Nghiên cứu chợ của người Việt Nam Bộ, với các hình thức đa dạng của nó trong nền văn minh sông nước, có thể giúp nhận thức rõ hơn về quá trình tạo lập và thích nghi của chủ thể người Việ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA VĂN HÓA HỌC
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian theo học chương trình Cao học tại Trường Đại học Khoa học
Xã hội & Nhân văn thành phố Hồ Chí Minh, được quý Thầy Cô nhiệt tình cung cấp
kiến thức chuyên ngành Văn hóa học, tôi đã chọn đề tài “Chợ trong đời sống người
Việt Nam Bộ” để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ Với tôi, đây là một đề tài hoàn
toàn mới lạ, rất ít tư liệu và khoảng cách không gian cũng là một vấn đề đáng ngại, nhưng Tiến sĩ Trần Ngọc Khánh – với tư cách người hướng dẫn khoa học, đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành một cách tương đối đề tài nghiên cứu mà mình đã chọn
Tôi xin kính gửi đến quý Thầy Cô khoa Văn hóa học và các Thầy Cô thỉnh giảng lời cảm ơn chân thành và sâu sắcc nhất, đặc biệt là Tiến sĩ Trần Ngọc Khánh
đã dành thời gian và tâm trí giúp đỡ tôi có đủ điều kiện hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình trong những năm vừa qua
Do không được sinh trưởng ở vùng đất Nam Bộ, nên những am hiểu của tôi
về văn hóa địa phương và con người Nam Bộ còn nhiều hạn chế; tuy nhiên, tôi cũng
đã bỏ ra không ít thời gian, công sức và cả tâm huyết của mình khi thực hiện đề tài này Có thể nói, việc thiếu sót trong quá trình thực hiện luận văn là điều không thể tránh khỏi, rất mong được sự góp ý chân tình của quý Thầy Cô, bạn bè để luận văn được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn./
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Mục tiêu nghiên cứu 5
3 Lịch sử vấn đề 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 7
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu 8
7 Bố cục luận văn 9
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 10
1.1 Khái niệm chợ 10
1.1.1 Định nghĩa 10
1.1.2 Mối liên hệ giữa chợ và đô thị 13
1.2 Định vị chợ Nam Bộ theo trục tọa độ văn hóa 15
1.2.1 Chợ Nam Bộ nhìn từ chủ thể văn hóa người Việt 15
1.2.2 Chợ Nam Bộ nhìn từ thời gian văn hóa 22
1.2.3 Chợ Nam Bộ nhìn từ không gian văn hóa 33
1.3 Tiểu kết Chương 1 41
CHƯƠNG 2 CHỢ TRONG ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI VIỆT NAM BỘ 44
2.1 Các loại hình chợ 44
2.1.1 Chợ nông thôn 45
2.1.2 Chợ thành thị 49
2.2 Các kiểu họp chợ đặc trưng của người Việt Nam Bộ 52
2.2.1 Chợ họp trên sông nước 52
2.2.2 Chợ họp cố định trên đất liền 61
2.3 Phương thức hoạt động mua bán, vận chuyển hàng hóa 64
2.3.1 Các hình thức, nguyên tắc mua bán hàng hóa 64
2.3.2 Cách thức đo lường, vận chuyển hàng hóa 69
Trang 42.4 Tiểu kết Chương 2 76
CHƯƠNG 3 CHỢ TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM BỘ 78
3.1 Nhu cầu chợ của người Việt Nam Bộ 78
3.1.1 Nhu cầu đi chợ 82
3.1.2 Nhu cầu giao tiếp văn hóa 80
3.2 Chợ trong tập quán tín ngưỡng của người Việt Nam Bộ 82
3.2.1 Tín ngưỡng ở chợ 82
3.2.2 Tập quán kiêng kỵ trong kinh doanh ở chợ 87
3.3 Chợ trong văn hóa dân gian của người Việt Nam Bộ 89
3.3.1 Chợ Nam Bộ trong ngôn ngữ giao tiếp 90
3.3.2 Chợ Nam Bộ trong văn học nghệ thuật 91
3.4 Chợ Nam Bộ qua phong cách mua bán, rao hàng, chào hàng 105
3.4.1 Phong cách mua bán ở chợ 105
3.4.2 Phong cách rao hàng, chào hàng 111
3.5 Tiểu kết Chương 3 1144
CHƯƠNG 4 ẢNH HƯỞNG CỦA QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HÓA ĐỐI VỚI CHỢ CỦA NGƯỜI VIỆT NAM BỘ 117
4.1 Chợ Nam Bộ trong quá trình đô thị hóa 117
4.2 Sự biến đổi nhu cầu người bán và người mua 122
4.2.1 Người bán 123
4.2.2 Người mua 126
4.3 Chợ truyền thống trong đời sống hiện đại 129
4.4 Vấn đề bảo tồn và phát triển chợ truyền thống trong quá trình đô thị hóa 136
4.5 Tiểu kết Chương 4 140
KẾT LUẬN 143
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 147
PHẦN PHỤ LỤC 155
A Phụ lục nội dung 155
B Phụ lục hình ảnh 171
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nam Bộ là vùng đất mới của Việt Nam, nơi có không ít các truyền thống văn hóa đặc sắc Tư liệu khoa học về Nam Bộ khá nhiều, phổ biến trong nhiều lĩnh vực như lịch sử, địa lý, văn học Tuy nhiên, về lĩnh vực văn hóa, nhiều đặc trưng của văn hóa Nam Bộ còn chưa được khai thác, trong đó có chợ
Với tính chất là điểm tập trung, nơi tiếp xúc, trao đổi các nhu cầu trong đời sống hàng ngày, chợ của người Việt ở Nam Bộ có các hình thái độc đáo gắn với vùng sông nước Từ các chợ nổi tấp nập những con thuyền bán rau quả và nông sản trên các ngã ba, ngã tư hoặc tại các vàm sông, rạch đến các chợ thị nằm ở vị trí trung tâm thị trấn, gần bến sông để thuận tiện chuyên chở hàng hóa… đã thu hút rất nhiều sự chú ý, quan tâm, thú vị không chỉ đối với người trong nước mà còn đối với các du khách nước ngoài
Là người nghiên cứu văn hóa, bản thân chúng tôi có niềm đam mê đối với sự
đa dạng văn hóa của các vùng miền khác nhau Khai thác đề tài này, chúng tôi thiết nghĩ chợ không đơn thuần là nơi mua bán mà còn là nơi tập trung nhiều sắc thái văn hóa độc đáo của một vùng miền Đi đến đâu, nếu muốn khám phá những nét thú vị, đặc sắc về con người và phong cách giao tiếp của họ thì không ở đâu bằng nơi họp
chợ Câu nói cửa miệng “đem ra chợ bán, đi ra chợ mua” đã trở thành một nét văn
hóa quen thuộc của người dân Việt Nam nói chung
Ngày nay, chợ bị phai nhạt không ít những nét đặc trưng văn hóa truyền thống hoặc biến đổi nhiều trong quá trình đô thị hóa do nhiều lý do khác nhau, đặc biệt trong bối cảnh xã hội tiếp nhận văn minh phương Tây: người ta đem chợ vào trong các khu nhà rộng lớn và gọi đó là “siêu thị” Điều này làm mất đi cảnh tượng “trăm người bán, vạn người mua”, hay cảnh giao tiếp giữa người bán và người mua mà chỉ còn là giao dịch hàng hóa đơn thuần Do đó, tìm hiểu về chợ hoặc các đặc trưng văn hóa ở chợ cũng là yêu cầu cấp thiết trong tình hình hiện nay
Trang 6Do vậy, chúng tôi đã chọn đề tài “Chợ trong đời sống người Việt Nam Bộ”
làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Văn hóa học Hy vọng đây sẽ là nguồn động lực giúp chúng tôi có thêm sự mạnh dạn trên bước đường nghiên cứu khoa học sau này
2 Mục tiêu nghiên cứu
Bình thường, ai cũng biết chợ là nơi tập trung mua bán, nơi giao thương thuận tiện của một làng xã, huyện thị Nhưng có lẽ vì quá đỗi quen thuộc nên ít ai để ý chợ được hình thành từ đâu, xuất phát từ nhu cầu gì? Nó có ý nghĩa, vai trò như thế nào, đặc biệt là trong đời sống văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của người dân?
Nghiên cứu chợ cũng là một phương cách để nhận biết các đặc trưng văn hóa của
con người trong thời gian văn hóa ở một vùng đất
Mua bán, trao đổi là một nhu cầu thiết thực trong đời sống người dân Song văn hóa phương Đông còn rất ít đề cập hoặc không hiếm khi nhìn chợ bằng con mắt thiếu thiện cảm Thực ra, chợ là hình thái trao đổi cổ xưa nhất của loài người, qua
đó mà phát triển thành lĩnh vực thương mại như ngày nay Chức năng thương mại là một trong các nhân tố chủ đạo của quá trình đô thị hóa, đồng thời cũng là một thành
tố văn hóa trong quá trình phát triển xã hội Nghiên cứu chợ trong đời sống vật chất
và tinh thần của cư dân để góp phần nhận biết các nhu cầu, quy luật vận động và phát triển đời sống văn minh hiện đại trong không gian văn hóa của một vùng đất
Nghiên cứu chợ của người Việt Nam Bộ, với các hình thức đa dạng của nó
trong nền văn minh sông nước, có thể giúp nhận thức rõ hơn về quá trình tạo lập và thích nghi của chủ thể người Việt trong quá trình định cư nơi vùng đất mới, góp
phần phác họa bức tranh văn hóa đặc sắc về chợ của người Việt Nam Bộ, qua đó có thể hiểu biết đầy đủ hơn về các nhu cầu đời sống vật chất và tinh thần của người Việt ở vùng đất này
3 Lịch sử vấn đề
Mặc dù đề tài về chợ và văn hóa chợ rất phong phú, song như đã nói, cho đến nay, hầu như chưa thấy một chuyên khảo nào viết về chợ ở vùng đất Nam Bộ một
Trang 7cách đầy đủ, rõ nét Có thể khái lược một số công trình, bài viết về chợ mà chúng tôi đã tiếp cận, tham khảo trong quá trình nghiên cứu đề tài này như sau:
Trong công trình Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức (xuất bản lại
năm 1998), tác giả chủ yếu viết về địa lý, các địa danh của Nam Bộ trước đây, trong
đó một số chợ được đề cập và miêu tả khá rõ nét về quy mô, mật độ, tính chất… được xem như một cuốn sách tham khảo hữu ích nhất, giúp cho luận văn có được những tài liệu cụ thể hơn về chợ Nam Bộ vào thế kỷ XVII - XVIII
Trong Chợ Nổi đồng bằng sông Cửu Long (2009) của Nhâm Hùng, ông mô tả
khá rõ chợ nổi Nam Bộ về nguyên nhân, thời gian và không gian hình thành; ngoài
ra, công trình này còn miêu tả rất chi tiết về các chợ nổi tiêu biểu ở vùng đồng bằng sông Cửu Long Đây là nguồn tài liệu rất bổ ích giúp cho chúng tôi tìm hiểu rõ hơn
về mảng chợ họp trên sông nước vùng đồng bằng sông Cửu Long hiện nay
Với bài viết Chợ Nổi – nét đẹp văn hóa sông rạch ở Cần Thơ trong công trình Nam Bộ Đất và Người (2004), tác giả Trần Nam Tiến đã đề cập đến không gian và
văn hóa họp chợ của các thương hồ ở các chợ nổi Nam Bộ Đây cũng là một trong những bài viết có thể xem như bức tranh phác họa khá sinh động về hiện tượng họp chợ trên sông ở vùng đồng bằng sông Cửu Long
Trong Dấu xưa Nam Bộ của Hồng Hạnh (2006) có bài viết Chợ xưa, chợ nay;
nói về sự thay đổi nhu cầu mua bán của người dân Qua đó, tác giả đã cho người đọc thấy rõ cùng với sự phát triển của xã hội thì văn hóa chợ cũng phần nào bị mai một, mất dần đi tính chất trong sáng và dân dã của văn hóa kinh doanh Nam Bộ Ngoài ra, có một số bài viết trên các trang báo, internet viết về chợ Nam Bộ nói chung, tuy nhiên hầu hết chỉ miêu tả một vài kiểu họp chợ cụ thể Thêm vào
