhà anh ruột
và chị dâu của mình, chịu đựng gió sương phong trần “trên đầu đầy chấy, mặt mũi bám đầy bụi bặm, thế nhưng vẫn không được nghỉ ngơi Anh cả bảo nấu cơm, chị dâu bảo chăn ngựa”, “sáng sớm đi gánh nước, chiều tối mới về nhà”, “mùa đông không áo ấm, mùa hè không áo đơn”…., đây là thực trạng của người dân tầng lớp dưới bấy giờ
->mở đầu cho một đặc điểm rõ rệt trong thi ca Trung Quốc, đó là phản ánh sự đau khổ trong cuộc sống
+Đặt nền tảng cho thi ca kể chuyện, từ trước chỉ là thơ trữ tình làm chính Khoảng 1/3 số nhạc phủ dân ca là thơ kể chuyện Để phản ánh sâu sắc cuộc sống, không gì tốt hơn hình thức kể chuyện tự sự Thơ kể chuyện trong nhạc phủ dân ca thường ngắn gọn, chọn lựa những sự kiện điển hình để biểu hiện, mâu thuẫn tập trung vào một điểm, khỏi
trình bày dài dòng Ví dụ bài Diễm ca hành (người làm thuê được chủ nhà vá áo giúp
khiến ông chủ ghen ghét, người làm thuê than vãn thế này thì về quê sướng hơn, nhưng trở về thì làm gì, nếu không bị cuộc sống dồn ép thì họ đâu phải bỏ xứ ra đi? Tuy sự việc ngắn ngủi nhưng làm người đọc liên tưởng biết bao khó khăn vất vả của người lưu lạc),
bài Thập ngũ tòng quân chinh càng nổi bật hơn ( “Thập ngũ tòng quân chinh, bát thập
thủy đắc quy Đạo phùng hương lý nhân: “Gia trung hữu a thùy?”, “Dao khán thị quân gia, tòng bách chủng lũy lũy” Thố tùng cẩu đậu nhập, trỉ tùng lương thượng phi Trung đình sinh lữ cốc, tỉnh thượng sinh lữ quỳ Thung cốc trì tác phạn, thái quỳ trì tác canh Canh phạn nhất thời thục, bất tri di a thùy Xuất môn đông hướng khán, lệ lạc triêm ngã y.” Dịch nghĩa: Mười lăm đi lính trận, tám mươi mới trở về Trên đường gặp người quen: “nhà tôi còn ai kìa?”, “Xa trông ấy nhà ông, tòng bách và mộ buồn” Thỏ rừng
Trang 18chui lỗ chó, nóc nhà trĩ rừng bay Sân giữa đầy lúa dại, giếng kia quỳ rừng bao Giọt lúa
để nấu cơm, hái quỳ để làm canh Cơm canh đều chín cả, nhưng biết để dành ai? Ra cửa nhìn về đông, áo tôi lệ ướt rồi.->Bài thơ chỉ có 16 câu mà hàm lượng của nó rất lớn, 65
năm sống trong quân ngũ, lúc nào cũng nhớ quê hương, đến khi trở về thân nhân đã ra đi vĩnh viễn Một lão già tóc bạc đối diện với ngôi nhà hoang vu để nát, cuộc sống thực là đau khổ
+Sự thể hiện sôi nổi, trực tiếp và nồng nàn, không như Kinh thi còn ôn hòa và
khuôn khổ (có thế Khổng Tử mới khen ngợi chứ), còn thơ ca nhạc phủ diễn đạt rất mãnh liệt, dù là nói về chiến tranh, tình yêu, quê hương, đều dốc hết tình cảm không hạn chế
(tiếp thu của Sở từ) Ví dụ hai bài sau:
Chiến thành nam: Chiến thành nam, tử quách bắc, dã tử bất táng ô khả thực Vi
ngã vị vô: “Thả vi khách hào! Dã tử lượng bất táng, hủ nhục an năng khứ tử đào?” Thủy thanh kích ích, bồ vĩ minh minh, hiếu kỵ chiến đấu tử, nô mã bồi hồi minh…” Dịch nghĩa: Đánh thành nam, chết quách bắc Chết ngoài đồng không chôn, quạ ăn xác mất Nhưng hãy giúp tôi nói với quạ: “Hãy khóc cho người chiến binh tha phương này đi, chết ngoài đồng tất nhiên không được chôn Vậy mớ thịt thối kia sao thoát khỏi mỏ nhà ngươi?” Tiếng nước chảy róc rách, lau sậy mọc âm u Người kỵ binh dũng cảm đã chết
trận, còn con ngựa thì cứ mãi hí dài…->chiến trường sau trận đánh quạ bay vần vũ tìm thi thể người chết kiếm ăn, diễn tả cảnh chiến tranh ác liệt và bi thương như vậy, trong
Kinh thi không hề thấy bóng dáng
Thượng tà: Thượng tà!Ngã dục dữ quân tương tri, trường mệnh vô tuyệt suy Sơn
vô lăng, giang thủy vi kiệt, đông lôi chấn chấn, hạ vũ tuyết, thiên địa hợp, nải cảm dữ quân tuyệt!” Dịch nghĩa: Trời ơi! Em muốn được tương thân tương ái với chàng, kéo dài mãi mãi không bao giờ chấm dứt Chỉ khi nào núi non sông cạn, mùa đông sấm nổ ầm
ầm, mùa hè tuyết rơi lả tả, trời đất dính nhau làm một, thì em mới tuyệt tình với
chàng!-> Bài thơ giản đơn, nhưng có sức mạnh, nhân vật đã dùng 5 hiện tượng tự nhiên không
thể xảy ra được để bày tỏ tình yêu mãnh liệt Trong Kinh thi tình yêu bao giờ cũng lý trí,
bình tĩnh Đây là một nỗ lực đòi giải phóng tình cảm của nhân dân lao động
3.Mạch Thượng Tang và Khổng Tước Đông Nam Phi
Là hai tác phẩm ưu tú nhất trong dân ca nhạc phủ, cũng là tiêu biểu cho thơ kể chuyện
Mạch Thượng Tang: có một nguồn gốc sâu xa, phụ nữ Trung Quốc hay đi hái lá dâu nuôi tằm vào mùa xuân, cũng là nơi trai gái gặp nhau hẹn hò, như bài Thập mẫu chi gian trong Kinh thi, câu thơ Tang gian bộc thượng (trên bộc trong dâu) ngụ ý chuyện trai
gái là vì vậy
MTT còn có tên là Diễm ca La Phu hành, là một bài thơ vui viết về một cô gái
đẹp tên là Tần La Phu (là tên gọi chung các cô gái đẹp thời nhà Hán) đang hái dâu tại
Nam Ngung, mọi người trông thấy cô đều ái mộ: “Người đi đường thấy La Phu, đặt gánh vuốt râu nhìn Thiếu niên thấy La Phu, lột nón sửa búi tóc.Người cày quên cả cày, người cuốc quên cả cuốc Ai nấy quên giận hờn, chỉ ngồi ngắm La Phu Sứ quân từ nam đến, năm ngựa đứng chần chừ…Sứ quân hỏi La Phu: “Chịu ngồi chung xe không?”….La Phu dứt khoát từ chối và đem chồng mình ra khoe khoang…: “Sứ quân tự hữu phụ, La Phu tự hữu phu…”, “Da dẻ sạch và trắng, hàm râu lại khá dài Bước đi thực chững chạc, chầm chậm trong phủ riêng Giữa nơi đông nghìn người, đều bảo chồng tôi xinh.” để từ chối dứt khoát lời tỏ tình của sứ quân Tác giả bài thơ không có ý
thể hiện theo hướng một cảnh tượng lãng mạn giữa đôi trai gái bất ngờ gặp nhau, mà muốn đi theo hướng luân lý đạo đức chính thống Tác phẩm lấy tính lãng mạn để mở đầu câu chuyện, rồi lại lấy sự hài hước để kết thúc để tránh lối thuyết giáo đạo đức khô khan
vô vị, vì thế thỏa mãn tâm lý quần chúng Bài thơ có ảnh hưởng lớn, những thi nhân đời sau như Tào Thực, Lục Cơ, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị có mô phỏng theo nó
Trang 19Khổng Tước Đông Nam Phi: là câu chuyện có thật, toàn bài thơ dài 353 câu,
1765 chữ, là bài thơ kể chuyện dài hiếm thấy trong nhạc phủ dân ca và trong thi ca Trung Quốc Bài thơ viết về một bi kịch gia đình thường thấy trong xã hội phong kiến Tiêu Trọng Khanh thương yêu người vợ là Lưu Lan Chi nhưng mẹ của Tiêu lại không thích con dâu, mâu thuẫn ngày càng quyết liệt, mẹ mắng chửi thậm tệ rồi bắt cưới vợ khác, Tiêu bảo vợ về nhà cha mẹ một thời gian rồi sẽ tính Thế nhưng khi về nhà lại bị người anh ruột ép nàng lấy người khác, quá bế tắc, Lưu Lan Chi quyết tìm đến cái chết Tối trước khi đám cưới, Lưu và Tiêu ôm nhau tự sát Hai nhà chôn chung họ vào một ngôi
mộ ->Bi kịch phản ánh số phận bi đát của người phụ nữ trong xã hội phong kiến, không được quyền định đoạt số phận của mình Thành công của bài thơ là miêu tả tâm lý sinh động, sử dụng thuần thục thể thơ 5 chữ, diễn tả tình yêu kéo dài vô tận kể cả khi chết (giống Romeo và Julliette), người đời sau rất yêu thích, nhiều tác phẩm dân gian chịu ảnh hưởng sâu sắc bài thơ này như Lương Sơn Bá- Chúc Anh Đài…
B.2.2.3.SỬ KÝ.( 3 tiết)
Phú của Tư Mã Tương Như và Sử ký của Tư Mã Thiên có chỗ giống nhau về mặt
biểu hiện ý thức thời đại, nhưng như vậy không có nghĩa là về mặt tư tưởng nghệ thuật như nhau Tư Mã Tương Như viết ra những bài phú phù hợp vớ ý thích của nhà vua, còn
Tư Mã Thiên trái lại duy trì được lập trường độc lập của một học giả, Sử ký chẳng những
có một khí phách hùng hồn, phản ánh được áp lực của chế độ quân chủ chuyên chế đè nặng lên tư tưởng và văn hóa trong xã hội, mà còn ý thức được mâu thuẫn xã hội phúc tạp, thể hiện những ưu tư sâu sắc đối với xã hội và lịch sử của người cầm bút… là những điều mà Hán phú không thể có được
1.Tác giả
Nếu như Khuất Nguyên viết Ly tao bằng cả cuộc đời bi kịch phẫn uất của mình thì Tư Mã Thiên cũng viết Sử ký bằng cả cuôc đời căm hờn tủi nhục trong xã hội phong
kiến bất công tàn bạo
Về cuộc đời Tư Mã Thiên có những điểm đáng chú ý sau đây:
1.Tư Mã Thiên (145-87 TCN) tự Tử Trường, quê quán thuộc Thiểm Tây ngày nay Cha ông là Tư Mã Đàm, một học giả uyên bác, rất chú ý đến sự giáo dục con cái Năm 10 tuổi theo cha lúc này là Thái Sử lệnh đến Trường An học với nhiều học giả nổi tiếng thời bấy giờ như Đổng Trọng Thư, Khổng An Quốc…Tư Mã Đàm là một người viết sử chân chính, dũng cảm bảo vệ sự thật (ví dụ: nhà chép sử nước Tề vì chép việc Thôi Trữ giết vua nên bị Thôi Trữ chém, người em lên thay vẫn chép “ Thôi Trữ giết anh
là Trang Công”, cũng bị giết, người em thứ ba lên thay vẫn chép thế, Thôi Trữ không dám giết nữa.) Tư Mã Đàm có ý định viết sử nhà Hán, nhưng chưa kịp làm thì chết, lúc
đó Tư Mã Thiên 30 tuổi Ông dặn con phải thực hiện ý định đó của mình
2.Năm 20 tuổi, ông bắt đầu đi chu du khắp nơi, thăm những di tích lịch sử, những nhân vật lịch sử mà trong truyền thuyết có nói đến:lên núi Cối kê nghe chuyện Việt Vương Câu Tiễn, đến sông Mịch La khóc Khuất Nguyên, lên miền Bắc thăm quê Khổng
Tử, thăm di tích Mạnh Thường Quân, thăm quê Lưu Bang, … Về sau ông lại theo vua
Võ Đế đi nhiều nơi, dấu chân ông in khắp các địa phương trong cả nước Đến đâu ông cũng hỏi han, ghi chép về hình thể sông núi, phong thổ, nhân tình, truyền thuyết Những cuộc chu du này làm cho tư tưởng và nhãn quang của ông được mở rộng, giúp ông sưu
tập được nhiều tài liệu…có tác dụng rất lớn khi ông viết bộ Sử ký sau này.Thời bấy giờ
