• Muốn vẽ các điểm của giao một mặt phẳng với một mặt cong người ta thường làm như sau: Vẽ một mặt phẳng phụ trợ cắt mặt phẳng đã cho theo đường thẳng g và cắt mặt cong theo một đườn
Trang 1CHƯƠNG 4:
SỰ TƯƠNG GIAO
Trang 2• Thay mặt phẳng hình chiếu bằng là lấy mặt phẳng P2’ mới
vuông góc với P1 thay mặt phẳng P2 Kết quả của việc thay
mặt phẳng hình chiếu như vậy là ta có một đồ thức mới
mà trục hình chiếu là
x’ = P1 P2’ và hướng đường dóng mới là hướng vuông góc
với x’ Từ hình 4-17 ta thấy rằng đối với một điểm A bất
kỳ, khi thay mặt phẳng hình chiếu bằng vị trí tương đối
của điểm A đối với P1 không có gì thay đổi, do đó:
- Hình chiếu đứng A1 của A không thay đổi.
- Độ xa của điểm A trong hệ thống hình chiếu mới bằng độ
xa của điểm A trong hệ thống hình chiếu cũ, tức là:
A2’AX = A2AX = AA1
- Từ những nhận xét trên việc thay mặt phẳng hình chiếu
bằng cho điểm A bất kỳ được thực hiện bằng cách dễ dàng
Trang 3Ta xét một vài thí dụ:
• Thí dụ 1: Cho đoạn thẳng AB
(A1B1, A2B2) Thay mặt phẳng hình chiếu bằng sao cho trong hệ thống mới mặt phẳng hình chiếu mới AB
là đường bằng (H 4-19).
• Giải: Điều kiện ắt có và đủ để AB
là đường bằng A1B1 là phải song song với trục hình chiếu Do đó
chọn x’ // A1B1 Hình chiếu bằng mới của đoạn thẳng là A2’B2’
(A2’Ax = A2Ax; B2’BX = B2BX) Dễ dàng nhận thấy độ dài của A2’B2’ chính là độ dài của đoạn thẳng AB
và góc giữa A2’B2’ với x’ cũng là góc giữa AB với mặt phẳng hình chiếu đứng P1
Trang 4• Thí dụ 2: Cho mặt phẳng ABC Thay
mặt phẳng hình chiếu bằng sao cho trong mặt phẳng hình chiếu mới ABC là mặt phẳng hình chiếu bằng (H 4-20)
• Giải: Mặt phẳng P2’ phải chọn vừa
vuông góc với ABC vừa vuông góc với
P1 nên nó vuông góc với một đường mặt của mặt phẳng ABC Do đó trục hình
chiếu mới x’ phải vuông góc với hình chiếu đứng của đường mặt của ABC
Trang 5ra cách thay mặt phẳng hình chiếu đứng cho một đường thẳng hay một mặt
phẳng
Trang 6đường bằng trong hệ thống
cũ.
Trang 7• Thí dụ 2: Thay mặt phẳng
hình chiếu đứng để mặt phẳng chiếu bằng ABC trở thành
tam giác A1B1C1 bằng tam giác ABC.
Trang 8c) Thay liên tiếp các mặt phẳng hình chiếu:
• Như đã xét ở trên, bằng cách mặt phẳng hình chiếu
ta có thể đưa bài toán đang xét về dạng đặc biệt để cách giải trở nên đơn giản hơn nhiều Bằng cách
thay liên tiếp các mặt phẳng hình chiếu ta có thể đưa đường thẳng thường trở thành đường thẳng chiếu
hoặc mặt phẳng thường thành mặt phẳng song song với mặt phẳng hình chiếu Điều này sẽ trợ giúp rất nhiều trong việc giải các bài toán phức tạp, nhất là các bài toán về lượng trong mặt phẳng.
Trang 9• 4.3.2 PHÉP QUAY HÌNH
PHẲNG QUANH ĐƯỜNG
BẰNG HAY ĐƯỜNG MẶT CỦA NÓ:
• Dưới đây trình bày một phương pháp khác đưa mặt phẳng về vị trí song song với mặt phẳng hình chiếu: phương pháp quay hình phẳng quanh đường bằng hay đường mặt của nó.
