Với những vấn đề đó, việc đưa cáp quang vào sử dụng trong mạng truy nhập là một giải pháp hữu hiệu, và công nghệ PON Passive Opical Netword: Mạng truy nhập quang thụ động ra đời đã mở ra
Trang 1Đồ án: ‘‘ Nghiên cứu công nghệ truy nhập quang Ethernet- Pon’’ Page 1
KHOA ĐIỆN - ĐIỆN TỬ
BỘ MÔN KỸ THUẬT VIỄN THÔNG
-
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
NGHIÊN CỨU CÔNG NGHỆ TRUY NHẬP QUANG
ETHERNET-EPON
Giáo viên hướng dẫn: TS Trần Hoài Trung
Sinh viên thực hiện: Quách văn Hiếu
Hà Nội - 2013
Trang 2Công nghệ ngày càng phát triển thì những nhu cầu cuộc sống của con
người ngày càng cao hơn Những nhu cầu đó có thể là tìm kiếm, trao đổi thông
tin, vui chơi, giải trí…Để đáp ứng những nhu cầu đó, các nhà cung cấp dịch vụ
viễn thông không ngừng đổi mới công nghệ cũng như dịch vụ mới Vấn đề đặt
ra là làm thế nào để các nhà cung cấp có thể truyền tải dữ liệu một cách nhanh
chóng, chính xác, an toàn và kinh tế Có nhiều giải pháp được đưa ra, trong đó
việc khai thác nguồn tài nguyên băng rộng luôn được đặt lên hàng đầu Trước
kia, cáp đồng đã được lựa chọn sử dụng chủ yếu cho hệ thống mạng truy nhập
Tuy nhiên với những hạn chế như băng thông nhỏ, khả năng chống nhiễu kém,
suy hao lớn, phạm vi truyền ngắn, cáp đồng đã tỏ ra không còn phù hợp với nhu
cầu sử dụng mạng khi mà ngày nay càng nhiều dịch vụ truy cập băng rộng ra đời
như tripleplay, IPTV, VoD, VoIP… và đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của
Internet Vấn đề đặt ra là làm thế nào để truyền tải được nhiều loại dữ liệu trong
khi băng thông là có hạn Với những vấn đề đó, việc đưa cáp quang vào sử dụng
trong mạng truy nhập là một giải pháp hữu hiệu, và công nghệ PON (Passive
Opical Netword: Mạng truy nhập quang thụ động) ra đời đã mở ra một tiềm
năng lớn cho việc triển khai các dịch vụ băng rộng và thay thế dần các hệ thống
mạng truy nhập cáp đồng băng thông hẹp, chất lượng thấp Trong các chuẩn
PON thì hiện nay EPON (Ethernet - Pon: Mạng quang thụ động chuẩn Ethernet)
đã được lựa chọn sử dụng nhiều nhất để thay thế cho các mạng truy nhập của
nhiều nước trên thế giới Với những đặc điểm kỹ thuật công nghệ mềm dẻo hỗ
trợ nhiều lựa chọn cho tốc độ truy nhập, EPON đang ngày càng khẳng định là
công nghệ của mạng truy nhập thế hệ mới
Trong đồ án này, em đi sâu vào nghiên cứu cấu trúc của công nghệ
E-PON và khả năng triển khai tại Việt Nam Đồ án gồm 4 chương Chương 1 trình
bày khái quát chung về mạng truy nhập quang, các công nghệ sử dụng mạng
truy nhập và hướng phát triển của mạng truy nhập quang Chương 2 đi sâu vào
Trang 3trúc phân lớp, giới thiệu tổng quan về kỹ thuật Ethernet, kiến trúc mô hình
mạng, từ đó cho thấy thế mạnh công nghệ này trong mạng truy nhập quang thụ
động và công nghệ EPON Chương 4 khả năng triển khai mạng E-PON vào hệ
thống mạng truyền tải Việt Nam
Hà Nội, ngày 14 tháng 3 năm 2013
sinh viên
Quách Văn Hiếu
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU 2
MỤC LỤC 4
TỔNG HỢP DANH MỤC HÌNH VẼ 6
TỔNG HỢP DANH MỤC BẢNG BIỂU 8
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MẠNG TRUY NHẬP QUANG 11
1.1 Giới thiệu chung 11
1.1.1 Vị trí mạng truy nhập trong mạng viễn thông 11
1.1.2 Mạng truy nhập cáp đồng 11
1.1.3 Mạng truy nhập cáp quang 13
1.2 Mạng truy nhập quang FTTx 14
1.2.1 Giới thiệu 14
1.2.2 Phân loại mạng FTTx theo vị trí đặt ONU 14
1.2.3 Phân loại mạng FTTx theo cấu hình 15
1.3 Các công nghệ cung cấp kết nối mạng quang FTTx 16
1.3 1 Mạng quang chủ động AON 16
1.3.2 Mạng quang thụ động PON 18
Trong sơ đồ trên, các thành phần chính của một mạng PON là: 20
1.3.3 So sánh mạng PON và AON 21
1.4 Kết luận 21
CHƯƠNG II: MẠNG TRUY NHẬP QUANG THỤ ĐỘNG PON 22
2.1 Kiến trúc mạng PON 22
2.2 Mô hình mạng PON 22
2.3 Các thành phần cơ bản của mạng quang thụ động PON 25
2.3.1 Sợi quang, cáp quang 25
2.3.2 Bộ tách, ghép quang 25
2.3.3 Các đầu cuối mạng PON 25
2.4 Các công nghệ của PON 26
2.4.1 APON/BPON 26
2.4.2 EPON/GEPON 27
2.4.3 GPON 28
2.4.4 WDM- PON 29
2.4.5 CDMA-PON 30
2.4.6 So sánh các chuẩn công nghệ của TDMA-PON 31
2.5 Kết luận chương 34
Trang 53.1 Tổng quan về công nghệ Ethernet 35
3.1.1 Kiến trúc mô hình mạng Ethernet 36
3.1.2 Các phần tử mạng Ethernet 37
3.1.3 Quan hệ vật lý giữa IEEE802.3 và mô hình tham chiếu ISO 38
3.1.4 Lớp con Mac Ethernet 40
3.1.5 Lớp vật lý Ethernet 42
3.1.6 Ethernet và mô hình OSI 43
3.2 Mạng truy nhập quang thụ động ETHERNET-PON 45
3.2.1 Mạng truy nhập quang thụ động EPON 45
3.2.2 Nguyên lý hoạt động 46
3.2.3 Giao thức điều khiển đa điểm MPCP 48
3.2.4 EPON với kiến trúc 802 53
3.3 Trễ và các phương pháp phân phối băng thông trong EPON 57
3.3.1 Mô hình mô phỏng của mạng truy nhập EPON 57
3.3.2 Thuật toán InterleAved Polling 60
3.3.3 Kế hoạch phân bổ băng thông 64
3.3.4 Các thành phần của trễ gói 66
3.3.5 Sự cấp phát băng thông 67
3.3.6 SLA aware P- DBA 70
3.3.7 SLA aware Adaptive DBA 72
3.4 Kết luận chương 74
CHƯƠNG IV: KHẢ NĂNG TRIỂN KHAI TẠI VIỆT NAM 75
4.1 Tình hình triển khai mạng truy nhập quang Việt Nam 75
4.2 Áp dụng triển khai thực tế tại Việt Nam 76
4.2.1 Nhu cầu sử dụng internet băng rộng tại Việt Nam 77
4.2.1 Nhu cầu sử dụng IPTV của mạng VNPT tại Việt Nam 79
4.2.2 Dịch vụ VoIP tại Việt Nam 80
4.3 Kết luận 83
KẾT LUẬN CHUNG 84
LỜI CẢM ƠN 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 6Hình 1.1 Vị trí mạng truy nhâp trong mạng viễn thông 11
Hình 1.2 Phân loại mạng FTTx theo vị trí đặt ONU 14
Hình 1.3 Kiến trúc mạng quang chủ động 18
Hình 1.4 Kiến trúc mạng quang thụ động 20
Hình 2.1 Mô hình kiến trúc mạng quang thụ động PON 22
Hình 2.2 Mô hình cây 23
Hình 2.3 Mô hình dạng bus 23
Hình 2.4 Mô hình dạng vòng 24
Hình 3.1 Mô hình kết nối điểm – điểm 36
Hình 3.2 Mô hình kết nối bus đồng trục 37
Hình 3.3 Mô hình kết nối sao 37