giao thông đi lại khó khăn, trộm cướp như ong, việc đi du lịch của ông là một hành động dũng cảm của người làm công tác khoa học
3.Họa Lý Lăng Sau khi cha chết, ông nối nghiệp cha làm Thái sử lệnh, bắt đầu tìm đọc, nghiên cứu các sử liệu, chuẩn bị cho việc viết sử thì xảy ra họa Lý Lăng Lý Lăng là cháu của Lý Quảng (Lý tướng quân liệt truyện), năm 99 TCN cầm quân chống
Trang 20trả sự xâm nhập của Hung nô Sau nhiều trận chiến bị thất bại, Lý Lăng đã đầu hàng Võ
đế hết sức giận dữ Tư Mã Thiên dâng sớ trần tình về việc Lý Lăng đầu hàng là bất đắc
dĩ, sau này chắc chắn sẽ có cơ hội báo đáp lại Hán triều Sự biện hộ của Tư Mã Thiên làm cho vua Võ đế thêm tức giận, bắt giam ông, giao pháp quan xét xử Ông bị cung hình (một trong năm hình phạt thảm khốc thời cổ: khắc vào mặt, xẻo mũi, cắt dương vật, chặt chân, cắt đầu) Luật nhà Hán có thể dùng tiền chuộc, nhưng nhà nghèo, bạn bè không ai giúp, ông không còn cách nào khác Qua sự kiện này, Tư Mã Thiên có một sự nhận thức mới đối với quyền lực tuyệt đối của nhà vua chuyên chế, cũng như đối với cảnh ngộ trong cuộc đời luôn bị sức mạnh từ bên ngoài chi phối Trong nhà giam, nhiều lần ông định tự tử, nhưng ông lại không bằng lòng kết thúc mạng sống quí báu của mình trước một tình huống hoàn toàn không có giá trị như vậy, ông noi gương Khổng Tử (giữa
thời loạn vẫn viết kinh Xuân Thu), Khuất Nguyên (bị đi đày vẫn viết Ly Tao), lấy việc
viết sử làm mục tiêu tối cao trong cuộc đời Đó cũng là một hình thức phản kháng mà ông áp dụng đối với sự lạm dụng quyền uy của nhà vua và sự tàn bạo của số mệnh Vào năm 93 TCN, ông dã hoàn thành bộ Sử ký , tất cả 12 năm để hoàn thành trước tác vĩ đại này
Sử ký nguyên có tên là Thái Sử Công Thư, đến cuối đời Đông Hán mới được gọi
là Sử ký Đó là một trước tác có hệ thống hoàn chỉnh đầu tiên do một cá nhân hoàn
thành Toàn bộ sách có 130 quyển, hơn 52 vạn chữ
2.Giá trị sử học của Sử Ký
Đây là bộ sử đầu tiên của loài người viết về một dân tộc trong thời gian gần 3000 năm từ Hoàng đế đến Hán Vũ đế Đây cũng là một bộ sử hết sức đặc biệt vì bao gồm mọi mặt của đời sống xã hội: chính trị, kinh tế, văn hóa, luật pháp… là bộ bách khoa toàn thư
của Trung Quốc thời cổ Quách Mạt Nhược nói: “Công lao của Tư Mã Thiên so với Khổng Tử không hơn không kém”
Sử ký có 5 phần: Bản kỷ, biểu, thư, thế gia, liệt truyện
-Bản kỷ: ghi chép sự tích các đế vương (ngũ đế: Hoàng đế, Chuyên Húc, Cốc, Nghiêu, Thuấn; Hạ, Thương, Chu, Tần, Hạng Vũ, Hán Cao Tổ, Lữ Hậu, Hiếu Văn, Hiếu Cảnh, Hiếu Vũ), tất cả 12 bản kỷ Đặc biệt ông làm bản kỷ cho Hạng Vũ dù Hạng chưa làm vua nhưng có công lớn trong việc tiêu diệt Tần; làm bản kỷ cho Lữ Hậu mà không cho Hiếu Huệ đế vì trên thực tế Lữ Hậu thao túng mọi quyền hành Nghĩa là ông đánh giá địa vị của nhân vật lịch sử dựa vào thành tựu thực tế của họ chứ không phải dựa vào việc họ có một thứ danh vị nào đó.Bản kỷ không chỉ ghi chép niên biểu mà còn đi sâu vào các sự kiện, tính cách các nhân vật Nó là sử mà cũng là văn học, một loại truyện ký
-Biểu: là dùng hình thức biểu mẫu để chia các sự kiện trong từng thời kỳ lịch sử căn cứ vào niên đại Có 10 biểu, là những công trình sử học rất nghiêm túc và có giá trị
-Thư: Ghi chép những kiến thức chuyên môn trong nhiều lĩnh vực, gồm 8 thư như
Lễ thư, Nhạc thư, Luật thư, Lịch thư, Thiên quan thư, Phong thiện thư (cúng bái), Hà cừ thư( sông đào ), Bình chuẩn thư
-Còn Thế gia và Liệt truyện mang nhiều tính văn học nên không nói ở đây.(giải thích: Thế gia là những gia tộc cha truyền con nối, những truyện ký về các nhân vật được thờ cúng nhiều đời như Khổng Tử, Trần Thắng… ; Liệt truyện là phần ghi chép những câu chuyện về nhân vật không ghi ở Bản kỷ và Thế gia) Ngoài ra còn một bộ phận ghi chép lịch sử các dân tộc ở vùng biên cương Trung Quốc
Nhìn chung, với tư cách là một bộ sử, Sử ký có những ưu điểm sau:
-Thái độ của ông là thái độ phê phán chứ không ca ngợi, nhất là đối với lịch sử của vương triều nhà Hán, với thể chế chính trị đương thời, trước sau ông dùng ngòi bút
lạnh lùng, khách quan, chính sử của các triều đại sau Sử ký, phần lớn đều do triều đình
chủ trì, dựa theo ý chí của nhà vua để biên soạn, trái lại Tư Mã Thiên tuy là sử quan của triều đình nhưng lại không thể hiện ý chí của người thống trị tối cao là vua Hán Vũ Đế,
Trang 21nghe đâu có vài đoạn còn làm ông vua này tức giận, đòi xé bỏ Ông vạch trần những sai trái của cả nhà vua khai sinh ra triều Hán là Lưu Bang, chỉ rõ những tiêu cực trong triều đình: vua sử dụng bọn quan lại tàn ác, bao che người thân, mê tín cầu tiên, bon chen, đấu
đá nhau… Sự phê phán đó không phải là bôi đen hay phủ định một cách đon thuần mà là
sự ghi chép lịch sử thể hiện cá tính nhân vật một cách cụ thể và đáng tin, từ đó đưa ra môt cái nhìn hoài nghi và suy tư sâu sắc: thì ra những người giành được địa vị cao chưa chắc là phẩm chất cao quý, còn nhửng người thất bại thì trái lại (ví dụ trường hợp Lưu Bang và Hạng Vũ) Thể tài sử học của Sử ký, lần đầu tiên lấy con người là trung tâm để ghi chép lịch sử, khác với trước lấy sự kiện lịch sử, thời gian lịch sử làm trung tâm, con người chưa được chú ý đầy đủ Viết về triều đại mình sống là dũng cảm, khen chê không
nể nang lại càng dũng cảm Thông thường các sử gia Trung Quốc chỉ viết về những triều đại đã qua và nếu có viết về triều đại mình đang sống thì cũng chỉ dừng lại ở mức độ ghi chép sự việc không bình phẩm Đó là thái độ dũng cảm bảo vệ sự thật, chính nhờ vậy mà ngày nay chúng ta còn những trang sách nói rõ sự thật đời Hán
-Quan điểm của Tư Mã Thiên là quan điểm duy vật và khoa học Ông không thần
bí hóa vua chúa, coi việc trị vì của dòng họ là mệnh trời Theo ông, sự thay đổi các triều đại là có quy luật, là sự vận động của lịch sử (các sử gia đời sau huyền bí hóa sự xuất hiện của Lưu Bang, ông thì không, ông miêu tả Lưu Bang từ lúc xuất thân, đến lúc cùng nông dân khởi nghĩa… cách lý giải việc dựng nghiệp của Lưư Bang là có thực và thuyết phục)
-Bám chắc vào sự thật, nhân vật của Tư Mã Thiên có một độ tin cậy khá cao, đó là
do ông tôn trọng sự thật Quan niệm này khác xa những nhà viết sử Hy Lạp, La Mã cổ đại (trừ Thuxiđit), họ thường xem sử là một công trình nghệ thuật, nhân vật thường có những bài diễn văn rất hay nhưng là do tác giả viết ra, không ai lấy đó làm cơ sở chính
cho việc nghiên cứu Hy Lạp, La Mã cả Còn Sử ký trước nay vẫn là uy tín lớn nhất của
cổ sử Trung Hoa
-Ông có quan điểm nhân dân khi viết sử Lịch sử không phải do vua chúa tạo nên
mà là quảng đại quần chúng Ông ca ngợi Trần Thiệp, Ngô Quảng, những lãnh tụ khởi nghĩa nông dâ, chính những cuộc khởi nghĩa này là tiền đề cho sự sụp đổ của đế chế Tần
Tóm lại, với tư cách là một nhà viết sử, Tư Mã Thiên đã đứng trên lập trường
nhân dân, có thái độ khoa học và đã dũng cảm bảo vệ chân lý Sử ký do đó trở thành một
bộ sử có giá trị khoa học cao
III Giá trị văn học của Sử ký
Lỗ Tấn gọi Sử ký là “văn vận chi Ly Tao” (Thiên Ly tao viết bằng văn xuôi) Trừ
Thư và Biểu ra, Liệt truyện, Thế gia, Bản kỷ là những tác phẩm truyện ký sinh động, chân thực, nét cá tính nhân vật cao Liệt truyện có thể coi là những tác phẩm văn học hoàn chỉnh Giá trị văn học của sử ký ở những mặt sau: nghệ thuật kể chuyện, nghệ thuật xây dựng nhân vật và ngôn ngữ
1.Nghệ thuật kể chuyện: sử gia tiên Tần là những nhà kể chuyện khá hứng thú và
đó chính là nguồn tư liệu nhất định cho Sử ký Tuy vậy, sử tiên Tần chủ yếu vẫn là ghi
chép, kể lại những sự kiện lịch sử có đầu có đuôi một cách hoàn chỉnh, thái độ kể chuyện mang tính sử học (thông qua những sự kiện đó bày tỏ thái độ- phê phán hay khen chê về mặt chính trị và đạo đức) Tư Mã Thiên trái lại, ngoài ghi chép, kể lại sự việc còn cố gắng tái hiện cảnh tượng từng xảy ra trong lịch sử và ý thức hoạt động của nhân vật, phản ánh mạnh mẽ nhiều mặt sinh hoạt của loài người, vì thế thái độ kể chuyện của Tư
Mã Thiên mang tính văn học rõ rệt
*Phương thức kể chuyện cơ bản trong Sử ký là kể lại một cách khách quan, đứng
ngoài sự kiện, luôn ở ngôi thứ ba Chỉ có phần bình sau cùng, ông mới xuất hiện với tư cách là người luận bàn.->tạo một không gian xoay trở rất rộng cho ngòi bút Tuy vậy ông
Trang 22cũng bộc lập trường và khuynh hướng của mình thông qua so sánh những hoạt động khác nhau của các nhân vật lịch sử, sự triển khai các sự kiện lịch sử
*Lối kể chuyện sống động như thật, tạo ra chuỗi chuyện kể liên hoàn (truyện Tín Lăng Quân là do những câu chuyện như thân nghinh Hầu Sinh, trộm phù cứu Triệu…; truyện Liêm Pha và Lạn Tương Như thì gồm hoàn trả ngọc cho nước Triệu, cuộc họp tại Mãnh Trì, tự mang roi đến tạ tội…-> câu chuyện phức tạp, biến hóa, hấp dẫn chứ không đơn giản, một chiều), chuyện về nhân vật này liên quan đến nhân vật khác và có thể xem qua lại để bổ túc tính cách nhân vật (tính cách Ngũ Tử Tư được bổ túc trong phần viết về Việt vương Câu Tiễn, Ngô vương Phù Sai; của Lưu Bang trong phần viết về Hạng Võ và ngược lại, của Lã Bất Vi trong phần nói về Lý Tư liệt truyện, Tần Thủy Hòang bản kỷ…)