đó, chúng tôi còn tiếp cận một số tài liệu nằm rải rác trong các công trình nghiên cứu tập thể hay cá nhân được nêu ở thư mục tài liệu tham khảo, song nhìn chung
các bài viết này chỉ tập trung ở phần mô tả khái quát về chợ
Vì vậy, nghiên cứu “Chợ trong đời sống người Việt Nam Bộ” có lẽ không chỉ
là đề tài mới mẻ đối với chúng tôi mà còn là một “mảnh đất” màu mỡ chưa được
Trang 8nhiều người khai thác Có thể nói đây vừa là khó khăn vừa là một động lực lớn của
chúng tôi khi nghiên cứu đề tài này
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là Chợ của người
Việt Nam Bộ trong các lĩnh vực của đời sống văn hóa Luận văn sẽ tìm hiểu các hoạt động trao đổi, mua bán, đáp ứng các nhu cầu về đời sống vật chất và tinh thần của chủ thể người Việt trong thời gian và không gian văn hóa Nam
Bộ
Phạm vi nghiên cứu : Đề tài giới hạn trong phạm vi vùng Nam bộ, tập trung
nghiên cứu trường hợp một số chợ ở các địa phương miền Tây Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh; trong đó chú ý phân tích các đặc điểm hình thành, phương thức họp chợ truyền thống còn tồn tại đến nay và các loại hình chợ ở các đô thị như siêu thị, chợ đầu mối trong quá trình đô thị hóa
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Ý nghĩa khoa học :
- Luận văn tập trung làm rõ một số vấn đề cơ bản về khái niệm, bản chất, vai trò và các hoạt động của chợ trong đời sống vật chất và tinh thần của người Việt Nam Bộ dưới góc nhìn Văn hóa học
- Trên cơ sở đó, luận văn sẽ góp phần hệ thống hóa và lý giải một cách khoa học về các nhu cầu mua bán, trao đổi của người dân; phân tích các ưu điểm cũng như hạn chế của chợ truyền thống trong quá trình đô thị hóa ngày nay
Ý nghĩa thực tiễn :
- Luận văn hy vọng sẽ góp phần làm cho sự hiểu biết về đời sống văn hóa của người Việt vùng sông nước Nam Bộ thêm phong phú, đặc biệt là các vấn đề về văn hóa chợ nói riêng và văn minh thương nghiệp nói chung
- Luận văn góp phần giúp các cấp chính quyền ở cơ sở đánh giá đúng về thực trạng các hoạt động mua bán tại chợ, đặc biệt đối với các mô hình chợ truyền thống;
Trang 9hiểu biết rõ hơn về các nhu cầu đời sống của người dân trong quản lý kinh tế - xã hội và quy hoạch phát triển địa phương
- Qua đó, kết quả của luận văn sẽ góp thêm vào nguồn tài liệu tham khảo về các hình thức mua bán, trao đổi truyền thống trong lĩnh vực văn hóa kinh doanh
6 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu
Đề tài Chợ Trong Đời Sống Người Việt Nam Bộ là một bộ phận nghiên cứu
ứng dụng của văn hóa đô thị Do đó, các phương pháp nghiên cứu trong Văn hóa học sẽ được vận dụng một cách triệt để Đặt vấn đề nghiên cứu chợ của người Việt Nam Bộ trước hết là tìm hiểu bản sắc chợ thông qua các hoạt động sản xuất - trao đổi, mua bán; các quan hệ ứng xử với môi trường tự nhiên sông nước; quan hệ giữa người và người trong đời sống vật chất và tinh thần của họ Luận văn vận dụng cái
nhìn đồng đại và lịch đại để nghiên cứu chợ theo trục tọa độ của chủ thể người Việt,
trong phạm vi không gian và thời gian văn hóa ở Nam Bộ
Ngoài ra, luận văn còn chú ý vận dụng phương pháp so sánh văn hóa về các hình thức họp chợ và cách thức mua bán, trao đổi của người Việt với các dân tộc khác; về các biến đổi của chợ trong quá trình đô thị hóa qua các thời kỳ khác nhau;
kể cả so sánh các tiện ích, tâm lý, nhu cầu đời sống và lý giải về sự tồn tại và phát triển giữa các hình thức họp chợ truyền thống và các loại hình chợ hiện đại như siêu thị, chợ đầu mối trong các đô thị ngày nay
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng các phương pháp liên ngành, kết hợp các thành tựu của nhiều ngành khoa học khác nhau như các phương pháp lịch sử (được
vận dụng trong chương 1), nhân học - dân tộc học, xã hội học, văn hóa dân gian
(vận dụng trong chương 2, chương 3 và chương 4) Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các thao tác đi điền dã, miêu tả, tổng hợp số liệu, quan sát tham dự, phỏng vấn và khảo sát thực địa để tiếp cận đối tượng nghiên cứu
Để thực hiện luận văn này, ngoài nguồn tư liệu thu thập được trong quá trình điền dã thực địa, luận văn còn sử dụng nguồn tài liệu từ các thư viện thuộc khoa học xã hội và nhân văn, trong đó có các tư liệu về văn học dân gian, tài liệu của các
Trang 10học giả trong và ngoài nước viết về quá trình hình thành và phát triển chợ nói chung
và chợ của người Việt Nam Bộ nói riêng Ngoài ra, luận văn còn chắt lọc từ các công trình nghiên cứu, biên khảo, các bài viết đăng trên các tạp chí, hội thảo, hội nghị, tổng kết, nguồn từ mạng internet
7 Bố cục luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận văn gồm có 4 chương:
- Chương 1: Những vấn đề chung Nội dung trình bày một số khái niệm về chợ
trong trục tọa độ ba chiều: chủ thể, thời gian, không gian Trọng tâm đề cập về nguồn gốc, quá trình hình thành và phát triển chợ trong không gian văn hóa Nam
Bộ của chủ thể người Việt Chương 1 được coi là tiền đề để triển khai các chương mục tiếp theo
- Chương 2: Chợ trong đời sống vật chất của người Việt Nam Bộ Nội dung
viết về nhu cầu trao đổi mua bán ở chợ trong đời sống vật chất qua các hình thức họp chợ, vị trí, chức năng, sản phẩm, quy mô; các hoạt động mua bán ở vựa, chành của các thương lái; các phương thức vận chuyển: đường sông, đường bộ, đường biển và các cách thức cân đong mua bán ở chợ
- Chương 3: Chợ trong đời sống tinh thần của người Việt Nam Bộ Nội dung
trong chưởng đề cập đến tâm lý, kiêng kỵ và tập quán, tính cách của người bán và người mua thông qua việc mua bán ở chợ; Các tín ngưỡng, phong tục, tập quán thông qua các biểu hiện trong văn hóa dân gian như ca dao, tục ngữ, các điệu hò, bài vè, đàn ca tài tử, lối rao hàng…
- Chương 4: Chợ của người Việt Nam Bộ trong quá trình đô thị hóa Chương
này chủ yếu làm nổi bật các tính chất của chợ của người Việt Nam Bộ trong quá trình đô thị hóa, quá trình thay đổi nhu cầu của người mua và người bán … Phân tích các số liệu khảo sát, điều tra thực địa để thấy được nhu cầu người dân và quy luật phát triển tất yếu của chợ; làm rõ những ưu điểm và hạn chế của chợ truyền thống trong đời sống hiện đại Đưa ra các yêu cầu và giải pháp trong việc duy trì và phát huy chợ truyền thống trong quá trình đô thị hóa
Trang 11Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1.1 Khái niệm chợ
Thông thường, ai cũng hiểu rằng chợ là nơi diễn ra hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa và dịch vụ bằng tiền bạc hoặc hiện vật Có thể nói, chợ ra đời từ rất sớm trong lịch sử loài người, khi mà con người đã sản xuất được những sản phẩm nhiều hơn nhu cầu của họ, nên phải mang những sản phẩm dư thừa ấy đi trao đổi với người khác để lấy một thứ vật dụng nào đó mà họ chưa có, hoặc bán lấy tiền bạc
để tích lũy Cho nên, khi có nhu cầu trao đổi sản phẩm hoặc bán lấy tiền bạc, người
ta đã chọn một nơi, một khu vực nào đó tiện lợi nhất trong vùng, nơi thường xuyên tập trung đông người qua lại để họ có thể đến và thực hiện việc trao đổi, mua bán hàng hóa, nơi đó người ta gọi là “chợ”
1.1.1.Định nghĩa
Cho đến nay, chợ vẫn còn là một khái niệm tương đối, nhiều học giả nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm về chợ khác nhau Dưới đây chúng tôi đưa ra một vài định nghĩa tiêu biểu:
Theo định nghĩa của Hoàng Phê thì “chợ là nơi công cộng để đông người đến mua và bán trong những buổi, ngày nhất định” [Hoàng Phê 2000:165]
Quan điểm của Võ Thị Thu Sương lại cho rằng: “Chợ là loại hình thương mại mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa điểm công cộng, tập trung đông người mua bán, trao đổi hàng hóa, đáp ứng các nhu cầu trong sản xuất, lưu thông tiêu dùng trong khu vực dân cư Đối với nhiều vùng, chợ còn là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc” [Võ Thị Thu Sương 2000:10] Một quan niệm khác cho rằng: “Chợ là loại hình thương nghiệp truyền thống phát triển khá phổ biến ở nước ta Chợ là hiện thân của hoạt động thương mại, là sự tồn tại của không gian thị trường mỗi vùng, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng
Trang 12xa, vùng biên giới và tập trung nhiều nhất ở các vùng đô thị, các thành phố lớn” [Sở Thương mại thành phố Hồ Chí Minh 2003:7]
Cũng theo Sở Thương mại thành phố Hồ Chí Minh, trong kết quả điều tra mạng lưới và lưu lượng hàng hóa chợ năm 1999, thì “Chợ là một nơi (địa điểm) công cộng, tập trung đông người mua bán trao đổi hàng hóa, dịch vụ với nhau, được hình thành do yêu cầu của sản xuất, đời sống xã hội và hoạt động theo các chu kỳ thời gian nhất định” [Sở Thương mại thành phố Hồ Chí Minh 2000:8]
Các quan niệm trên cho thấy: tính chất chung của chợ là một loại hình thương nghiệp, có tính truyền thống và là một bộ phận của kinh tế thị trường Đây là nơi tập trung các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ phong phú của các thành phần kinh tế mà đa phần là kinh tế cá thể với các mặt hàng tiêu dùng hàng ngày là chủ yếu Có thể hiểu đơn giản hơn, chợ là một địa điểm công cộng để mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ của dân cư, mà ở đó bất kỳ ai có nhu cầu cũng đều có thể đến để mua, bán hoặc trao đổi hàng hóa với nhau
Trong quá trình phát triển kinh tế, chợ đã dần thay đổi tính chất Từ chợ truyền thống hình thành ban đầu ở nông thôn, với tính chất là chuyên buôn bán những mặt
hàng tự sản tự tiêu như lương thực, thực phẩm, phục vụ các nhu cầu thiết yếu hàng ngày cho con người thì ngày nay, trong quá trình đô thị hóa, chợ gắn liền với đô thị