Hình 3.4 Quan hệ vật lý của Ethernet với mô hình tham chiếu OSI 38
Hình 3.5 Lớp vật lý và lớp Mac tương thích với các yêu cầu cho truyền 39
Hình 3.6 Dạng khung dữ liệu cơ bản Ethernet 41
Hình 3.7 Mô hình tham chiếu lớp vật lý Ethernet 44
Hình 3.8 Lưu lượng hướng xuống trong EPON 47
Hình 3.9 Lưu lượng hướng lên trong EPON 47
Hình 3.10 Thời gian Round – trip 50
Hình 3.11.Giao thức MPCP- hoạt động của bản tin Gate 51
Hình 3.12 Giao thức MPCP – hoạt động của bản tin Report 52
Hình 3.13 Trường link IP được nhúng trong mào đầu 54
Hình 3.14.a Hướng xuống trong PtPE 55
Hình 3.14.b Hướng lên trong PtPE 55
Hình 3.15 Cầu giữa các ONU trong PtPE 56
Hình 3.16.a Hướng truyền xuống trong SME 56
Hình 3.16.b Hướng truyền lên trong SME 57
Trang 7Hình 3.18 Sự phát triển lưu lượng trong ONU 60
Hình 3.19 Các bước của thuật toán Interleaved Plolling 62
Hình 3.20 Các thành phần của trễ gói 66
Hình 4.1 Dự báo tăng trưởng Internet tại Việt Nam (nguồn CMC Telecom) 78
Trang 8Bảng 2.1: So sánh các chuẩn công nghệ của TDMA-PON 31
Bảng 4.1: Nhu cầu băng thông của một số loại hình dịch vụ 77
ATM Asynchronous Tranfer Mode
Chế độ truyền tải không đồng bộ
BPON
Broadband Passive Optical Network
Mạng quang thụ động băng rộng
CDMA Code Division Multiple Access
Đa truy cập phân chia theo mã
DBA Dynamic Bandwidth Alocation
Cấp phát băng thông động
EPON Ethernet PON
Mang quang thụ động chuẩn Ethernet
FSAN Full Service Access Network
Mạng truy cập dịch vụ đầy đủ
FTTB Fiber To The Building Cáp quang đến tòa nhà
Trang 9FTTE Fiber To The Exchange Cáp quang đến tận tổng đài
FTTH Fiber To The Home Cáp quang đến tận nhà
FTTN Fiber To The Node
Cáp quang đến các node
FTTO Fiber To The Office Cáp quang đến văn phòng
FTTU Fiber To The User
Cáp quang đến tận người dùng
IPTV Internet Protocol Television Truyền hình Internet
ID Indentify Destination Chỉ định địa chỉ đích
IP Internet Protocol Giao thức Internet
ISDN
Integrated Services DigitaNetwork
Mạng dịch vụ số tích hợp
ITU International Telecommunication
Trang 10MAC Media Access Control Điều khiển truy nhập
ODN Optical Distribution Network
Mạng phân phối mạng quang
OLT Optical Line Terminal
Thiết bị đầu cuối đường dây quang
ONT Optical Network Terminal Thiết bị đầu cuối mạng
ONU Protocol Data Unit Đơn vị dữ liệu giao thức
PON Passive ptical Network Mạng quang thụ động
UNI User Network Interface
Giao diện người sử dụng
- mạng
VOD Video On Demand Video theo yêu cầu
WDM Wave Division Multiplexing
Ghép kênh phân chia theo bước sóng
WAN Wide Area Network Mạng diện rộng
Trang 11CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ MẠNG TRUY NHẬP QUANG
1.1 Giới thiệu chung
1.1.1 Vị trí mạng truy nhập trong mạng viễn thông
Mạng viễn thông gồm hai phần cấu thành chính: phần mạng lõi và
phần mạng truy nhập
PSTN ISDN DDN NGN
…
POTS V.90.92 ISDN xDSL
….
MẠNG TRUY NHẬP
SNI-NÚT GIAO DIỆN CÁC DỊCH VỤ
UNI-GIAO DIỆN NGƯỜI SỬ DỤNG MẠNG
Q3
Server
Hình 1.1 Vị trí mạng truy nhập trong mạng viễn thông
Mạng truy nhập nằm giữa người sử dụng dịch vụ viễn thông và điểm
cung cấp dịch vụ của mạng để truyền tải các dịch vụ sẵn có từ điểm cung cấp
dịch vụ đến người sử dụng
Mạng lõi bao gồm hệ thống tổng đài, điểm cung cấp dịch và các hệ
thống chuyển tiếp, trung gian cùng hệ thống truyền dẫn liên đài, nhằm cung
cấp các dịch vụ cho người dùng thông qua các điểm dịch vụ.[5]
1.1.2 Mạng truy nhập cáp đồng
Hiện nay, các tổng đài quốc tế và tổng đài liên tỉnh đều đã được nâng
cấp, các tổng đài nội hạt được số hóa 100%, trung kế nội tỉnh tới các tổng đài
vệ tinh hầu như đã sử dụng 100% cáp quang Chỉ còn phần truyền tín hiệu tới
Trang 12thuê bao vẫn dùng đôi cáp đồng truyền thống Mạng truy nhập cáp đồng hiện
nay được sử dụng rộng dãi trong mạng trong mạng truy nhập thuê bao tại rất
nhiều quốc gia Đây là phương thức truyền dẫn đầu tiên từ khi mạng điện
thoại ra đời và cho đến nay nó không ngừng hoàn thiện và phát triển Cáp
đồng đôi dây xoắn thường có kích thước 0,4 - 0,6 mm, được bọc cách điện và
xoắn lại với nhau thành từng cụm vài trục đến vài trăm đôi Hệ thống mạng
đồng có ưu điểm:
Kế thừa được sự có sẵn của mạng truyền thống
Đảm bảo tính linh hoạt, có thể chia nhỏ tới từng thuê bao phức tạp
Cáp đồng thường có độ bền cơ lý cao
Bên cạnh những ưu điểm đó hệ thống này đang dần bộc lộ những hạn
chế của nó trong khi nhu cầu về da dạng dịch vụ ngày càng lớn đó là:
Phần mạng giao tiếp trực tiếp với khách hàng hiện nay là cáp đồng
nội hạt, không đáp ứng được nhu cầu phát triển trong tương lại vì
dải tần của đôi dây cáp đồng chỉ đáp ứng được các dịch vụ thoại
truyền thống và số liệu tốc độ chậm
Bán kính vùng phục vụ của tổng đài bị hạn chế do khả năng truyền
tín hiệu của cáp đồng, ở các thành phố lớn, vì lý do an toàn dung
lượng tổng đài không thể quá lớn, điều này tạo ra một nhu cầu lớn
về số lượng các tổng đài do đó khai thác khó hiệu quả, còn ở những
cấp dưới của mạng do dung lượng thuê bao không cao, dung lượng
tổng đài hay nút chuyển mạch thường hạn chế khoảng vài trăm đến
vài nghìn thuê bao, số điểm cần phục vụ lại nhiều, điều này cũng tạo
lên số lượng lớn các tổng đài độc lập, việc kết nối các tổng đài độc
lập này cũng làm tăng số cấp thuê bao của mạng
Việc khai thác và quản lý kém hiệu quả do có nhiều loại thiết bị của
Trang 13nhà cung cấp khác nhau trên mạng lưới, mỗi nhà cung cấp khác
nhau trên mạng lưới lại có những đặc điểm riêng dẫn đến khó quản
lý, đỏi hỏi phải xây dựng các tổng đài độc lập để đáp ứng những nhu
cầu phát triển.[6] [7]
1.1.3 Mạng truy nhập cáp quang
Mạng truy nhập cáp quang có động lực phát triển từ việc triển khai cáp
quang vào mạng truy nhập thuê bao Mạng này có thể phân phối đến khách
hàng bất kỳ loại hình liên lạc, thông tin giải trí nào dựa trên các dịch vụ thoại,