*Lối kể chuyện đầy kịch tính: Tư Mã Thiên thích triển khai những câu chuyện trong hoàn cảnh hiện thực có sự xung đột mâu thuẫn gay gắt, nhân vật tự mình trực tiếp hành động, thể hiện bản thân làm cho đ6ọc giả quên mất sự tồn tại của nhân vật người kể chuyện (câu chuyện về Lý Quảng, câu chuyện Hồng môn yến…), lối kể chuyện này có rất nhiều ưu điểm: hiệu quả văn học rất hiện thực, mang tính khẩn trương tạo sức hấp dẫn cho tác phẩm khỏi phải diễn giải dài dòng, qua xung đột gay gắt dễ bộc lộ tính cách nhân vật
2.Nghệ thuật xây dựng nhân vật: trong Tả truyện, Chiến Quốc sách một số nhân
vật có cá tính nhất định, tuy vậy miêu tả nhân vật chỉ là vụn vặt trong quá trình kể chuyện, thiếu tính hoàn chỉnh Sử ký đã nâng cao, phát triển nghệ thuật xây dựng nhân vật lên một bước cao hơn với những đặc điểm rõ rệt, để lại nhiều nhân vật khá ấn tượng
-Hàng nghìn nhân vật sống động với đủ mọi tầng lớp, mọi số phận Từ đế vương (Lưu Bang, Hạng Võ, Tần Thủy Hoàng…), anh hùng quân tử (Mạnh Thường Quân, Hàn Tín, Lý Quảng…), kẻ tiểu nhân, triết gia (Khổng Tử, Trang Tử…), nhà du thuyết (Trương Nghi, Tô Tần), các lãnh tụ nông dân (Trần Thiệp, Ngô Quảng…), các hiệp
khách (Kinh Kha, Nhiếp Chính…)… Trong Sử ký có cả một nhân loại mênh mông, về
mặt này, Tư Mã Thiên có thể sánh với những nhà văn lớn nhất của nhân loại, với những
âm hưởng lãng mạn, màu sắc truyền kỳ về những nhân vật trong truyện, thật chẳng khác nào một bộ sử thi anh hùng Quy mô của tác phẩm làm ta choáng ngợp, bút lực của tác giả làm ta kinh sợ
-Khi xây dựng nhân vật, các nhà viết sử thường xét tư thế lịch sử của họ (mô tả họ trong những giây phút làm nên lịch sử), Tư Mã Thiên còn chú ý đến quá trình hình thành tính cách, sự thay đổi trong vận mệnh nhân vật Đối với những nhân vật có sự nghiệp lẫy lừng, ông thường miêu tả người đó khi hãy còn hàn vi, bị khinh khi chà đạp, khi họ chưa đóng vai trò lịch sử, thì tính cách nhân vật mới dày dạn, sắc nét (ví dụ Lưu Bang lúc còn hàn vi ăn quỵt tiền rượu của bà Vương, cho đến khi trở thành vua thì ngồi xổm mà tiếp khách…) Thái độ của Tư Mã Thiên nghiêng hẳn về những nhân vật bi kịch anh hùng (Hạng Vũ, Khuất Nguyên, Lý Quảng…), ông không tán thành một cuộc sống cầu an, vụn vặt, vì vậy những đoạn viết về Hạng Vũ lúc tự sát khi thất bại đến 1,2 nghìn chữ đối với việc viết sử hoàn toàn không cần thiết nhưng lại đem đến hiệu quả cao cho một tác phẩm văn học Những bi kịch đó cho thấy tâm tư của riêng tác giả gửi vào trang viết, đó là sức phản kháng mãnh liệt của những con người có nhân cách cao thượng đối với số phận
-Khéo miêu tả tính cách nhân vật thông qua:
+Ngoại hình và tinh thần thường thống nhất với nhau
+Hành động bộc lộ tính cách, mở đầu cho truyền thống dùng hành động thể hiện tính cách trong văn học cổ điển Trung Quốc
+Giải thích lý do phát triển tính cách là do hoàn cảnh sống của nhân vật (Lã bất
Vi là thương nhân nên cách suy nghĩ, hành động giống như con buôn…)
+Qua đối thoại bộc lộ tính cách( Lưu Bang khi thấy Tần Thủy Hoàng làm vua thì thèm muốn, Hạng Vũ thì nghĩ có thể lật đổ hắn để thay thế ->chí khí hai người đã khác
Trang 23nhau; Trần Thiệp khi làm vua có người bạn nông dân đến thăm nói “chu choa, Thiệp làm vương trông sang gớm -> tính chất phác và lỗ mãng của người phát ngôn, rất gần với sự thật)
+Đặt nó trong sự đối lập với các nhân vật khác: Lý Tư- Triệu Cao, Hạng Vũ- Lưu Bang, Ngũ Tử Tư- Bá Phỉ…
Cái hay trong việc xây dựng nhân vật của Tư Mã Thiên là thế, ông khai thác các nguyên nhân hình thành và phát triển tính cách một cách hợp lý, logich, đầy thuyết phục, không phải sinh ra đã là vĩ nhân
3.Nghệ thuật ngôn ngữ: được mọi người khen là thành tựu mẫu mực của cổ văn,
Tư Mã Thiên đã hình thành một lối văn tự sử giản dị, thuần phác, lưu loát nhưng sinh động và đa dạng, đồng thời không kém tính chính xác của một tác phẩm sử học
Về cơ bản Sử ký được viết theo lối văn víêt sách, nhưng lại không khác khẩu ngữ
đương thời, trong sách còn trích dẫn nhiều lối nói của quần chúng, tục ngữ phương ngôn làm tăng thêm sinh khí cho ngôn ngữ, câu văn dường như không trau chuốt lắm, nhưng lại rất xuôi tai, do Tư Mã Thiên trong lúc kể chuyện dốc hết tình cảm của mình vào nên câu văn có sức truyền cảm mạnh
Tóm lại, Sử ký là tác phẩm có giá trị nhiều mặt, trước hết là một tác phẩm sử học
có giá trị vì tính khoa học, quan điểm tiến bộ; cũng đồng thời là một tác phẩm văn học lớn vì nó mang đặc trưng của văn học, đó là tính hình tượng thể hiện qua cuộc sống
muôn hình muôn vẻ, qua những nhân vật sống động Mặc dù Tư Mã Thiên tự nhận “tôi chỉ ghi chép mà không sáng tác” nhưng cho đến nay, nó vẫn là một đỉnh cao của văn học
cổ Trung Quốc
4.Địa vị và ảnh hưởng của Sử Ký
-Trước hết là về mặt nhận thức lịch sử: Người Trung Quốc đọc Sử ký để hiểu lịch
sử 3000 năm từ Hoàng đế đến Hán Vũ Đế, người nước ngoài đọc Sử ký để hiểu lịch sử
cổ đại Trung Quốc Với giá trị khoa học, Sử ký cho ta hiểu được quy luật vận động của
lịch sử, nhìn nhận và công nhận những công lao đóng góp của một số nhân vật đối với lịch sử :Trần Thiệp được đề cao vì là lãnh tụ nông dân khởi xướng vũ trang lật đổ Tần, Hạng Vũ được đánh giá đúng dù thất bại và tàn bạo…
-Mở đầu một phong cách văn học, đó là truyện ký lịch sử Cách viết văn học hóa
chuyện lịch sử bắt nguồn từ Sử ký, sau này Trung Quốc trở thành nước viết nhiều truyện
lịch sử nhất thế giới; Đông Chu Liệt quốc, Tam Quốc chí, Thủy hử… đều là những tác phẩm bắt nguồn từ lịch sử
-Một số nhân vật, cốt truyện, chi tiết là kho đề tài vô tận cho văn học nghệ thuật đời sau, được tiếp thu một cách trọn vẹn về ngoại hình, tính cách…chúng tỏ sự hoàn hảo của nó Nhân dân đã tiếp thu trọn vẹn và quen thuộc với những hình tượng điển hình này nên đời sau khó lòng thay đổi tính cách, chỉ có thêm bớt, gia giảm mà thôi
-Sử ký được viết ra cách đây 20 thế kỷ Thế giới quan của Tư Mã Thiên cho dù
tiến bộ cách mấy cũng mang những hạn chế không tránh khỏi như: thuyết định mệnh,
tướng số, Nho gia bảo thủ… Tiếp thu Sử ký phải là sự tiếp thu có chọn lọc
-Sử ký là một tác phẩm khó đọc nhưng rất hay, vì cách diễn đạt kín đáo nên phải
đọc đi đọc lại nhiều lần Hương dẫn sinh viên: tác phẩm có quá nhiều nhân vật, chỉ chú ý đến nhân vật chính, đừng chú ý những nhân vật râu ria sẽ mất tập trung Đọc nhân vật nào xong mở ngay chương nói về nhân vật liên quan để hiểu rõ hơn về thời đó, con người đó, ví dụ: Câu Tiễn- Ngũ Tử Tư; Tần Thủy Hoàng- Hạng Vũ- Lưu Bang… chỉ chú
ý các phần liệt truyện và bản kỷ
Đọc kỹ: Tần Thủy Hoàn bản kỷ, Hạng Vũ bản kỷ, Hán Cao Tổ bản kỷ, Trần Thiệp thế gia, Liêm Phả, Lạn Tương Như liệt truyện, Khuất Nguyên liệt truyện, Lý tướng quân liệt truyện, Thích khách liệt truyện, Hoài Âm Hầu liệt truyện…
Trang 24B.3.VĂN HỌC THỜI NGỤY TẤN VÀ
Cuối cùng họ Tào thắng thế, triều Ngụy bắt đầu, được hơn 40 năm lại bị họ Tư
Mã lật đổ, lập nên nhà Tấn 125 năm sau, bị tộc Hồ ở phương Bắc uy hiếp nên dời đô về phương Nam (Đông Tấn), rồi bị Tống, Tề, Lương Trần thay nhau cướp ngôi, phía Bắc thì Hậu Ngụy và Chu Sử gọi thời này là Nam Bắc Triều hoặc Lục Triều
Tóm lại, trong hơn 300 năm này, Trung Quốc chưa bao giờ bị chia cắt, loạn ly nhiều như vậy, đời sống nhân dân khốn khổ, lòng dân ngán ngẩm, kể cả những người có học cũng chán nản (giải thích dòng thơ điền viên, ẩn sĩ đời Tấn- Đào Uyên Minh) Về mặt tư tưởng xã hội, đây là thời kỳ phát triển tự do, không câu nệ, đạo Nho không được tôn sùng nữa, sau thời kỳ “bách gia tranh minh”, đây là thời kỳ phát triển nhất Lão Trang và Phật giáo được ưa chuộng
B.3.2.VĂN HỌC
Thơ phát triển chủ yếu thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều phat triển văn phê bình
B.3.2.1.THI VĂN KIẾN AN
Năm công nguyên 196, Tào Tháo vâng mệnh vua Hán Hiến Đế dời đô về Hứa Xương, đổi niên hiệu là Kiến An, chiêu nạp những kẻ sĩ có tài và hình thành ở phía Bắc một trung tâm văn học Sự sáng tác văn học trong thời Kiến An vì thế theo thói quen vẫn gọi là “văn học Kiến An”
Đặc điểm chính của giai đoạn văn học này là: từ phú vẫn phát triển, nhưng tiểu phú trữ tình đã thay thế đại phú miêu tả sự vật như kiểu Tư Mã Tương Như; văn chương thời này hoa mỹ, trau chuốt có ý thức, tuy vậy chưa đến nỗi quá lạm dụng điển tích, phô trương quá nhiều mà vẫn trong sáng, dễ hiểu, rõ ràng, chặt chẽ, giàu truyền cảm
Những đại biểu của văn học Kiến An là ba cha con họ Tào, Kiến An thất tử (Khổng Dung, Trần Lâm, Vương Xán, Từ Cán, Nguyễn Vũ, Ứng Sướng, Lưu Trinh), Thái Diễm, tự Văn Cơ…
Ba cha con họ Tào vừa là đầu não chính trị, vừa là lãnh tụ văn đàn trong thời Kiến
An Trong đó, Tào Thực tuy bị thất bại về mặt chính trị, nhưng về mặt văn học lại là người có thành tựu lớn nhất
Tào Tháo xuất thân trong một gia đình hèn kém, không có chỗ dựa cao quý về
mặt huyết thống, lại chịu ảnh hưởng của phong cách thời đại, nên ông không bị ràng buộc bởi tiêu chuẩn giá trị và quan niệm luân lý truyền thống Trong chính trị, ông chú trọng hiệu quả thực tế và khinh thường những lễ nghi phiền phức, vụn vặt, tính tình ông không câu nệ, cố chấp, cá tính và tình cảm thường bộc lộ một cách thẳng thắn Sáng tác của ông bộc lộ rõ rệt cá tính và tư tưởng của ông Tào Tháo đặc biệt yêu thích hình thức tho ca nhạc phủ, ông thường phản ảnh những nỗi đau khổ của dân chúng, đời sống và tình cảm của người dân lớp dưới chứ không phải là của vị chủ soái Tuy vậy, vừa là một