và mang tính chất kinh tế thị trường Hàng hóa không chỉ là tự sản tự tiêu mà thêm vào đó là xuất khẩu, nhập khẩu với những mặt hàng mang tính hiện đại; không chỉ
là các mặt hàng do con người sản xuất, mà ngay bản thân con người cũng là một thứ hàng hóa trên thị trường lao động
Bên cạnh ngôi chợ truyền thống gắn với các cộng đồng cư dân và đời sống
kinh tế địa phương đang dần suy tàn bởi sự xâm chiếm của nền kinh tế thị trường là
sự xuất hiện các chợ đầu mối ở các đô thị lớn hoặc ở các địa điểm có vị trí thuận lợi
là các ngã tư giao thông, đặc biệt là sự ra đời các siêu thị hoặc các trung tâm thương mại với phong cách mua bán mới, được hiểu theo một khái niệm mang tính chất
dịch vụ kinh doanh Chợ không còn là một từ chỉ địa điểm cố định về mặt không
Trang 13gian, mà trở thành một khái niệm chỉ định các hoạt động thương mại, thành tố văn hóa ngày càng phổ biến trong các quan hệ giao tiếp của xã hội loài người
Do vậy, trong Từ điển Bách khoa Việt Nam có ghi: “Chợ là nơi gặp gỡ giữa cung và cầu các hàng hóa, dịch vụ, vốn là nơi tập trung hoạt động mua bán hàng hóa giữa người sản xuất, người buôn bán và người tiêu dùng” [Từ điển Bách khoa Việt Nam 2003:9]
Còn theo quan điểm của Lê Thị Mai: “Chợ là một loại hình hoạt động thị trường, xuất hiện từ xa xưa cho đến nay ở khắp nơi trên thế giới Chợ là nơi người mua, người bán gặp gỡ, trao đổi, mua bán hàng hóa, dịch vụ do phương thức tổ chức sản xuất và nhu cầu xã hội quy định” [Lê Thị Mai 2000:12]
Theo các định nghĩa này, xuất phát từ nhu cầu trao đổi hàng hóa, khái niệm chợ biến đổi dần theo thời gian do nhu cầu ngày càng đa dạng và phong phú của người tiêu dùng, đã tạo nên sự chuyển đổi mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế từ lịch sử cho đến hiện tại, đã gây nên những thay đổi lớn trong mọi lĩnh vực của đời sống: kinh tế tăng trưởng, thu nhập bình quân tăng, mức sống được cải thiện và nâng cao Phải chăng vì vậy mà Lewis Mumford đã coi chợ là « phát minh thiên tài » của xã hội loài người
Cho nên, chợ không chỉ dừng lại ở khía cạnh trao đổi hàng hóa mà còn phản ánh các quan hệ ứng xử, giao tiếp, nhằm đáp ứng các nhu cầu đời sống hàng ngày Như một lẽ hoàn toàn tự nhiên, chợ và tính chất mua bán, trao đổi hàng hóa luôn gắn bó với nhau từ bao đời nay Đi ra chợ bán và mua một món hàng nào đó là một nhu cầu không thể thiếu được của mỗi người dân Chợ đã đóng vai trò rất quan trọng trong suốt quá trình lịch sử, đó là đảm nhận cung ứng và phân phối sản phẩm
để đáp ứng nhu cầu sinh sống cho con người Do đó, mỗi nền văn hóa khác nhau thì
sẽ có thói quen mua bán, ứng xử ở chợ khác nhau, và văn hóa chợ là một đặc trưng của đời sống văn hóa người dân vùng đó
Ngoài ra, chợ còn đảm nhận vai trò là trung gian giữa người sản xuất và người
tiêu dùng “Nói đến chợ là nói đến kinh tế hàng hóa, nói đến hình thức giao thương
Trang 14phổ biến xưa nay trên thế giới Từ những tụ điểm trao đổi, mua bán sản vật đơn giản
từ thời cổ đại cho đến những siêu thị tổ chức cung cấp hàng hóa bằng một dây chuyền công nghệ hiện đại đáp ứng mọi nhu cầu đa dạng của con người trong xã hội ngày nay; từ chợ làng ở nông thôn, chợ vùng cao, ở các vùng dân tộc miền núi cho tới chợ hẻm phố, chợ đầu mối, chợ trung tâm ở các vùng thị tứ,…tất cả đều mang tính chất chung như vậy” [Dẫn theo Nhâm Hùng 2009:2]
Tuy nhiên, ngoài vai trò là nơi giao thương phổ biến, chợ còn đóng nhiều vai trò khác nhau trong đời sống của con người Chợ từ xưa đã không chỉ thỏa mãn nhu cầu mua bán, trao đổi của người dân mà còn thỏa mãn cả nhu cầu về văn hóa tinh thần Thậm chí ở nhiều vùng nông thôn làng xã, chợ còn là địa điểm diễn ra các sinh hoạt văn hóa của người dân Chẳng hạn như một vài chợ ở miền Tây Nam Bộ, xen lẫn với những hoạt động mua bán là những hoạt động của những gánh hát, những gánh xiếc, mãi võ bán thuốc cao đơn hoàn tán, những nhóm tập trung biểu diễn đàn ca tài tử… tạo nên một nét đặc trưng đậm chất Nam Bộ và cũng chỉ có ở Nam Bộ
1.1.2 Mối liên hệ giữa chợ và đô thị
Thành thị ra đời có nhiều nguồn gốc khác nhau Các nhà nghiên cứu trên thế giới chủ yếu dựa vào chức năng để tìm hiểu về sự ra đời của thành thị Đó là các chức năng tài chính – thương mại về kinh tế, phòng vệ về quân sự, hành hương hoặc thần quyền về tôn giáo, cơ cấu tổ chức về chính trị, v.v
P George, một tác giả người Pháp, trong công trình Đô thị và sự kiện thành thị xuyên thế giới (1952) quan niệm thành thị được khai sinh từ môi trường thương mại, đến thế kỷ XIX trở thành môi trường kỹ thuật và nhân văn theo các nhu cầu và phương thức phát triển khác nhau Theo ông, đô thị có 5 loại hình mà chợ nhỏ là
dạng đô thị đầu tiên Thành thị xuất hiện chủ yếu ở các địa điểm thuận tiện để trao đổi thực phẩm hiếm (nhất là ở các cảng) hoặc trong các vòng thành Thế hệ đô thị
thứ hai là các thành thị thương mại trải qua các thời kỳ khác nhau từ cổ trung đại
đến cận đại, trước khi xuất hiện nền kinh tế công nghiệp và tiền TBCN thế kỷ XIX,
hình thành các mô hình thành thị thương mại và công nghiệp, thành thị thuộc địa do
Trang 15nhu cầu phát triển kinh tế TBCN thế kỷ XIX và XX và thành thị XHCN, trong đó
các chức năng hành chính và tổ chức sản xuất công nghiệp được chú ý nhiều hơn so với chức năng lưu chuyển hàng hóa và phân phối sản phẩm [Trần Ngọc Khánh
2010, tập bài giảng Văn hóa đô thị]
Nếu như chợ là nơi tập trung các hoạt động trao đổi, mua bán thì mọi thành thị đều có một hoặc nhiều trung tâm, là hạt nhân thu hút các hoạt động kinh doanh dịch
vụ Trong các thành thị lớn ở các nước phát triển, người ta gọi đó là khu vực trung tâm thương mại CBD (Central Business District), nơi tâp trung các hoạt động chủ yếu của thành thị như tài chính, thương mại, dịch vụ, hành chính, giao thông công cộng, kể cả công viên, phố đi bộ để thu hút các thành phần dân cư
Thành thị là nơi tập trung thu hút số đông dân cư cũng như nhiều thành phần dân cư, một đô thị càng có mật độ dân cư đông thì nhu cầu của người dân về chợ càng nhiều Người dân cần đến chợ trước hết để thỏa mãn nhu cầu sinh hoạt về vật chất, nhất là để phục vụ ba bữa ăn hàng ngày trong gia đình Cho nên, mỗi đô thị đều nhất thiết phải có một hoặc nhiều chợ trung tâm, ngoài ra còn cần phải có các chợ buôn bán nhỏ lẻ để cung ứng hàng hóa, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng cũng như sinh hoạt hàng ngày ở các khu dân cư
Ngay cả trong quá trình đô thị hóa, khi mà các mô hình thương mại và công nghiệp phát triển mạnh mẽ dẫn tới sự hình thành các cửa hàng, siêu thị, các trung
tâm thương mại sầm uất ở thành thị thì cũng không loại trừ sự có mặt của chợ truyền thống ngay ở trung tâm thành thị và nhất là trong các khu phố bình dân và khu lao động nghèo
Mối quan hệ giữa chợ và đô thị cũng được thể hiện ở việc phản ánh mảng văn hóa truyền thống Quá trình lịch sử vùng đất Nam Bộ cũng là quá trình hình thành
cư dân Nam Bộ: quy tụ tứ xứ, từ nhiều nguồn gốc xuất thân, từ nhiều tộc người Những lớp lưu dân đến vùng này trong những thời gian khác nhau, từ những hoàn cảnh lý do khác nhau, nhưng đều có một cách ứng xử chung Đó là giao lưu tiếp xúc, cởi mở về văn hóa nói chung và về lối sống, cách thức làm ăn nói riêng, đã làm cho đô thị ở Nam Bộ rất đa dạng về kinh tế - văn hóa, góp phần làm nhạt đi tính chất chính trị của các đô thị vùng này
Trang 16Chợ được coi là yếu tố văn hóa làng xã trong một đô thị có xu hướng phát triển hiện đại phi nông nghiệp Dù sống ở đô thị nhưng người dân vẫn muốn nắm bắt thông tin về xã hội, về thị trường qua chợ Thông qua chợ, chúng ta có thể thấy được tính đa chiều cạnh của văn hóa đô thị, và chợ là một thế giới kinh doanh truyền thống thu nhỏ trong một không gian đô thị rộng lớn
Như vậy, mối liên hệ giữa chợ và đô thị không chỉ thể hiện ở việc cung cầu và phát triển hàng hóa mà còn thể hiện mối dây liên kết chặt chẽ giữa thành thị và nông thôn, giữa truyền thống và hiện đại, giữa người giàu và người nghèo
1.2 Định vị chợ Nam Bộ theo trục tọa độ văn hóa
Trong quá trình hình thành và phát triển chợ không thể không nhắc tới lịch sử hình thành của chợ với những chủ thể hoạt động trong một không gian nhất định Vì vậy, việc vận dụng trục tọa độ văn hóa Chủ thể - Thời gian – Không gian là một yếu
tố cần thiết để làm nổi bật lên tính chất hoạt động của chợ truyền thống từ trước đến nay
1.2.1 Chợ Nam Bộ nhìn từ chủ thể văn hóa người Việt
Miền đất Nam Bộ trước đây đã từng tồn tại nền văn hóa Óc Eo, nhưng nền văn hóa này đã bị nhấn chìm và đời sống xã hội cổ đại thời đó cũng đã tàn lụi Kế đến là quốc gia Chân Lạp Vào thế kỷ XIII, lúc quốc gia Chân Lạp vẫn còn trong thời đại AngKor thì miền đất này vẫn còn “đầy rẫy rừng rậm rạp, đầm lầy, dã thú và không thấy bóng người” [Châu Đạt Quan 1973] Cho đến thế kỷ XVI, lưu dân người Việt
đã thâm nhập cửa ngõ của vùng đất mới lạ này Tuy nhiên, thời điểm đó, thiên nhiên ở vùng đất này cũng vẫn còn hoang dã, xa lạ và đầy hiểm nguy đối với những lưu dân đầu tiên đặt chân đến đây
Một vùng đất lạ lùng và hiểm nguy đúng như Châu Đạt Quan đã nhận xét:
“Đất ta càng về phương Nam càng là đất lưu đày, đất của những người không có quyền sống trên những mảnh đất đã được khai phá, vì vậy cũng là đất của những người nổi dậy? Miền Tây Nam Bộ là mảnh đất lưu đày và nổi dậy cuối cùng của Tổ quốc Đến đây là nơi sơn cùng thủy tận rồi Đến đây là đến bờ Tây Thái Bình
Trang 17Dương, vịnh Xiêm La mịt mù rồi Đến đây chỉ còn có hai con đường, một là không
đủ nghị lực sống nữa thì đâm đầu xuống biển mà chết, hai là cố bám lại, đấu tranh
để sống” [Châu Đạt Quan 1973]