dữ liệu, video … Mạng truy nhập có các ưu điểm sau:
Cho phép đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách hàng về dịch
vụ mới cả loại hình dịch vụ lẫn dải thông (VOD, CATV, các dịch vụ
multimedia, kết nối LAN, WAN… )
Mạng truy nhập cho phép sử dụng cơ sở hạ tầng mạng có hiệu quả
cao hơn, việc phát triển các dịch vụ mới cũng trở lên dễ dàng hơn
bằng các thêm các loại card mới và phát triển các phần mềm tương
ứng
Mạng truy nhập cho phép triển khai các dịch vụ một cách nhanh
chóng, tạo ra khả năng tích hợp các dịch vụ và giảm đáng kể các chi
phí quản lý và bảo dưỡng so với mạng cáp đồng hiện tại do đó mang
lại kinh tế cao
Về mạng tối ưu cấu trúc mạng viễn thông, giảm số lượng nút
chuyển mạch trong mạng, tăng bán kính phục vụ của tổng đài nội
hạt Với mạng truy nhập, mạng nội hạt hiện tại sẽ có số lượng tổng
ít hơn nhưng dung lượng mỗi nút cao hơn so với mạng hiện tại
Về quản lý mạng: mạng truy nhập có một hệ thống quản lý giúp
mạng hoạt động ổn định linh hoạt với các khả năng chuẩn đoán,
Trang 14khắc phục và sửa lỗi tốt
1.2 Mạng truy nhập quang FTTx
1.2.1 Giới thiệu
Với sự bùng nổ về nhu cầu băng thông hiện nay, việc triển khai một hệ
thống mạng truy nhập quang đến từng hộ gia đình là một xu thế tất yếu Đó
chính là mạng FTTH – Fiber to the home (cáp quang đến tận nhà)
FTTx (Fiber To The x) là một kiến trúc mạng trong đó sợi quang được
kéo từ các thiết bị chuyển mạch của nhà cung cấp dịch vụ đến các thuê bao
Ở đây, “x” được hiểu là một ký hiệu đại diện cho các loại hình mạng khác
nhau như FTTH, FTTC, FTTB, FTTN Do đó nó có thể thay thế cơ sở hạ
tầng cáp đồng hiện tại như dây điện thoại, cáp đồng trục Đây là một kiến trúc
mạng tương đối mới và đang phát triển nhanh chóng bằng cách cung cấp
băng thông lớn hơn cho người dùng Hiện nay, công nghệ cáp quang có thể
cung cấp đường truyền lên tới tốc độ 100 Mbps
1.2.2 Phân loại mạng FTTx theo vị trí đặt ONU
XNT ATM
Office
FTTCab FTTC FTTH/B
Optical Fibel Capper
ADSL (<6Km)
<26Mbit/s Optical Fibel
<8Mbit/s ADSL,VDSL (<1Km)
VDSL(<300M)
<52 Mbit/s
Hình 1.2 Phân loại mạng FTTx theo vị trí đặt ONU
Trang 15Một cách tổng quan ta có thể nhìn thất rõ sự phân loại hệ thống mạng
FTTx thông qua hình 1.2 Như trong định nghĩa ta có các loại FTTH, FTTB,
FTTU, FTTE… Điểm khác nhau của các loại hình này là vị trí đặt ONU đến
thuê bao Nếu từ OLU đến ONU (thiết bị đầu cuối người dùng) hoàn toàn là
cáp quang thì người ta gợi FTTH/FTTB
FTTH (Fiber To The Home): cáp quang chạy đến tận nhà thuê bao
FTTB (Fiber To The Buiding): giống như FTTH nhưng ở đây kéo
đến các tòa nhà cao tầng
FTTC (Fiber To The Curb): cáp quang đến một khu vực dân cư Lúc
đó từ ONU đến thuê bao có thể sử dụng cáp đồng Trong mô hình
này, thiết bị đầu cuối phía người sử dụng được bố trí trong các ca
bin trên đường phố, dây nối tới các thuê bao vẫn là cáp đồng FTTC
cho phép san xẻ giá thành của một ONU cho một thuê bao do đó nó
có thể hạ thấp được giá thành lắp đặt ban đầu
Ngoài ra còn có một số loại hình khác như là FTTE (Fiber To The Exchange),
FTTN (Fiber To The Node)…
1.2.3 Phân loại mạng FTTx theo cấu hình
Cấu hình Pointto Point: là kết nối điểm - điểm, có một kết nối thẳng từ
nhà cung cấp dịch vụ đến khách hàng Trong hệ thống đường quang trực tiếp
mỗi sợi quang sẽ kết nối tới chỉ một khác hàng Vì sợi quag là sừ dụng riêng
rẽ nên cấu hình mạng tương đối đơn giản đồng thời do băng thông không chia
sẻ, tốc độ đường truyền có thể lên rất cao Quá trình truyền dẫn trên cấu trúc
cũng rất an toàn do toàn bộ quá trình truyền chỉ trên một đường dây vật lý, chỉ
có các đầu cuối là phát và thu dữ liệu, không bị lẫn với các khách hàng khác
Tuy nhiên cấu trúc này có một nhược điểm cơ bản mà khó có thể phát triển
cho quy mô rộng đó là giá thành đầu tư cho một khách hàng rất cao, hệ thống
Trang 16sẽ trở lên rất cồng kềnh, khó khăn trong việc vận hành và bảo dưỡng khi số
lượng khác hàng tăng lên
Cấu hình Point to Multipoint: kết nối điểm – đa điểm, một kết nối từ
nhà cung cấp dịch vụ đến nhiều khách hàng thông qua bộ chia spitter Trong
hệ thống này mỗi đường quang đi từ nhà cung cấp dịch vụ được chia sẻ sử
dụng chung cho một số khách hàng Sẽ có một đường quang đi đến một nhóm
khách hàng ở gần nhau về mặt địa lý, tại đây đường quang dùng chung này sẽ
được chia tách thành các đường quang riêng biệt đi đến từng khách hàng
Điều này làm giảm chi phí lắp đặt đường quang riêng biệt đi đến từng khách
hàng Điều này làm giảm chi phí lắp đặt đường cáp quang và tránh cho hệ
thống khi phát triển khỏi cồng kềnh
So sánh hai cấu hình:
Hai cấu hình mạng Point to Point và cấu hình mạng Point to
Multipoints có nhưng ưu nhược điểm riêng và áp dụng cho người sử dụng
khác nhau nhưng cấu hình Point to Multipoints có nhưng ưu điểm vượt trội để
áp dụng vào triển khai mạng thực tế Đó là giảm chi phí lắp đặt đường truyền
đến thuê bao, giảm các thiết bị, tận dụng tối đa dung lượng đường truyền Cấu
hình Point to Multipoint là cấu hình rất phù hợp với hệ thống mạng truy nhập
cáp quang
1.3 Các công nghệ cung cấp kết nối mạng quang FTTx
1.3 1 Mạng quang chủ động AON
Để phân phối tín hiệu, mạng quang chủ động sử dụng các thiết bị cần
nguồn điện nuôi để phân tích dữ liệu như một chuyển mạch, router hoặc
mulitiplexer Dữ liệu từ phía nhà cung cấp của khách hàng nào sẽ chỉ được
chuyển đến khách hàng đó và dữ liệu từ phía khách hàng sẽ tránh được xung
Trang 17đột khi truyền trên đường vật lý chung bằng việc sử dụng bộ đệm của các
thiết bị chủ động
Từ năm 2007, hầu hết các hệ thống mạng quang chủ động được gọi là
Ethernet chủ động, Ethernet chủ động sử dụng các chuyển mạch Ethernet
quang để phân phối tín hiệu, do đó sẽ kết nối các căn hộ khách hàng với nhà
cung cấp thành một hệ thống mạng Ethernet khổng lồ giống như một mạng