Trang 25nhà chính trị, quân sự, có hoài bão lớn lao, thơ ông vượt ra ngoài cuộc sống hạn hẹp mà
vươn tới tầm nhìn rộng rãi hơn, các bài như Giới lộ, Cao lý hành, Thiện tai hành…
phản ánh những sự kiện lịch sử quan trọng cuối đời nhà Hán
Cao lý hành:
Quan Đông hữu nghĩa sĩ, hưng binh thảo quần hung Sơ kỳ hội Mạnh Tân, nãi tâm tại Hàm Dương Quân hợp lực bất tề, trù trừ nhi nhạn hành Thế lợi sử nhân tranh,
tự hoàng tự tương thương Hoài nam đệ xưng hiệu, khắc tỷ ư bắc phương Khải giáp sinh
ki sắt, vạn tính dĩ tử vong Bạch cốt lộ ư dã, thiên lý vô kê minh Sinh dân bách di nhất, niệm chí đoạn nhân trường (Quan Đông có nghĩa sĩ, hưng binh diệt bạo tàn Mạnh Tân đầu tiên hợp, Hàm Dương nơi lo toan Quân hợp sức còn yếu, do dự chưa dám tiến Quyền lợi cùng tương tranh, về sau tự giao chiến Hoài Nam em xưng đế, đất bắc khắc
ấn vua Ao giáp đầy trứng rận, muôn dân chết bốn mùa Xương trắng phơi đầy đồng, nghìn dặm tiếng gà không Trăm dân chỉ sót một, nghĩ tới đứt ruột không.) Bài thơ khái
quát việc hợp nhất quân đội để trừng phạt Đổng Trác, nhưng do hai anh em Viên Thiệu
và Viện Thuật có mưu đồ riêng nên xảy ra chiến tranh kéo dài làm bá tánh đau khổ Ngôn ngữ giản dị, khí phách to lớn, cảm tình sâu đậm
Tào Tháo là một vị anh hùng nhưng về mặt yêu nghệ thuật thì ông không kém một văn nhân nào, thơ ông rất ít từ ngữ hoa mỹ, thường mô tả những gì hùng vĩ, ngôn ngữ chất phác, khí thế mạnh mẽ, nội dung sâu xa Văn xuôi của ông cũng rất đặc sắc, Lỗ Tấn
gọi ông là “tổ sư cải tạo văn chương”, văn chương ông không chịu sự ràng buộc của
những quy luật cũ kỹ, rất sắc bén và lưu loát, không trích dẫn kinh điển dài dòng rỗng tuếch của văn chương Nho sinh đời Hán
Tào Phi (187-226) là con trai thứ của Tào Tháo, ông dựa vào nền tảng do cha để
lại, thay thế triều đại nhà Hán, làm hoàng đế lấy quốc hiệu là Ngụy Tào Phi học rộng biết nhiều, rất siêng viết lách, yêu thích văn học Ngôn ngữ dễ hiểu, tinh tế hơn dân ca,
sở trường diễn tả những tình cảm uyển chuyển, tinh tế, thanh nhã Bài Yến ca hành rất
nổi tiếng:
Quần yến từ quy nhạn nam tường, Bầy én giã từ nam nhạn xuống
Niệm quân khách du tư đoạn trường, Nhớ chàng đi xa thiếp xót thương
Khiển khiển tư quy luyến cố hương, Mênh mang mong nhớ về cố hương,
bóng
Viện cầm minh huyền phát
Đoản ca vi ngâm bất năng trường Đoản ca khẽ ngâm đâu dài được,
Minh nguyệt giảo giảo chiếu
tương vọng,
Miêu tả thành công tâm trạng của người phụ nữ mong nhớ chồng giữa đêm thu trằn trọc không ngủ được, tình cảm triền miên, âm điệu hài hòa, tinh tế, thanh nhã Là một dấu mốc phát triển mới trong lịch sử thơ thất ngôn
Trang 26Tào Phi còn là nhà phê bình văn học đầu tiên trong lịch sử phê bình văn học
Trung Quốc ( Luận văn trong sách Điển luận)
Tào Thực (192-232) là em trai Tào Phi, ông là người lưu tác phẩm nhiều nhất, có
ảnh hưởng rất lớn đối với văn học đương thời và hậu thế (có tên trong cuốn Mười đại văn hào Trung Quốc)
Từ nhỏ, ông là người thông minh, tài hoa, được Tào Tháo yêu quý, vì thế đã xảy
ra một cuộc tranh giành ngầm Cuối cùng, do tính tình nghệ sĩ, phóng túng, thiếu yếu tố chững chạc của một nhà chính trị lão luyện, nên Tào Phi lên làm vua, khi Tào Tháo chết
đi, ông bị Tào Phi hãm hại nhiều lần để trừ hậu họa Ý chí hùng tráng của ông không được dùng, rốt cuộc buồn phiền mà chết Đó là cuộc đời của một con người tài hoa nhưng do hoàn cảnh nên bất đắc chí, lận đận
Văn thơ ông phản ánh cuộc đời rõ nét Thời kỳ đầu sống trong cảnh hoa lệ, thơ ông trau chuốt, hoa mỹ, ôn hòa Đến giai đoạn sau, bị thất sủng và hãm hại, thơ ông vươn
ra ngoài thế giới phù phiếm xa hoa cung đình, hướng về nhân dân lao động, tỏ vẻ hoài nghi phủ định chế độ phong kiến, thổ lộ tâm sự có tài mà không được dùng… Thơ ông
thời nào cũng vậy, luôn tràn ngập tình cảm, cá tính rõ ràng “khí phách rất cao, văn
chương hoa mỹ” (sách Thi Phẩm), đồng thời “Không rời chất ca dao đồng quê”
Bài bốn trong Tạp thi:
Nam quốc hữu giai nhân, dung hoa nhược đào lý Triêu du giang bắc ngạn, tịch túc Tiêu tương chỉ Thời tục bạc chu nhan, thùy vi phát hạo xỉ? Phủ ngưỡng tuế tương
mộ, vinh diệu nan cửu thị” (Nam quốc có mỹ nhân, dung nhan như đào lý Sáng chơi bờ sông bắc, tối cồn Tiêu Tương vào Đời xem nhan sắc thường, ai khiến nàng hát thương? Chớp mắt đời sắp xế, dung nhan khó cửu trường)-> kết hợp phong cách của Khuất
Nguyên, dùng sắc đẹp mỹ nhân ví với người quân tử, ký thác nỗi đau khổ riêng của mình
là có tài mà không gặp vận may, cũng như sự tiếc rẻ cuộc đời phù du ngắn ngủi, vừa rõ ràng dễ hiểu vừa hoa mỹ tao nhã
Tương truyền câu chuyện “thất bộ thi” (Bài thơ làm xong trong 7 bước), Tào Phi
ra lệnh cho Tào Thực bước đi 7 bước phải làm xong bài thơ, nếu không sẽ bị chém đầu Tào Thực tuân lệnh làm bài thơ như sau:
Chữ đậu nhiên đậu ky, lộc đậu dĩ vi trấp
Ky tại phủ hạ nhiên, đậu tại phủ trung khấp
Bản thị đồng căn sinh, tương tiên hà thái cấp !
(Nấu đậu dùng củi đậu, ép đậu lấy nước cốt,
Củi đậu cháy dưới nồi, đậu khóc trong lò đốt
Vốn một gốc sinh ra, rán nhau sao quá rốt !)
Bài này được lưu truyền rộng rãi vì tính khái quát cao của nó
B.3.2.2.THI VĂN TÂY TẤN
Nhà thơ tiêu biểu là Lục Cơ (261-303), tự Sĩ Hành, người thành phố Thượng Hải
ngày nay Sau Tào Thực, ông là nhà thơ nổi bật hơn cả Ông tạo ra một phong cách thơ quý tộc, trang nhã, hoa mỹ lưu truyền hậu thế Ông rất trau chuốt từng câu thơ nên thơ ông mang đặc trưng rõ rệt của văn hóa quý tộc với sự cảm nhận nhạy bén và công phu rõ ràng, tuy vậy cũng có khuyết điểm là rườm rà, ngôn ngữ quá điển nhã, cao xa nên trở thành sự ngăn cách về mặt tình cảm
Những tác phẩm tiêu biểu của ông là Điếu Ngụy Võ Đế Văn (Tào Tháo), Biện Vong Luận, Hào Sĩ Phú Tựa…
Bài thứ hai trong Phó lạc đạo trung tác:
Viễn du vượt sơn xuyên, sơn xuyên tu thả quảng Chấn sách trắc sùng khưu, án bí đạo bình mãng Tịch tức bão ảnh mị, triêu tồ hàm tư vãng Đốn bí ỷ cao nham, trắc thinh
bi phong hưởng Thanh lộ truỵ tố huy, minh nguyệt nhất hà lãng Phủ chẩm bất năng mị,
Trang 27chấn y độc trường tưởng” (Viễn du vượt núi sông, núi sông dài lại rộng Tra roi leo đồi cao, nắm cương qua đồng nội Đêm nằm ôm bóng ngủ, sáng dậy lại lo đi Mệt mỏi tựa
đá cao, nghiêng tai nghe gió buồn Móc trong rơi ánh bạc, trăng thanh sáng làm sao Sờ gối không ngủ được, xốc áo ngồi nao nao.)->nỗi bi ai của người lữ thứ làm nổi bật tâm
trạng cô độc và buồn tẻ Câu Đêm nằm… có sức biểu hiện mạnh và rất mới, ngôn từ thanh cao đẹp đẽ và tình cảm thâm trầm được kết hợp rất khéo
B.3.2.3.THI VĂN ĐÔNG TẤN
Đào Uyên Minh(365-427) là nhà thơ kiệt xuất trong thời Đông Tấn và cả và cả
giai đoạn Ngụy Tấn Nam Bắc Triều Ông tự Nguyên Lượng, Uyên Minh hoặc Tiềm Gia đình ông là một đại tộc ở Tầm Dương, Thiểm Tây, nhưng khi ông còn nhỏ, cha ông mất sớm nên gia cảnh ngày một suy sụp Năm 20 tuổi, ông bắt đầu ra làm quan, không bao lâu, từ quan quy ẩn Năm 41 tuổi, một lần nữa lại ra làm quan, sau 80 ngày lại bỏ chức ra
đi, từ đó thoát ly hẳn quan trường Ông là mẫu ẩn sĩ tiêu biểu mà hậu thế thường ca ngợi, những người có khuynh hướng ẩn dật để tìm tự do về mặt tinh thần
Thi ca của ông có ảnh hưởng với hậu thế nhất là mảng “điền viên thi” Sức hấp dẫn của nó ngoài việc ghi lại một cách chân thật cuộc sống điền viên (ruộng vườn), còn ở chỗ ông đã ký thác những lý tưởng về nhân sinh của mình trong đó Điền viên đã được Đào Uyên Minh dùng thủ pháp ngôn ngữ của thi ca tạo thành một ngôi nhà tị nạn tinh thần giữa một thế giới đau khổ
Tư tưởng của ông là một thứ triết học tự nhiên đặc thù, lấy tư tưởng Lão Trang
làm cốt lõi Xã hội lý tưởng của ông là một xã hội tự nhiên ông vẽ ra trong Đào hoa nguyên ký, mọi người đều tự cày ruộng mà ăn, cư xử với nhau chân thành, không bon
chen, không dối gạt, không có vua quan…
“Hi hi lệnh âm, y y nguyên lục Thảo mộc phồn vinh, hòa phong thanh mục Phân phân sĩ nữ, xu thời cánh trục Tan phụ tiêu hứng, nông phu dã túc” (Rộn ràng lời đẹp, vang dội đất bằng Cỏ cây xanh tốt, gió dịu mát lòng Nhộn nhịp gái trai, đua nhau làm
việc Hái dâu đến tối, nông phu ngủ đồng- Khuyến nông)
Bài thứ nhất trong nhóm thơ Quy viên điền cư của ông nói lên chí hướng của
mình:
“Thiếu vô thích tục vận, tính bản ái khưu sơn Ngộ lạc trần võng trung, nhất khứ tam thập niên Ky điểu luyến cựu lâm, trì ngư tư cố uyên Khai hoang nam dã tế, thủ chuyết quy viên điền Phương trạch thập dư mẫu, thảo ốc bát cửu gian Du liễu âm hậu thiềm, đào lý la đường tiền Ai ái viễn nhân thôn, y y khư lý yên Cẩu phệ thâm hạng trung, kê minh tang thọ điên Hộ đình vô trần nhiễm, hư thất hữu dư nhàn Cửu tại phàn lung lý, phục đắc phản tự nhiên.”
(Trẻ không hợp thói tục, tính vốn yêu núi đồi Lưới phong trần sa chân, ba mươi năm qua rồi Chim lồng nhớ rừng cũ, cá chậu quen đầm xưa Khai hoang tại man dã, kém vụng về điền viên Quanh nhà mười mấy mẫu, chòi tranh tám, chín gian Du, liễu mát hiên sau, đào, lý đẹp sân trước Lờ mờ cách xa làng, mềm mại khói trong thôn Chó sủa nơi hẻm sâu, gà gáy từ ngọn dâu Cửa, sân không hạt bụi, trong nhà thật an nhàn
Từ lâu sống trong lồng, nay trở về thiên nhiên.”
