phân loại nấm độc, cơ chế gây độc, triệu chứng ngộ độc, phương pháp xử trí, kiểm nghiệm nấm độc ứng dụng thực tế.aaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaaa
Trang 1NHÓM 1, TỔ 4NHÓM 1, TỔ 4
Nguyễn Minh Vương Sái Thị Lan Hương
Nguyễn Thị Thúy Hằng Đặng Văn Kỳ
Trần Văn Thiều Nguyễn Thị Bích Hà
Nguyễn Thị Lý Bùi Thị Thanh
CHÀO MỪNG THẦY VÀ CÁC BẠN ĐẾN VỚI BUỔI TIỂU LUẬN NGÀY HÔM NAY
Trang 2CH Ủ ĐỀ : N M Ấ ĐỘ C
Trang 3Mục tiêu
• Phân loại nấm độc,
• Cơ chế gây độc, triệu chứng ngộ độc
• Phương pháp xử trí, phương pháp kiểm nghiệm
một số loại nấm độc,
• Ứng dụng trong thực tế.
Trang 4I, PHÂN LOẠI NẤM ĐỘC
Dựa theo độc chất có trong nấm trong nấm và các triệu chứng và dấu hiệu lâm sàng do ngộ độc loại nấm đó ta chia thành các loại
sau:
1 Amanitoxin ( Amatoxin và phallotoxin: đôc tố hủy
hoại chất nguyên sinh tế bào.
Nấm độc Amanita
bisporigena
Amanita phalloides đỏ
Trang 5Nấm độc Galerina autumnalis
Galerina
marginata
Trang 62, Độc tố Gyromitrin ( Monomethyl hydrazine).
Gyromitra brunnea, G caroliniana, G gigas
3, Độc tố Orellanine
Cortinarius
orellanus
Trang 9II, Cơ chế gây độc, triệu chứng ngộ độc, phương pháp xử trí
1, Nhóm độc tố Amatoxin:
Cơ chế gây độc
khi vào cơ thể amatoxin gây ức chế enzym ARN polymerase II của tế bào
(enzym này tối cần thiết cho tổng hợp ARN thông tin), từ đó làm gián đoạn tổng hợp protein-enzym và làm ngừng trệ quá trình chuyển hoá dẫn tới chết tế bào Tế bào gan đặc biệt nhạy cảm với amatoxin vì vậy gan là cơ quan bị tổn thương nặng nhất Ngoài gan, amatoxin còn gây tổn thương tới thận, tuyến tụy, thượng thận và tinh hoàn
Amatoxin là độc tố gây chết người nguy hiểm nhất so với các loại độc tố nấm khác
•Triệu chứng:
Trang 10Ngộ độc nấm amatoxin được chia thành 4 giai đoạn như sau:
+ Giai đoạn ủ bệnh (từ khi ăn nấm đến khi xuất hiện triệu chứng đầu tiên): Các loài nấm amatoxin thuộc nhóm tác dụng chậm Giai đoạn này kéo dài từ
6 đến 24 giờ (trung bình 10- 12 giờ) Đây là giai đoạn không có triệu chứng lâm sàng vì vậy bệnh nhân không đến các cơ sở y tế
+ Giai đoạn dạ dày-ruột: các triệu chứng rối loạn tiêu hóa bao gồm: đau bụng, buồn nôn, nôn, ỉa chảy phân toàn nước giống như tả Các triệu chứng này thường kéo dài khoảng 1-2 ngày, một số ít trường hợp kéo dài hơn Nếu
không điều trị, bệnh nhân sẽ có biểu hiện tình trạng mất nước, rối loạn điện giải, có thể sốc giảm thể tích, tụt huyết áp, nhiễm toan chuyển hoá, suy thận.+ Giai đoạn tiềm ẩn hay giai đoạn tiến triển âm thầm (36 đến 48 giờ): ở giai đoạn này các triệu chứng rối loạn tiêu hoá giảm dần, bệnh nhân cảm thấy
khoẻ hơn nên thường chủ quan Tuy nhiên, các tổn thương gan bắt đầu xuất hiện
với sự tăng dần của các enzym transaminase, LDH và bilirubin máu Trên lâm sàng bắt đầu xuất hiện vàng mắt, vàng da, gan to nhẹ, mềm, nước tiểu vàng đậm
+ Giai đoạn suy gan, suy thận với biểu hiện vàng mắt, vàng da, rối loạn đông máu, thiểu niệu hoặc vô niệu, toan chuyển hoá, hôn mê gan
Trang 11Bù nước và điện giải tích cực vì mất nước và điện giải nhiều có thể gây ra tụt
huyết áp Truyền Natri clorua 0,9% hoặc Ringer lactat 10-20ml/kg
Thuốc: Silymarine (Legalon) : có tác dụng bảo vệ gan, ức chế cạnh tranh với
amatoxin tại recepter; thay đổi tính thấm của màng tế bào gan, có tác dụng ngăn chặn độc tố vào gan, làm tăng tổng hợp protein của ribosom; thúc đẩy quá trình hồi phục của tế bào gan ; viên 70mg, uống 420-800mg/ngày
Chống rối loạn đông máu bằng truyền huyết tương tươi đông lạnh Chỉ định ghép gan khi bệnh nhân bị suy gan tối cấp
Penicillin G (benzylpenicillin natri hoặc kali) là một thuốc có hiệu quả trong điều trị ngộ độc nấm có chứa amatoxin
-N-acetyl cystein liều cao trong trường
Trang 122, Nhóm độc tố:Gyromytrin.