Tuy vùng đất hoang dã như vậy, nhưng bằng lòng can đảm và nghị lực sống, lưu dân người Việt đã tập trung đoàn kết nhau lại cùng chung lưng đấu cật, đổ biết bao công sức khai phá vùng đất hoang sơ đó để lập làng, lập ấp Sơn Nam đã nói về buổi đầu chinh phục vùng đất hoang vu này: “Muôn vật đã vậy, con người tinh khôn và có tổ chức càng phải thích ứng với môi trường mới, để tồn tại và phát triển” [Sơn Nam 2006:192] Và lưu dân người Việt đã có một kỳ công chinh phục thiên nhiên thật vĩ đại, tạo ra một vùng đất không chỉ đơn thuần là nơi cất nhà làm chỗ trú chân, dung thân, mà còn tận dụng sự màu mỡ của đất để làm kinh tế rất tốt
Phần lớn cư dân người Việt đầu tiên thâm nhập vào cửa ngõ Nam Bộ là những người thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, nhưng cùng có chung một đặc điểm về tính cách là chịu khổ, chịu khó, kiên cường và dũng cảm Về mặt này, Trần Ngọc Thêm đưa ra nhận định: “Trên trục chủ thể, có thể nói những lưu dân đầu tiên từ miền Trung đi vào Nam Bộ là những hạt giống được chọn lọc tự nhiên một cách đặc biệt
Họ hoặc là những người thuộc tầng lớp cùng đinh nghèo khó nhưng thông minh, những kẻ tù tội, hoặc là những người thuộc tầng lớp trí thức bất đắc chí – trong bất
cứ trường hợp nào, tất cả họ đều có một điểm giống nhau là bản lĩnh, ngang tàng
Họ là những người dương tính nhất trong số những người Việt Nam âm tính” [Trần Ngọc Thêm 2006:5]
Trần Văn Giàu cũng cho rằng: “So sánh với người Trung Bắc, với Huế, Hà Nội, thì Gia Định – Sài Gòn là đất mới của Tổ quốc Người vào Nam khai hoang lập ấp hầu hết là người nghèo khổ dốt nát Đủ tinh thần thực tiễn mà thiếu chữ, đủ đạo đức làm dân, làm người mà không thuộc kinh truyện” [Trần Văn Giàu 1987:245-246]
Nhà văn Sơn Nam cũng có ý kiến tương tự khi ông tổng hợp trong công trình Đất Gia Định – Bến Nghé xưa, người Sài Gòn: “Những người di dân đầu tiên vào Nam là đủ mọi thành phần nhưng lại không có thương gia: đó là những người trốn
Trang 18thuế, người nông dân không đất, nô tì, điền nô, lưu dân, làm mướn, phạm tội bỏ trốn, bị xử lưu đày biệt xứ, trốn nợ, lính tráng, thậm chí còn có cả du thử du thực, lưu manh, đầu trộm đuôi cướp… chỉ có một số ít người được coi là có vật lực đứng
ra chiêu mộ người khác đi khẩn hoang, nhưng họ cũng chỉ là mấy người nông dân biết làm ăn hơn mà thôi”
Như vậy, chủ thể người Việt Nam Bộ đầu tiên tuy thuộc nhiều tầng lớp khác nhau, nhưng nhìn chung là những thành phần không phải vương tộc hay quyền quý
mà là những người thuộc tầng lớp bình dân, tầng lớp nghèo khổ hoặc đã đến bước
“đường cùng” nên phải rời xa quê hương để tìm tới mảnh đất mới sinh sống Chính
vì sự cùng đường nên khi xâm nhập vào vùng đất mới này, họ chỉ có một con đường trước hết là chiến đấu để giành sự sinh tồn trước thiên nhiên khắc nghiệt, sau đó là khai phá đất đai và bắt đầu làm kinh tế
Theo một số nguồn tài liệu cho biết, sau khi thời đại Angkor bị tàn lụi thì người Việt là một trong những tộc người sinh tụ đầu tiên và gắn liền với vùng đất Nam Bộ của Việt Nam Khi Nguyễn Hữu Cảnh vào kinh lược Đàng Trong năm
1698 (đó là cuộc kinh lý miền biên cảnh) thì khi ấy ở khu vực Gia Định, Đồng Nai đất đai đã mở rộng ngàn dặm, dân số đã có hơn bốn vạn hộ người Việt, đó là những người đầu tiên đi từ Đàng Ngoài vào từ thế kỷ XVI – XVII Họ khai phá đất đai, làm nông nghiệp và lập chợ để buôn bán, trao đổi hàng hóa Lúc đầu, họ phải khai phá rừng rậm để lập chợ buôn bán như “chợ Nguyễn Thực ở phía Tây trấn thự, cách
10 dặm, lập năm Đinh Mùi Túc Tông thứ 3 (1727), do người Quảng Ngãi tên là Nguyễn Văn Thực phá rừng rậm lập chợ ở đây, bèn thành chỗ tụ hội đông ở miền núi gò” [Trịnh Hoài Đức 1998:186]
Hàng hóa ở Nam Bộ vào thế kỷ XVII – XVIII đã được coi là dồi dào mặt hàng, phong phú về sản phẩm Đặc biệt, thời kỳ này Nam Bộ được mệnh danh là vùng “nhất thóc nhì cau”, bởi theo nhiều nguồn tài liệu thì hai mặt hàng nông sản này được coi là chủ lực, được bán ở chợ cũng như trên thị trường nhiều nhất Theo Sơn Nam thì lúc bấy giờ thóc gạo ở Nam Bộ được vận chuyển ra Phú Xuân – Thuận Hóa để trao đổi với thương nhân ngoài đó Lê Quý Đôn cũng có ý kiến tương tự:
Trang 19“Miền Gia Định có rất nhiều thóc lúa… hàng năm, cứ đến tháng Mười Một và tháng Chạp, người ta thường xay, giã thóc lúa thành gạo đem đi bán lấy tiền tiêu dùng vào những ngày lễ tiết, chạp giỗ Những lúc bình thường, người ta chuyên chở gạo thóc
ra bán tại thành Phú Xuân để đổi chác hay mua sắm những hàng vóc nhiễu, trừu đoạn của người Tàu” [Lê Quý Đôn 1973:136)]
Sau mặt hàng thóc gạo thì cau là mặt hàng nông sản đứng thứ hai ở Nam Bộ thời bấy giờ, cau được tiêu thụ rất mạnh trên thị trường hàng hóa Có thể do nhu cầu của người dân và phong tục ăn trầu cau còn rất phổ biến vào thế kỷ XVII – XVIII Một tác giả nước ngoài có viết: “Cau là nguồn lợi lớn ở xứ này, có vườn cau thì cũng như ở xứ chúng ta có ruộng ô liu vậy” (Borri, Cristophoro 1998:27) Về mặt này Trịnh Hoài Đức cũng có nhận xét: “Ở huyện Kiến Đăng và Kiến Hưng có những vườn cau sum suê Cau tương và cau khô nhà nào cũng có, chất chứa đầy sân, đầy lẫm để bán các nơi xa gần” [Trịnh Hoài Đức 1998]
Ngoài thóc gạo và cau, Nam Bộ lúc bấy giờ có rất nhiều mặt hàng thủy sản được bán chạy trên thị trường Theo Lê Quý Đôn thì nguồn lợi cá tôm ở vùng cửa Tiểu là rất lớn, nhiều đến nỗi người ta ăn không hết, phải luộc sơ qua rồi đem phơi nắng để làm khô, bán cho các bạn hàng Cá khô cũng được bán nhiều ở chợ An Bình Ở vùng Đồng Tháp Mười có cá, tôm ở sông rạch, chằm ao, đồng ruộng nhiều đến nỗi không kể xiết Trịnh Hoài Đức có viết: “Dân ở đây muối cá làm mắm, chặt tre kết bè, thuận dòng xuôi xuống bán tại các thị trấn” [Trịnh Hoài Đức 1972:63].Theo nhiều nguồn tài liệu cho thấy, vào đầu thế kỷ XVIII, hoạt động buôn bán hàng hóa ở Nam Bộ đã diễn ra rất mạnh mẽ Ngay từ thời đó, người dân đã tìm được nơi tiêu thụ hàng hóa cụ thể, thậm chí là xuất ra nước ngoài cũng như nhập về những mặt hàng mà ở Nam Bộ đang còn thiếu Tàu ghe buôn bán hàng hóa đi về tấp nập, thường xuyên với các mặt hàng đa dạng khác nhau Sơn Nam có thống kê một vài mặt hàng tiêu biểu được buôn bán ở chợ Cà Mau như sau: “Tại chợ Cà Mau nhập từ Kam–pốt có: thuốc lá, vôi ăn trầu, dầu chai (để trét ghe), ván đóng ghe, dưa hấu, khoai lang, đường, nước mắm, cau khô, và bán trở lại chiếu lác (cói), sáp ong (làm đèn sáp cúng chùa)… Chợ Cà Mau nhập về từ Hải Nam có: dầu phộng, lu to
Trang 20nhỏ (để đựng nước ngọt), tô chén, bàn ghế, heo con, và những mặt hàng từ Singapore có: vải, vật dùng bằng sắt, tơ lụa, đặc biệt là có á phiện (từ Ấn Độ) Khi Pháp vừa đến, lại có dầu lửa, trái chà là Cà Mau bán ra để chở về nam Trung Hoa nhiều nhất là gạo ngon, và để đưa xuống Singapore, nơi nhiều kiều dân Trung Hoa nào là cá khô, heo sống, tôm khô” [Sơn Nam 1997:35]
Đến cuối thế kỷ XVIII, ở Nam Bộ thì Sài Gòn được coi là một trung tâm
thương mại lớn nhất trên cả nước Theo Trịnh Hoài Đức, ông đề cập trong Gia Định thành thông chí rằng lúc bấy giờ, Gia Định là chỗ đô hội thương thuyền của cả
nước, cho nên trăm món hàng hóa phải tụ hội về đây Trên sông Bến Nghé, những tàu buôn và ghe thuyền lớn nhỏ của nước ta và nước ngoài đến đậu liên tiếp Như vậy, về mặt hàng hóa ở chợ thì Nam Bộ hầu như không thiếu thứ gì, thành phần người bán và người mua ở chợ cũng đa dạng và phức tạp, đúng với tính chất ồn ào, vồn vã của chợ “Ở trấn Phiên An (phần lớn người Tàu buôn bán), thuyền biển buôn bán đi về, cột buồm sát nhau, trăm thứ hàng hóa hợp lại, khiến chốn ấy là nơi đô hội lớn của đất Gia Định, cả nước không nơi nào bằng Thói quen buôn bán, nhiều người du đãng ở thành thị, có người ở thuyền gọi là người giang hồ, có người tụ họp
ở với nhau gọi là dân tứ chiếng (chiếng là chính) chỉ những người bốn phương phiêu lưu tụ họp với nhau” [Trịnh Hoài Đức1998]
Nền kinh tế thị trường bắt đầu manh nha thì vùng đất này được phát hiện như một vùng đất trù phú và thuận tiện cho việc giao thương buôn bán với các vùng khác Cho nên, ngoài chủ thể người Việt, một vài tộc người khác cùng cộng cư cũng tập trung về đây sinh sống và buôn bán hàng hóa như người Hoa, người Khơ Me,
người Chăm Trong cuốn Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức có mô tả:
“Gia Định là đất phương Nam của người Việt Khi mới khai thác, lưu dân nước ta cùng người Kiều ngụ như Đường, Cao Miên, người Tây Phương, người Phú Lang
Sa (Pháp), người Hồng Mao (Anh), Ma Cao (người Tây ở Ma Cao đến), người Bồ
Đà (Java)…ở lẫn lộn, nhưng về y phục, khí cụ thì người nước nào theo tục ấy” [Trịnh Hoài Đức 1998]
Trang 21Vì thế, các chợ ở Nam Bộ từ khi mới thành lập cho tới lúc thịnh vượng không chỉ có người Việt buôn bán mà còn có những tộc người khác cũng tập trung giao lưu trao đổi hàng hóa Về mặt này, Trịnh Hoài Đức có ghi chép cụ thể lại như sau:
“Ở chân núi Sum ở đất phủ Chân Sum nước Cao Mên, cách giữa sông Vĩnh Tế cách
bờ Tây bắc 10 dặm, hình núi như hoa sen cắm ở trên đất, ngọn chòm chót vót, hang hốc gồ ghề, mây trắng thường thường quấn quýt, là bởi vượng khí mỏ bạc nghi ngút lên Thổ sản thì có giáng hương, bạch truật, trầm hương, sa nhân, gỗ sao và các thứ vật quý, người Kinh, người Trung Quốc, người Cao Mên làm nhà ở liền nhau kết thôn họp chợ,…” [Trịnh Hoài Đức 1998] Như vậy, ngoài các mặt hàng chủ yếu là nông sản, thủy sản, thì các loại thổ sản khác cũng được buôn bán rất nhiều, tạo nên
sự trù mật, phong phú cho kinh tế hàng hóa thời bấy giờ
Trong các tộc người cùng sinh sống và buôn bán ở Nam Bộ lúc bấy giờ, cùng với người Việt thì người Hoa được xem là một trong những chủ thể buôn bán nhiều nhất ở Nam Bộ Mặt hàng họ thu mua đa số vẫn là lúa gạo, rau củ và gia súc, gia