Đặc điểm nghệ thuật trong thơ ca Đào Uyên Minh đó là sự giản dị, tự nhiên, chân thành Nhưng đó không phải là dân ca, hoặc chịu ảnh hưởng phong cách dân ca, mà là sự tìm tòi về mỹ học một cách có ý thức của thi nhân Thơ ông tràn ngập tình cảm, nhưng không phải thứ tình cảm sôi nổi, mãnh liệt, mà là sự kết hợp với tư duy điềm đạm của triết lý được miêu tả một cách trong sáng, giản dị Sự giản dị trong thơ ông không phải là những lời nói khẩu ngữ, không gia công, mà trái lại, đó là ngôn ngữ được tinh luyện, được tẩy sạch những thành phần hỗn tạp, mới đạt được sự cảm thụ nhạy bén như vậy
Những câu như “ái ái viễn nhân thôn, y y khư lý yên” (Lờ mờ phía xa làng, mềm mại
Trang 28khói trong thôn) để miêu tả sự tĩnh lặng của làng quê; “Khuynh nhĩ vô hy thanh, tại mục hạo dĩ khiết” (nghiêng tai không nghe tiếng, trước mắt màu trắng tinh) để miêu tả sự nhẹ
nhàng mông lung của tuyết… đều là những câu nổi tiếng
Thơ ca Tây Tấn hướng tới sự hoa mỹ, còn thi ca Đào Uyên Minh với tư tưởng và tình cảm thâm trầm, nội dung triết lý, không làm đẹp bề ngoài, nên hầu hết thơ ông đều giản dị trong sáng, ít thấy dấu vết bố cục
Văn xuôi ông có bài Đào hoa nguyên ký là nổi tiếng nhất Bài văn xuôi này gần
giống như tiểu thuyết, miêu tả một xã hội trong tưởng tượng của ông Đại khái giống như trong thơ điền viên của ông vậy, mà cũng tiêu biểu cho ước mơ của quảng đại quần
chúng đang sống trong thời động loạn Lơi văn giản dị, đẹp đẽ Về từ phú có bài Qui khứ lai từ là nổi tiếng nhất, được viết khi ông đang làm quan, nói lên quyết tâm từ quan về ở
ẩn
Đối với hậu thế, Đào Uyên Minh có ảnh hưởng rất nhiều mặt Đương thời, ông chỉ được kính trọng vì là một ẩn sĩ có phẩm hạnh thanh cao trong sạch, còn về văn học không cao lắm vì thời bấy giờ trọng văn chương hoa mỹ, mà thơ ông thì thanh đạm, giản
dị Đời Đường, trừ một vài nhà thơ Thiền như Mạnh Hạo Nhiên, Vương Duy thì ảnh hưởng, còn lại dòng thơ sôi nổi về xúc cảm, hoa mỹ về tu từ như Lý Bạch thì không ảnh hưởng lắm Phải đến đời Tống, ông mới được suy tôn rộng rãi vì đời Tống trọng lý trí hơn là tình cảm Tô Đông Pha, nhà thơ nỏi tiếng nhất thời Tống đã đánh giá Đào Uyên
Minh như sau: “thơ ca của ông tuy chất phác nhưng kỳ thật rất đẹp, tuy đạm bạc nhưng
kỳ thật rất phong phú, kể từ các văn nhân như Tào, Tạ, Lý, Đỗ đều không ai bằng cả”
Tuy vậy, cần nói rõ hơn, mặc dù Đào Uyên Minh về nhân cách rất cao thượng, nhưng chủ đạo trong sáng tác của ông vẫn là muốn tránh né mâu thuẫn, đi tìm những gì thuộc siêu nhiên để quên đi nỗi thống khổ của hiện thực Người đời sau khi gặp phải sự
áp bức của xã hội mà không có cách nào chống lại thì lại càng dễ dàng nghĩ tới Đào Uyên Minh, dùng nhân sinh quan của ông để hóa giải chứ không phải phá vỡ sự áp bức của xã hội
Quyển sách gồm 50 chương, chia làm nhiều phần Phần thứ nhất gồm 5 chương nói về then chốt của văn, là tổng cương của cả cuốn sách Phần thứ hai gồm 20 chương nói rõ nguồn gốc, đặc điểm, và những nguyên tắc cơ bản cần phải theo khi viết lách đối với nhiều thể văn Phần thứ ba bàn chung các vấn đề khi viết văn Phần thứ tư gồm 5
chương, bàn về một số vấn đề trọng đại trong văn học Tư tưởng văn học trong sách Văn tâm điêu long là sự kết hợp quan niệm truyền thống và trào lưu tư tưởng của thời đại Tư
tưởng cốt lõi của sách là nhấn mạnh cái đẹp của văn học (phù hợp với phong cách của văn học đương đại), đồng thời cũng thể hiện quan niệm cá nhân, ví dụ như khi nhận xét các tác phẩm cụ thể, ông không dùng tiêu chuẩn Nho gia làm mẫu mực mà dùng thước
đo tình cảm chân thật…
*Thi Phẩm của Chung Vinh: sách chuyên bàn về thơ Ngũ ngôn, gồm 2 phần
Phần Tựa tổng luận về nguồn gốc và sự phát triển của thơ ngũ ngôn, trình bày một số quan điểm của tác giả về thi ca đương đại Phần chính phân tích thơ của 120 tác giả thời
Trang 29kỳ này, phê bình sự hay dở, ưu khuyết điểm của từng nhà thơ Cách phê bình của ông rất thoáng, chủ yếu dựa trên những tính chất của thơ ca chứ không gò bó của Kinh học, đối
với việc bình luận đều có chỗ tinh tường, xác đáng Thi phẩm được xem là thủy tổ của
thi thoại cổ Trung Quốc
B.4.VĂN HỌC ĐỜI ĐƯỜNG
B.4.1.BỐI CẢNH XÃ HỘI
Công nguyên năm 581, Dương Kiên cướp chính quyền, xây dựng triều Tùy, thống nhất Trung Quốc sau hơn 300 năm chia cắt Thế nhưng người kế thừa Dương Kiên là Dương Quảng lại không theo đường lối của cha, ăn chơi hưởng lạc, dân tình khốn khổ, gây tình trạng chống đối trên khắp cả nước Do vậy, hai cha con Lý Uyên và Lý Thế Dân
đã đứng lên lật đổ nhà Tùy, xây dựng triều đại nhà Đường (618), xã hội phong kiến Trung Quốc bước vào thời kỳ cực thịnh
Đường Thái Tông Lý Thế Dân với tư cách là một nhà vua khai quốc là một vị hoàng đế có chí hướng lớn, có tài năng, đã áp dụng nhiều biện pháp để cải thiện đời sống
nhân dân, kinh tế và văn hóa đặc biệt phát triển, Đỗ Phủ trong bài Ức tích đã miêu tả thời
Khai Nguyên (là thời cực thịnh của đời Đường ): “Gạo tẻ gạo ngô đều trắng tinh, kho lẫm quan dân đều đầy ắp”, trong hơn 100 năm đầu, từ Trinh Quan Thái Tông đến Khai
Nguyên Huyền Tông (Đường Minh Hoàng), các mặt văn hóa xã hội kinh tế đều phát triển, Về tư tưởng Nho Phật Lão cùng tồn tại
Loạn An Sử (An Lộc Sơn và Sử Tư Minh) xảy ra vào năm thứ 14 niên hiệu Thiên Bảo đời vua Huyền Tông (755) đã đánh dấu sự thay đổi từ chỗ cường thịnh chuyển sang suy yếu An Lộc Sơn là một tiết độ sứ người Hồ, nổi lên định cướp chính quyền, Đường Huyền Tông phải cùng Dương Quý Phi chạy vào đất Thục, một năm sau An bị giết nhưng bộ hạ là Sử lại nổi lên Cuộc chiến tranh kéo dài 8 năm, làm cho xã hội bị phá hoại trầm trọng, lực lượng chính quyền trung ương thương tổn, sau đó lại là khởi nghĩa nông dân Hoàng Sào gần 10 năm, tình trạng này có thay đổi chút ít nhưng nhìn chung là kiệt quệ đến lúc nhà Đường sụp đổ (Chu Ôn lật nhà Đường mở đầu một thời kỳ rối ren Ngũ Đại –Lý, Đường, Tống, Hán, Chu (Bắc ) và Thập quốc (Nam) Đến năm 960, nhà Tống mới thống nhất được toàn cõi
B.4.2.TÌNH HÌNH VĂN HỌC
Văn học đời Đường có rất nhiều thành tựu, nổi bật nhất là thơ Đường, còn có tiểu thuyết truyền kỳ, tản văn, từ… (sẽ học qua các thể loại kia một chút, chủ yếu là thơ Đường)
B.4.2.1.THƠ ĐƯỜNG.( 3 tiết)
Đường là thời kỳ hoàng kim của thi ca, nói đến thơ ca Trung Quốc, người ta nói đến thơ Đường, coi đó là mẫu mực của thơ ca cổ điển Trung Quốc Số lượng phong phú, gần 50,000 bài với hơn 2200 nhà thơ, xuất hiện những nhà thơ vĩ đại có ảnh hưởng tầm
cỡ thế giới như Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị…(một nhà người cứu phương Tây là Leo
Van de Meste đã nhận xét: “Ở Trung Quốc, Việt Nam và Singapoure, ánh trăng thu được chiêm ngưỡng qua con mắt của Lý Thái Bạch”), là niềm kiêu hãnh của dân tộc
Trung Hoa Sự phát triển đặc biệt đó do các nguyên nhân sau:
1 Nguyên nhân phát triển
1,Chế độ thi cử đời Đường đặc biệt coi trọng thơ ca, đời Đường Cao Tông (681) vua xuống chiếu sửa đổi các bài thi gồm một bài tạp văn (thi, phú)rồi sau đó mới thi sách Thơ ca là con đường tiến thân, vì thế việc học thơ và làm thơ trở thành phong trào trong cả nước, các ông vua đều thích làm thơ, ham chuộng và thưởng thức thơ ca (Đường
Trang 30Huyền Tông yêu Lý Bạch vì 3 khúc Thanh bình điệu, Hiền Tông phong Bạch Cư Dị
làm học sĩ vì mấy bài thơ phúng gián, Mục Tông bổ Nguyên Chẩn làm Từ bộ lang trung
vì mấy bài ca…)
2,Do phong trào đó mà thi ca dần rời khỏi cung đình, trở thành tiếng nói của quần chúng rộng rãi Các thi sĩ am hiểu đời sống, nếm đủ mùi gian truân nên thơ họ diện phản ánh rộng hơn, nội dung phong phú hơn, họ sống khốn khổ, lang bạc kỳ hồ, cuộc sống tiếp sức cho thơ họ tạo nên sức sống lâu bền
3,Sự giải phóng về mặt tư tưởng, nhà Đường không độc tôn đạo Nho, mà đề cao
cả Lão giáo, Phật giáo, hai vị sư Huyền Trang và Nghĩa Tĩnh sang tận An Độ thỉnh kinh
về truyền bá ở Trung Quốc được các vua nhiệt liệt tán thưởng Lý Uyên thì tôn Lão Tử (tên thật là Lý Nhĩ) làm ông tổ và lập miếu thờ… Sự phồn vinh của cả ba đạo tạo nên một không khí giải phóng tư tưởng về mặt học thuật và sáng tác, nhiều nhà thơ chịu ảnh hửơng của nhiều luồng tư tưởng khác nhau (Chủ nghĩa lãng mạn của Lý Bạch chịu ảnh hưởng tư tưởng Đạo gia, Phái điền viên sơn thủy (Vương, Mạnh) chịu ảnh hưởng Phật, Lão, hiện thực của Đỗ, Bạch trên cơ sở mặt tích cực của Nho gia…)
4,Sự phát triển của các ngành nghệ thuật khác cũng tạo điều kiện cho thơ ca đời Đường phát triển : hội họa (Vương Duy, Ngô Đạo Tử, Lý Tư Huấn), âm nhạc (Lý Quy Niên) nhiều ca khúc được phổ nhạc từ thơ các nhà thơ nổi tiếng, Bạch Cư Dị nghe đàn tì
bà hiểu được tấm lòng người giai nhân bị ruồng bỏ mà viết nên bài tì bà hành nổi tiếng chứng tỏ sự am hiểu âm nhạc và tác dụng của nó đối với thơ ca, Vũ đạo cũng đặc biệt phát triển, ba loại hình này trở thành máu thịt của thơ Đường, bởi vì cái hay của thơ Đường cũng thường được biểu hiện ở sự kết hợp với thi nhạc họa
Sự phát triển của thi ca đời Đường thể hiện ở những đặc điểm sau đây:
-Sự phản ánh các mặt sinh hoạt trong xã hội của thơ Đường được mở rộng, sự quan sát và suy tư của nhà thơ đối với mọi hiện tượng, mọi vấn đề xã hội, cũng như quan niệm về nhân sinh, lý tưởng được biểu hiện đầy đủ trong thi ca
-Sự đa dạng hóa về phong cách nghệ thuật cũng như các phái, nhiều khuynh hướng, mỗi nhà thơ có một phong cách độc đáo riêng không ai giống ai, Lý Bạch phóng khoáng, lãng mạn, Đỗ Phủ trau chuốt, hiện thực, Trương Kế trầm tư, cổ kính, Bạch Cư
Dị mới mẻ, châm biếm, Vương Duy trong thơ có họa, trong họa có thơ…
-Sự hoàn thiện về mặt hình thức, thể thơ Quá trình “cách luật hóa” thơ ngũ ngôn
và thất ngôn đến đời Đường là hoàn chỉnh và đạt đến trình độ cổ điển
Có thể nói, đặc điểm rõ rệt nhất của văn học đời Đường nói chung, thơ Đường nói riêng là giàu sinh khí, có nhiều tinh thần sáng tạo mới mẻ, vượt ra khỏi sự trói buộc của cung đình và quý tộc đáp ứng nhu cầu của nhiều giai tầng trong xã hội
Trang 31hình thức cứng nhắc, yêu cầu nói lên ý chí hào hùng, thúc đẩy thơ ca “từ cung đình đi đến làng phố”, “từ đài các chuyển sang sông núi và biên cương”, Tứ kiệt chính là âm thanh khởi đầu của thơ Đường
Người thúc đẩy mạnh mẽ sự nghiệp của Tứ Kiệt là Trần Tử Ngang thời Võ Tắc Thiên, ông yêu cầu kế thừa nội dung hiện thực và phong cách chắc khoẻ của thơ ca thời
kỳ Kiến An Ông sinh ra trong một gia đình giàu có, 24 tuổi đỗ tiến sĩ, làm quan, nhiều lần dâng thư bàn về chính trị, có khát vọng muốn thi thố tài năng Xuyên suốt trong thơ ông là sự kêu gọi tạo dựng một nhân cách lý tưởng mới, ông luôn lấy tâm hồn bao la rộng lớn của mình hướng ra vũ trụ vĩnh hằng, và đặt sự sinh tồn của cá nhân vào bối cảnh rộng lớn đó để quan sát Tính cách anh hùng và đầy tự tin đó thể hiện khí phách hùng tráng của người đời Đường, đã mở đầu cho thi ca thời thịnh Đường tiếp theo
Bài Đăng U Châu đài ca của ông rất nổi tiếng:
“Tiền bất kiến cổ nhân,
Hậu bất kiến lai giả
Niệm thiên địa chi du du,
Độc thương nhiên nhi thế hạ.”
(Trước không thấy cổ nhân,
Người sau thì chưa thấy
Ngẫm đất trời thật vô cùng,
Riêng lòng đau mà lệ chảy.)
Bài thơ không chọn ngôn từ hoa mỹ, mà lấy thời gian vô tận và không gian bao la
để làm bối cảnh, đề cao bản ngã cô độc và ngạo nghễ Đấy chính là sự tượng trưng cho tinh thần lãng mạn, lý tưởng và nhân cách hiếm có trong đời Đường
2.Thịnh Đường: đây là thời kỳ cực thịnh của vương triều Đường, kinh tế xã hội phồn vinh, chính quyền ổn định, văn học phát triển tạo cho con người cảm giác tràn trề
hy vọng, cởi mở tấm lòng nhà thơ và ý tình cho thi ca Rất nhiều nhà thơ nổi tiếng đồng loạt xuất hiện Ngoài Lý Bạch và Đỗ Phủ, hai đại thụ thơ ca, còn có Cao Xương Linh thanh thoát, Cao Thích, Sầm Tham bi tráng, Trương Cửu Linh, Vương Chi Hoán, Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Trương Kế, Thôi Hiệu, Thôi Hạo…Thành công của thơ Thịnh Đường nằm trong cái hồn nhiên tự thành, hoa mỹ mà không quá mức, tinh tế mà không nhỏ bé, khoẻ chắc mà không thô thiển, tế nhị mà không vụn vặt, lưu loát mà không trơn tuột, mới mẻ mà không cầu kỳ…Những bài thơ mà hàng trăm hàng nghìn năm qua được mọi người luôn ngâm nga, được truyền tụng rộng rãi nhất, chính là sản sinh trong giai
đoạn này (sẽ học một phần riêng gồm những bài thơ hay), “thịnh Đường chi âm”
3.Trung Đường: Sau Đỗ Phủ và loạn An Sử, triều Đường ở vào thời kỳ suy thoái, trên thi đàn cũng không còn khởi sắc Gần 30 năm sau, một nhóm tác giả gồm Bạch Cư
Dị, Trương Tịch đề xướng vận động “tân nhạc phủ”, theo chủ trương hiện thực, kế thứa
Đỗ Phủ và còn đi xa hơn ở khoảng châm biếm chính trị đương thời Ngoài ra còn có Hàn
Dũ, Liễu Tông Nguyên (viết tản văn đồng thời cũng có làm thơ), Lý Hạ, Giả Đảo cũng
có ảnh hưởng đến thơ đời Tống sau này
4.Vãn Đường:Nhà Đường lung lay suy sụp, một số nhà thơ chỉ chú trọng lời lẽ tế nhị, uyển chuyển, ít có ý nghĩa xã hội, dù mang tâm trạng đau đời lo nước, buồn giận
thâm trầm nhưng chỉ làm cho người ta có cảm giác suy tàn “ánh chiều tà rất đẹp, chỉ sắp
đến hoàng hôn” (Lý Thương An- Đăng lạc du nguyên) của Ly Thương An, Đỗ Mục…
4 bốn đề tài chiếm tỷ trọng tương đối lớn là:
- biên tái- khuê oán: miêu tả chiến tranh biên cương, có khi là hào hùng, dạt dào tinh thần thời đại, nhưng cũng có khi là tâm trạng buồn thương của người thiếu phụ khuê phòng chờ chồng đi chinh chiến, các nhà thơ tiêu biểu là Cao Thích, Sầm Tham, Lý Kỳ, Vương Xương Linh…
Trang 32- sơn thủy điền viên: kế thừa truyền thống Tạ Linh Vận và Đào Uyên Minh, phản ảnh cuộc sống ẩn dật, nhàn tản, màu sắc thanh đạm, tình ý sâu xa, có Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Chử Quang Hy… trong đó Vương Duy có công lớn nhất
- Vịnh sử
- Tình yêu
Đó là các đề tài chính và các nhà thơ chính, thực ra thơ Đường rất phong phú nhiều màu sắc, Sơ Đường hay về khí cốt nhưng lối dùng chữ chưa đạt lắm, còn tự nhiên, thô mộc quá, Vãn Đường giỏi về từ ngữ, ý sâu nhưng thiếu phần hùng hồn, thuyết phục,
có khi còn ủy mị, duy có Thịnh Đường là bao gồm cái hay của cả hai thời kỳ
5.Các thể thơ trong Đường thi:
Thơ Đường có hai loại chính: cổ thể và kim thể
Cổ thể gồm nhạc phủ, cổ phong: là lối tự do hơn hết, không cần có vần, niêm luật, số câu không nhất định, có khi hơn 100, có khi 6,7 câu, số chữ trong từng câu cũng không cần như nhau
Kim thể gồm: ngũ ngôn (thơ 5 chữ) và thất ngôn (thơ 7 chữ) Mỗi loại lại có 2 thể nhỏ là tuyệt cú và luật thi
Tuyệt cú hay còn gọi là tứ tuyệt (như vậy là có thất ngôn tứ tuyệt và ngũ ngôn tứ tuyệt) là thể ở khoảng giữa, mỗi bài có 4 câu, nhưng không cần đăng đối chặt chẽ (câu 1: phá, 2: thực, 3: luận, 4: kết)
Luật thi (bát cú) là loại chặt chẽ nhất Một bài gồm tám câu (như vậy là có thất ngôn bát cú và ngũ ngôn bát cú) Câu 1,2: phá, không cần đối, câu 3,4 :thực, phải đối, câu 5,6 luận, phải đối, câu 7,8: kết, không đối Ở các chữ cố định trong câu là 2,4,6 phải tuyệt đối giữ đúng luật bằng trắc Sự quy định niêm luật cho một thể thơ có hạn chế sự biểu đạt những tình cảm bay bổng phóng khoáng, nhưng nó buộc phải sáng tạo ngôn ngữ hàm súc, cô đọng, cấu tứ chặt chẽ, hoàn chỉnh Càng ít chữ, càng khiến thi nhân phải
dùng những từ thật đắt, Đỗ Phủ từng nói “ngữ bất kinh nhân tử bất hưu” (Lời thơ chưa
làm kinh ngạc người ta thì chết chưa yên)
*LÝ BẠCH.(701-762) (3 tiết)
Lý Bạch là một trong những nhà thơ vĩ đại nhất của văn học cổ điển Trung Quốc Thời đại và tiếng thơ ông cách chúng ta đã hơn 1200 năm song vẫn để lại bao điều đáng học hỏi Người đời tặng ông danh hiệu “thi tiên”, nhiều câu chuyện về nhà thơ được truyền tụng tạo thành truyền thuyết Có người nói Lý Bạch là ngôi sao Thái bạch giáng thế, hay có người tin rằng giữa lưng ông có một cái xương đặc biệt gọi là “xương kiêu ngạo” (ngạo cốt) (suy từ thái độ bất phục quyền quý của ông), hay như truyền thuyết Lý Bạch ôm trăng mà chết… Tất cả những giai thoại như vậy cho thấy thái độ của nhân dân đối với nhà thơ
1.Cuộc đời
Thời đại Lý Bạch là thời đại đế quốc Đường đã đạt tới mức phồn thịnh nhất, tuy vậy đã ẩn chứa những dấu hiệu bão tố mà loạn An Sử cuối đời ông chứng kiến Ông còn sống giữa một phong trào thơ ca lãng mạn tích cực, những nhà thơ nổi tiếng như Cao Thích, Sầm Tham, Vương Xương Linh, Vương Chi Hoán, Thôi Hiệu, Vương Duy… Ông đã sống trong sự ba động của xã hội và giữa dòng suối thơ ca lãng mạn tích cực ấy
Cuộc đời ông có những điểm đáng chú ý sau:
1.Lý Bạch tự là Thái Bạch, hiệu là Thanh Liên cư sĩ Ông sinh ở đâu vẫn chưa rõ,
có sách nói là tỉnh Cam Túc, có sách nói là Tứ Xuyên, Sơn Đông, chưa có ý kiến thống nhất Chỉ biết khi đến Tứ Xuyên thì ông được 5 tuổi, bố ông được gọi là Lý Khách vì là người ngụ cư Tứ Xuyên là nơi có phong cảnh hùng vĩ nhất Trung Quốc, núi Nga Mi, Thanh Thành…là nơi tụ họp của các hảo hán hiệp khách, nơi sản sinh những truyện truyền kỳ nổi tiếng Đó là những nhân tố ảnh hưởng đến tâm hồn phóng khoáng cũng
Trang 33như ý chí phản kháng của lý Bạch ngay từ nhỏ Gia đình ông không phải là gia đình quí tộc thế phiệt nên ông ít bị tư tưởng nho giáo ràng buộc
Lúc nhỏ rất thông minh, học rộng Lên 5 tuổi, ngoài sách Nho gia, còn đọc nhiều sách khác, 10 tuổi đã đọc Bách gia chư tử 15 tuổi học múa kiếm, cũng do sự giáo dục đó
mà tư tưởng ông rất phức tạp
2.Phong trào viễn du thời Đường rất thịnh, nhiều nhà thơ đều sống qua những ngày viễn du Trong đời Lý Bạch đã 3 lần viễn du Từ 20-24 tuổi, ông du lịch trong đất
Tứ Xuyên Năm 25 tuổi, ông từ giã gia đình đi xa Không muốn nhốt mình trong lồng thi
cử, nhưng lại muốn ra giúp đời giúp nước, vì thế phải đi xa để tiếp xúc với nhiều người, nhờ họ tiến cử mình để hoàn thành sự nghiệp chính trị Ông qua Hà Bắc, Hồ Nam, Sơn Đông, Sơn Tây, Giang Tô, An Huy, Chiết Giang…Trong cuộc hành trình dài rộng gần nửa đất nước ấy, ông đã sáng tác rất nhiều bài thơ ca ngợi núi sông hùng vĩ Đến Sơn Đông, ông cùng 5 người bạn là Khổng Sào Phủ, Hàn Chuẩn, Bùi Chính, Trương Thúc Minh, Đào Miện cùng ở ẩn núi Tổ Lai Sơn, người đương thời gọi họ là “Trúc Khê lục dật”, sống với nhau thân thiết như anh em Lần viễn du nữa là khi rời Trường An, ông đi Lạc Dương gặp Đỗ Phủ, hai người trở nên đôi bạn thân, lúc này Lý đã nổi tiếng còn Đỗ thì chưa Hai người sống với nhau nửa năm, sau này họ làm rất nhiều bài thơ nói về mối tình bạn cảm động này Sau khi chia tay với Đỗ Phủ, Lý Bạch lại tiếp tục viễn du trong
hủ bại, vì phục tài Lý Bạch nên mời vào cung, sai làm những bài hát ca ngợi Dương Quý Phi, ca ngợi nhà vua Lý Bạch vô cùng thất vọng, những tưởng mình sẽ giúp cho nước, ai ngờ lại là kẻ mua vui cho nhà vua nên buồn chán, thường tìm bạn bè uống rượu giải sầu
Đỗ Phủ đã tả Lý Bạch:
Lý Bạch đầu tửu thị bách thiên
Trường An thị thượng tửu gia miên
Thiên tử hô lại bất thướng thuyền
Tự xưng thần thị tửu trung thiên
(Lý Bạch một hũ thơ trăm bài,
Quán rượu Trường An cứ nằm dài
Vua gọi lên thuyền không thèm đáp
Tự xưng khách rượu chốn tiên đài.)
Ba năm ở Trường An, tận mắt chứng kiến cảnh sống xa hoa của vua quan, lại thấy
lý tưởng của mình khó mà thực hiện nổi, nên ông xin vua cho ra khỏi cung đình Đó là lần thất bại thứ nhất
Lần hai khi loạn An- Sử bùng nổ, vì lòng yêu nước và ngây thơ, ông tham gia quân đội của Lý Lân là em ruột của vua mới Túc Tông, nhưng Lý Lân có ý đồ diệt anh nên Túc Tông diệt Lân, Lý Bạch ở tuổi 58 bị bắt và bị đày xuống vùng Giang Nam Hai năm sau, ông được ân xá, tuổi già sức yếu nhưng lòng yêu nước vẫn còn Khi nghe tin Sử Triều Nghĩa con của Sử Tư Minh lại dấy binh, Lý Bạch xung phong đầu quân, nhưng đi được nửa đường thì ông bị bệnh, đành trở về và năm sau qua đời thọ 62 tuổi (có sách viết 63)
2.Tư tưởng Lý Bạch
Trang 34Từ sự giáo dục của gia đình, con đường chính trị, và hoàn cảnh xã hội (thời Đường tư tưởng khá tự do), nên Lý Bạch có tư tưởng phức tạp, không thuần nhất Đó là
sự pha trộn giữa Nho, Lão và hiệp sĩ Ông tiếp thu tinh thần tích cực nhập thế, chí hướng giúp đời của Nho gia, lối sống phóng túng của đạo gia, tinh thần khẳng khái của nghĩa hiệp
Ông suốt đời ôm ấp lý tưởng chính trị đem tài trí, năng lực ra giúp dân giúp nước, làm cho thiên hạ thái bình, học theo gương của Quản Trọng, Án Anh, đó là tư tưởng nhập thế của Nho gia Khi được Ngô Quân tiến cử, ông đã hăm hở ra đi:
Ngẩng mặt cả cười ra khỏi cửa,
Bọn mình đâu phải sống lều tranh
Lúc bị đả kích, ông vẫn không nản chí Có thể thấy lý tưởng chính trị mà ông theo đuổi là chịu ảnh hưởng Nho gia, thế nhưng ông không phải là kẻ hủ nho, có lúc ông còn châm biếm cả Khổng Tử:
Đến lúc hoài bão không thực hiện được, thì ông bất mãn, và lấy triết học Lão Trang làm cứu cánh Phong cách sống ngang tàng, luôn muốn đập phá, muốn thoát ra khỏi giới hạn của trật tự xã hội, ông đã từng cầu tiên học đạo, từng ẩn dật, đó là ảnh hưởng Lão Trang Ông lại hâm mộ sâu sắc lối sống khẳng khái, bi tráng, hào phóng của các hiệp sĩ:
Nho sĩ đâu bằng người hiệp sĩ ?
Bạc đầu đọc sách có hay gì
Suốt đời ông, từ hành động cho đến lối sống đều có phong cách một hiệp sĩ, tuy vậy ông vẫn là một phần tử trí thức chân chính, chưa hề ra làm quan, chưa khi nào đứng trong tập đoàn thống trị Ông có thái độ chính trị tích cực và dũng cảm hơn Đào Uyên Minh, Kê Khang, Nguyễn Tịch, không màng danh vọng tầm thường mà hăng hái muốn giúp đời, giúp nước
3.Nội dung thơ ca Lý Bạch
Có ba nội dung chính trong thơ ông
1.Khát vọng, hoài bão cá nhân
Những vần thơ hay nhất, đuợc người đời biết đến nhiều nhất là những vần thơ nói lên tâm tình u uất của ông Ông đã từng làm hàng loạt bài thơ tỏ chí giúp đời cứu nước, muốn được như Gia Cát, Quản Trọng, làm nên sự nghiệp lớn Cá nhân đã được ông xây dựng thành trung tâm của mọi vấn đề Đến khi bất đắc chí thì ông tìm quên trong tư tưởng giận đời ghét tục, trở về với thiên nhiên của Đạo gia Đó là cơ sở tư tưởng của thái
độ bất mãn với hiện thực đen tối, chống đối lại trật tự xã hội
2.Lòng yêu đất nước, ca ngợi thiên nhiên
HÌnh ảnh thiên nhiên Trung Quốc hiện lên không đâu đẹp như trong thơ Lý Bạch Nhà thơ đi nhiều, thấy nhiều, ngòi bút phóng khoáng của ông đã tái hiện lại nước non hùng vĩ
Thơ Lý Bạch tràn ngập ánh trăng, trăng xuất hiện mấy trăm lần trong hơn 1000 bài, thành một đặc điểm thi pháp khá đặc sắc Lý Bạch đã nâng ánh trăng truyền thống trong thơ cổ điển lên mức lý tưởng, trăng là người bạn luôn theo gót nhà thơ:
Chiều chiều bước xuống lưng đèo,
Anh trăng trên núi cũng theo người về
Trang 35Hay bài Nguyệt hạ độc chước, một bài thơ nổi tiếng diễn tả ánh trăng và nội tâm
sâu sắc của nhà thơ:
Coi trăng như một người cùng vui chơi nhảy múa, nhưng lại diễn tả nỗi phiền muộn sâu sắc qua ba hình ảnh trăng, bóng và mình Cả ba đều vui như bạn thân, nhưng cũng chỉ là một mình trơ trọi Toàn bài thơ là một điệu múa, nghe rộn ràng náo động, nhưng lại diễn tả một tâm hồn hết sức cô quạnh
Trăng đôi khi gợi nhớ đến quê nhà:
(Tĩnh dạ tư)
Mở tập thơ Lý Bạch ra đọc từng trang, người ta có cảm giác trang trang đều dát vàng ánh trăng Có lẽ vì thế mà người đời thêu dệt nên câu chuyện: Lý Bạch mê trăng, một hôm trong mơ đã nhảy xuống nước ôm trăng mà chết
Đề tài thiên nhiên đã được Lý Bạch sử dụng hết sức sinh động, cả non sông gấm vóc, cả mây gió trăng sương, cả bốn mùa xuân hạ thu đông, vào thơ ông nghiễm nhiên thành những nhân vật, ông đã làm sống dậy cả thế giới tự nhiên Ông đột phá vào cái bí hiểm của thế giới ấy, và khẳng định con người trước vũ trụ bao la vô tận
3.Phản ánh hiện thực, phản kháng chế độ, thể hiện lòng thương yêu con người, đặc biệt là người phụ nữ
Đề tài xã hội trong thơ Lý Bạch khá rộng, có lẽ vì ông là người đi nhiều hiểu rộng nên tiếp xúc với nhiều người, tuy vậy, mức độ phản ánh hiện thực trong thơ Lý Bạch không bằng Đỗ Phủ, chưa đề cập đến vấn đề ruộng đất, cuộc sống nghèo khổ của nông dân…
Mặc dù vậy, là người giàu tình cảm, ông rất dễ xúc động mỗi khi bắt gặp những cảnh tình buồn vui của con người Đối với dân nghèo, ông thông cảm và xót thương họ sâu sắc, mặt khác, ông đã tỏ rõ nỗi bất bình trước cảnh ăn chơi của bọn vua quan, còn
dân nghèo thì khốn khổ Bài Ô thê khúc, ông mượn hình ảnh vua Ngô dâm đãng suốt
ngày say đắm Tây Thi bỏ việc triều chính để chế giễu Đường Minh Hoàng và Dương Quý Phi:
Trời chiều trên gác Cô tô,
Tây Thi trên điện vua Ngô say mèm
Mặt trời đã ló non xanh,
Mà đây ca múa rập rình chưa thôi
Đồng hồ nhỏ nước hết rồi,
Trang 36Trăng thu chìm lặn mặt trời dần cao
Cuộc vui đã hết đâu nào…
Còn đối với bọn quan lại, ông vạch trần những hành động xấu xa của chúng, ví dụ như vì vua Đường mê gà chọi mà có kẻ được phong hàm công khanh vì nuôi gà giỏi, ông viết:
Hoạn quan lắm bạc vàng,
Dựng cửa nhà đồ sộ
Lũ chọi gà trên đường,
Lọng tàn bao rực rỡ
Hơi thở thấu cầu vồng,
Kẻ qua đường run sợ
Đối với chiến tranh, Lý Bạch cũng có cái nhìn phê phán, ông thấy chiến tranh làm cho nhân dân và quân lính khổ cực, chết chóc, ông than thở:
Đến nay phía tây sông Nhĩ Hà,
Máu chảy thây khô còn chất đống
Rồi ông đặt câu hỏi:
Xương trắng chất thành núi,
Dân đen nào tội gì?
Đặc biệt Lý Bạch rất thông cảm với nỗi đau đớn sầu muộn vì chia ly của người
phụ nư trong chiến tranh Bài Xuân tứ là một cảm xúc đầy giới tính chứng tỏ nhà thơ
thông cảm sâu sắc với tâm trạng của những người vợ xa chồng:
Bao giờ dẹp yên giặc,
Cho chàng khỏi xông pha
Người phụ nữ ở đây có chồng nơi biên cương, mùa thu, họ rủ nhau đem áo kép ra giặt Đêm khuya, heo may về, họ lại nhớ chồng da diết, và kết luận là nguyện vọng chung của mọi người: hòa bình, đoàn tụ
Còn rất nhiều bài thể hiện nỗi cô đơn của người phụ nữ xa chồng như Ô dạ đề, Tý
dạ ngô ca 4, Đảo y thiên, Trường can hành, Giang hạ hành… Có thể nói, mặc dù
không chủ tâm thể hiện cuộc sống và nỗi đau khổ của nhân dân nhưng với lòng khao khát tự do, phong cách phóng khoáng không chịu ràng buộc, Lý Bạch đã có một lòng đồng tình sâu sắc với nỗi đau khổ của nhân dân Thơ ông đã thể hiện được những bi kịch trong tâm hồn họ, đặc biệt là người phụ nữ trong nỗi đau ly biệt
Điều đáng chú ý là trong thơ Lý Bạch bắt gặp nhiều bài mô tả cảnh tượng lao động rất khoẻ khoắn, rất tươi vui, đặc biệt là hình ảnh về tình yêu, về những người thiếu
Trang 37Vang động dưới đêm trăng
lý tưởng, có những tình cảm sâu sắc Bài Thái liên khúc là môt bức tranh đẹp về người
phụ nữ trong lao động, mãi mãi còn rung động lòng người vì cảm thấy một hình tượng nghệ thuật hiện lên trước mặt được phối hợp nhịp nhàng giữa cử chỉ, màu sắc, âm thanh, ánh sáng, gió nước… Cô gái như tiên nữ thoắt ẩn thoắt hiện làm cho người đọc và những chàng trai trong thơ tiếc ngẩn ngơ:
Có cô con gái nhà ai, Hái sen chơi ở bên ngòi Nhược gia
Mặt hoa cười cách đóa hoa, Cùng ai nói nói mặn mà thêm xinh
Ao quần mặc mới trắng tinh, Nắng soi đáy nước lung linh bóng lồng
Thơm tho vạt áo gió tung, Bay lên phấp phới không trung ngọt ngào
Năm ba chàng trẻ nhà nào, Ngựa hồng rặng liễu bờ cao bóng người
Ngựa kêu lẫn bước hoa rơi, Đoái trông ai đó ngậm ngùi tiếc thương !