máy tính thông thường ngoại trừ mụch đích của chúng là kết nối các căn hộ
và các tòa nhà với các nhà cung cấp dịch vụ Mỗi tủ chuyển mạch có thể quản
lý tới 1.000 khác hàng, thông thường là 400 - 500 khách hàng Các thiết bị
chuyển mạch này thực hiện chuyển mạch và định tuyến dựa vào lớp 2 và lớp
3
Một nhược điểm lớn của mạng quang chủ động chính là ở thiết bị
chuyển mạch Với công nghệ hiện tại, thiết bị chuyển mạch bắt buộc phải
chuyển tín hiệu quang thành tín hiệu điện để phân tích thông tin rồi tiếp tục
chuyển ngược lại để truyền đi, điều này sẽ làm giảm tốc độ truyền dẫn tối đa
có thể trong hệ thống FTTx Ngoài ra do đây là những thiết bị chuyển mạch
tốc độ cao nên các thiết bị này có chi phí đầu tư lớn, không phù hợp với việc
triển khai đại trà trong mạng truy nhập
Hình 1.3 dưới đây mô tả kiến trúc mạng quang chủ động AON Với mô hình
cáp quang chạy đến từng hộ gia đình, một thuê bao của mạng quang chủ động
hình cây cách trung tâm điều khiển từ xa tới 20 km sẽ được cấp một đường
dây quang riêng đủ để đáp ứng cho băng thông 2 chiều Cấu trúc mạng này
tương tự như cấu trúc của mạng cáp đồng hiện tại và vẫn dễ dàng cho các nhà
cung cấp dịch vụ đã có sẵn cơ sở hạ tầng Mạng quang chủ động được hỗ trợ
các chuẩn Ethernet quang và cấu trúc đơn giản và quan trọng nhất nó rất linh
hoạt cho sự tăng trưởng của hệ thống viễn thông trong tương lai Bởi vì đặc
Trang 18điểm quan trọng của các hệ thống viễn thông là các thiết bị đầu cuối thay đổi
rất nhanh chóng nhưng nhưng cơ sở hạ tầng mạng thì phải tồn tại từ 15 đến 20
năm Do đó lựa trọn giải pháp nào là điều rất quan trọng đối với các nhà cung
cấp dịch vụ cũng như những kỹ sư thiết kế hệ thống mạng
ONT ONT ONT ONT
A B C
D V
V
V D V
V V
D V
Up To 70 km Up To 20 km
Routed to 500 ONTs
A B
C
C
A B
Hình 1.3 Kiến trúc mạng quang chủ động
1.3.2 Mạng quang thụ động PON
Mạng quang thụ động có thể định nghĩa một cách ngắn gọn như sau:
mạng quang thụ động (PON) là một mạng quang không có các phần tử điện
hay các thiết bị quang điện tử
Như vậy với khái niệm này, mạng PON sẽ không chứa bất kỳ một phần
tử tích cực nào mà cần có sự chuyển đổi điện - quang Thay vào đó, PON sẽ
chỉ bao gồm: sợi quang, các bộ chia, bộ kết hợp, bộ ghép định hướng… điều
này giúp cho PON có một số ưu điểm như: không cần nguồn điện cung cấp
nên không bị ảnh hưởng bởi lỗi nguồn, có độ tin cậy cao và không cần bảo
dưỡng do tín hiệu không bị suy hao nhiều như đối với các phần tử tích cực
Mạng PON ngoài việc giải quyết các vấn đề về băng thông, nó còn ưu
điểm là chi phí lắp đặt thấp do nó tận dụng được những sợi quang trong mạng
Trang 19có từ trước PON cũng dễ dàng và thuận tiện trong việc ghép thêm các ONU
theo yêu cầu của các dịch vụ, trong khi việc thiết lập trong mạng tích cực khá
phức tạp do việc cấp nguồn tại mỗi nút mạng và trong mỗi nút mạng đều cần
có các bộ phát lại
PON có thể hoạt động với chế độ không đối xứng Chẳng hạn, một
mạng PON có thể truyền dẫn theo luồng 622Mbits ở đường xuống và truy
nhập theo luồng 155Mbits ở đường lên Một mạng đối xứng như vậy sẽ giúp
cho cho phí của các ONU giảm đi rất nhiều, do chỉ phải sử dụng các bộ thu
phát giá thành thấp hơn
Cấu trúc mạng PON cơ bản gồm các thành phần là OLT, splitter
quang, ONU/ONT OLT là thiết bị đầu cuối đường truyền quang, có nhiệm
vụ kết nối tất cả các loại dịch vụ lại và truyền tín hiệu thông qua sợi cáp
quang Tín hiệu từ OLT sẽ đến các splitter quang Splitter quang được sử
dụng để phân chia băng thông từ một sợi duy nhất đến người sử dụng ( n là
hệ số chia của splitter, n có thể là 8, 16, 32, 64 hoặc 128) trên một khoảng
cách tối đa là 20 km Để thu được tín hiệu từ OLT, tại phía người sử dụng
cần có các ONU/ONT Các thiết bị này có nhiệm vụ là biến đổi tín hiệu
điện thành tín hiệu quang
Trang 20B V
C V
D V Split to 32
ONTs
Split to 32 ONTs
Hình 1.4 Kiến trúc mạng quang thụ động
Trong sơ đồ trên, các thành phần chính của một mạng PON là:
OLT (Optical Line Terminal): đây là thiết bị kết cuối kênh quang
đặt tại Center Office Nó là thành phần quan trọng nhất trong hệ
thống FTTH, cung cấp các dao diện truy nhập PON cho thiết bị
ONU phía người sử dụng và các giao diện khác cho tín hiệu phía
uplink
ONU (Optical Network Unit): ONU là thiết bị lắp đặt tại phía khách
hàng Nó là điểm cuối của mạng quang FTTH ONU có nhiệm vụ
chuyển tín hiệu quang từ giao diện PON thành các chuẩn tín hiệu
cho các thiết bị mạng, tín hiệu truyền hình, tín hiệu thoại được sử
dụng tại thuê bao
ONT (Optical Network Terminal): Đây là thiết bị đầu cuối phía
người sử dụng, là điểm cuối cùng của ODN
OND (Optical Network Distribution): Hệ thống phân phối cáp
quang tính từ sau OLT đến ONU/ONT Cụ thể, hệ thống phân phối
Trang 21quang OND lại bao gồm các thành phần sau đây:
Măng xông quang
Dây nhảy quang
Hộp phối quang ODF
Splitter (bộ chia, ghépquang)
1.3.3 So sánh mạng PON và AON
Có rất nhiều yếu tố để so sánh ưu điểm và nhược điểm của hai kỹ thuật
PON và AON Tuynhiên, có một ưu điểm nổi bật của PON so với AON đó là
sử dụng các thiết bị chia quang thu động Spitter, chia các tín hiệu đến từng
thuê bao, tín hiệu đều là tín hiệu quang đến tận khách hàng sử dụng dịch vụ
Đối với AON thì sử dụng thì các thiết bị chuyển mạch bắt buộc phải chuyển
tín hiệu quang thành tín hiệu điện để phân tích thông tin rồi tiếp tục chuyển
ngược lại rồi chuyền đi điều này sẽ giảm tốc độ truyền dẫn đi, sẽ làm giảm tốc
độ truyền dẫn trong hệ thống FTTx, ngoài ra thiết bị này có chi phí lớn không
thuận tiện cho việc triển khai đại trà cho mạng truy nhập vì vậy PON được sử
dụng rộng rãi cho mạng truy nhâp
1.4 Kết luận
Chương I cho chúng ta cái nhìn tổng quan về mạng truy nhập, vị trí
mạng truy nhập trong mạng viễn thông, tổng quan về mạng quang FTTx,
