Tổ tiên ông vốn từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam thuộc Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội sau di c vào xã Nghi Xuân, huyện Tiên Điền nay là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉn
Trang 1Chào mừng các bạn
đến với buổi thuyết trình của chúng tôi
Trang 3
• NguyÔn Du lµ t¸c gia v¨n häc
viÕt c¶ b»ng H¸n lÉn ch÷ N«m
B»ng ch÷ H¸n cã c¸c tËp th¬
Thanh Hiªn Thi TËp – lµ
nh÷ng bµi th¬ lµm tõ khi l u l¹c
ë Th¸i B×nh B»ng ch÷ N«m
cã “§o¹n Tr êng T©n Thanh ” –
lµ mét kiÖt t¸c vÒ thÓ lo¹i th¬
N«m cña ViÖt Nam vµ thÕ giíi
Trang 4
A,gia thế nguyễn du
Nguyễn Du sinh năm 1765, mất năm 1820, tên chữ là Tố Nh , hiệu
là Thanh Hiên Tổ tiên ông vốn từ làng Canh Hoạch, huyện Thanh Oai, trấn Sơn Nam (thuộc Hà Tây cũ, nay thuộc Hà Nội) sau di c vào xã Nghi Xuân, huyện Tiên Điền (nay là làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, tỉnh
Hà Tĩnh)
Phụ Thân ông là Nguyễn Nhiễm (1708-1775), đậu Nhị giáp tiến sĩ, làm quan đến chức T đồ (tể t ớng),t ớc Xuân Quận Công d ới triều
Lê.Ngoài là một đại thần, ông còn là một nhà thơ, một nhà nghiên cứu
sử học.Ông Nghiễm có cả thảy 8 bà vợ và 21 ng ời con trai.
Mẫu thân ông là bà Trần Thị Tần (1740-1778), con gái một ng ời thuộc hạ làm chức câu kế, ng ời xã Hoa Thiều, huyện Đông Ngàn, xứ Kinh Bắc, nay thuộc tỉnh Bắc Ninh Bà Tần là vợ thứ ba của Nguyễn Nhiễm, trẻ hơn chồng 32 tuổi Bà sinh đ ợc 5 con, 4 trai, một gái.
Trang 5• Nguyễn Du gặp rất nhiều khó khăn hồi còn thanh niên vì sớm
mồ côi cha và mẹ nên ăn nhờ ở đậu hoặc ở nhà anh ruột
(Nguyễn Khản), nhà anh vợ (Đoàn Nguyễn Tuấn), có lúc làm con nuôi một võ quan họ Hà, và nhận chức nhỏ: Chánh thủ Hiệu uý
Do tình hình đất n ớc biến động, chính quyền Lê- Trịnh sụp đổ, Tây Sơn quét sạch giặc Thanh, họ Nguyễn Tiên Điền cũng sa
qua 10 năm gió bụi.Năm 1802, ra làm quan với triều Nguyễn đ
ợc thăng th ởng rất nhanh, từ tri huyệnlên đến tham tri
(1815),đ ợc cử làm chánh sứ sang Tàu (1813) Ông mất vì bệnh thời khí (dịch tả), không trối trăng gì, đúng vào lúc sắp sửa làm chánh sứ sang nhà Thanh lần thứ hai
Trang 6D,Nỗi lòng nguyễn du
Nỗi lòng của Nguyễn Du rất phức tạp.Để hiểu nó, các nhà nghiên cứu văn học th ờng dựa vào Gia phả họ Nguyễn Tiên Điền và các tác phẩm của ông( đặc biệt
là Truyện Kiều) để rút ra một số nhận định Nh ng những nhận định này đến nay vẫn
ch a thống nhất,thậm chí còn mâu thuẫn với nhau một cách sâu sắc
Theo Trần Kim Trọng thì Truyện kiều chứa đựng một tâm sự tha thiết nhất của Nguyễn Du, ấy là tâm sự của kẻ hàng thần nhớ chúa cũ (hoài Lê)
GS Nguyễn Lãng viết: “Hồng Linh vô gia, huynh đệ tán”.Nguyễn Du trải Anh em Nguyễn Du đã từng ủng hộ nhà Lê, khí phách hơn ng ời Và nh phần đông các nho sĩ đ ơng thời, ông cho cái đời làm quan d ới một triều đại mới là thất tiết,thành ra suốt đời lúc nào cũng buồn rầu, ân hận ….” ”.Nguyễn Du trải
Nhà phê bình Thạch Trung Giả viết: “Hồng Linh vô gia, huynh đệ tán”.Nguyễn Du trải Nguyễn Du là một con ng ời có khí tiết nên đã từng m u sự Cần V ơng chống Quang Trung.Đến khi nhà Tây Sơn sụp đổ,
Nguyễn Du vẫn không quên mình và cha ông mình đã từng ăn lộc nhà Lê.Vậy việc làm
tôi Gia Long là một vạn bất đắc dĩ, một nỗi lòng, một tủi nhục….””.Nguyễn Du trải
Bởi còn đôi điều khác biết nên chỉ có thể tạm kết luận:
Nguyễn Du là một con ng ời suy nghĩ nhiều về cuộc đới, có thái độ yêu ghét khá
rõ tr ớc cái tốt và cái xấu, nh ngkhông sao thoát khỏi buốn phiền vì không giải thích nỗi cuộc đời và không biết phải làm thế nào để thay đổi cuộc đời đó
Trang 7Khu l u niÖm NguyÔn Du
Trang 8Nhµ thê nguyÔn du
Trang 9V ên hoa NguyÔn Du
Trang 10Những câu đối của ng ời đời
ca ngợi về tài năng của nguyễn du
"Nhất viện cầm tụn nhõn ký khứ
Đại gia văn tự thế thanh truyền"
(Rượu đàn đầy viện người đi vắng
Văn tự hơn đời tiếng dội vang)
"Nhất đại tài hoa, vi sứ, vi khanh, sinh
bất thiểm
Bỏch niờn sự nghiệp, tại gia, tại quốc, tử
do vinh"
(Một kiếp tài hoa, làm sứ, làm khanh,
sinh chẳng thẹn
Trăm năm sự nghiệp, ở nhà, ở nước,
chết cũn vinh)
Trang 11
PhÇn II, TruyÖn kiÒu
Trang 12TRUYệN KIềU
Truyện Kiều là truyện thơ Nôm, 3254
câu lục bát, đ ợc Nguyễn Du viết trên cơ
sở Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm
Tài Nhân, một tiểu thuyết ch ơng hồi
xuất hiện từ thời Khang Hi nhà Thanh,,xử
lý theo h ớng tiểu thuyết hoá một tích
truyện d ờng nh có thực ở vùng Giang
Nam thế kỉ XVI XVII,chuyện một kĩ nữ và – XVII,chuyện một kĩ nữ và
một t ớng lục lâm ;qua thời gian,tích này
đ ợc khá nhiều tác giả Trung Quốc sử
dụng,cảI biến một tiểu thuyết vốn nằm
trong mạch truyện hoa tình của văn học
c m h ng chớnh l quy n s ng c a con ảm hứng chớnh là quyền sống của con ứng chớnh là quyền sống của con à ền sống của con ống của con ủa con
c m h ng chớnh l quy n s ng c a con ảm hứng chớnh là quyền sống của con ứng chớnh là quyền sống của con à ền sống của con ống của con ủa con
người trong sự xung đột với cỏc thế i trong s xung ự xung đột với cỏc thế đột với cỏc thế ới cỏc thế t v i cỏc th ế
người trong sự xung đột với cỏc thế i trong s xung ự xung đột với cỏc thế đột với cỏc thế ới cỏc thế t v i cỏc th ế
l c tr ự xung đột với cỏc thế à đạp con người.p con ng ời
l c tr ự xung đột với cỏc thế à đạp con người.p con ng ời
Trang 13
Tóm tắt truyện Kiều
Phần thứ nhất: Gặp gỡ và đính ớc
Phần thứ hai: Gia biến và l u lạc
Phần thứ ba: Đoàn tụ
Trang 14Sau ®©y lµ mét vµi ®o¹n trong phÇn
®Çu cña t¸c phÈm :
Đầu lòng hai ả tố nga, Thúy Kiều là chị em là Thúy Vân.
Mai cốt cách tuyết tinh thần, Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười.
Vân xem trang trọng khác vời, Khuôn trăng đầy đặn nét ngài nở nang.
Hoa cười ngọc thốt đoan trang, Mây thua nước tóc tuyết nhường màu da.
Kiều càng sắc sảo mặn mà,
So bề tài sắc lại là phần hơn.
Làn thu thủy nét xuân sơn, Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
Một hai nghiêng nước nghiêng thành,
Sắc đành đòi một tài đành họa hai.
Thông minh vốn sẵn tính trời, Pha nghề thi họa đủ mùi ca ngâm.
Cung thương làu bậc ngũ âm, Nghề riêng ăn đứt hồ cầm một trương.
Khúc nhà tay lựa nên xoang, Một thiên Bạc mệnh lại càng não nhân.
Phong lưu rất mực hồng quần, Xuân xanh xấp xỉ tới tuần cập kê.
Êm đềm trướng rủ màn che, Tường đông ong bướm đi về mặc ai.
Trang 15Gi¸ trÞ nghÖ thuËt
với những tính cách tiêu biểu cho cái đẹp, cái xấu, cái thiện, cái ác trong xã hội phong kiến suy tàn, thối nát.
b Nghệ thuật tự sự , hấp dẫn, cảm động, tạo ra những tình huống, những bi kịch Lúc miêu tả, lúc tả cảnh ngụ tình, lúc đối thoại, câu
truyện về nàng Kiều diễn biến qua trên ba nghìn câu thơ liền mạch.
c Ngôn ngữ thi ca: Nguyễn Du đã kết hợp tài tình giữa ngôn ngữ bác học, sử dụng điển tích, thi liệu văn học cổ Trung Hoa với ca dao, tục ngữ, thành ngữ nâng lên thành một ngôn ngữ văn chương trong sáng, trau chuốt, mượt mà, mẫu mực Cho đến nay chưa có nhà thơ Việt Nam nào viết thơ lục bát trên ba nghìn câu hay bằng Nguyễn Du "
Trang 16Gi¸ trÞ néi dung
nát, những thế lực hắc ám tàn bạo, dã man đã chà đạp lên
quyền sống và hạnh phúc con người như bọn quan lại tham ô thối nát, bọn buôn thịt bán người, bọn ma cô lưu manh tàn ác; lên án mặt trái của đồng tiền hôi tanh
b Giá trị nhân đạo: xót thương cho nỗi đau khổ của con người, tài sắc bị dập vùi, nói lên ước mơ về hạnh phúc, tự do
và công bằng, đề cao quyền sống của con người, v.v
Trang 17Những lời thơ ,ý đẹp về
“truyện kiều”
Trăng ly biệt lại đoàn viờn trước cửa
Cảo thơm đặt trước đốn, tụi giở
Mỗi trang Kiều rung một búng trăng thanh.
Chạnh thương cụ Kiều như đời dõn tộc
Sắc tài sao mà lại lắm truõn chuyờn
Cành xuõn phải trao tay khi nước mất
Cỏ bờn trời xanh một sắc Đạm Tiờn.
Bỗng quý cụ Kiều như đời dõn tộc
Chữ kiờn trinh vượt trăm súng Tiền Đường
Chàng Kim đó đến tỡm, lau giọt khúc
Và lũ trầm đờm ấy toả bay hương
Nghe như non nước vọng lời ngàn thu
Nghỡn năm sau nhớ Nguyễn Du,
Tiếng thương như tiếng mẹ ru mhững ngày.
Hỡi Người xưa của ta nay,
Khỳc vui xin lại so đõy cựng Người!