•Cơ chế gây độc:
Trong trong cơ thể, gyromitrin đầu tiên chuyển thành
N-methyl-N-formylhydrazin (MFH), sau đó thành MMH MMH ức chế pyridoxin
kinase từ đó ngăn cản quá trình sử dụng pyridoxin (vitamin B6) ở tế bào Vitamin B6 là thành phần không thể thiếu trong một số enzym chuyển hoá amino acid trong tế bào Độc tố làm giảm tổng hợp GABA thông qua làm giảm hoạt tính glutamic decarboxylase acid từ đó gây nên các triệu chứng ở hệ thần kinh trung ương , MMH ức chế diamine oxydase (histaminase) dẫn tới làm tăng hàm lượng histamin trong cơ thể MFH ức chế các hệ thống enzym ở gan như cytochrom P-450 và glutathion làm hoại tử tế bào gan Gyromitrin là chất gây tan máu, tạo methemoglobin, gây tổn thương thận
•Triệu chứng:Sau ăn nấm 6 – 12 giờ, bệnh nhân xuất hiện các triệu chứng nôn, buồn nôn, đau bụng, ỉa chảy (đôi khi kèm theo máu), đau
cơ, chuột rút, đau đầu, chóng mặt Trường hợp nặng vàng da, sốt cao (sự khác biệt với ngộ độc các độc tố nấm khác), xuất huyết nội tạng,
co giật, hôn mê, tử vong từ 5 đến 7 ngày sau ăn nấm do biến chứng suy gan, thận
Trang 13Xử trí:
Điều trị ngộ độc nấm gyromitrin chủ yếu là dùng than hoạt (nếu phát hiện
sớm), thuốc bảo vệ tế bào gan, truyền dịch, lợi tiểu và điều trị triệu chứng
Vitamin B6 chỉ dùng khi có đe doạ sự sống (co giật, hôn mê) Liều cho trẻ em
và người lớn là 25 mg/kg thể trọng Có thể nhắc lại liều nhưng không quá 20 gam cho người lớn trong 24 giờ
Truyền máu khi có chỉ định (gyromitrin gây tan máu), tiêm tĩnh mạch xanh
metylen (1 mg/kg thể trọng) nếu hàm lượng methemoglobin tăng trong máu
- Orellanin tác dụng lên thận tương tự như các chất gây miễn dịch dị ứng, gây
ức chế tổng hợp protein, AND và ARN do vậy gây tổn thương ở thận
- Orellanin gây ức chế ARN polymerase và phosphatase kiềm do đó làm giảm tổng hợp adenosin triphosphat
Trang 14Các triệu chứng ngộ độc nấm orellanin khác nhau phụ thuộc vào loài nấm và số lượng nấm ăn, bao gồm: Triệu chứng rối loạn tiêu hóa như buồn nôn, nôn, đau bụng, ỉa chảy hoặc táo bón Các triệu chứng này
thường nhẹ và xuất hiện từ 24 - 48 giờ sau ăn nấm
Các triệu chứng khác như đau vùng thận, khát nước (đôi khi bệnh nhân
mô tả khát đến cháy họng), tiểu nhiều, thiểu niệu hoặc vô niệu hiếm gặp hơn Suy thận thường xảy ra vào ngày thứ hai đến tuần thứ hai sau ăn nấm
Ngoài ra có thể có các triệu chứng khác như ăn không ngon miệng, ớn lạnh, đau cơ, rối loạn vị giác, phát ban, đau đầu, dị cảm và co giật nhưng hiếm gặp hơn
* Điều trị: Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với ngộ độc nấm
orellanin Điều trị loài nấm này chủ yếu điều trị triệu chứng, sử dụng các thuốc chống oxy hóa, corticoid, chạy thận nhân tạo khi có suy thận cấp, ghép thận trong những trường hợp nặng Tỷ lệ số người phải lọc máu có thể chiếm tới 50%
Trang 154, Độc tố Muscarine
Cơ chế : Muscarin kích thích các thụ cảm thể ở sinap hậu hạch thần kinh như axetylcholin (axetylcholin là một chất trung gian hoá học có chức năng dẫn truyền xung động ở sinap thần kinh) và gây nên các
triệu chứng cường phó giao cảm của hệ M-cholinergic Muscarin
không tác động lên hệ N-cholinergic nên không xuất hiện các triệu
chứng ở các cơ quan được chi phối bởi dây thần kinh hệ này
Muscarin có cấu trúc muối bậc 4 nên không đi qua được hàng rào
máu não nên ít ảnh hưởng tới hệ thần kinh trung ương Muscarin
không bị chuyển hoá bởi enzym cholinesterase
•Triệu chứng:
Triệu chứng xuất hiện trong vòng 15 phút đến vài giờ sau ăn nấm Các
triệu chứng cường phó giao cảm hệ M-cholinergic gồm: Tăng tiết các
tuyến (tăng tiết nước bọt, chảy nước mắt, tăng tiết dịch phế quản ), khó thở dạng hen, co đồng tử, buồn nôn, nôn, đau bụng, ỉa chảy, nhịp tim chậm, huyết áp hạ
Tử vong có thể xảy ra do suy hô hấp cấp, mạch chậm
Trang 16Xử trí:
Điều trị ngộ độc nấm chứa muscarin cần dùng thuốc huỷ cholin
(cholinolitic) như atropin Atropin là thuốc điều trị đặc hiệu đối với
muscarin Liều atropin: người lớn: 0,4 - 2mg tiêm dưới da hoặc tĩnh
mạch Trẻ em: 0,02 mg/kg thể trọng Sau 20 – 30 phút tiêm nhắc lại
Duy trì liều atropin cho tới khi hết các triệu chứng khó thở, tăng tiết dịch
phế quản, mạch chậm
5, Ngộ độc Acid Ibotenic/ Muscimol
•Cơ chế: Khi ăn phải nấm có độc tố này: Acid ibotinic trong nấm sẽ bị chuyển hóa thành muscimol
Trang 17Triệu chứng: Triệu chứng ngộ độc xuất hiện sau ăn từ 30 - 90 phút và
thường kéo dài trong 6 giờ (có trường hợp kéo dài 12 – 24 giờ) với các triệu chứng ức chế và hưng phấn hệ thần kinh trung ương thay phiên
nhau
Triệu chứng ban đầu thường là uể oải, thẫn thờ, mất điều hòa, rối loạn
định hướng Sau đó xuất hiện tăng vận động, ảo giác, nói nhiều, thậm chí điên loạn Các giai đoạn hưng phấn xen kẽ giai đoạn ngủ sâu, mê sảng Các triệu chứng rối loạn tâm thần như ảo giác về màu sắc, hình ảnh, thính giác Trường hợp ngộ độc nặng nôn, ỉa chảy, co giật Ở trẻ em có thể xuất hiện cơn co giật, hôn mê trong 12 giờ đầu
Xử trí:Hiện chưa có thuốc điều trị đặc hiệu đối với ngộ độc loài nấm này Điều trị triệu chứng là chủ yếu như: uống than hoạt (1 - 2 g/kg thể trọng) tuy nhiên không gây nôn, rửa dạ dày vì làm kích thích gây co giật Không dùng atropin Hầu hết các trường hợp bệnh nhân sẽ tự khỏi bệnh Trường hợp xuất hiện co giật cần tiêm bắp diazepam 10mg
Trang 186, Ngộ độc do Psilocybin
•Cơ chế ngộ độc của psilocybin và psilocin: Sau khi hấp thu vào máu,
psilocybin bị biến đổi thành psilocin Psilocybin và psilocin đều là
indolalkylamin và có cấu trúc hoá học tương tự như serotonin
(5-hydroxytryptamin hoặc 5-HT) Psilocin có ái lực mạnh và tương tác với thụ cảm thể serotonin 5-HT2 (serotonin là chất trung gian hoá học dẫn truyền
xung động thần kinh ở các sináp thần kinh trung ương) Vì có cấu trúc giống serotonin nên psilocin có tác dụng kích thích hệ thần kinh trung ương và gây nên các triệu chứng rối loạn tâm thần Phenylethylamin có trong nấm là một amin gây rối loạn nhịp tim
•Triệu chứng: Triệu chứng ngộ độc xuất hiện sau ăn nấm từ 20 đến 30 phút, tối đa sau 1,5 giờ rồi giảm dần sau 6 đến 12 giờ Các triệu chứng rối loạn tâm thần: ảo giác, nhận thức sai lệch về màu sắc, hình dáng đồ vật, không gian, thời gian, mất nhân cách Sự thay đổi về cảm xúc, tính tình như sảng khoái, cười vô cớ mất kiểm soát, bồn chồn, lo lắng, hoảng sợ Có thể bị kích động, hung dữ, tấn công người xung quanh, dị cảm trên da (tê bì, ngứa, )
Các triệu chứng khác: giãn đồng tử, mạch nhanh, tăng huyết áp, tăng thân nhiệt, buồn nôn, nôn, yếu cơ, tăng phản xạ gân xương, có thể đái không tự chủ, trường hợp nặng co giật, hôn mê Tử vong do nấm gây rối loạn tâm thần rất hiếm Những trường hợp ngộ nặng có thể gặp ở trẻ em, khi đó ngoài các triệu chứng rối loạn tâm thần còn xuất hiện sốt, co giật, hôn mê và tử vong
Trang 19Chăm sóc, kiểm soát bệnh nhân chặt chẽ.