giới thiệu công nghệ mạng quang truy nhập AON, PON Từ đó so sánh và nêu
lên ưu nhược điểm của hai công nghệ, lựa chọn công nghệ phù hợp cho mạng
truy nhập quang tại Việt Nam
Trang 22CHƯƠNG II: MẠNG TRUY NHẬP QUANG THỤ ĐỘNG PON
2.1 Kiến trúc mạng PON
Mạng quang thụ động PON sử dụng phần tử chia quang thụ động trong
mạng phân bố nằm giữa thiết bị đường truyền quang (OLT) và thiết bị kết
cuối mạng quang (ONU).[1] [5]
Mạng
quang
Mạng
vô tuyến
Mạng IP Mạng ATM
Hệ thống quản lý
EMS
HỆ THỐNG OLT
ONU ONU
ONU ONU
ONU
ONU
PON
Sợi cung cấp
Bộ tách, ghép
Sợ i p
hâ n bố
Thoại và
dữ liệu
Thoại dữ liệu và video
Thoại video và
dữ liệu
Thoại video
và dữ liệu Công ty
thương mại
Hình 2.1 Mô hình kiến trúc mạng quang thụ động PON
Các phần tử thụ động của PON đều nằm trong mạng phân bố quang
(hay còn gọi là mạng quang ngoại vi) bao gồm các phần tử như sợi quang, các
bộ tách ghép quang thụ động, các đầu nối và các mối hàn quang Các phần tử
tích cực như OLT và ONU đều nằm ở đầu cuối của mạng PON Tín hiệu
trong PON có thể được phân ra và truyền đi theo nhiều sợi quang hoặc được
kết hợp lại và truyền đi trên một sợi quang thông qua bộ ghép quang, phụ
thuộc tín hiệu đó đi theo hướng lên hay xuống của PON
2.2 Mô hình mạng PON
Có một vài mô hình thích hợp cho mạng truy cập như mô hình cây,
vòng hoặc bus Mạng quang thụ động PON có thể triển khai linh động trong
Trang 23bất kỳ mô hình nào nhờ sử dụng một tapcoupler quang 1: 2 và bộ tách quang
1: N
Mô hình cây:
OLT
ONU ONU ONU
Hình 2.3 Mô hình dạng bus
Trong cấu hình này, một cáp chạy dọc, gọi là cáp đường trục liên kết
các nút mạng, đây là cấu hình liên kết đa điểm (áp dụng cho mạng LAN)
Trang 24Ưu điểm:
Thiết lập mạng đơn giản
Ít cáp nối hơn so với các cấu hình mạng khác
Nhược điểm:
Liên kết mạng bị phá vỡ khi cáp đường trục bị lỗi
Xung đột dữ liệu xảy ra trên cáp đường trục khi có 2 liên kết thực hiện đồng thời, dẫn đến giới hạn khả năng truyền tải dữ liệu trong mạng
Hình 2.4 Mô hình dạng vòng
Trong mô hình này thực hiện liên kết điểm nối điểm với hai nút kế cận
trong mạng, dữ liệu trong mạng sẽ chạy dọc theo vòng liên kết cho tới khi tới
Trang 252.3 Các thành phần cơ bản của mạng quang thụ động PON
2.3.1 Sợi quang, cáp quang
Sợi quang là một thành phần quan trọng trong mạng, nó tạo sự kết nối
giữa các thiết bị Hai thông số cơ bản của sợi quang là suy hao và tán sắc Tuy
nhiên sợi quang ứng dụng trong mạng PON thì chỉ cần quan tâm đến suy hao
mà không cần quan tâm đến tán sắc bởi khoảng cách truyền tối đa chỉ là 20km
và tán sắc thì ảnh hưởng không đáng kể Do đó, người ta sử dụng sợi quang
có suy hao nhỏ, chủ yếu sử dụng loại sợi single mode
Các loại cáp quang sử dụng trong mạng PON:
Cáp gốc (cáp phân bổ từ OLT đến splitter): thường là loose-tube –
loại cáp này thì được khuyến nghị ứng dụng ở hầu hết mạng PON
Cáp phối (cáp phân bổ từ splitter đến dây drop): có thể sử dụng cáp
loose-tube hoặc ribbon
Dây drop (kéo đến nhà thuê bao)
2.3.2 Bộ tách, ghép quang
Thiết bị chia, ghép sử dụng trong PON là các thiết bị tách, ghép quang
thụ động (Slitter), thực hiện chia, ghép tín hiệu quang từ nhà cung cấp dịch vụ
đến khách hàng và ngược lại để tận dụng hiệu quả sợi quang Thành phần
được nhắc chủ yếu trong mạng PON là bộ chia, dùng để chia công suất quang
từ một sợi ra nhiều sợi khác nhau Từ OLT đến ONU, ONT có thể sử dụng
nhiều loại bộ chia có tỉ lệ khác nhau như 1: 2, 1: 4, 1: 8, 1: 16, 1: 32, 1: 64,1:
128 Sử dụng bộ chia có tỉ lệ lớn khác như 1: 32 hay 1: 64 hay có thể sử dụng
bộ chia nhiều lớp với lớp thứ nhất sử dụng bộ chia 1: 2 và lớp thứ hai sử dụng
hai bộ chia 1: 4 Tỉ lệ bộ chia càng cao thì suy hao bộ chia càng lớn, đối với
bộ chia 1: 2 thì có suy hao bộ chia nhỏ nhất là 3dB
2.3.3 Các đầu cuối mạng PON
Trang 26OLT (Optical Line Terminal – thiết bị đường truyền quang): là thiết bị
đầu cuối phía nhà sản xuất, có nhiệm vụ kết nối tất cả các loại dịch vụ lại và
truyền thông qua cáp quang, cáp quang từ OLT sẽ trải dài và kết nối tới mỗi
ONT OLT bao gồm các chức năng chính:
Chức năng kết nối chéo
Chức năng giao diện cổng dịch vụ
Chức năng giao diện mạng phân phối quang OND
ONU, ONT: ONU và ONT về cơ bản là các thiết bị có chức năng như
nhau, đều làm nhiệm vụ biến đổi quang thành tín hiệu điện Tuy nhiên sự
khác nhau của hai loại thiết bị kết cuối này là: ONT được đặt ngay tại nhà
thuê bao, cần phải được cấp nguồn và không hỗ trợ dịch vụ IPTV Còn ONU
thì được đặt bên ngoài nhà thuê bao, không cần cấp nguồn, thường có số
lượng cổng giao tiếp lớn và có hỗ trợ dịch vụ IPTV
2.4 Các công nghệ của PON
Các công nghê PON có thể chia theo các chuẩn mạng PON thành 2
nhóm: nhóm 1 bao gồm các chuẩn theo phương thức truy nhập TDMA như là
APON, BPON, EPON, GPON, GEPON; nhóm thứ 2 bao gồm chuẩn theo các
phương thức truy nhập khác như WDM-PON và CDMA-PON.[4]
2.4.1 APON/BPON
APON (ATM Passive Optical Network) là chuẩn mạng PON đầu tiên,
dựa trên công nghệ ATM, được quy định trong chuẩn G.983 của ITU-T
BPON (Broadband PON): Là chuẩn phát triển dựa trên APON và được chuẩn
hóa trong chuỗi khuyến nghị G.938 của ITU-T Các khuyến nghị này đưa ra
các tiêu chuẩn về các khối chức năng ONT và OLT, khuôn dạng và tốc độ
khung của luồng dữ liệu hướng lên và hướng xuống, giao thức truy nhập
hướng lên TDMA, các giao tiếp vật lý, các giao tiếp quản lý và điều khiển
Trang 27ONT Hệ thống BPON hỗ trợ tốc độ không đối xứng 155 Mbps hướng lên và
622 Mbps hướng xuống hoặc tốc độ đối xứng 622 Mbps Các hệ thống BPON
đã được sử dụng ở nhiều nơi, tập trung ở Bắc Mỹ, Nhật Bản và một phần
Châu Âu
2.4.2 EPON/GEPON
EPON được chuẩn hóa bởi IEEE 802.3 Trong EPON dữ liệu hướng
xuống được đóng khung theo khuôn dạng Ethernet Các khung EPON có cấu