cầm Sơn Nam có viết trong cuốn Lịch sử khẩn hoang Miền Nam như sau: “Một
thương cảng hình thành từ xưa, phỏng đoán là ở vùng Bãi Xàu (Mỹ Xuyên ngày nay), nơi sông Ba Xuyên ăn thông ra Hậu Giang Theo nhật ký của cố đạo Lavavasseur vào năm 1768 thì thương cảng này mang tên là Bassac thành lập ở mé sông Ở đây dùng tiền quan (quan 600 đồng của Việt Nam); một đồng bạc Con Ó trị giá 5 quan tức 3 ngàn đồng Chợ bán gạo, nhiều loại trái cây, rau, gà, vịt, heo Thuyền chủ toàn là người Hoa, dân ở chợ đa số là người Trung Hoa, quan cai trị là người Cao Miên Thuyền buôn đều là của người Trung Hoa, đậu san sát từ 100 đến
150 chiếc để mua gạo và mua đường Không hiểu họ đem tới đây bán món gì” [Sơn Nam 1997:52]
Tuy Nam Bộ là vùng đất đa tộc người nhưng chủ thể văn hóa chính của toàn vùng vẫn là người Việt Bên cạnh người Việt còn có người Khơ me và người Hoa là hai tộc người chiếm số đông Do vậy, đặc trưng văn hóa chủ đạo của các chợ Nam
Bộ là vùng đồng bằng sông nước (do yếu tố địa lý) và tiếp biến các yếu tố văn hóa
Trang 22của nhiều tộc người (người Khơ me, người Hoa, người Chăm…) Xét về mức độ, những đặc trưng chủ đạo này cũng là những nét đặc thù của vùng văn hóa Nam Bộ Đặc trưng đồng bằng sông nước cũng có mặt trong các vùng văn hóa đồng bằng Bắc Bộ và Trung Bộ, nhưng chỉ có ở Nam Bộ đặc trưng sông nước mới nổi lên thành một đặc trưng chủ đạo, chi phối toàn diện đời sống cũng như các thành tố văn hóa khác của các cộng đồng cư dân Và mặc dù các vùng văn hóa ở Bắc Bộ và Trung Bộ đều có tiếp biến văn hóa của các tộc người khác nhau, nhưng chỉ ở Nam
Bộ, văn hóa các tộc người cộng cư mới có sự khúc xạ văn hóa của cư dân Việt trong vùng đến mức làm cho nó trở nên vừa quen vừa lạ đối với chính người Việt đến từ miền Bắc, miền Trung
Điều này cho thấy, mặc dù ở chợ của người Việt Nam Bộ có sự pha trộn phức tạp về chủ thể người bán và người mua, nhưng bù lại đây là động lực để hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa có cơ hội phát triển tiềm tàng Về mặt này Sơn Nam cho rằng: “Nhờ vào yêu cầu khá to của thị trường rộng lớn, người khẩn hoang bước đầu được khích lệ lớn lao Cứ tạo nguồn hàng dồi dào, bảo đảm cạnh tranh về chất lượng Những mặt hàng tiêu dùng cần thiết đã có thương gia và mạng lưới phân phối đưa đến, nhỏ nhặt như trầu cau, đã sẵn vùng chuyên canh như Mỹ Tho, Mười tám thôn Vườn Trầu rồi Sáp, mật ong, lông chim bán cao giá, người ở rừng tràm
Cà Mau – Rạch Giá khai thác, bán lấy tiền mua vải, vôi ăn trầu, dân ở biển phía Tây mua từ Xiêm, rất ngon, để sẵn trong hũ (gọi vôi Xiêm)” [Sơn Nam 1997:35] Cho tới khi người Pháp cai trị ở Nam Bộ, thương nghiệp phát triển nhộn nhịp hơn Công cuộc đô thị hóa diễn ra nhanh chóng Lúc này tại các cụm dân cư có những mái nhà liền nhau, tường vách cũng nối nhau ôm lấy chợ và những bến bãi, càng tạo sự phồn thịnh cho việc phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa xuất khẩu
và nhập khẩu Thời kỳ đó, ngoài lúa gạo thì Nam Bộ còn mua thêm nông sản ở các nơi khác như: cà phê, cao su, hồ tiêu… để xuất sang nước ngoài, chủ yếu là nước Pháp Đồng thời họ cũng nhập về những mặt hàng tân tiến như các lại máy móc, xe
cộ (ô tô và xe gắn máy), vỏ xe, ruột xe, cũng như nhiều mặt hàng tiêu dùng khác
Trang 23Lúc này các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu hầu như được bày bán ở các chợ, hàng hóa ở Nam Bộ gần như không thiếu món gì
Tóm lại người Việt và những tộc người khác chinh phục vùng đất mới không chỉ để khai phá đất để ở, để sinh sống và đấu tranh sinh tồn, mà việc chinh phục ở đây đã trở thành một kỳ công vĩ đại, khi vùng đất mới này đã dần phát triển về thương mại vào bậc nhất trong cả nước Họ đã làm cho vùng đất này trù phú, ruộng đất bạt ngàn, do vị trí địa lý thuận lợi, thiên nhiên đặc biệt ưu đãi, công việc buôn bán phát triển nhanh chóng Điều đó cũng lý giải một phần tại sao tính cách của người Việt Nam Bộ trở nên vừa hào hiệp, vừa phóng khoáng lạ thường so với người Việt miền Bắc và miền Trung
Chủ thể người Việt và những tộc người khác sống ở Nam Bộ tuy cũng là những người tiểu nông định cư theo thôn ấp – làng xã kiểu truyền thống Việt Nam nhưng hình thù thôn ấp luôn phù hợp với môi trường sống của địa hình sông nước;
và thiết chế tổ chức xã hội của làng xã cũng ít bị khép kín với mối quan hệ “trong
họ ngoài làng” như người Việt sống ở miền Trung và miền Bắc Vì thế, tính cách và vai trò cá nhân luôn được thể hiện rõ Họ không dễ bị hòa tan trong cộng đồng làng,
xã mà có tính quyết định trong kinh tế gia đình Họ luôn thể hiện là những người mang tính cách năng động và khả năng hòa nhập với xã hội một cách tương đối nhanh chóng Hơn nữa, người Việt ở đây luôn mang thế chủ động Họ chính là những người khai phá, phát triển kinh tế cho chính mình, nên không bị vướng vào vòng “trọng nông ức thương” giống như người Việt Bắc Bộ
Với quan niệm Phi thương bất phú, nghề buôn được coi trọng là một thế mạnh
để thương nghiệp Nam Bộ phát triển ngày càng mạnh mẽ Điều đó cho thấy, ngay
từ thế kỷ XVII, nhiều thương cảng ở Nam Bộ đã nườm nượp ra đời và đâu đâu cũng trù mật như Trịnh Hoài Đức đã từng nhận xét “cả nước không đâu sánh bằng”
1.2.2 Chợ Nam Bộ nhìn từ thời gian văn hóa
Thực ra, thương mại ở Nam Bộ đã hình thành và phát đạt từ thời Phù Nam
Trong Lương Thư có viết: “Các nước ngoài biên cảnh đi lại buôn bán rất thường
Trang 24xuyên… Chợ ở đây là chốn Đông Tây giao hội; mỗi ngày có hơn vạn người”…
Trong Tấn Thư cũng viết: “Thuế má trong nước (Phù Nam) được trả bằng vàng,
bạc, ngọc trai, trầm hương” [dẫn theo Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường 1990] Sau khi vương quốc Phù Nam bị diệt vong thì thương mại nơi đây đã ngừng phát triển Tiếp đến là một nền thương mại mới ở Nam Bộ được chính người Việt trong quá trình khẩn hoang đã tạo ra những sản phẩm nông nghiệp và dùng nó làm mặt hàng để trao đổi mua bán, tạo tiền đề cho nền kinh tế hàng hóa phát triển ở Nam Bộ
Ngoài ra, vào thời điểm này, cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn cát cứ, một mặt làm cho nền kinh tế đất nước vốn đã lạc hậu lại càng khốn khó thêm; nhưng mặt khác, khách quan nó đã tạo nên những điều mới
mẻ, những động lực thúc đẩy nền kinh tế nước ta ở cả hai Đàng rẽ sang một hướng mới, một nền kinh tế hướng ngoại Từ thế kỷ XVII, Đàng Trong đã có giao lưu thương mại với các nước như Nhật Bản, Trung Hoa, các nước ở Đông Nam Á và xa hơn nữa là các nước ở phương Tây
Hình 1 Một ngôi chợ ở Nam Bộ giữa thế kỷ XIX
Ảnh từ nguồn Internet
Trang 25ổn định thì không lâu sau, người dân đã sớm có sản phẩm hàng hóa dư thừa để bán hoặc đổi lấy sản phẩm khác
Theo nhiều nguồn tài liệu cho thấy, cùng với sự mở mang đất đai về phía nam, các chợ cũng hình thành nhiều vì nhu cầu trao đổi hàng hóa Theo các số liệu đã thống kê cho biết các chợ lớn ở phủ gồm có: xứ Thuận Hóa có 5 chợ: chợ Dinh, chợ Sãi, chợ Cam Lộ, chợ Phả Lại, chợ Phú Xuân; phủ Thăng Hoa có 6 chợ: chợ Hội
An, chợ Khánh Thọ, chợ Chiên Đàn, chợ Phú Trạm, chợ Tân An, chợ Khấu Đáy; phủ Quy Nhơn có 5 chợ: chợ Yên Khang, chợ Tiên Yên, chợ Phúc Sơn, chợ Càn Dương, chợ Phúc An; phủ Gia Định có 5 chợ: chợ Lạch Cát, chợ Sài Gòn, chợ Phú Lâm, chợ Lò Rèn, chợ Bình An
Vào khoảng cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII, chợ đã hình thành ở khắp các tỉnh thành ở Nam Bộ với nhiều loại hình chợ như: chợ họp trên sông, chợ của những ghe buôn nhóm họp ở một giao lộ đường thủy, chợ lưu động bằng các ghe thuyền, chợ cố định trên đất liền… Các chợ ở đây trao đổi và buôn bán đa dạng các loại hàng hóa, trong đó nhiều chợ thuộc cấp dinh, cấp trấn phát triển và nhanh chóng tạo tên tuổi như: chợ Đồng Nai, chợ Bến Cá, chợ Đồng Sử, chợ Lò, chợ Bà Lân, chợ Thủ Đức, chợ Bà Rịa, chợ Đông Môn, chợ Lò Thiếc… thuộc Đồng Nai; chợ Bến Thành, chợ Sỏi, chợ Điều Khiển, chợ Nguyễn Thực, chợ Bến Nghé… thuộc trấn Phiên An (Sài Gòn); chợ Sông Tranh, chợ Cù Úc, chợ Hàng Xoi, chợ Cái Bè… thuộc trấn Định Tường Các chợ Long Hồ, chợ Ba Vát, chợ Mỹ Lồng, chợ Trà Vinh, chợ Hoàn Giang…thuộc trấn Hà Tiên Đó cũng là các chợ phát triển và buôn
bán sầm uất vào bậc nhất ở Nam Bộ lúc bây giờ (xem Hình 1)
Buổi ban đầu, đất đai còn nhiều rừng rậm nên người dân phải tập trung vào sản xuất nông nghiệp là chủ yếu và đó cũng là những sản phẩm chính mà người dân đem bán ở chợ Theo nhiều nguồn tài liệu, thì các chợ ở Nam Bộ xuất hiện đầu tiên phần lớn là ở nông thôn, lúc đầu chỉ là một nơi buôn bán nhỏ lẻ ở những khu vực tập trung đông dân hơn Sau đó, do việc tập trung di dân ở các vùng Mũi Xuy ( Bà Rịa), Đồng Nai, Bến Nghé (Sài Gòn) xuất hiện thì nhiều ngành hàng thủ công nghiệp cũng lần lượt ra đời và nhanh chóng tìm được hướng phát triển Ở những
Trang 26vùng có thế mạnh về mặt hàng nào họ sẽ tập trung phát triển và buôn bán về lĩnh vực đó Ví dụ, những vùng gần sông, biển thì xuất hiện nghề cá, làm muối, làm nước mắm, đánh bắt thủy hải sản Ở vùng ven núi thì có nghề săn bắt, lấy gỗ, làm mộc Ngoài ra còn xuất hiện các nghề thủ công như dệt cửi, đóng thuyền, làm đồ gốm, làm đường, dệt chiếu, đan lát, mở lò rèn,… đó cũng là cơ sở để tạo ra các làng nghề truyền thống Điển hình như xóm Lò Gốm mà theo nhận xét của Nguyễn Thị Hậu thì “bản đồ Thành Gia Định do Trần Văn Học vẽ từ cuối năm 1815 đã có ghi địa danh xóm Lò Gốm ở khoảng làng Phú Lâm – Phú Định (ngày nay là khu vực quận 6 tiếp giáp quộc 8) Bài “Phú cổ Gia Định phong cảnh vịnh” sáng tác khoảng đầu thế kỷ XIX miêu tả “lạ lùng xóm Gò Gốm, chân vò vò bản cổ xây trời” Trong
62 ty thợ tập trung tại Sài Gòn làm việc cho nhà nước vào cuối thế kỷ XVIII đã có các ty thợ lò Chum, ngói mộc, gạch mộc, lò gạch…”[Nguyễn Thị Hậu 2001:1]
Hình 2 Một vài chợ và làng nghề ở Nam Bộ, thế kỷ XVII – XVIII
Hình vẽ của Trần Văn Học Ảnh từ nguồn Internet
Trang 27Nguyễn Minh Hòa từng đề cập về vài làng nghề đã xuất hiện và phát triển ở thành phố Hồ Chí Minh mà hiện nay chỉ còn là địa danh: “chẳng hạn như Xóm Chiếu, chuyên dệt chiếu nay thuộc phường 12, 13, 14 của quận 4; xóm Chỉ, trước kia chuyên làm chỉ nay là phường 6, quận 5; xóm Củi nay thuộc quận 8 xưa kia là nơi chuyên bán củi lấy từ rừng ra; xóm Dầu ở quận 5 chuyên bán dầu; xóm Dệt ở phường 11 quận Gò Vấp chuyên sống bằng nghề dệt của cư dân gốc Quảng Nam; xóm Đệm buồm chuyên dệt đệm bằng lá buôn, dùng để làm buồm, nay thuộc phường Phạm Ngũ Lão, quận 1; xóm Giá chuyên làm giá từ đậu xanh ở gần chùa Cây Gõ, v.v…” [Nguyễn Minh Hòa 2007:94] Những làng nghề này, hiện nay chỉ
còn là địa danh còn nghề thì hầu như không còn tồn tại nữa (xem Hình 2)
Nhiều nguồn sử sách đã ghi nhận vào năm 1623, khi Chúa Nguyễn cho lập đồn thu thuế tại Sài Gòn và Bến Nghé thì chẳng bao lâu, quanh hai đồn thuế này hình thành nên chợ tạo ra cảnh trên bến dưới thuyền buôn bán khá thịnh vượng Năm
1698, khi Nguyễn Hữu Cảnh lập phủ Gia Định thì nhiều chợ đã bước vào thời kỳ phồn thịnh, như chợ Bến Thành, Sài Gòn: “Tàu ghe ở Hải Dương đến mua bán qua lại, cột buồm liền lạc, hàng hóa đủ trăm thứ, xưng là đại đô hội ở Gia Định cả nước không đâu sánh bằng” [Trịnh Hoài Đức 1998:148] Khi các dinh, trấn, được thành lập với hệ thống huyện, tổng, làng, thôn thì cũng là thời điểm các mạng lưới chợ phát triển rầm rộ nhất Nhiều nơi dù chưa đặt lỵ sở hành chính nhưng chợ vẫn phát triển mạnh mẽ Nhu cầu buôn bán phát triển trước khi hình thành đô thị, có nghĩa là
“thị” ra đời trước “thành” chứ không nhất thiết phải hình thành đô thị trước rồi mới
có các chợ lớn Điển hình như chợ Điều Khiển được thành lập từ năm 1731 mà theo
mô tả của Trịnh Hoài Đức thì “cách trấn thự về phía Nam hai dặm rưỡi, xưa trước nhà Điều Khiển nên gọi tên như thế…Ngày nay nha môn thay đổi mà tên gọi vẫn như thế, phố xá trù mật” [Trịnh Hoài Đức 1998: 183] Theo Huỳnh Minh thì chợ Điều Khiển chính là chợ Thái Bình ngày nay, ông nhận định rằng: “Về sau, khi quân Pháp xấm chiến miền Nam, cho sửa sang đường sá lại, xây cất thêm nhà cửa ở khoảng chợ Điều Khiển Các phố xá, hãng buôn của họ thiết lập ngày một nhiều Điển hình là hãng Blancsubé được mở ra ngay góc đường Prères Louis và Arras (trước 1975 là Võ Tánh – Cống Quỳnh), cho nên tên chợ Điều Khiển dần dần không
Trang 28còn ai nhắc tới nữa, mà lại lấy tên là hãng trên mà gọi là “Lăng Xi Bền”, rồi sau đổi thành chợ Thái Bình” [Huỳnh Minh 2006: 88 – 89]
Cũng ngay sau khi có chủ trương của nhà Nguyễn về khẩn hoang lập ấp, nhiều chợ đã ra đời và phát triển lớn mạnh, điển hình như chợ dinh Long Hồ (thành phố Vĩnh Long ngày nay) mà theo mô tả của Trịnh Hoài Đức thì: “Nhà phố nối liền nhau, bách hóa tụ tập dăng dài năm dặm, thuyền ghe suốt bến, đền thần, đình làng, đàn hát náo nhiệt Là chợ, phố lớn của trấn” [Trịnh Hoài Đức 1998:201] Đặc điểm chủ yếu của các chợ dinh, chợ trấn là nơi trao đổi hàng hóa tự sản xuất, tự tiêu thụ, giúp người dân có nơi tiêu thụ trực tiếp những nông sản do chính họ làm ra Mặt khác, họ cũng có thể mua về các loại mặt hàng cần thiết khác như đồ dùng gia đình, sản phẩm công nghiệp, thủ công nghiệp
Cũng theo nhiều nguồn tư liệu cho biết, ở Nam Bộ vào khoảng đầu thế kỷ XVIII thì chưa có các chợ lớn, chợ đầu mối và chợ chuyên doanh Lúc này, ngoài các chợ lớn ở các phủ, dinh, còn lại mới chỉ có các chợ chủ yếu là nhỏ lẻ, họp rải rác theo dọc kênh rạch và chợ lưu động trên các thuyền ghe luồn lách vào tận các nhà dân để trao đổi mua bán Có nghĩa là hoạt động giao thương và nhu cầu chợ đã phủ kín khắp các làng ấp Nam Bộ thời bấy giờ Điều này chứng tỏ rằng, từ khi có
sự xuất hiện của các thương nhân nước ngoài, nghĩa là có giao thương với các nước khác trên thế giới theo hướng mở thì thương mại đã phát triển nhanh chóng hơn, theo đó nhu cầu buôn bán lớn được hình thành và các chợ bán sỉ, chợ chuyên doanh cũng lần lượt ra đời nhằm cung ứng hàng hóa cũng như bắt kịp tiến độ phát triển của xã hội ở Nam Bộ Cuối thế kỷ XVIII, các chợ đã phát triển rất rầm rộ và buôn bán tấp nập, tạo sự rầm rộ về kinh tế hàng hóa cho cả một vùng Nam Bộ “Vào năm
1772, bên cạnh và rải rác xung quanh những đồn và dinh đó đã có chợ, hàng quán, thuyền bán hàng lưu động chạy khắp các ngõ ngách theo các kênh rạch” [Nguyễn Minh Hòa 2007:68]
Chợ ra đời và ngày càng phát triển lớn mạnh như nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cho rằng: “Kể từ năm 1772, Sài Gòn là một thành phố đúng nghĩa từ nguyên của thành và phố Riêng việc buôn bán tập trung thóc gạo và các nông sản
Trang 29khác đã thu hút tàu bè tứ xứ Các phố xá và chợ ngày càng nhiều và đông đúc” [Nguyễn Đình Đầu 1998:18]
Sau chợ cấp dinh, cấp trấn, thì các chợ cấp huyện nối tiếp ra đời và phát triển, tạo dựng được thanh thế và giàu có cho các địa phương như chợ Cái Bè (Định Tường), chợ Trà Vinh (lỵ sở Trà Vinh), chợ Sa Đéc (huyện lỵ Vĩnh An)… Mỗi chợ đều mang một không gian rộng lớn và đa dạng về hàng hóa Chợ Sa Đéc được miêu
tả như sau: “chợ Sa Đéc ở phía Đông huyện lỵ Vĩnh An, phố chợ ở ven sông nhà nối liền nhau, san sát như vảy cá, dăng dài năm dặm Bè tre ở dưới sông cũng dựng nhà san sát thành hàng Chỗ thì bán lụa đoạn, đồ dùng Nam, Bắc, chỗ thì bán các thứ như dầu rái, than gỗ, mây tre, muối mắm, trên bờ dưới sông hàng hóa choáng mắt say lòng, thực là đất phồn hoa” [Trịnh Hoài Đức 1998:202]
Bước sang thế kỷ XIX, các chợ ở Nam Bộ đã phát triển có quy mô hơn và được kiểm soát kỹ càng hơn, lúc bấy giờ các chợ đã có xu hướng buôn bán với các nước khác nhiều hơn Năm Gia Long thứ 12 (1813) Cần Thơ là nơi trù mật với nhiều ngôi chợ lớn nhỏ, trong đó đáng chú ý là ba ngôi chợ lớn: “Chợ Sưu ở gần bến sông Cần Thơ, chợ Tân An ở gần bến sông Bình Thủy và chợ An Đông ở gần sông Ô Môn” [Huỳnh Minh 2000] Buôn bán lại được nhà nước khuyến khích nhiều hơn bằng cách giảm thuế cho các thương nhân Theo Sơn Nam, “năm 1825, đời Minh Mạng, có nhiều thuyền đưa gạo từ Xiêm vào Hà Tiên là nơi ít ruộng, nhà vua đưa ra chủ trương đánh thuế nhẹ để khuyến khích Đại để, nếu thuyền Xiêm chở 8/10 gạo thì hoàn toàn miễn thuế; chở 5/10 miễn 7/10 thuế Ta giải thích dễ dàng: gạo từ Mỹ Tho, Sa Đéc có dư nhưng chuyên chở đến Hà Tiên quá tốn kém, đường xa…” [Sơn Nam 2007:35]
Lúc này, các tỉnh thành ở Nam Bộ cũng đã có sự liên kết trong giao dịch mua bán Sơn Nam có nhận xét về hoạt động thương mại thời kỳ này như sau: “Ta đã nhứt trí về kiểu kinh tế hàng hóa ở đồng bằng Những kho hàng Cù Lao Phố, rồi Chợ Lớn, kho hàng Hà Tiên, Mỹ Tho, Bãi Xàu (Sóc Trăng) hoạt động thường xuyên nhờ hệ thống chân rết Miền Đông Nam Bộ có đón nhận lúa gạo và thịt khô, ngà voi của rừng Camphuchia, Hà Tiên gom đậu khấu, hồ tiêu, thịt khô, ngà voi,
Trang 30những mặt hài sản như bong bóng cá, vi cá, tôm khô, cá khô… Mỹ Tho liên lạc với
Sa Đéc và lên Phnôm Pênh dễ dàng nhờ sông Tiền” [Sơn Nam 2007:33 – 34]
Tại Nam Bộ, vào giữa thế kỷ XIX, hệ thống các chợ tại các địa phương đã hình thành như mạng lưới Tại Nam Bộ vào thời kỳ này có tất cả “93 chợ với các quy mô khác nhau: Gia Định có 12 chợ, An Giang có 12 chợ, Vĩnh Long có 19 chợ, Định Tường có 17 chợ, Hà Tiên có 14 chợ và Biên Hòa có 19 chợ” [Nguyễn Chí Bền 2005:50] Có thể nói, chợ không thể thiếu vắng trong đời sống của con người nơi đây bởi tính tiện ích của nó và đã thực sự trở thành nơi trao đổi, mua bán hàng hóa sản phẩm trong vùng và ra cả khu vực Cùng với vai trò trung chuyển hàng hóa, nhiều chợ trở thành chợ đầu mối ở một số nơi có vị trí thuận tiện có thể vận chuyển hàng hóa bằng các phương tiện khác nhau Không phải ngẫu nhiên mà chính quyền Pháp xây dựng tuyến đường sắt đầu tiên ở Đông Dương dài 71km từ Sài Gòn về Mỹ Tho vào năm 1885 Đây chính là con đường để vận chuyển lương thực, hàng hóa từ các tỉnh từ miền Tây Nam Bộ về thủ phủ Sài Gòn mà Mỹ Tho được chọn là trạm tập
kết, trung chuyển (xem Hình 3 và 4)
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, người Pháp đến Việt Nam và tiến hành khai thác lớn phía bờ Tây sông Hậu, với chủ trương “đào kênh, lập chợ, mở lộ xe” Con kinh xáng Xà No nối Cần Thơ – Rạch Giá đã hoàn thành vào năm 1901 - 1903 mở
ra thời kỳ phát triển lớn mạnh về nông nghiệp, công nghiệp, đặc biệt là thương nghiệp Những con kênh được đào đã tạo điều kiện cho nhiều chợ nổi ra đời và thông thương thuận tiện bằng đường thủy “Vào đầu thế kỷ XX, người Pháp đào xong cụm kênh Ngã Bảy Năm 1916, quận lỵ Phụng Hiệp ra đời Những năm trước
đó, chợ Phụng Hiệp – Ngã Bảy hình thành trở nên sung túc Bảy ngã sông tỏa đi bảy hướng và hội tụ người tứ xứ tìm về làm ăn: kinh Cái Con nối từ sông Hậu vô, kinh Lái Hiếu đi về miệt Long Mỹ - Rạch Giá, kinh Mương Lộ cặp theo lộ xe đến Sóc Trăng, kinh Mang Cá rẽ qua Kế Sách, kinh Xẻo Vông ngược lên Cần Thơ, kinh Xẻo Môn vô cánh đồng Sậy Níu Và, kinh Quan Lộ xuống Ngã Năm, Bạc Liêu, Cà Mau… Từ cụm kinh Ngã Bảy, người ta có thể đến khắp Nam Kỳ lục tỉnh bằng đường thủy và ngược lại” [Nhâm Hùng 2009:116]
Trang 31Hình 3 Chợ Mỹ Tho khoảng cuối thế kỷ
XIX Ảnh từ nguồn Internet
Hình 4 Chợ Bạc Liêu khoảng cuối thế kỷ
XIX Ảnh từ nguồn Internet
Theo Nhâm Hùng, “sau khi hoàn thành cụm kênh Ngã Bảy… Pháp tiếp tục đào kênh Quan Lộ ăn xuống Bạc Liêu, Cà Mau Đoạn giữa hình thành cụm kinh Ngã Năm Vùng Ngã Năm dân cư khắp nơi về sinh sống, dần trở nên đông đúc…