Tình yêu cũng được miêu tả nhiều cung bậc:
Người xinh cuốn bức rèm châu, Ngồi im thăm thẳm nhăn chau đôi mày
Chỉ tay giọt lệ vơi đầy,
Đố ai biết được lòng này giận ai
(Oán tình)
Có thể nói, đề tài phản ánh hiện thực trong thơ Lý Bạch cũng khá rộng, tuy ông chưa đi sâu vào miêu tả những người ở tầng lớp dưới, phần lớn mới là trung lưu và quý tộc, nhưng những nỗi niềm tâm sự thì có thể đại diện cho quảng đại quần chúng
4.Nghệ thuật thơ ca Lý Bạch:
1.Lý Bạch sống trong thời luật thi nhưng rất ít làm luật thi, trong gần 3000 bài thơ của ông thì cổ phong và tuyệt thi chiếm phần lớn, ông làm thơ theo mọi thể tài, có bài nhỏ gọn trầm lặng, có bài trường thiên khí thế hào hùng… có bài có câu chỉ 3 chữ, nhưng cũng có khi cả 10 chữ… phù hợp với phong cách lãng mạn, không gò bó mà bay bổng Ông còn học tập dân ca và làm nhiều bài nhạc phủ
2.Ông là nhà thơ lãng mạn tích cực Người có ảnh hưởng lớn nhất đối với Lý Bạch là Khuất Nguyên Xuất phát điểm của thơ ông là tình yêu mãnh liệt đối với quê hương đất nước, lòng phẫn nộ tuyệt đối với cường quyền, khát vọng tự do là cảm hứng chủ đạo trong thơ Lý Bạch Từ khát vọng đó, nhà thơ đã sống cả cuộc đời mình với yêu
và ghét, đồng tình rồi phẫn nộ, say và mơ, lãng mạn chính là vì thế Có điều đó là thứ say đắm đưa con người vươn lên chứ không vỗ về ru ngủ trong sự ủy mị Nói Lý Bạch lãng mạn tích cực chính là vì thế
3.Một thành công rực rỡ của Lý Bạch chính là phương diện sáng tạo hình tượng Hình tượng của ông thường vượt lên quá cỡ bình thường, nhưng không phải là quái gỡ,
Trang 38mà là to lớn, hiên ngang, khoẻ mạnh, khẳng khái Trước tiên là hình ảnh về bản thân: to lớn phi phàm, siêu việt, ông thường tự ví mình là con đại bàng, khi lâm chung coi mình
là con đại bàng gãy cánh:
Đại bàng vút bay lay tám cõi
Giữa trời cánh gãy sức kiệt dần
Hơi gíó còn chuyển rung vạn thế
Ông còn hay ví mình là “hoành hải ngư”-con cá nằm ngang biển Giấc ngủ của
ông thì là: Chén say ngủ núi vắng Trời đất làm gối chăn
Lý Bạch thường chọn những nhân vật lành mạnh, vui vẻ, dũng mãnh, bồng bột trong khi Đỗ Phủ lại chọn những người âu sầu, khổ não, phiền muộn để xây dựng hình tượng Hiệp sĩ của ông là:
Muời bước tiêu một mạng
Nghìn dặm không bóng người
Từ khối lượng, số lượng đều được miêu tả với cấp số nhân, thể hiện nét khoa trương đặc biệt:
Yên Sơn tuyết hoa đại như tịch
(Hoa tuyết ở Yên Sơn to như chiếu)
Phóng đại sự nhớ thương của người phụ nữ có chồng chết trận ở Yên Sơn
Hay:
Bạch phát tam thiên trượng (Tóc trắng ba nghìn trượng )
Duyên sầu tự cá trường (Lòng buồn lại dài thêm)
Đầm đào hoa sâu nghìn thước
Núi Thiên thai cao một vạn tám nghìn trượng
Con đường vào Thục gay go hơn cả đường lên trời
…
4.Thơ ông có đặc điểm tự nhiên, không khuôn sáo, ngôn ngữ không cần gọt dũa,
mà vẫn mới mẻ, đầy sức sống Ông chủ trương:
Thanh thủy xuất phù dung
Thiên nhiên khứ diêu sức
(Nước trong sẽ nảy hoa sen,
Thiên nhiên là đẹp, chớ nên vẽ vời)
Ông phản đối quan niệm tỉa câu gọt chữ, thơ ông ngôn từ trong sáng nhưng cũng khá tinh luyện, sự tự nhiên của ông không chỉ là dễ hiểu mà còn là tình ý sâu xa Ong là bậc thầy về mặt tôi luyện ngôn ngữ
Có thể nói nghệ thuật thơ Lý Bạch đã đạt tới mức lý tưởng thẩm mỹ của thời đại, đọc lên có vị ngọt ngào tươi mát, nhưng cũng có niềm khẳng khái tự hào, bay bổng, giống như một vườn xuân sau trận mưa rào Thơ ông đứng vững trong xã hội loài người
vì đã chắp cánh cho con người bay cao
5 Anh hưởng của Lý Bạch
Lý Bạch là một trong hai nhà thơ lớn nhất đời Đường, được mọi người yêu mến
và tôn là Thi tiên, Đỗ Phủ là Thi thánh Đỗ Phủ đã từng ca ngợi Lý Bạch:
Bút lạc kinh phong vũ,
Thi thần khấp quỷ thần
(Hạ bút kinh động cả gió mưa,
Thơ xong, quỷ thần cũng phải khóc)
Tính cách „bất khuất kỷ, bất can nhân” (không khuất mình, không nịnh người) và
“thôi mi chiết yêu sự quyền quí” (cúi đầu khom lưng thờ bọn quyền quí) của ông được
mọi người yêu mến, khâm phục và học theo (trong đó có Lỗ Tấn với câu thơ mà Hồ Chí Minh cũng thường nhắc: Trợn mắt coi khinh ngàn lực sĩ Cúi đầu làm ngựa đứa nhi đồng)
Trang 39Ông có ảnh hưởng lớn đến đời sau kể cả phần tiêu cực (yếm thế hưởng lạc, du tiên, uống rượu…), song mặt này không nhiều
Ở Việt Nam rất nhiều nhà thơ ảnh hưởng Lý Bạch :Cao Bá Quát, Nguyễn Công Trứ (tinh thần phản kháng lạc quan), Tản Đà, Vũ Hoàng Chương (mặt yếm thế hưởng lạc)…
*ĐỖ PHỦ(712-770) (3 tiết)
1.Cuộc đời
Đỗ Phủ sinh trưởng trong thời đại Khai Nguyên Thiên Bảo lúc nhà Đường đang chuyển từ thịnh sang suy, mặc dù kinh tế chưa suy sụp hẳn nhưng chính trị đen tối, tình cảnh nhân dân đói khổ, loạn An Lộc đẩy nhà Đường lao nhanh xuống con đường suy vong Đỗ Phủ sinh ra và lớn lên trong thời đại chuyển động lịch sử ấy
Đỗ Phủ tử Tử Mỹ, kém Lý Bạch 11 tuổi (trẻ thích Lý Bạch, trung niên thích Đỗ Phủ, già thích Lục Du), hiệu Thiếu Lăng, người huyện Củng tỉnh Hà Nam Ông xuất thân trong một gia đình dòng dõi quý tộc quan lại, chịu ảnh hưởng tư tưởng vào đời của Nho giáo rất sâu đậm Cho nên cả cuộc đời ông chưa bao giờ có ý định quy ẩn xuất thế Ông nội là Đỗ Thẩm Ngôn, nhà thơ thuộc phái hình thức thời Sơ Đường
Đỗ Phủ lúc nhỏ rất thông minh: “Bảy tuổi ý chí đã mạnh mẽ, mở miệng ngâm vịnh phượng hoàng, chín tuổi thuộc sách kinh điển, đã sáng tác một phong cách riêng”
(Tráng du) hoặc “Nhớ thuở mười bốn mười lăm tuổi, bắt đầu lui tới chốn văn chương”
Thời kỳ sung sướng nhất đời ông là từ năm 20 tuổi, ông bắt đầu đi viễn du suốt cả vùng Ngô Việt Tề Năm 32 tuổi gặp nhà thơ Lý Bạch ở Lạc Dương, kết thành tình bạn đẹp đẽ sâu sắc Sau đó ông từ biệt Lý Bạch đến Trường An, kinh đô nhà Đường, bắt đầu cuộc
đời cơ cực “sáng gõ cửa nhà giàu, chiều vó ngựa lần đi” Thời kỳ này ông luôn vất vả vì
con đường tiến thân, hai lần thi không đỗ, mười năm chịu cực khổ, năm 751, vua Huyền
Tông tổ chức ba cuộc lễ lớn, ông làm ba bài Đại lễ phú dâng vua, vua ghi tên vào tập
giám viện chờ bổ nhiệm, đến năm 40 tuổi mới được bổ nhiệm một chức quan nhỏ, ông sung sướng trở về Phụng Tiên thăm lại vợ con, khi về tới nhà thì cảnh thương tâm đã diễn ra:
Vào cửa nghe khóc than liền hỏi,
Con nhỏ vừa chết đói hôm qua,
Khỏi sao đau khổ lòng ta,
Xóm làng họ cũng xót xa nghẹn ngào
(Tự kinh phó Phụng Tiên huyện vịnh hoài ngũ bách tự)
Cuộc sống ở Trường An đã tác đông lớn đến tình cảm tư tưởng và giúp ông đi vào con đường sáng tác hiện thực Loạn An Sử nổ ra, ông đưa vợ con đi lánh nạn, trên đường
đi bị giặc bắt giải về Trường An, bị giam một năm, ông tìm cách trốn khỏi tay giặc, đi về phía Tây tìm triều đình Đường Túc Tông cho ông làm Tả thập di (giám quan), sau đó Trường An được khôi phục, ông ra vào kinh giúp vua, sau đó bị vua nổi giận đày đi Hoa Châ, đến năm 759 ông từ quan về nhà, tổng cộng làm quan chưa đầy 3 năm
Ông mang gia đình tới Tứ Xuyên, làm một ngôi nhà tranh, sau ngôi nhà này cũng
bị gió tốc đổ, ông lại mang gia đình phiêu bạt tới Quỳ Châu, rồi trên một chiếc thuyền rách nát ông lưu lạc quanh quẩn Động Đình hồ 2 năm, năm 770 vì đói rét bệnh tật, ông tắt thở chấm dứt cuộc đời phiêu bạt Cuộc đời Đỗ Phủ chấm dứt trong tấn bi kịch như vậy
Về cuộc đời ông có thể rút ra mấy nhận xét như sau:
-Xuất thân trong một gia đình nho học, ôm ấp lý tưởng “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”, ông muốn tiến thân bằng con đường khoa cử, làm quan để giúp nước:
Chí quân Nghiêu Thuấn thượng
Tái sử phong tục thuần
Trang 40(Muốn được giúp vua vượt Nghiêu Thuấn
Phong tục lại thuần muôn dân theo)
-Nhưng triều đình thối nát làm ông thất vọng, ông chỉ làm quan chưa đầy 3 năm, cuối cùng phải từ quan, sống như những người dân cùng khổ nhất, có lúc phải xin ăn Nỗi đau của ông do đó cũng là nỗi đau chung của người dân tha phương, loạn lạc, mất mát vì chiến tranh
-Thiên tài thơ của ông hình thành chậm, thành tựu chủ yếu ở sau loạn An Sử Điều
đó chứng tỏ tác dụng vô cùng quan trọng của thực tế đời sống đối với thơ ông, có thể nói máu và nước mắt của nhân dân đã vun tưới vườn thơ Đỗ Phủ
2 Nội dung chủ yếu của thơ Đỗ Phủ
Thời đại Trung Đường là thời đại mà thi ca có quan hệ chặt chẽ với thời sự chính trị Khác với Lý Bạch, họ đều là hai thi nhân cùng trải qua giai đoạn toàn thịnh của vương triều nhà Đường, đi vào cuộc nổi loạn An Sử như nhau nhưng thái độ sáng tác lại
có chỗ khác nhau rất cơ bản Phong cách thơ Đỗ Phủ được hình thành trong một hoàn cảnh suy sụp, khắp mọi nơi đâu đâu cũng nghe tiếng kêu than trong khổ nạn, do đó khuynh hướng tràn ngập tự tin, giàu màu sắc lãng mạn trong thơ Lý Bạch đến Đỗ Phủ đã hoàn toàn chấm dứt Trên con đường lữ thứ phiêu linh, Đỗ Phủ đã mang nặng một mặc cảm về trách nhiệm đối với quốc gia và vận mệnh dân tộc Ông đã miêu tả một cách trung thực diện mục của thời đại và nỗi bi ai trong nội tâm của mình Khuynh hướng sáng tác hiện thực, thâm nhập vào xã hội, quan tâm đến chính trị và sự đau khổ của nhân dân đã đánh dấu một bước ngoặc trong phong cách và nội dung của Đường thi, tạo ảnh hưởng sâu sắc cho đời sau
1400 bài thơ của Đỗ Phủ là một bản bi ca thời loạn đề cập đến nhiều vấn đề của thời đại: tô thuế, cuộc sống khổ cực của nhân dân, sự xa hoa dâm dật của phong kiến, chiến tranh phi nghĩa…tập trung những nội dung chính sau:
-Cuộc sống xa hoa phung phí của giai cấp thống trị bên cạnh cuộc sống khổ cực của nhân dân
-Miêu tả chân thực các cuôc chiến tranh phi nghĩa
Tiêu biểu là bài Lệ nhân hành, Phó Phụng Tiên
Lệ nhân hành là một bài thơ châm biếm nổi tiếng Tác giả đã châm biếm cuộc
sống xa hoa phung phí của các bà quý tộc Ngày xuân ăn mặc thật đẹp, tổ chức yến tiệc linh đình bên bờ sông, thức ăn do nhà vua sai người bưng đến, kèn sáo động quỷ thần…
Phó Phụng Tiên là bài thơ dài 100 câu, 500 chữ, có mấy câu nổi tiếng:
Lộ hữu đống tử cốt Dân nghèo chết rét xương phơi ngoài đường
Vinh khô chỉ xích dị Cách tấc gang mà như trời vực
Trù trướng nan tái thuật Nói bao nhiêu cơ cực bấy nhiêu)
Phó Phụng Tiên là bài thơ đánh dấu bước ngoặc trong tư tưởng Đỗ Phủ, tinh thần
lạc quan hào phóng không còn nữa thay vào đó là tấc lòng ưu ái trước những bất công ngang trái trong xã hội Bài này được làm đúng vào năm loạn An Sử nổ ra
Ông còn có những câu phê phán như :
Hay:
Cao mũ đạt quan yếm tửu nhục