trúc tương tự như các liên kết Gigabit Ethernet điểm tới điểm ngoại trừ từ
mào đầu và thông tin xác định điểm bắt đầu của khung được thay đổi để
mang trường nhận dạng kênh logic (LLID – Link logic ID) nhằm xác
định duy nhất một ONU MAC Trong hướng lên, các ONU phát các khung
Ethernet trong các khe thời gian đã được phân bổ ONU sử dụng giao thức
điều khiển đa điểm PDU (MPCPDU – Multi Point Control Protocol Data
Unit) để gửi các bản tin “Report” yêu cầu băng thông, trong khi đó OLT
gửi bản tin “Gate” cấp phát băng thông cho các ONU Các bản tin “Gate”
bao gồm thông tin về thời gian bắt đầu và khoảng thời gian cho phép truyền
dữ liệu đối với ONU OLT cũng định kỳ gửi các bản tin “Gate” tới các
ONU hỏi xem chúng có yêu cầu băng thông hay không Các ONU cũng có
thể gửi “Report” cùng với dữ liệu được phát trong hướng lên Ngoài ra, giao
thức DBA cũng có thể được sử dụng trong EPON để thực hiện cơ chế điều
khiển phân bổ băng thông Do không có cấu trúc khung thống nhất đối với
hướng xuống và hướng lên, do vậy trong cấu trúc của EPON, các khe thời
gian và giao thức xác định cự ly là khác so với BPON và GPON OLT và
các ONU duy trì các bộ đếm cục bộ riêng và tăng thêm 1 sau mỗi 16ns
Mỗi một MPCPDU mang theo một thời gian mẫu, mẫu này là giá trị của bộ
đệm cục bộ của ONU tương ứng Tốc độ truyền dữ liệu EPON có thể đạt tới
1Gbits
Trang 28GEPON là một chuẩn của IEEE-EFM cho việc sử dụng giao thức
Ethernet để truyền dữ liệu Nó là EPON nhưng tốc độ đạt ở mức Gigabit
Một hệ thống GEPON với tỷ lệ chia là 32 có thể cung cấp một băng
thông đối xứng là trên 30 Mbps cho mỗi khách hàng Băng thông này là đủ
để cung cấp các dịch vụ yêu cầu băng thông lớn như các ứng dụng video
cũng như các ứng dụng thoại và data Thậm chí với đồng thời 3 luồng video
nộ nét cao với dung lượng mỗi luồng là 6-7 Mbps (tổng cộng là 18 -21Mbps)
thì vẫn còn đủ dung lượng cho VoIP và truy cập Internet Dung lượng dành
riêng cho VoIP thông thường chỉ khoảng 64k trên một kênh thoại trong khi
truy nhập Internet tốc độ cao thường giới hạn ở các mức 512kbps, 1Mbps,
2Mbps, 4Mbps Băng thông tổng cộng cho cả 3 dịch vụ chỉ khoảng 25Mbps,
do đó GEPON là một công nghệ mạng truy cập lý tưởng cho việc hỗ trợ đa
dịch vụ hiện có cũng như các dịch vụ của tương lai
Hiện tại, chuẩn GEPON cũng đang được phát triển để có thể hỗ trợ
băng thông tối đa lên tới 10GB và tỉ lệ chia sẻ trên một sợi quang là 1: 64
2.4.3 GPON
GPON được xây dựng dựa trên APON và BPON Mặc dù GPON
hỗ trợ truyền tải tin ATM, nhưng nó cũng đưa vào một cơ chế thích nghi
tải tin mới mà được tối ưu hóa cho truyền tải các khung Ethernet được gọi
là phương thức đóng gói GPON (G-PON Encapsulation Method - GEM)
GEM là phương thức dựa trên thủ tục đóng khung chung trong khuyến nghị
G.701 ngoại trừ việc GEM tối ưu hóa từ mào đầu để phục vụ cho ứng
dụng của PON, cho phép sắp xếp các dữ liệu Ethernet vào tải tin GEM và
hỗ trợ sắp xếp TDM
GPON sử dụng cấu trúc khung GTC (GPON Transmission Conversion)
cho cả hai hướng xuống và lên Khung hướng xuống bắt đầu với một từ mào
Trang 29đầu PLOAM, tiếp sau đó là vùng tải tin GEM hoặc các tế bào ATM
PLOAM gồm có thông tin cấu trúc khung và sắp đặt băng thông cho ONT
gửi dữ liệu trong khung hướng lên tiếp theo Khung hướng lên bao gồm các
nhóm khung gửi từ các ONT Mỗi một nhóm được bắt đầu với từ mào đầu
lớp vật lý mà có chức năng tương tự trong BPON, nhưng cũng bao hàm
tổng hợp các yêu cầu băng thông của các ONT Ngoài ra, các trước PLOAM
và các yêu cầu băng thông chi tiết hơn được gửi đi kèm với các nhóm
hướng lên khi có yêu cầu từ OLT OLT gán các thời gian cho việc gửi dữ
liệu hướng lên từ cho mỗi ONT
Được ITU-T đã chuẩn hóa trong một loạt các khuyến nghị G.984.1,
G.984.2, G.984.3 và G.984.4 Hiệu suất và tốc độ đường truyền: GPON hỗ trợ
tốc độ bít cao nhất từ trước tới nay với tốc độ hướng xuống, hướng lên tương
ứng lên tới 2,5-2,5 Gbits GPON cung cấp độ rộng băng lớn chưa từng có từ
trước tới nay và là công nghệ tối ưu cho các ứng dụng của mạng FTTx
Hiện nay cũng như trong tương lai GPON là công nghệ phù hợp cho
việc truyền thông Ethernet/IP với việc hỗ trợ truyền tiếng nói và video qua
PON bằng việc sử dụng giao thức SONET/SDH
2.4.4 WDM- PON
Công nghệ mạng quang thụ động sử dụng ghép kênh phân chia theo
bước sóng Wavelength Division Multiplexing Passive Optical Network
(WDM PON) là thế hệ kế tiếp của mạng truy nhập quang và cho băng thông
lớn nhất TDM PON (bao gồm BPON, GPON và GEPON) sử dụng các bộ
chia công suất quang thụ động, hướng xuống là quảng bá và ONU nhận dữ
liệu của mình thông qua nhãn địa chỉ nhúng, hướng lên sử dụng ghép kênh
trong miền thời gian WDM PON sử dụng các bộ ghép sóng WDM thụ động,
hướng xuống mỗi ONU nhận dữ liệu trên một bước sóng, hướng lên các bước
Trang 30sóng khác nhau được ghép thông qua bộ ghép sóng WDM tới ONU Do sử
dụng một bước sóng cho mỗi ONU nên WDM PON có tính bảo mật và tính
mềm dẻo tốt hơn Ưu điểm chính của WDM-PON là nó khả năng cung cấp
các dịch vụ dữ liệu theo các cấu trúc khác nhau (DS1/E1/DS3, 10/100/1000
Base Ethernet…) tùy theo yêu cầu về băng thông của khách hàng Tuy
nhiên, nhược điểm chính của WDM-PON là chi phí khá lớn cho các linh kiện
quang để sản xuất bộ lọc ở những bước sóng khác nhau WDM-PON cũng
được triển khai kết hợp với các giao thức TDMA PON để cải thiện băng
thông truyền tin, và nó sẽ là sự lựa chọn của tương lai, là bước phát triển kế
tiếp cho các công nghệ mạng truy nhập quang PON
2.4.5 CDMA-PON
Công nghệ đa truy nhập phân chia theo mã CDMA cũng có thể triển
khai trong các ứng dụng PON Cũng giống như WDM-PON, CMDA-PON
cho phép mỗi ONU sử dụng khuôn dạng và tốc độ dữ liệu khác nhau tương
ứng với các nhu cầu của khách hàng CDMA PON cũng có thể kết hợp với
WDM để tăng dung lượng băng thông CDMA PON truyền tải các tín