• Trước hết ta nhắc lại khái niệm quay một điểm quanh một
α
Trang 10• Ta xét một vài thí dụ:
• Thí dụ 1: Cho mặt phẳng ABC có AB là
đường bằng Hãy quay mặt phẳng ABC
quanh AB để Abc trở thành song song với mặt phẳng hình chiếu bằng
• Giải: Ta chỉ cần quay C quanh AB về vị trí
C’ sao cho ABC’ song song với P2 Để xác định C’ ta dựa vào các điều kiện 1 và 2 của phép quay một điểm quanh đường thẳng
- Điểm C và điểm C’ nằm trong mặt phẳng vuông góc với AB (điều kiện 1) Vì AB là đường bằng nên mặt phẳng ấy là mặt phẳng chiếu bằng Do đó:
C2C2’ A2B2
• Gọi O2 = C2C2’ A2B2 O2 chính là hình
chiếu bằng của điểm O (O là giao điểm của
AB với mặt phẳng chiếu bằng chứa CC’)
• OC’ = OC (điều kiện 2) Từ điều kiện này
ta dễ dàng xác định được C2’ khi biết độ dài của OC (H 4-26)
⊥
∩
Trang 11• Thí dụ 2: Vẽ trong mặt phẳng P (V1P, V2P) một tam giác đều ABC Cạnh AB của tam giác cho trước (H 4-27).
• Giải: Để xác định đỉnh C ta gập mặt phẳng P,
chẳng hạn, vào mặt phẳng P2 Việc gập được thực hiện bằng cách quay một điểm N bất kỳ của P (trên đồ thức ta lấy N V1P) quanh V2P đến N’ P2 Cách xác định N’ thấy rõ trên hình
vẽ
(N’N2 V2P; O2N’ = O2N2*) Vết đứng V1P của mặt phẳng gập thành
V1’P PxN’ Điểm N’ còn có thể xác định với chú ý rằng PxN1 = PxN’ Hình gập của AB là A’B’, vẽ được bằng cách gắn nó lên đường thẳng IK
Vì I V1P nên I’ V1P’; K V2P nên K K’
Với A’B’ làm cạnh, ta dựng được tam giác đều A’B’C’ A’B’C’ chính là hình gập của
tam giác ABC cần vẽ Sau đó theo C’ xác định
Trang 124.4 SỰ TƯƠNG GIAO GIỮA CÁC
MẶT
4.4.1 GIAO CỦA MẶT PHẲNG VỚI MẶT:
a) Giao của mặt phẳng với đa diện:
• Giao của mặt phẳng với đa diện thường là một hay nhiều đa giác có cạnh là các giao tuyến của các mặt bên của đa diện với mặt phẳng và có các đỉnh là các giao điểm của các cạnh của đa diện với mặt phẳng.
• Để xác định giao của mặt phẳng với đa diện, ta có thể:
- Xác định các đỉnh của giao bằng cách tìm các giao điểm của các cạnh của đa diện với mặt phẳng đã cho.
- Xác định các cạnh của giao bằng cách tìm các giao tuyến
của các mặt bên của đa diện với các mặt phẳng đã cho.
Trang 13• Thí dụ: Vẽ giao của mặt phẳng P với
mặt chóp cho trên hình vẽ 4-28.
• Giải: Ta chỉ cần vẽ giao tuyến của các
mặt bên của đa diện với mặt phẳng đã cho
• Thí dụ ta vẽ giao tuyến của mặt SAC với mặt đã cho
• Để vẽ giao tuyến của mặt SAC với mặt phẳng P, ta tìm giao điểm K của đường thẳng SA với mặt phẳng P
• Theo hình vẽ ta có ngay giao điểm M của cạnh AC với mặt phẳng cắt (vì biết vết bằng AC của mặt phẳng SAC và biết vết bằng của mặt phẳng cắt) MK như vậy chính là giao tuyến của mặt phẳng SAC với mặt phẳng cắt, từ đó ta
dễ dàng vẽ được đoạn KI là giao tuyến của mặt bên SAC với mặt phẳng cắt Tương tự ta vẽ được đoạn IH là giao tuyến của mặt bên SCB với mặt phẳng đã cho và giao phải tìm là tam giác KIH
Trang 14• b) Giao của mặt phẳng với mặt cong:
• Nói chung giao của một mặt
phẳng với một mặt cong là một đường cong phẳng và nếu mặt cong là mặt đại số bậc n thì giao của mặt phẳng với mặt đó là
một đường cong đại số bậc n.