+ Không gây nôn, rửa dạ dày vì không kiểm soát được bệnh nhân
+ Cho uống than hoạt (1 g/kg thể trọng) kèm sorbitol
+ Bệnh nhân cần được nằm trong buồng yên tĩnh với ít ánh sáng và cần được chăm sóc nhẹ nhàng, mềm mỏng, an ủi, vỗ về để tránh lên cơn kích động
Trong phòng không được để đồ vật có thể gây nguy hiểm cho bệnh nhân và người xung quanh như dao, kéo, chai lọ thuỷ tinh,…
+ Kiểm soát bệnh nhân chặt chẽ không cho bệnh nhân đi ra ngoài đề phòng ngã xuống vực, xuống giếng, ngã từ ban công tầng cao
+ Chống co giật, hưng phấn quá mức: Tiêm TM diazepam 5 – 10mg, tiêm nhắc lại cho đến khi hết triệu chứng Nếu không đỡ có thể dùng phenobarbital,
medazolam, propofol tĩnh mạch
+ Duy trì chức năng hô hấp, tuần hoàn và điều trị triệu chứng
Thông thường bệnh nhân bị ngộ độc các loài nấm gây rối loạn tâm thần sẽ tự khỏi sau 12 – 24 giờ với các biện pháp cấp cứu hồi sức cơ bản
Trang 20Nồng độ rượu trong máu càng cao, mức độ ngộ độc càng nặng, các triệu chứng ngộ độc sẽ xuất hiện trở lại nếu bệnh nhân tiếp tục uống rượu trong thời gian 5 – 7 ngày sau ăn nấm Tuy nhiên, tiên lượng bệnh thường tốt và chưa gặp
trường hợp tử vong
Điều trị: chủ yếu là điều trị triệu chứng Tăng cường đào thải chất độc: gây nôn, rửa dạ dày, uống than hoạt với liều 1 - 2 g/kg thể trọng kèm theo sorbitol liều tương đương Có thể dùng fomepizol (4-methylpyrazol) để điều trị ngộ độc nấm coprin Fomepizol ức chế enzym ALDH làm giảm lượng acetaldehyd trong máu Thuốc này được dùng để điều trị ngộ độc methanol và ethylen glycol
Trang 21III, PHƯƠNG PHÁP KIỂM NGHIỆM MỘT SỐ LOẠI NẤM
ĐỘC
1 Phương pháp chiết mẫu nấm độc
Để gây ngộ độc thực nghiệm trên động vật, các mẫu nấm được tách chiết lấy độc tố Mẫu nấm dùng để nghiên cứu gồm mẫu nấm khô, mẫu nấm tươi (mẫu nấm tươi được cân trọng lượng trước khi ngâm bảo quản trong cồn 700)
* Phương pháp chiết đối với nấm khô:
+ Phương pháp chiết nấm độc trắng hình nón và nấm mực ở dạng:
Độc tố của nấm độc trắng hình nón (amanitin) và nấm mực (coprin) là
những chất tan trong nước và các dung môi hữu cơ như methanol, ethanolCác loài nấm này ở dạng khô được chiết bằng hệ dung môi methanol - nước theo tỷ lệ 1:1, theo Deng W.Q và CS (2011] Cách tiến hành chiết mẫu nấm khô được thực hiện theo quy trình thường quy như sau:
- Lấy một lượng nấm khô, cân trọng lượng, nghiền nhỏ thành bột cho vào bình
- Cho một lượng methanol và nước với thể tích bằng nhau vào bình có
mẫu nấm đã nghiền sao cho ngập bột nấm ngâm trong 24 giờ
Trang 22- Chiết lấy toàn bộ dung môi - nước cho vào bình Tiếp tục cho methanol
- nước vào bình ngâm chiết thêm 2 lần nữa với cách làm như trên để
chiết kiệt hoạt chất trong mẫu nấm
- Gom tất cả dung môi vào một bình, sục khí đuổi dung môi cho bốc hơi
nước để thu lấy cặn Cặn còn lại trong bình là tổng lượng các loại hoạt