hiệu khách hàng với nhiều phổ tần truyền dẫn trải trên cùng một kênh
thông tin Các ký hiệu từ các tín hiệu khác nhau được mã hóa và nhận dạng
thông qua bộ giải mã Phần lớn công nghệ ứng dụng trong giải mã Phần
lớn công nghệ ứng dụng trong CDMA PON tuân theo phương thức trải phổ
chuỗi trực tiếp Trong phương thức này mỗi ký hiệu 0, 1 (tương ứng với
mỗi tín hiệu) được mã hóa thành chuỗi ký tự dài hơn và có tốc độ cao hơn
Mỗi ONU sử dụng trị số chuỗi khác nhau cho kí tự của nó Để khôi
phục lại dữ liệu, OLT chia nhỏ tín hiệu quang thu được sau đó gửi tới các bộ
lọc nhiễu xạ để tách lấy tín hiệu của mỗi ONU Ưu điểm chính của CDMA
PON là cho phép truyền tải lưu lượng cao và có tính năng bảo mật nổi trội
Trang 31so các chuẩn PON khác Tuy nhiên, một trở ngại lớn trong CDMA-PON là
các bộ khuếch đại quang đòi hỏi phải được thiết kế sao cho đảm bảo tương
ứng với tỷ số tín hiệu/tạp âm (S/N) Với hệ thống CDMA-PON không có
bộ khuếch đại quang thì tùy thuộc vào tổn hao bổ sung trong các bộ chia,
bộ xoay vòng, các bộ lọc mà hệ số tỷ chia ONU/OLT chỉ là 1:2 hoặc 1:8
Trong khi đó với bộ khuyếch đại quang hệ số này có thể đạt 1:32 hoặc cao
hơn Bên cạnh đó các bộ thu tín hiệu trong CDMA-PON là khá phức tạp và
giá thành tương đối cao Chính vì những nhược điểm này nên hiện tại
CDMA-PON chưa được phát triển rộng rãi
2.4.6 So sánh các chuẩn công nghệ của TDMA-PON
Bảng 2.1: So sánh các chuẩn công nghệ của TDMA-PON
Tổ chức chuẩn
hóa
FSAN và ITU- T SG15 (G.983 eries)
FSAN và ITU- T SG15 (G.984 series)
IEEE 802.3 (802.3ah)
Tốc độ dữ liệu
155.52 Mbit/s hướng lên 155.52 hoặc 22.8 Mbit/s hướng xuống
Lên tới 2.488 Gbit/s
cả hai hướng
1 Gbit/s cả hai hướng
Mã đường
truyền
Scrambled NRZ
Scrambled
Số lượng sợi
Trang 32quang 1 hoặc 2 1 hoặc 2 1
Bước sóng
1310nm cả 2 hướng hoặc 1490nm
xuống & 1310nm lên
1310nm cả 2 hướng hoặc 1490nm xuống
& 1310nm lên
1490nm xuống &
Sửa lỗi hướng
Trang 33So sánh EPON và GPON
Phần trên đã nêu một cách tổng quan và khái quát nhất về PON, các
công nghệ sử dụng trong PON, mỗi công nghệ đều có những ưu điểm riêng để
áp dụng vào từng mạng cụ thể, nổi bật đó mà hai công nghệ EPON và GPON
Nhưng với những đặc điểm sau mà công nghệ EPON đã được lựa chọn hàng
đầu của các nhà mạng:
EPON và GPON có thể được áp dụng trong các cách sử dụng khác
nhau, mỗi công nghệ đều có những lợi thế riêng của nó trong các
mạng truy nhập thuê bao, EPON tập chung vào các ứng dụng truy
cập internet tốc độ cao, VoID, IPTV, trong khi FTTH GPON tập
chung vào hỗ trợ đầy đủ các dịch vụ mới và các dịch vụ truyền
thông hiện có như ATM và TDM
EPON như là một công nghệ của FTTH, là một giải pháp lý tưởng
cho băng thông rộng Các thiết bị đầu cuối dây quang (OLT), đơn vị
mạng quang (ONU) và mạng lưới phân phối quang (ODN), trong đó
bao gồm một hệ thống PON, quyết định các chi phí triền khai
GPON và EPON Một ODN bao gồm cáp quang, tủ quang, splitter
Đối với một số người sử dụng, chi phí cho các sợi quang và loại tủ
EPON và GPON là tương tự nhau Các chipset của GPON rất đắt và
có ít nhà sản xuất cung cấp Các modum của GPON cũng đắt hơn so
với EPON, khi triển khai GPON, chi phí ước tính của một OLT
Trang 34GPON gấp 1,5 đến 2 lần so với một OLT của EPON, và chi phí ước
tính của một ONT GPON sẽ là 1,2 đến 1,5 lần so với một ONT
EPON
Châu á là thị trường lớn cho EPON, chiếm 80% thuê bao PON trên
toàn thế giới, tại Nhật Bản vào cuối năm 2006 có hơn 7 triệu thuê
bao FTTx, và dự kiến sẽ tăng lên hơn 17 triệu vào cuối năm 2010
Đến cuối năm 2006, triền khai EPON chiếm khoảng 80% thị trường
thế giới, 20% còn lại của thị trường FTTH dựa trên GPON, BPON
EPON là giải pháp FTTH chiếm ưu thế ở Nhật Bản, Hàn Quốc và
các quốc gia khác của châu Á- Thái Bình Dương, đáp ứng cho các
dịch vụ như truy cập internet tốc độ cao, VoID IPTV… Ở các
nước khác, đặc biệt tại Mỹ, GPON là sự lựa chọn số một, và GPON
có thể tồn tại với các hệ thống PON truyền thống Điều này giải
thích tại sao EPON xuất hiện chiếm một thị phần lớn trên thị trường
Châu Á, nơi mà BPON không được sử dụng rộng rãi
2.5 Kết luận chương
Nội dung trên đã trình bày cho ta biết tổng quan về mạng truy nhập
quang thụ động PON Và cũng cho ta thấy cấu trúc cơ bản của nó Các chuẩn
của PON, so sánh giữa EPON và GPON từ đó thấy được ưu nhược điểm của
các công nghệ Chương tiếp theo sẽ trình bày một công nghệ được sử dụng
trong mạng PON, nhằm khai thác khả năng tốt nhất của mạng truy nhập
quang thụ động Đó là công nghệ Ethernet và được gọi là mạng truy nhập
quang thụ động Ethernet – EPON
Trang 35CHƯƠNG III: MẠNG TRUY NHẬP QUANG THỤ ĐỘNG
ETHERNET-PON
3.1 Tổng quan về công nghệ Ethernet
Ethernet là mạng cục bộ do ba công ty Xerox, Intel và Digital
equipment xây dựng và phát triển Ethernet là mạng thông dụng nhất đối với
các mạng nhỏ hiện nay (chiếm hơn 90% thị phần mạng hiện nay) Ethernet
LAN được xây dựng theo chuẩn 7 lớp trong cấu trúc mạng của mô hình tham
chiếu ISO, mạng truyền số liệu Ethernet cho phép đưa vào mạng các loại máy
tính khác nhau kể cả máy tính mini Ethernet có các đặc tính kỹ thuật chủ yếu
sau đây:
Có cấu trúc dạng tuyến phân đoạn, đường truyền dùng cáp đồng
trục, tín hiệu truyền trên mạng được mã hoá theo kiểu đồng bộ
(Manchester), tốc độ truyền dữ liệu là 10 Mbs
Chiều dài tối đa của một đoạn cáp tuyến là 500m, các đoạn tuyến
này có thể được kết nối lại bằng cách dùng các bộ chuyển tiếp và
khoảng cách lớn nhất cho phép giữa 2 nút là 2,8 km
Sử dụng tín hiệu bǎng tần cơ bản, truy xuất tuyến (bus access) hoặc
tuyến token (token bus), giao thức là CSMA/CD, dữ liệu chuyển đi trong các
gói Gói (packet) thông tin dùng trong mạng có độ dài từ 64 đến 1518 byte
Với việc ra đời Gigabit Ethernet, ban đầu như là một công nghệ LAN thì giờ