• Muốn vẽ các điểm của giao một mặt phẳng với một mặt cong
người ta thường làm như sau:
Vẽ một mặt phẳng phụ trợ cắt mặt phẳng đã cho theo đường thẳng g và cắt mặt cong theo
một đường l Giao của g với l sẽ thuộc giao phải tìm (H.4-29)
Dùng một số mặt phẳng phụ trợ
ta sẽ được một số điểm cần thiết
để vẽ giao phải tìm.
Trang 151 Giao của mặt phẳng với mặt cầu:
• Giao của mặt phẳng với mặt cầu là một
đường tròn.Hình chiếu của đường tròn này trên các mặt phẳng hình chiếu sẽ là các elíp Các yếu tố xác định elíp được xác định theo
vị trí tương đối giữa mặt phẳng và mặt cầu
• Thí dụ: Vẽ giao của mặt phẳng chiếu đứng
vĩ tuyến chính với mặt phẳng cắt cho ta các điểm ranh giới thấy khuất E, G của giao
trên hình chiếu bằng
≡
Trang 16• 2 Giao của mặt phẳng với mặt nón:
• Giao của mặt phẳng mặt nón có đáy là đường tròn sẽ là:
• Một đường tròn , nếu mặt phẳng đã cho song song với mặt
• phẳng đáy nón.
• Một đường elíp, nếu mọi điểm của giao đều là những điểm hữu hạn, tức là mặt phẳng đã cho phải cắt tất cả các đường sinh của nón.
• Một parabôn nếu giao có một và chỉ một ở vô tận, tức là
mặt phẳng đã cho song song với một và chỉ một đường sinh của nón.
• Một hypecbôn nếu giao có hai điểm ở vô tận, tức là mặt
phẳng đã cho song song với hai đường sinh của nón.
• Hai đường sinh khác nhau nếu mặt phẳng đi qua đỉnh của nón và cắt đáy nón ở hai điểm.
Trang 17K cắt tất cả các đường sinh của
nón Vậy giao phảI tìm là một
đường elíp Hình chiếu đứng của elíp này là một đoạn thẳng thuộc
K1 Hình chiếu bằng của elíp được
vẽ bằng cách tìm một số điểm của giao tuyến thuộc các đường sinh
và các đường tròn thuộc mặt nón
Trang 18• 3 Giao của mặt phẳng với mặt trụ:
• Giao của mặt phẳng với mặt trụ đáy tròn sẽ là:
• Một đường tròn nếu mặt phẳng đã cho song song
Trang 19• Thí dụ: Vẽ giao tuyến của mặt
phẳng K cho bằng vết với mặt trụ
có đường chuẩn tròn cho như
hình 4-32
• Giải: Để tìm các giao điểm của
các đường sinh của trụ với mặt phẳng cắt K ta thay mặt phẳng hình chiếu đứng để mặt phẳng K đã cho trở thành mặt phẳng chiếu đứng Từ hình chiếu đứng mới
V1'K ta biết ngay dạng của giao Theo hình vẽ ta dễ dàng thấy
rằng mặt phẳng K cắt trụ theo
một elíp Hình chiếu đứng mới của elíp này là đoạn thẳng A1'B1' thuộc V1'K.Có hình chiếu đứng mới ta suy ra hình chiếu bằng và hình chiếu đứng của elíp cần tìm
Ta cũng thấy rằng B, A là các
điểm cao nhất, thấp nhất của
giao
Trang 204 Giao của mặt phẳng với mặt tròn xoay:
Giao của mặt phẳng với mặt tròn xoay sẽ là:
- Một đường kinh tuyến nếu mặt phẳng cắt đi qua trục.
- Một đường vĩ tuyến nếu mặt phẳng cắt vuông góc với trục.
- Một elíp nếu mặt phẳng cắt xiên góc với trục.
Trang 21• Thí dụ: Vẽ giao của mặt
phẳng P với mặt elípxôít tròn xoay cho như ở hình 4-33
đường elíp giao bằng
cách tìm giao điểm của các vĩ tuyến và các kinh tuyến của mặt tròn xoay với mặt phẳng đã cho.
Trang 224.4.2 GIAO CỦA ĐƯỜNG THẲNG VỚI MẶT:
a) Giao của đường thẳng với đa diện:
Muốn tìm giao của một đường thẳng với một đa
diện, người ta thường dùng phương pháp mặt phẳng phụ trợ Nội dung phương pháp đó như sau:
- Qua đường thẳng đã cho dựng một mặt phẳng gọi là mặt phẳng phụ trợ.
- Tìm giao của mặt phẳng phụ trợ với đa diện đã cho Giao này gọi là giao phụ.
- Tìm tập hợp các giao điểm của đường thẳng đã cho với giao phụ Tập hợp đó chính là giao phải tìm.
Trang 23• Thí dụ: Vẽ giao của đường
thẳng l với tứ diện ABCD
(H 4-34).
• Giải: Ta thực hiên như sau:
• Dựng qua l mặt phẳng chiếu đứng K.
• Vẽ giao của K với tứ diện,
được giao phụ g là tứ giác
MNPQ.
• Vẽ giao của g với đường
thẳng đã cho Theo hình vẽ giao phải tìm là hai điểm K, H.
• Theo hình vẽ , trên hình chiếu đứng điểm H thấy, điểm K
khuất Trên hình chiếu bằng các điểm K, H đều thấy.
Trang 24b) Giao của đường thẳng với mặt cong:
• Muốn tìm giao của một đường thẳng l với một mặt cong người ta thường dùng phương pháp mặt phẳng phụ trợ Nội dung phương pháp đó như sau :
- Qua đường thẳng đã cho l dựng một mặt phẳng phụ trợ K.
- Vẽ giao g của K với mặt đã cho, giao g được gọi là giao phụ.
- Tìm các giao điểm của g với l, tập hợp các giao
điểm này chính là giao phải tìm.
Trang 25• 1 Giao của đường thẳng với mặt cầu:
• Ta đã biết mọi mặt phẳng đều cắt mặt cầu theo một đường tròn Vấn đề là chọn mặt phẳng phụ trợ thế nào để việc vẽ giao của đường thẳng với đường tròn phụ được đơn giản.Người ta thường chọn mặt
phẳng phụ trợ là mặt phẳng chiếu hay mặt phẳng đi qua tâm mặt cầu.
• Trên hình 4-35, để tìm giao của l với mặt cầu ta
chọn mặt phẳng phụ trợ là mặt phẳng chiếu đứng K chứa l Hình chiếu đứng K1 trùng với l1 Để tìm các giao điểm của l với đường tròn phụ v ta dùng
phương pháp thay mặt phẳng hình chiếu bằng Mặt phẳng hình chiếu bằng mới được chọn trùng với mặt phẳng phụ trợ Dựa vào các hình chiếu bằng mới của l và đường tròn v, ta dễ dàng vẽ được các giao điểm H, K của l với v Các giao điểm đó là các giao phải tìm.
• Trên hình chiếu bằng điểm H thấy, điểm K khuất Trên hình chiếu đứng điểm H thấy, điểm K khuất.
Trang 262 GIAO CỦA ĐƯỜNG
THẲNG VỚI MẶT NÓN, MẶT TRỤ:
• Trong trường hợp này người ta thường dùng mặt phẳng phụ trợ là mặt phẳng chứa đường thẳng đã cho và đi qua đỉnh nón hay song
song với đường sinh của trụ (để giao phụ là các đường thẳng).
• Thí dụ 1: Vẽ giao của đường thẳng l với mặt nón có đường chuẩn năm trong mặt phẳng chiếu đứng D (H 4-36 ).
• Trên hình chiếu bằng, các điểm K, H đều
thấy Trên hình chiếu đứng điểm H thấy, điểm
K khuất.
Trang 27• Thí dụ 2: Vẽ giao của đường thẳng l
với mặt trụ (H 4-37 )
• Giải: Mặt phẳng phụ trợ là mặt
phẳng chứa l và song song với các đường sinh của mặt trụ Trên hình vẽ mặt phẳng đó là mặt phẳng K chứa l
và chứa một đường thẳng t song
song với các đường sinh của mặt trụ (t đi qua điểm M trên l)
• Mặt phẳng phụ trợ K cắt đường
chuẩn của trụ ở hai điểm 1, 2 Giao phụ sẽ là hai đường sinh đi qua 1, 2 Các giao điểm K, H của các đường sinh này với l sẽ là giao của l với trụ
• Trên hình chiếu bằng điểm K thấy, điểm H khuất
• Trên hình chiếu đứng điểm H thấy, điểm K khuất