chất có trong mẫu nấm, cân trọng lượng cặn tính toán quy ra tương
đương với trọng lượng nấm ban đầu
- Pha chế cặn với nước cất để tạo thành dung dịch chiết Trước khi cho
động vật uống hoặc tiêm ổ bụng, dịch chiết được đun sôi trong ống
nghiệm, để nguội đảm bảo vô khuẩn
•Phương pháp chiết đối với nấm tươi:
Mẫu nấm tươi được bảo quản trong lọ chứa cồn 700 (cân trọng lượng nấm trước khi ngâm trong cồn) gồm 4 loài nấm là nấm độc trắng hình nón, nấm ô tán trắng phiến xanh, nấm xốp gây nôn và nấm mực Mỗi loài nấm tươi được chiết bằng cồn nước 700 theo phương pháp Katsayal U A và CS (2009) , được tiến hành như sau:
Trang 23- Lấy mẫu nấm và cồn từ bình ngâm cho vào cối sứ, nghiền nát thành hỗn dịch dạng huyền phù Chắt lọc lấy hỗn dịch cho vào bình riêng Cặn còn lại trong bình được tráng bằng một lượng nước cất nhất định sau đó cho vào cối sứ.
- Tiếp tục cho nước cất vào cối sứ có bã nấm và nghiền nhuyễn mẫu nấm cùng với nước, chắt lọc như trên lần 2 và lần 3 để chiết kiệt hoạt chất
- Gộp toàn bộ dịch chiết, lọc qua giấy lọc để thu được dich chiết chứa hoạt chất nấm độc
-Sục khí cho bốc hơi hết cồn và hơi nước để thu lấy cặn hoạt chất của dịch
chiết Cân trọng lượng cặn tính toán quy ra tương đương với trọng lượng nấm ban đầu
Cặn của dịch chiết được pha chế để nghiên cứu trên động vật Đảm bảo dịch chiết vô khuẩn bằng cách đun sôi để nguội trước khi tiêm hoặc cho động vật uống
2, Phương pháp xác định độc tố có trong nấm:
-Xác định loài nấm có amatoxin bằng test nhanh Weiland (test Meixner)
+ Kết quả phân tích độc chất (α-amanitin) trong mẫu sinh học bằng phương
pháp sắc ký lỏng khối phổ (LC-MS) , hoặc ELISA Butera R và CS (2004),
sử dụng phương pháp ELISA để xác định amatoxin trong nước tiểu bệnh
nhân
Trang 24- Orellanin có thể phân tích bằng phương pháp sắc ký lỏng cao áp (HPLC), Sắc ký lớp mỏng (TLC), sắc ký lỏng khối phổ (LC/MS)
- Tìm Gyromitrin bằng phương pháp sắc ký lỏng (LC) hoặc sắc ký khí (GC)
Phần 3: Ứng dụng của thực tế của một số loại nấm độc:
Nấm độc có thể gây hại cho con người và động vật có vú khi ăn phải
chúng Tuy nhiên độc dược khi thu được từ nấm nếu biết sử dụng đúng cách lại là một nguồn dược liệu vô cùng quý, có ứng dụng rất lớn đối với việc điều trị một số bệnh trong y học
Từ một số loài nấm độc thuộc chi: Psilocybe, Conocybe, Panaeolus,
Copeladia, Chlorophylum Con người đã chiết xuấ t nhiều dược chất có
hoạt tính sinh học mà chủ yếu là các Alkaloid Ở nồng độ cao có thể gây chết người , tuy nhiên với nồng độ thấp nó lại là n hững dược liệu quý có tác dụng hỗ trợ trong:
Khi sản phụ sinh nở
Chống nhức đầu
Chống bệnh bướu cổ
Một số có tác dụng với các bệnh thần kinh và tim mạch
Đặc biệt với một số loài nấm có chứa độc tố alkaloid gây ra trạng thái ảo giác : gọi là Hallu cinogenic mushroom còn được ứng dụng để điều trị các
bệnh tâm thần và mất trí nhớ