đây đã trở thành một chuẩn MAN và WAN.[3]
Thành công chủ yếu của Ethernet là do các yếu tố sau:
Đơn giản và dễ dàng bảo trì
Có khả năng phối hợp với các công nghệ khác
Tin cậy
Chi phí lắp đặt và nâng cấp thấp
Trang 36Tất cả các chuẩn phát triển sau này về cơ bản đều tương thích với
chuẩn gốc Một frame của Ethernet xuất phát từ một NIC 10 Mbps cáp đồng
trục loại cũ trong một máy PC, đặt lên liên kết Ethernet quang tốc độ 10 Gbps
và kết thúc tại một NIC 100 Mbps Các gói trên một mạng Ethernet không bị
thay đổi
3.1.1 Kiến trúc mô hình mạng Ethernet
Mạng LAN có nhiều mô hình kiến trúc khác nhau, nhưng bất chấp sự
rắc rối và kích cỡ của nó, tất cả đều kết hợp từ ba kiến trúc kết nối cơ bản:
Kiến trúc đơn giản nhất là kết nối điểm - điểm (hình 3.1) Chỉ 2 đơn vị
mạng được kết nối với nhau và kết nối này có thể là DTE với DTE, DTE với
DCE, DCE với DCE Dây cáp trong kết nối điểm điểm được gọi là network
link Chiều dài cho phép lớn nhất của cáp phụ thuộc vào kiểu cáp và phương
thức truyền được sử dụng
Link
Hình 3.1 Mô hình kết nối điểm – điểm
Mạng Ethernet cơ sở được thực hiện với kiến trúc bus cáp đồng trục
(hình 3.2) Chiều dài của Segment (đoạn) được giới hạn ở 500m và có thể kết
nối 100 trạm vào một Segment Từng Segment có thể kết nối với các trạm lặp,
miễn là nhiều đường không tồn tại giữa hai trạm bất kỳ trên mạng và số lượng
DTE không vượt quá giá trị qui định
Trang 37Ethernet bus segment
Ethernet bus segment
Hình 3.2 Mô hình kết nối bus đồng trục
Mặc dầu những mạng mới không được kết nối trong cấu hình bus
nhưng một vài mạng bus cũ vẫn tồn tại và vẫn được sử dụng hữu ích
Từ đầu thập niên 90, cấu hình mạng được lựa chọn là mô hình kết nối
sao (hình 3.3) Đơn vị mạng trung tâm là bộ lặp đa cổng (còn gọi là Hub)
hoặc là một chuyển mạch mạng Tất cả kết nối trong mạng sao là kết nối điểm
điểm được thực hiện với cáp sợi quang
Hình 3.3 Mô hình kết nối sao
3.1.2 Các phần tử mạng Ethernet
Mạng LAN Ethernet bao gồm các node mạng và phương tiện liên kết
Các node mạng nằm trong hai lớp chính:
DTE (Data Terminal Equipment): là thiết bị nguồn hay đích của
khung dữ liệu Các thiết bị DTE điển hình như PC, trạm làm việc,
file server hoặc print server như là một nhóm ở trạm đầu cuối
Trang 38 DCE (Data Communication Equiment): là các thiết bị mạng trung
gian có nhiệm vụ nhận và chuyển tiếp các khung dữ liệu thông qua
mạng DCE có thể là các thiết bị Standalone như là bộ lặp, bộ
chuyển mạch hay các thiết bị giao tiếp truyền thông như là Card
giao tiếp
Các thiết bị mạng trung gian Standalone được xem như là một node
trung gian hoặc DCE Card giao tiếp mạng được xem như là một NIC
(Network Interface Card)
3.1.3 Quan hệ vật lý giữa IEEE802.3 và mô hình tham chiếu ISO
Với giao thức IEEE802, lớp liên kết dữ liệu trong OSI được chia thành
hai lớp con IEEE802: lớp con MAC (Media Access Control) và lớp con
MAC-Client Lớp vật lý IEEE802.3 tương đương với lớp vật lý OSI
Appcation Prosentatinon
Session Transport Network
Upper-layer Protocols
IEEE 802.3 Reference model
OSI reference mddel
Hình 3.4 Quan hệ vật lý của Ethernet với mô hình tham chiếu OSI
Lớp con MAC-Client có thể là một trong các lớp con sau:
Là lớp con LLC (Logical Link Control) nếu đầu cuối là một DTE
Lớp con này cung cấp giao tiếp giữa Ethernet MAC và lớp trên
Trang 39trong ngăn giao thức của trạm đầu cuối Lớp con LLC được định
nghĩa trong chuẩn IEEE802.2
Là thực thể cầu nối (Bridge Entity) nếu đầu cuối là DCE Thực tế
cầu nối cung cấp giao tiếp LAN to LAN giữa các mạng LAN sử
dụng cùng giao thức (ví dụ Ethernet to Ethernet) và cũng cung cấp
giữa các giao thức khác nhau (ví dụ Ethernet với Token Ring) Thực
thể cầu nối được định trong chuẩn IEEE802.1
Bởi vì đặc điểm kỹ thuật của LLC và thực thể cầu nối là chung cho tất
cả các giao thức LAN IEEE802, tính tương thích của mạng là cơ sở của các
giao thức mạng đặc biệt Hình 3.5 minh hoạ các yêu cầu tương thích khác
nhau được lợi dụng bởi lớp vật lý và lớp MAC trong truyền thông dữ liệu cơ
sỏ trên kết nối Ethernet
Media- Access(MAC) MDI MDI
MAC Client
Physical medium Independent layer 802.3 MAC
Media- Access(MAC) MDI MDI
MAC Client
Physical medium Independent layer 802.3 MAC
PHY
Link Link media Signal encoding, and Transmission rate Transmission rate
MII-medium independen interfacce MDI-medium independen interfacce-the link connecter
Hình 3.5 Lớp vật lý và lớp Mac tương thích với các yêu cầu cho truyền
thông dữ liệu cơ sở
Lớp MAC điều khiển sự truy nhập của một node đến phương tiện
truyền thông của mạng và đặc biệt là đến các giao thức riêng biệt Tất cả lớp
MAC phải có thiết lập cơ bản về các yêu cầu vật lý, bất chấp liệu có phải
Trang 40chúng bao gồm một hay nhiều giao thức mở rộng được lựa chọn định nghĩa
Chỉ những nhu cầu cho truyền thông cơ sở (truyền thông không có nhu cầu
lựa chọn giao thức mở rộng) giữa hai node mạng thì cả hai lớp MAC phải hổ
trợ cùng tốc độ truyền
Lớp vật lý 802.3 qui định rõ tốc độ truyền dữ liệu, mã hoá tín hiệu, và
kiểu kết nối phương tiện giữa hai node Ví dụ, Gigabit Ethernet định nghĩa
hoạt động trên cáp xoắn đôi hoặc cáp sợi quang, nhưng tuỳ theo mỗi thủ tục
mã hoá tín hiệu hoặc từng kiểu cáp riêng biệt mà yêu cầu một sợi thi hành lớp
vật lý khác nhau
3.1.4 Lớp con Mac Ethernet
Lớp con MAC có hai chức năng chính:
Đóng gói dữ liệu kể cả đóng khung trước khi truyền, phân tích và dò
lỗi trong suốt và sau khi nhận khung
Điều khiển truy nhập phương tiện bao gồm khởi tạo một sự truyền
khung và phục hồi lại sự truyền bị hỏng
Dạng khung cơ bản của Ethernet:
Chuẩn 802.3 định nghĩa dạng khung dữ liệu cơ bản được yêu cầu cho
tất cả sự thi hành của MAC, cộng thêm một vài khuôn dạng để chọn bổ sung
mà được sử dụng để mở rộng giao thức Dạng khung dữ liệu cơ sở gồm có 7
trường: