1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Lời mở đầu

13 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 43,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng để có được giáo viện mầm non phục vụ vùng sâu, vùng xa nhà nước ta cần phải có các chính sách phúc lợi, tiền lương phù hợp cho giáo viên.. Vì vậy để làm rõ những vấn đề thắc mắc củ

Trang 1

Lời mở đầu

Hiện nay, đất nước ta đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đặc biệt từ sau khi gia nhập khối ASEAN gần 20 năm và gần đây nhất cuối năm nay chúng ta sẽ gia nhập AEC ( Asean Economic Community ) giúp đất nước phát triển hơn, vì thế chúng ta

sẽ có nhiều cơ hội hợp tác các công ty nước ngoài, các doanh nghiệp quốc tế bắt đầu vào nước ta Song song đó, cơ hội việc làm của người lao động trong nước và lao dộng nước ngoài bắt đầu cạnh tranh gay gắt Vì thế, không những phát triển về mặt kinh tế,

mà nhà nước cần đẩy mạnh Giáo dục, đặc biệt là giáo dục mầm non, vì để đào tạo ra một người tài giỏi, nhân tài,những người lao động thật sự giỏi, thật sự xứng đáng thì phải giáo dục từ lúc còn bé Cũng giống như việc trồng cây, để có được quả ngon ngọt thì đó là cả một quá trình lâu dài, chứ không phải một ngày một bữa Ngày nay, việc giáo dục mầm non rất quan trọng, đặc biệt là giáo dục mầm non ở vùng sâu vùng xa Để giáo dục mầm non ở vùng sâu vùng xa được chất lượng và phát triển không những ở cơ

sở vật chất mà phải có đội ngũ giáo viên giỏi, tốt Nhưng để có được giáo viện mầm non phục vụ vùng sâu, vùng xa nhà nước ta cần phải có các chính sách phúc lợi, tiền lương phù hợp cho giáo viên Vì vậy để làm rõ những vấn đề thắc mắc của bản thân về “giáo viên mầm non ở vùng sâu, vùng xa thì phúc lợi có điểm gì khác biệt hơn giáo viên thành thị ?”, “nhà nước đã có những ưu tiên gì cho giáo viên mầm non ở những nơi khó khăn

để họ tiếp tục công tác tốt ?” , nên em đã chọn đề tài “ Vấn đề tiền lương và phúc lợi của giáo viên mầm non trong ngành giáo dục ở vùng sâu, vùng xa hiện nay” để làm rõ hơn những vấn đề trên

Vì còn là sinh viên năm 3, nên từ những kiến thức được giảng dạy của giảng viên bộ môn nên bài tiểu luận còn nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được ý kiến đóng góp Thầy, Cô giáo và các bạn để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn GVBM: ThS Nguyễn Quôc Thắng đã tạo điều kiện và giúp

đỡ em hoàn thành bài tiểu luận và bài tiểu luận này là nền tảng giúp em làm tốt hơn cho những môn học khác đạt kết quả tốt hơn

Trang 2

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Xuất phát từ những tò mò và sự khó hiểu về các vấn đề tiền lương, phúc lợi của giáo viên mầm non thuộc vùng sâu, vùng xa Về các chính sách của nhà nước cho ngành giáo dục có điều kiện làm việc khó khăn? Làm thế nào để nhà nước thấy được tầm quan trọng của vấn đề phúc lợi dành cho giáo viên vùng sâu? Vì hiện nay nó là một vấn đề cần được giải quyết cấp thiết cho giáo viên mầm non, để họ hoàn thành tốt nhiệm vụ đào tạo ra những người lao động thật sự giỏi Nên em đã chọn đề tài này, dựa trên những nghiên cứu, các số liệu mà em thu thập được và những kiến thức mà giảng viên cung cấp để làm rõ hơn những vấn đề mà bản thân thắc mắc, và đưa ra những đóng góp đúng đắn nhất để các chính sách về phúc lợi , tiền lương ngày càng được nâng cao hơn Qua đề tài này, em hy vọng nó sẽ giúp ích cho em trong công việc về chuyên ngành Quản trị nhân sự sau này

Mục tiêu nghiên cứu

a) Hiểu được thế nào là phúc lợi, tiền lương, tiền thưởng ?

b) Phúc lợi, tiền lương trong ngành giáo dục là gì?

c) Tổng quan chung về ngành giáo dục

d) Điều kiện làm việc của giáo viên mầm non thuộc vùng sâu, vùng xa

e) Các chế độ đặc biệt về phúc lợi, tiền lương cho giáo viên mầm non thuộc vùng sâu vùng xa

f) Vấn đề đặt ra đối với chính sách phúc lợi, tiền lương đối với giáo viên mầm non thuộc vùng sâu vùng xa

Phạm vi nghiên cứu

a) Phạm vi về không gian : các trường mầm non thuộc vùng sâu vùng xa, những nơi

có điều kiện công tác giáo dục khó khăn ở đất nước ta

b) Phạm vi thời gian : là vào thời điểm hiện tại

c) Phạm vi nội dung : vấn đề phúc lợi, tiền lương dành cho giáo viên mầm non thuộc vùng sâu, vùng xa hiện nay

Phương pháp nghiên cứu

Để hiểu được vấn đề đang nghiên cứu , em đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:

a) Phương pháp thống kê

Trang 3

b) Phương pháp thu thập thông tin, số liệu: thu thập qua các bài báo, internet, c) Phương pháp phân tích tổng hợp

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài là giúp mọi người hiểu được các vấn đề phúc lợi, tiền lương trong ngành giáo dục hiện nay, các chính sách các ưu tiên về phúc lợi, tiền lương dành cho giáo viên mầm non thuộc vùng sâu, xa Từ đó mọi người biết được tầm quan trọng của các vấn đề phúc lợi để tạo động lực cho giáo viên mầm non có điều kiện công tác khó khăn hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, làm bước nền vững chắc cho việc đào tạo người lao động giỏi Riêng đối với em đề tài này giúp em giải quyết được thắc mắc, tò

mò của bản thân có ý nghĩa rất lớn trong việc học chuyên ngành quản trị nhân lực và công việc sau này của em

Hạn chế của đề tài

Do vì còn là sinh viên nên số liệu còn hạn hẹp,

Chưa được khảo sát thực

Kiến thức tích góp chưa thật sự hoàn thiện

Nhiều vấn đề chưa được làm rõ do tài liệu còn hạn chế

NỘI DUNG

1) Các vấn đề chung

A. Phúc lợi

a) Phúc lợi là gì?

Là những khoản thù lao khác mà người lao đông nhận được ngoai khoản thù lao tài chính trực tiếp

b) Bản chất của phúc lợi

Phúc lợi đóng vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cuộc sống cho người lao động như

hỗ trợ tiền mua nhà , xe, tiền khám chữa bệnh…

Phúc lợi làm tăng uy tín của doanh nghiểptên thị trường , làm cho người lao động thấy phần chấn ,từ đó giúp tuyển mộ và giữ gìn một lực lượnglao động có trình độ cao

Góp phần nâng cao đời sống vật chất tinh thần cuẩ người lao động ,sẽ thúc đẩy và nâng cao năng suất lao động

Đặc biệt còn giúp giảm bớt gánh nặng xã hội trong việc chăm lo cho người lao động như BHXH, BHYT, BH thất nghiệp

Trang 4

Trong những năm gần đây , phúc lợi có sự tham gia điều chỉnh của luật pháp và chính phủ và đòi hỏi của người lao động cùng với thù lao tài chính gián tiếp ngày càng tăng

c) Các loại phúc lợi :

Phúc lợi bắt buộc: gồm các loại bảo đảm bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp, bảo hiểm

y tế

Phúc lợi tự nguyện;

Các loại phúc lợi bảo hiểm:bảo hiểm sức khoẻ ,bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm mất khả năng lao động

Các loại phúc lợi bảo đảm:bảo đảm thu nhập, bảo đảm hưu trí

Tiền trả cho những khoảng thời gian không làm việc

Phúc lợi do lịch làm việc linh hoạt

Các loại dịch vụ cho người lao động:Dịch vụ bàn giảm gía,hiệp hội tín dụng,mua cổ phần công ty,giúp đỡ tài chính của tổ chức, trợ cấp về giáo dục, đào tạo, dịch vụ nghề nghiệp, dịch vụ và giải trí , chăm sóc người già và trẻ em,dịch vụ nhà ở giao thông đi lại…

B Tiền lương

a) Tiền lương là gì ?

Tiền lương là giá cả của sức lao động, là lượng tiền mà người lao động nhận được từ người sử dụng lao động sau khi hoàn thànhmột công việc nhất định hoạc sau một thời gian lao động nhất định

b) Bản chất của tiền lương

Tiền lương không những bị chi phói bởi quy luật giá trị mà còn bị chi phối bởiquy luật cung càu lao đông Tiền lương thường xuyên biến đông xoay quanh gía trị sức lao động,

nó phụ thuộc vào quan hệ cung cầu, giá cẩ tư liệu sản xuất Sự biến đông xoay quanh giá trị sức lao động được coi như sự biến động thể hiện bản chất tiền lương

Tiền lương biểu hiện ở hai phương diện : kinh tế và xã hội

Về mặt kinh tế: Tiền lương là kết quả của thoả thuận trao đổi của hang hoá sức lao động giưa người lao độngcung cấp sức lao động của mình trong một khoảng thời gian nào đó

vá sẽ nhận được một khoản tiền lương thoả thuận từ người sử dụng lao động

Về mặt xã hội: Tiền lương là số tiền bảo đảm cho người lao động thể mua được những

tư liệu sản xuất cần thiết để tái sản xuất sức lao động của bản thân và dành một phần để nuôi các thành viên trong gia đình cũng như bảo hiểm lúc hết tuổi lao động

c) Chức năng của tiền lương:

Chức năng thước đo giá trị sức lao động

Chức năng tái sản xuất sức lao động

Trang 5

Chức năng kích thích

Chức năng bảo hiểm xã hội

Chức năng xã hội

d) Vai trò của tiền lương

Đối với người lao đông: Tiền lương là phần cơ bản nhất trong thu nhập của người lao động, giúp họ và gia đình trang trải các chi phí sinh hoạt, dịch vụ cần thiết Tiền lương kiếm được ảnh hưởng đến địa vị của người lao động trong gia đình, địa vị của họ trong tương quan với các bạn đồng nghiệp cũng như giá trị tương đối của họ với tổ chức và đối với xã hội Khả năng kiếm được tiền lương cao sẽ tạo động lực thúc đẩy can người

ta nỗ lực học tập để nâng cao giá tri của họ đối với tổ chức thông qua sự nâng cao trình

độ và đóng góp cho tổ chức

Đối với tổ chức:

Tiền lương là một phầnn quan trọng của chi phí sản xuất Tăng tiền lương sẽ ảnh hưởng tới chi phí, giá cả khả năng cạnh tranhcủa sản phẩm của công ty trênn thị trưòng

Tiền lương là công cụ để duy trì, giữ gìn thu hútnhững ngưòi lao động giỏi có khả năng phù hợp với công việc của tổ chức

Tiền lương cùng với các loại thù lao khác là công cụ để quản lí chiến lược nguòon nhân lực và có ảnh hưởng đến các chức năng khác của quản lí nguồn nhân lực

Đối với xã hội:

Tiền lương có thể ảnh hươnng quan trọng tới các nhóm xã hội và các tổ chức khác nhau trong xã hôi Tiền lương cao hơn sẽ giúp chpo người alo động cá sức mau cao hơn và điều đó làm tăng sự thịnh vượng của cộng đồng nhng mÆt kh¸c có thể dẫn tới tăng giá

cả và làm giảm mức sống của người có thu nhập không đuổi kịp mức tăng của giá cả Giá cả tăng cao lại có thể làm giảm cầu của sản phẩm và dịch vụ dẫn tơi giảm công việc làm Tiền lương đống góp một phần đáng kể vào thu nhập quốc dân thông qua con đường thuế thu nhập và góp phần làm tăng nguồn thu của chíh phủ cũng như giúp cho chính phủ điều tiết được thu nhập giữa các tầng lớp dân cư tronng xã hội

e) Các nhân tố ảnh hưởng tới tiền lương:

Điều kiện kinh tế xã hội

Luật lao động

Thương lượng tập thể

Thị trường lao động

Vị trí địa lí và giá cả sinh hoạt từng vùng

Khả năng tài chính của doanh nghiệp

Công việc và khả năng của ngưởi lao động

Những yếu tố trên tác đông môt cách độc lập với các yếu tố khác hoặc trong sự hài hoà

sẽ làm se làm cho tiền lương được xác lập cao hơn hoặc thấp hơn tuỳ thuộc tác động tổng thể của chung đối với tiền lương

Trang 6

C Phúc lợi và lương trong ngành giáo dục

Cả xã hội đều nhìn thấy cơ chế đồng lương hiện nay đã tạo ra những lổ hổng rất lớn trong cách chi trả của nhà nước đối với công chức và các đơn vị phục vụ sự nghiệp như

y tế và giáo dục Hai mảng y tế và giáo dục vừa là phúc lợi vừa là phát triển nhưng đồng lương trả cho cán bộ hành chính của hai ngành này không thể nói là sòng phẳng với công sức của họ

Việc cải tiến chế độ lương để có thể tạo động lực nâng cao chất lượng nâng cao giáo dục cần giải quyết vấn đề sau: mặt bằng lương đảm bảo cho GV có thể nuôi sống được bản thân, ít nhất một đứa con và phát triển chuyên môn nghề nghiệp Đây là tiêu chuẩn dành cho giáo viên Việt Nam chưa có những tính toán thực tế về tài chính dành cho giáo dục Còn ở các nước lương giáo viên đủ để nuôi sống cả gia đình , thỏa mãn cuộc sống tinh thần và tích lũy được tiết kiệm cho việc mua sắm và phòng thân Ở Việt Nam nếu rà soát lại cách sử dụng ngân sách cho giáo dục và rà soát lại ngân quỹ quốc gia thì có lẽ lương tiền không chỉ đủ để đáp ứng cho giáo viên nói riêng theo cách trả lương của quốc tế mà còn đủ cho cán bộ hành chính và các ngành hưởng phúc lợi nói chung

Vì vậy, lương giáo viên không phải tăng mà cần cải tiến

Tăng lương chỉ là một phần nhỏ để tạo sự khác biệt về lương cho giáo viên, nhưng nó sẽ không giải quyết triệt để các vấn đề tiêu cực nảy sinh

Cải tiến chế độ tiền lương có tác dụng tạo động lực thúc đẩy giáo viên làm tốt công tác dạy học vì nó đòi hỏi sự đồng bộ cả về chính sách, cơ chế lẫn trách nhiệm của cả hệ thống giáo dục đối với chất lượng giáo dục Việt Nam

D Điều kiện làm việc của giáo viên mầm non thuộc vùng sâu, vùng xa

Với tình hình hiện nay của các trường mầm non thuộc vùng sâu vùng xa đó cũng là một trở ngại lớn cho công tác giảng dạy của giáo viên, cở sở vật chất thiếu thốn, xuống cấp làm chất lượng giảng dạy và tiếp thu của các em không đạt Đối với trường mầm non, các em còn nhỏ nên cần nhiều công cụ để kích thích sự phát triển, trong khi đó ở vùng sâu lại không có những điều này, sân chơi vận động còn hạn chế, bàn ghế không đạt chuẩn ảnh hưởng đến sức khỏe Vì thế công tác của giáo viên ở đây vô cùng khó khăn

và bất cập nên cần được Bộ Giáo Dục quan tâm, cải thiện hơn không chỉ ở cở sở vật chất mà còn ở các chế độ phúc lợi, tiền lương cho giáo viên

2) Tổng quan về giáo dục mầm non

Các loại hình giáo dục mầm non hiện nay

Hiện nay nước ta có những loại hình giáo dục mầm non sau:

1 : Nhà trẻ trường mẫu giáo

2 : Nhà trẻ trường mẫu giáo hợp nhất

3 : Các loại hình giáo dục mầm non khác

Nhà trẻ thu nhận trẻ từ ba tháng tuổi đến 36 tháng tuổi

Trang 7

Trường mẫu giáo thu nhận trẻ từ 36 tháng tuổi đến 72 tháng tuổi

Ngoài ra còn có các loại hình giáo dục mầm non khác nữa như:

a Lớp mẫu giáo năm tuổi dành cho trẻ em năm tuổi mà chưa qua lớp mẫu giáo nhỏ b.Nhóm trẻ gia đình đây là nhóm trẻ dưới sáu tuổi được chăm sóc và dạy dỗ tại gia đình ( Ở nước ta loại hình này tồn tại ít và chủ yếu ở những gia đình có điều kiện kinh tế)

Các chính sách của nhà nước đối với giáo dục mầm non

Nhà nước coi giáo dục mầm non là một bậc học cần thiết và bắt buộc phải có trong hệ thống giáo dục.Từ chỉ thị 53/CP của Hội Đồng Bộ Trưởng ngày 12 tháng 8 năm 1966

đã xác định mục tiêu của giáo dục mầm non “ Giáo dục mầm non tốt sẽ mở đầu cho một nền giáo dục tốt

Sáng ngày 19 tháng 9 năm 2006 tại Hà Nội bộ giáo dục và đào tạo tổ chức giới thiệu đề

án “Phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006-2015”.Mục tiêu của đề án là mở rộng mạng lưới cơ sở giáo dục mầm non đặc biệt chú trọng phát triển mầm non với đồng bào dân tộc ,vùng kinh tế khó khăn,hải đảo xa xôi

Nội dung của đề án là đa dạng hóa các phương thức chăm sóc giáo dục bảo đảm chế độ chính sách cho giáo viên mầm non theo quy định của nhà nước Đối với vùng đặc biệt khó khăn giai đoạn 2006-2010 sẽ đầu tư kinh phí đào tạo trình độ chuẩn cho 3000 giáo viên trang bị cơ sở vật chất theo những tiêu chí đạt 2500 cơ sở giáo dục ở các vùng này Đồng thời đổi mới chương trình,phương pháp giáo dục mầm non,các hoạt động tổ chức vui chơi cho trẻ phù hợp với tâm sinh lý của trẻ khắc phục tình trạng dạy lớp một cho trẻ mẫu giáo năm tuổi Thực hiện chương trình thí điểm tin học kid smart cho trẻ làm quen với tin học phấn đấu đến năm 2010 khoảng 1/3 số cơ sở giáo dục mầm non được tiếp cận với tin học ngoại ngữ Cung cấp các thiết bị học tập và vui chơi cho trẻ

3) Các chế độ tiền lương, phúc lợi cho giáo viên mầm non thuộc vùng sâu, vùng xa

Với nhiều giáo viên đang cống hiến cho sự nghiệp giáo dục tại những vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn của đất nước, việc điều chỉnh chế độ theo Nghị định

số 19/2013/NĐ-CP là nguồn động viên to lớn, giúp họ thêm gắn bó với công việc

Trang 8

Nghị định 19/2103/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 61/2006/NĐ-CP

về chính sách đối với nhà giáo , cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt,

ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn vừa được chính phủ ban hành đã đem lại cho những nhà giáo đang công tác tại những vùng khó khăn một niềm vui lớn

Thêm nhiều ưu đãi

Nghị định quy định, nếu nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục đến công tác ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn có gia đình chuyển đi theo thì được trợ cấp chuyển vùng bằng 12 tháng lương tối thiểu chung cho một hộ (thay cho mức trợ cấp là 6,5 triệu đồng như quy định hiện hành)

Và mức trợ cấp lần đầu thay vì quy định cụ thể mức trợ cấp là 4 triệu đồng thì Nghị định mới quy định mức cấp lần đầu bằng 10 tháng lương tối thiểu chung

Cách điều chỉnh mức hỗ trợ chuyển vùng, hỗ trợ lần đầu theo mức lương tối thiểu vùng thể hiện sự linh hoạt, bền vững của chính sách

Điểm mới đặc biệt có ý nghĩa của chính sách này là quy định khi giáo viên hết thời hạn công tác tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn mà chưa thực hiện được việc luân chuyển, giáo viên vẫn tiếp tục được hưởng phụ cấp thu hút

Ý nghĩa của chính sách không chỉ nằm ở mặt vật chất mà quan trọng hơn, nó thể hiện được sự quan tâm của Nhà nước với những giáo viên đang cống hiến cho sự nghiệp giáo dục tại vùng đặc biệt khó khăn Bù đắp bằng sự quan tâm, bằng chế độ là sự bù đắp đúng đắn và bền vững nhất

Việc tiếp tục cho các giáo viên đã hết thời hạn luân chuyển nhưng vẫn đang công tác tại vùng đặc biệt khó khăn được hưởng phụ cấp thu hút là hoàn toàn chính đáng và cần thiết để những giáo viên này bớt phần thiệt thòi

4) Thực trạng về phúc lợi, tài chính của giáo viên mầm non thuộc vùng sâu, vùng xa hiện nay

a) Tình hình hiện nay

Vai trò của người thầy là căn cứ quan trọng để hoạch định chiến lược phát triển giáo dục, nhưng cho đến nay, vấn đề giáo viên chưa một lần được giải quyết căn cơ, khiến cho tất cả những mong muốn đổi mới giáo dục đều không thực hiện được đến nơi đến chốn

Các chế độ phúc lợi và tiền lương còn quá thấp không đủ trang trải cuộc sống Điều kiện làm việc khó khăn, đi lại vất vả tiền lương chỉ bằng tiền xăng đi lại nên khiến nhiều giáo viên mầm non phải bỏ nghề Mặt khác vì là giáo viên mầm non nên việc làm chăm trẻ 8 giờ 1 ngày và có khi có trẻ gia đình đón trể nên giáo viên phải chờ vì thế họ không làm thêm được công việc phụ nào để có mức thu nhập khác Mức phụ cấp và phúc lợi

đã được nhà nước quan tâm nhưng cũng không giải quyết được phần nào khó khăn thực

tế cho giáo viên có điều kiện làm việc khó khăn Nên căn bản tình hình chung là họ yêu nghề ,nhớ trẻ, nhớ trường nhưng vẫn bỏ nghề và chọn cho mình một ngành khác,

b) Một số dẫn chứng

Chị Triệu Thị Định, giáo viên Trường mầm non Tân Trào, xã Tân Trào (Sơn Dương, Tuyên Quang) có thâm niên 11 năm trong nghề nhưng vẫn chỉ là giáo viên hợp đồng

Trang 9

không thời hạn Chị bảo, bố mẹ nói cho con đi làm giáo viên mầm non nhưng cả nhà xác định coi như “đi làm từ thiện”, bởi lúc đó không được hưởng một khoản trợ cấp nào

Đến nay, mức thu nhập hàng tháng của chị ngoài số tiền 450.000đ trợ cấp của UBND huyện cộng với gần 200.000đ trích từ học phí của học sinh đóng hàng tháng cũng chỉ đủ trang trải cái ăn cho riêng mình Chị đi dạy cả ngày, chồng làm nông nhưng có chưa đầy

1 sào ruộng khoán Năm được mùa, số lúa thu về chỉ đủ ăn trong 3-4 tháng, đến ngày giáp hạt hay gặp lúc mất mùa thì cả nhà phải chạy bữa Vậy nhưng đâu đã hết khổ

Có năm, cả trường đã hoàn thành việc đóng nộp học phí mà lớp chị không ít phụ huynh

cứ lần lữa xin khất Khi chị đến tận nhà thì biết những phụ huynh nọ đang phải chạy ăn từng bữa Thấy cô giáo đến, họ lặng lẽ vét đấu ngô, cân sắn còn lại để đưa cô coi như đóng học phí cho con Cám cảnh, chị Định phải từ chối, về thuyết phục chồng lấy tiền nhà đi đóng tiền học cho học sinh

Chung cảnh ngộ là chị Lan, Phó hiệu trưởng Trường mầm non Tân Trào Thương học sinh vì sắp bị buộc nghỉ học nên chị đã phải đem cả tháng lương ra đóng hộ phụ huynh Giờ học sinh đó đã học lớp 4 nhưng số tiền chị cho vay đóng học phí vẫn còn đó Chị nhớ không phải để đòi lại số tiền mà coi đó như một kỉ niệm trong nghề giáo của mình.\ Các giáo viên lâu năm trong nghề cũng cho biết, mức trợ cấp hiện tại vẫn không thể đảm bảo cuộc sống cho bản thân các giáo viên Từ chỗ làm không lương đến bây giờ được 450.000đ/tháng, các cô mầm non vẫn cố bám trụ chỉ để chờ được vào biên chế Thế nhưng, cho đến thời điểm này, nhiều cô đã đứng lớp được 12 - 13 năm vẫn là giáo viên hợp đồng không thời hạn

5) Một số vấn đề đặt ra đối với chính sách phúc lợi, tiền lương cho giáo viên mầm non thuộc vùng sâu, vùng xa.

a) Những hạn chế của giáo viên mầm non vùng sâu

Cơ sở vât chất cho giáo dục mầm non còn thiếu về số lượng và kém về chất lượng.Hiện nay cả nước còn gần 500 xã chưa có trường mầm non hoặc có nhưng chỉ mang tính chất tập trung, các xã này chủ yếu là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn mà sự quan tâm của Nhà nước chưa đền được kịp thời.Cả nước có gần 1000 trường mầm non

cơ sở vật chất còn ở mức tạm bợ, những điều kiện tối thiểu để đảm bảo cho các cháu có thể chơi và học cũng chưa được đáp ứng Đặc biệt ở những vùng sâu vùng xa cơ sở vật chất cho giáo dục mầm non còn rất kém: Có những nơi cả xã mới có 1 trường mầm non tập trung mà trường mầm non lại là những nhà tranh lợp nứa tạm bợ

Đội ngũ giáo viên của ngành giáo dục mầm non đang bị thiếu về số lượng và kém về chất lượng

Đời sống của giáo viên mầm non hiện nay còn gặp rất nhiều khó khăn do chưa có sự quan tâm sâu sát của các cấp chính quyền và ngành giáo dục Cả nước còn tới gần 75% giáo viên mầm non chưa được vào biên chế chính thức dẫn đến đời sống giáo viên mầm non gặp nhiều khó khăn làm giảm lòng yêu nghề đối với đội ngũ giáo viên mầm non hiện nay.Cả nước còn gần 10.000 giáo viên mầm non có nhiều năm gắn bó với nghề mà không được hưởng bất cứ 1 chế độ bảo hiểm hay 1 chế độ ưu đãi nào đối với giáo viên mầm non.Thực trạng tồn tại là họ đến tuổi nghỉ hưu mà vẫn không được xét vào biên chế Nhà nước.Đây là 1 bài toán khó đối với giáo dục mầm non đặt ra trong nhiều năm mà chưa có lời giải đáp

Trang 10

Có một khoảng cách khá xa giữa tiền lương của giáo viên mầm non thuộc vùng sâu với giáo viên thành thị Tuy ai cũng nói giáo viên mầm non vùng sâu có nhiều ưu đãi nhưng

ai cũng biết thu nhập của giáo viên mầm non thành thị cao hơn, điều kiện đi lại và làm việc tốt hơn

b) Các giải pháp giúp các giáo viên mầm non thuộc vùng sâu vùng xa hoàn thành tốt nhiệm vụ

Tăng lương cho giáo viên mầm non thuộc vùng sâu, vùng xa: đảm bảo lương cho giáo viên nói chung và những vùng xa nói riêng đòi hỏi sự quan tâm thật sự của các cấp chính quyền Chúng ta đã có chủ trương của Đảng, Nhà nước Nhiều nơi, đã thực hiện

có hiệu quả khi có sự đồng tâm, đồng lòng của các cấp chính quyền cùng đông đảo phụ huynh học sinh nên phần nào đã giải quyết được một phần khó khăn

Nhấn mạnh vào việc sửa đổi chính sách lương, phụ cấp, đồng thời cải thiện điều kiện nghề nghiệp, đãi ngộ, mức sống đáp ứng được yêu cầu của nhà giáo và gia đình họ Mức sống này phải được xác định là trên mức trung bình của xã hội

Nâng cao vị thế trong xã hội của thầy, cô giáo cao lên, muốn thầy, cô giáo gắn bó với nghề, muốn thu hút người giỏi làm nghề dạy học, thì phải trả lương cao cho thầy, cô giáo Tiền lương là thể hiện sự đối xử với thầy, cô giáo

Tăng cường thêm phúc lợi để thu hút đội ngủ giáo viên, đáp ứng đầy đủ nhu cầu của giáo viên mầm non thuộc vùng sâu vùng xa Thêm các chế độ xã hội, bảo hiểm và các chính sách ưu tiên dành cho giáo viên làm việc trong điều kiện khó khăn Để giúp đỡ họ theo nghề, cũng như góp phần vào việc đào tạo ra người tài từ những bước nên cơ bản

c) Một số dẫn chứng

Đã hơn 15 năm công tác ở vùng đặc biệt khó khăn thuộc tỉnh Thanh Hóa, cách nhà hơn 200km, thầy giáo Lưu Tuấn Anh chia sẻ: “Cuộc sống nơi miền sơn cước với bao khó khăn vất vả Gia đình ở quê, con không bố chăm sóc dạy bảo, bố mẹ về già không ai nương tựa Với mức lương chỉ cao hơn so với giáo viên miền xuôi 35% mà chi phí đi lại

vô cùng tốn kém nên để tiết kiệm, có những khi 2, 3 tháng tôi mới về thăm nhà một lần

Đó là khi con cái, bố mẹ khỏe mạnh bình thường, còn những lúc người thân ốm đau đột xuất, thì vấn đề đi lại, chi phí còn khó khăn hơn nhiều lần”

Đón nhận thông tin về chính sách mới này, thầy Tuấn Anh hy vọng, khi được hưởng thêm phụ cấp thu hút thì sẽ có thêm khoản tiền để đỡ đần gia đình và yên tâm công tác hơn

Thầy giáo Quách Văn Truyền (tỉnh Sơn La) thì kể, trước đây, do chỉ được hưởng phụ cấp thu hút bằng 70% lương trong 5 năm nên cán bộ giáo viên sau khi hết thu hút đã không mặn mà ở lại phục vụ công tác lâu dài tại vùng khó khăn

Ngày đăng: 08/10/2016, 10:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w