Từ khi giao điểm Ngã Năm hình thành, chợ Ngã Năm ra đời kể cả trên bờ dưới sông” [Nhâm Hùng 200:121] Khu vực chợ Ngã Năm ngày nay thuộc thị trấn Ngã Năm – Sóc Trăng, là giao điểm của năm con sông hướng về năm ngã: Phụng Hiệp,
Cà Mau, Vĩnh Quới, Long Mỹ, Thạnh Trị, thu hút nhiều người chuyên chở hàng hóa của mình đến đây trao đổi tạo nên không khí rôm rả của một chợ nổi trên sông với nhiều mặt hàng chủ yếu là hàng nông thủy sản do người dân làm ra Cuộc sống của con người cũng có phần thay đổi theo chiều hướng phát triển: “Chợ Ngã Năm là nơi giao lưu và hội tụ, trạm trung chuyển hàng hóa, người ở Ngã Năm sống khá giả” [Sơn Nam 2007:126] Theo mô tả của Sơn Nam, chợ Ngã Năm lúc bấy giờ
“buổi sáng lúc nhóm chợ xuồng ghe tấp nập đến nỗi chúng ta có thể đi một vòng qua năm con kênh xáng, bằng cách bước chuyển từ xuồng này sang ghe kia đậu sát bên… xuồng câu tôm, ghe vòm, ghe chài lớn, tam bản…” [Sơn Nam 2007:122] Thời kỳ này, nhiều chợ lớn đã hình thành và phát triển lớn mạnh cùng với các chợ đã hình thành trước đó tạo một không khí thương mại náo nhiệt ở Nam Bộ
“Chợ Cái Răng (sát Cần Thơ) tuy danh nghĩa là chợ làng, đã phồn thịnh vượt mức,
dự trữ một phần lớn lúa gạo của phía Hậu Giang, công sở của làng to như công sở của thị trấn, rạp hát, nhà lồng chợ không kém những tỉnh lỵ nhỏ” [Sơn Nam 2007:
Trang 32149] Dưới sự ảnh hưởng của chế độ thực dân Pháp, kinh tế phát triển nhộn nhịp hơn Họ nâng cấp những chợ cũ trước đó và xây dựng thêm nhiều chợ mới Theo đó các khu phố - chợ - bến ở các chợ lớn ngày càng sôi nổi, tạo thế lớn mạnh của kinh
tế thị trường dưới thời Pháp thuộc
Bước sang nửa cuối thế kỷ XX, thời kỳ 1954 -1975, Nam Bộ phụ thuộc vào viện trợ của Mỹ Lúc này Mỹ mở cửa cho các nước tư bản như Pháp, Đức, Nhật Bản… đầu tư ồ ạt vào miền Nam Thương nghiệp và dịch vụ lại được dịp phát triển mạnh mẽ hơn, tập trung chủ yếu ở Sài Gòn “Đến tháng 1 năm 1975 toàn thành phố
có khoảng 1685 công ty thương nghiệp lớn, trong đó có 975 công ty xuất nhập khẩu, 220 khách sạn, 366.000 hộ tiểu thương, hàng trăm chợ lớn, nhỏ, hàng vạn cửa hàng lớn nhỏ” [Tạp chí xây dựng Đảng 1998:64]
Sau khi giải phóng đất nước, thời kỳ 1975 – 1985, chính sách “ngăn sông, cấm chợ” đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển thương nghiệp Nam Bộ, hoạt động buôn bán bắt đầu bị trì trệ, tình trạng lưu thông hàng hóa tự do trên thị trường giữa các địa phương bị ngăn cấm do chính sách trên Hàng hóa lúc này trở nên khan hiếm, chợ hầu như chỉ phục vụ cho bộ phận lớn người dân khá giả, còn số đông dân nghèo hầu như chỉ nhận hàng hóa theo tiêu chuẩn chế độ phân phối của Nhà nước Sau khi xóa bỏ chính sách “ngăn sông, cấm chợ” chuyển sang cơ chế thị trường thì hoạt động thương nghiệp lại phát triển lớn mạnh trở lại Đây là giai đoạn thịnh vượng của chợ truyền thống với đa dạng các mặt hàng được bày bán Lúc này, mạng lưới chợ truyền thống ở Nam Bộ đã hình thành rất nhiều bao gồm các chợ lớn, nhỏ Tính đến năm 1999, số lượng chợ ở Nam Bộ đã tăng vượt bậc Theo kết quả điều tra mạng lưới và lưu lượng hàng hóa chợ năm 1999, ở Nam Bộ có tổng
2368 chợ cả mới và cũ; trong đó, Đông Nam Bộ có 886 chợ, thành phố Hồ Chí Minh 304 chợ, đồng bằng sông Cửu Long (Tây Nam Bộ) có 1.178 chợ, tất cả tạo thành một mạng lưới chợ dày đặc và liên hoàn trong quá trình trao đổi, lưu thông
hàng hóa (xem Bảng 1)
Trang 33Thời gian Đông Nam Bộ TP Hồ Chí Minh Tây Nam Bộ
Bảng 1 Số lượng chợ ở Nam Bộ năm 1999 Nguồn từ Tổng cục Thống kê
Đặc biệt vào khoảng 10 năm trở lại đây, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, kinh tế chuyển đổi theo cơ cấu kinh tế thị trường, mở rộng quan hệ hợp tác đối ngoại thì thương nghiệp lại được đà khuếch trương lớn mạnh hơn Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt Một số bộ phận dân cư giàu lên nhanh chóng, điều này mang đến nhu cầu mua sắm cũng hiện đại và cao cấp hơn, dẫn đến những thay đổi rõ rệt trong quá trình mua bán, trao đổi hàng hóa của người dân Việc ra đời hàng loạt các siêu thị, hệ thống siêu thị và các trung tâm thương mại đã phản ánh rõ điều đó, về vấn đề này chúng tôi xin được đề cập sâu hơn trong chương 4 của luận văn
Tóm lại, Nam Bộ có được sự phát triển vượt bậc về thương mại như vậy cũng
có thể nói do người Việt ở Nam Bộ đã sớm thoát khỏi vòng “trọng nông ức thương” như người Việt Bắc Bộ, có tinh thần thoáng mở, hào phóng Sự phát triển vượt trội
về kinh tế hàng hóa ở các chợ Nam Bộ một phần đã thúc đẩy kinh tế thương mại phát triển mạnh mẽ, cùng với nền văn minh công nghiệp đã kích thích xu hướng đô thị hóa ở Nam Bộ Quá trình đô thị hóa cũng đã làm thay đổi diện mạo trong đời sống văn hóa – kinh tế - xã hội, trong đó không loại trừ làm biến đổi hoạt động của các chợ truyền thống
Trang 341.2.3 Chợ Nam Bộ nhìn từ không gian văn hóa
• Không gian địa lý Nam Bộ
Vùng văn hóa Nam Bộ gồm 19 tỉnh được chia thành hai tiểu vùng là Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ: các tỉnh Tây Ninh, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước,
Bà Rịa – Vũng Tàu, thành phố Hồ Chí Minh thuộc miền Đông Nam Bộ Các tỉnh Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, An Giang, Kiên Giang, Bạc Liêu, Cà Mau thuộc miền Tây Nam Bộ
Về địa hình, đây là vùng đồng bằng sông nước rất đặc trưng, có tổng diện tích 61.300 km2 và có độ phì nhiêu cao nhất trong tất cả các đồng bằng nước ta Toàn vùng có khoảng 4.000 kênh rạch với tổng độ dài khoảng 5.700 km tạo thành mạng lưới đường thủy chằng chịt Hai hệ thống sông lớn nhất của vùng là hệ thống sông Đồng Nai và hệ thống sông Cửu Long Hệ thống sông Đồng Nai ở khu vực Đông Nam Bộ có lượng phù sa khá thấp, tốc độ bồi lắng ven biển khá chậm, nhưng nhờ lòng sông sâu nên là nơi tập trung các cảng chính của khu vực như cảng Sài Gòn, cảng Cát Lái, cảng Hiệp Phước, cảng Phú Mỹ Vì tập trung các cảng lớn nên thương mại xứ miền Đông phát triển hơn miền Tây và thu hút nhiều sự đầu tư trong nước
và nước ngoài Chính vì vậy, mà mật độ dân số tập trung đông hơn, nhu cầu trao đổi hàng hóa cũng cao hơn và đó là lý do ở miền Đông, hệ thống các chợ ra đời dày đặc hơn so với miền Tây
Hệ thống sông Cửu Long đóng vai trò quan trọng trong quá trình hình thành đồng bằng sông Cửu Long Với lượng nước trung bình hàng năm vào khoảng 4000
tỷ mét khối, vận chuyển khoảng 100 triệu tấn phù sa, sông Cửu Long đã phối hợp với biển Đông để tạo ra những vạt đất phù sa phì nhiêu dọc theo hai bên bờ các con sông Các giồng cát ven biển và đất phèn lắng tụ trầm tích, những đầm lầy trũng mặn và tương đối thấp như vùng Đồng Tháp Mười, tứ giác Long Xuyên, tây nam sông Hậu và bán đảo Cà Mau Với đất đai màu mỡ và chuỗi sông rạch chằng chịt nên thương mại ở miền Tây Nam Bộ chủ yếu phát triển về nông nghiệp như: lúa gạo, trái cây, rau quả tươi…và mạng lưới chợ ở đây cũng hình thành một cách đặc
Trang 35biệt, đó là chợ nhóm trên sông, vận chuyển, mua bán trao đổi hàng hóa chủ yếu cũng trên sông Về mặt này, một nhà nghiên cứu có nhận định rằng: “Trên trục không gian, ban đầu trung tâm động nằm ở Bắc Bộ (văn hóa Đông Sơn, văn hóa Đại Việt), đến thời Nguyễn trung tâm động chuyển vào Trung Bộ (kinh đô Huế, các thành phố cảng ven biển miền Trung) Hiện nay với kinh tế thời mở cửa, trung tâm động nằm ở Nam Bộ (điển hình là thành phố Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ) Sự hình thành văn hóa Nam Bộ, trong cả thời gian lẫn không gian, đã gặp tính mở - thoáng và tính năng động của phương Tây Về không gian, Nam Bộ là cửa ngõ của Việt Nam tiếp xúc với các luồng giao thông đường biển từ phương Tây tới” [Trần Ngọc Thêm 2006:7]
Tuy thương mại ở miền Đông phát triển hơn miền Tây, nhưng văn hóa đặc trưng của Nam Bộ lại tập trung chủ yếu ở miền Tây Trước hết, không gian địa lý ở miền Tây là một vùng sông nước với những con kênh, con rạch đan xen vào nhau Những hoạt động hàng ngày của người dân luôn gắn liền với những con sông, dòng nước Sông nước đã biến nơi đây thành một vùng “văn hóa nổi” Tất cả cuộc sống người dân đến những hoạt động mua bán, trao đổi hàng hóa luôn trôi nổi, bồng bềnh trên sông, trên kênh rạch Ở miền Tây, hầu như nhà nào cũng có chiếc thuyền hoặc ghe, đó là phương tiện để làm ăn sinh sống Họ lập nghiệp bằng những con thuyền
ghe ấy, có khi buôn bán rày đây mai đó tạo nên đời sống thương hồ “gạo chợ nước
sông” Họ coi thuyền như nhà mình, có khi nhiều con thuyền gộp lại thành khu dân
cư nổi trên sông Ngay từ những buổi đầu, Trịnh Hoài Đức nhận xét về Nam Bộ như sau: “Ở Gia Định chỗ nào cũng có ghe thuyền, hoặc dùng thuyền làm nhà ở, hoặc để đi chợ, hoặc để đi thăm người thân thích, hoặc chở gạo củi đi buôn bán rất tiện lợi Ghe thuyền chật sông, ngày đêm đi lại không ngớt, mũi thuyền, mui thuyền liền nhau” [Trịnh Hoài Đức 1998]
• Không gian văn hóa Nam Bộ
Nói đến không gian văn hóa Nam Bộ thì không thể không đề cập đến nơi tụ cư (tức là làng) của người Nam Bộ, vì đây là một trong những điều kiện để hình thành nên chợ quê Nam Bộ Nhìn chung, không gian tổ chức làng của người Việt Nam
Trang 36Bộ, ở góc độ thiên nhiên, điều đập ngay vào mắt người quan sát chính là từng địa điểm định cư của người Việt Nam Bộ Họ rất thích ứng với thiên nhiên bởi con người lựa chọn những nơi thích hợp để định cư nhằm tạo sự thích nghi với thiên nhiên rất chặt chẽ Nguyên nhân cũng bởi vùng đất này trước khi người Việt đặt chân đến là vùng đất hoang vu, việc đầu tiên của những người lưu dân mới là ngoài việc chinh phục thiên nhiên họ còn phải học cách thích ứng với thiên nhiên Như đã nói, buổi ban đầu, lưu dân chọn những giồng (gò đất cao và dài) làm đất đứng chân, làm tụ điểm, để thỏa mãn hai điều kiện vừa có nước ngọt, vừa cao ráo, giúp cho con người tránh được các loại côn trùng, rắn rết Nó hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu sống còn đầu tiên của người dân mới đến khai phá một vùng đất lạ Tại những giồng đất cao ráo này, người Việt tiến hành chặt cây phát hoang để cất nhà ở, trồng rau màu ngắn ngày; và để có nước ngọt tưới tiêu, họ đào ao lấy nước và ban đất xuống thấp để lấy nước từ sông rạch vào dễ dàng hơn Quá trình này diễn ra lâu dần đất giồng tương đối hạ thấp xuống thành đầm lầy, đất trũng phù hợp cho phát triển nông nghiệp
Cũng về địa điểm định cư, người Việt khi xuống đất trũng lập làng còn chịu ảnh hưởng của sông nước, người định cư ở làng ven biển của lưu dân làm nghề chài lưới, dọc hai bờ sông còn có loại làng lập gần nơi giáp nước Thuyền ghe xuôi ngược buôn bán thường nghỉ lại đây, chờ con nước lớn để thuận tiện khởi hành ra sông lớn Làng mạc mọc lên ở những nơi này, bởi thế ở đâu là nơi giáp nước, ở đó trên bờ đều là thị trấn, chợ búa, tiệm ăn… lâu dần hình thành nơi buôn bán và phát triển thành chợ
Làng người Việt Nam Bộ tuy lập muộn hơn rất nhiều so với làng người Việt Bắc Bộ, nhưng làng người Việt Nam Bộ lại là nơi sớm tiếp xúc với nền kinh tế hàng hóa Điều đó có thể nói, hệ thống sông rạch chằng chịt là một đóng góp khách quan trong việc phát triển kinh tế thương mại Nam Bộ Nếu người Việt Bắc Bộ luôn có định kiến với nghề đi buôn thì người Việt Nam Bộ lại luôn khuyến khích người dân làm thương mại, nâng tầm nghề buôn bán thành “đạo”, được biểu hiện qua lời ca dao rất quen thuộc của người thương lái Nam Bộ:
Trang 37Đạo nào vui bằng đạo đi buôn Xuống biển lên nguồn gạo chợ nước sông
Tính cách rộng mở như vậy khiến người nông dân có điều kiện làm quen với những không gian làm ăn rộng lớn từ tỉnh này sang tỉnh khác, tạo cơ hội cho họ tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau, trong đó ngoài văn hóa của các tộc người cùng cộng cư còn có cả văn hóa của những nước xa xôi như ở phương Tây Do đó,
họ học hỏi được nhiều kinh nghiệm khác nhau, cả trên phương diện bán buôn và các phương diện khác, chứ không bị cầm chân lòng vòng quanh quẩn sau những lũy tre làng như người Việt Bắc Bộ
Từ những đặc điểm về thiên nhiên bao la rộng lớn, đặc điểm về nơi tụ cư sinh sống, đặc điểm về tính cách hào phóng, rộng rãi của người Việt Nam Bộ đã có ảnh hưởng không nhỏ đến không gian của mỗi khu chợ Nếu quan sát kỹ những khu chợ của người Việt ở miền Tây Nam Bộ, ta có thể thấy đó là những khu chợ rất thoáng
mở, không bị bó hẹp bởi diện tích, ít có sự cạnh tranh về vị trí bán buôn Đó là điều kiện rất lý tưởng để mở ra một không gian họp chợ đầy màu sắc ở các chợ của người Việt Nam Bộ
Hệ thống kinh rạch chằng chịt ở Nam Bộ đã góp phần vào việc sớm hình thành
nền kinh tế hàng hoá ở nơi đây, cùng với “chất xúc tác của một đô thị buôn bán lớn
nhất nước: Sài Gòn – Chợ Lớn, người Nam Bộ, từ thành thị đến nông thôn, không hề
nuôi lòng kỳ thị đối với buôn bán” [Nguyễn Phương Thảo 1997:23]
• Không gian họp chợ của người Việt Nam Bộ
Chợ ở Nam Bộ mang đặc trưng của vùng sông nước Đặc biệt ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, các chợ ở đây đều có chung một đặc điểm về vị trí, đó là hình thành ngay trên ngã ba, ngã tư sông Vị trí nào có nhiều nhánh sông hội tụ thì quy mô, không gian, mật độ mua bán càng dày đặc, số lượng tàu ghe xuôi ngược tấp nập Nhìn chung chợ ở miền Tây Nam Bộ thường bày bán những mặt hàng nông nghiệp như lúa gạo, rau củ quả, cá tôm, các thực phẩm đã chế biến hoặc chưa qua chế biến và cả những động vật như rắn, chim, thú Nhìn toàn cảnh một khu chợ
Trang 38như một bức tranh với đa dạng màu sắc, phản ánh đời sống dồi dào về vật chất và cũng rất phóng khoáng về tinh thần
Đi vào không gian cụ thể của các chợ Nam Bộ mới thấy được quy mô rộng lớn của một số chợ, có thể nói vượt xa tầm quan sát của mắt thường Ví như chợ nổi Ngã Năm, ngay từ khi hình thành gần một trăm năm trước, diện tích rộng lớn, hầu như chiếm hết diện tích ở tận điểm hội tụ của năm nhánh sông Như nhà văn Sơn Nam nhận xét về chợ Ngã Năm như sau: “Chợ Ngã Năm sung túc hơn nhiều huyện
lỵ, có thể nói là phồn thịnh hơn cả tỉnh lỵ Hà Tiên Nhà vựa cá, trại cưa, trại xuồng, trại hòm, chành lúa, nhà máy xay… mọc lên nhanh chóng” [Sơn Nam 2007:122] Không chỉ có không gian rộng lớn, các chợ Nam Bộ thành lập từ những thế kỷ trước đã tỏ ra rất sung túc, trù mật, mật độ mua bán dày đặc không kém gì chợ ngày nay Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hòa Đức miêu tả về chợ Cây Đa như sau: “Chợ Cây Đa (thung dung thị) ở phía nam trấn thự, ở chân trại bên hữu của thành lớn, dưới có cây đa cổ, cành lá xòa ra đến nửa mẫu, người buôn họp chợ ở đấy Cứ canh tư thì người miền núi cầm đuốc gánh đội dưa, quả, đậu đến họp chợ ở đầu phía tây, người buôn mua đem về Đến sáng ra, thì đằng đầu chợ, phía nam, phía bắc đường phố, cá thịt hàng hóa mới đến bày, mua bán đến chập choạng tối mới tan” [Trịnh Hoài Đức 1998:184]
Một vài chợ ở Nam Bộ xưa lại không chỉ thuần túy là nơi buôn bán vật chất phục vụ nhu cầu hàng ngày của người dân mà còn là nơi hội tụ các hoạt động khác như quân sự, du lịch… tạo nên sự pha trộn giữa kinh tế và văn hóa rất đặc trưng:
“Chợ Bến Thành nhà cửa trù mật, theo ven sông họp chợ Ở đầu bến, lệ cứ tháng đầu xuân ngày Tế Mã, thì diễn duyệt thủy binh, bên có đò ngang tiếp chơi khách ngoại quốc lên bờ Đầu bắc có ngòi Sa Ngư bắc cầu ván ngang ngòi, hai bên cầu có phố ngói bách hóa tụ họp Ven sông thì thuyền buôn lớn nhỏ đi lại nườm nượp” [Trịnh Hoài Đức 1998:184]
Chợ với phong cách riêng, đặc trưng như một sản phẩm nào đó làm nổi tiếng một chợ thì ở Nam Bộ ngay từ xưa đã có Nhiều sản phẩm nông nghiệp nổi tiếng đã trở thành thương hiệu hàng hóa khắp vùng gần xa đều biết và đến nay vẫn còn tồn
Trang 39tại Có thể kể đến như “Chợ Phú Lương (tục danh chợ Bến Tranh) ở phía đông trấn thự cách hơn mười bốn dặm, nhà ở đông đúc Bánh Đa (tục danh bánh tráng) chợ này dày to, thơm, xốp, giá bán cũng rẻ, những người qua lại tất mua để làm quà, xa gần nổi tiếng” [Trịnh Hoài Đức 1998:185]; hoặc “Chợ Hưng Lợi ở phía nam sông Bảo Định nhà san sát như vảy cá Chợ trông xuống sông lớn, người đi lại thường ghé thuyền đợi nước thủy triều để theo dòng nước mà đi xuôi ngược, cho nên sông này nhiều thuyền nhỏ bán thức ăn quý, cũng có khi bán thịt chín, gọi là thịt Bái Đáp Bởi vì xã Bái Đáp huyện Quảng Điền kinh Phú Xuân làm nghề mổ lợn, bán nước luộc thịt có cách riêng ăn rất ngon lành” [Trịnh Hoài Đức 1998:188]
Sự nhộn nhịp, sung túc của các chợ Nam Bộ đã từng để lại ấn tượng đối với những thương nhân nước ngoài tới đây buôn bán, phải chăng đây là một trong những yếu tố làm cho văn hóa chợ Nam Bộ thêm đặc trưng? Theo nguồn tài liệu của Nguyễn Thừa Hỷ, năm 1794, một thuyền nhân Nhật Bản có tên Kondo Morighiga, thuyền của ông bị bão trôi dạt vào cảng Sài Gòn, đã miêu tả lại một phiên chợ ở Nam Bộ như sau: “Ở thành phố, có độ bảy hoặc tám chợ mà người ta gọi là Tân Đất Một bức lũy cao bọc hoàn toàn những khu chợ đó Ở bên trong là những cửa hàng cho thuê, giống như những lều trại của chúng ta cho thuê vào ban ngày, dàn hàng ra khoảng chừng một Cho (đơn vị chiều dài bằng 109m) Hàng ngày
từ sáng sớm đến quá trưa, người ta mang những hàng hóa đến, người thì đội đầu, người thì vác trên lưng Họ tranh đua nhau bày biện hàng hóa trên các gian hàng ở đây, việc mua bán thật là nhộn nhịp khác thường Chúng tôi lấy làm lạ khi thấy rằng toàn giới đàn bà con gái buôn bán mà không thấy ở đấy một người đàn ông nào, làm cho chúng tôi thỉnh thoảng lại đi đến chợ để ngó nhìn các gian hàng và trở nên lúng túng khi muốn mua hàng” [Dẫn theo Nguyễn Thừa Hỷ 2000:97]
Có lẽ kinh tế hàng hóa đã từng bước hình thành, phát triển từ khá sớm và khá năng động Một nền kinh tế thương nghiệp lấy sông nước làm đường vận chuyển ngày càng lan tỏa nhanh chóng ở nơi đây, cho nên ngay cả tên chợ cũng gắn liền với sông nước cùng với sự phong phú đa dạng các mặt hàng đã khiến cho không gian chợ ở đây thêm tấp nập và giàu có như “chợ Bến Cá, cũng gọi là chợ Bình Thảo ở
Trang 40tổng Phú Vang, các nhà buôn tụ họp, trên bến dưới thuyền hàng ngoài, thổ sản, gia
vị sơn hào, vật gì cũng có” [Trịnh Hoài Đức 1998:183]
Không gian chợ Nam Bộ không chỉ đẹp với những bức tranh rau quả tươi rói, không chỉ sung túc và nhộn nhịp bởi sự tấp nập của người mua kẻ bán, mà còn đặc trưng bởi cái dư âm hoang dã từ thuở khai hoang Trong tác phẩm Đất rừng phương Nam, nhà văn Đoàn Giỏi có một đoạn miêu tả buổi họp chợ nhỏ ở một làng quê U Minh vào khoảng giữa thế kỷ XX như sau: “Chao ôi! Chợ gì mà lạ lùng thế này… một con ba ba to gần bằng cái nong, đặt lật ngửa, cứ ngọ nguậy bơi bơi bốn chân trước ông cụ ngồi lim rim đôi mắt Những con rùa vàng to gần bằng cái tô, đều tăm tắp như đổ ở cùng một khuôn ra, nằm rụt cổ trong mấy chiếc giỏ cần xé Đây là một con nai người ta vừa xẻ thịt ra bán, cái thủ còn nguyên chưa lột da bày giữa đống thịt đỏ hỏn trên một tấm lá chằm Cua biển cũng có, ếch cũng có, nghêu sò cũng có Còn cá tôm thì nhiều lắm, đủ các loại tôm, không kể xiết Tôi bước thêm mấy bước, qua những đống trái khóm chín vàng tỏ thơm mùi mật, thấy hai con trút nằm khoanh, vảy xếp lại như những đồng hào lấp lánh Có tiếng chim mổ nhau kêu quang quác trong chiếc lồng kẽm… Một chú khỉ con cứ nhảy qua nhảy lại lia lịa, chờn vờn trèo lên đống bí ngô…” [Đoàn Giỏi 1992] Phiên chợ được miêu tả như
có cái gì đó bí ẩn và hoang dã của vùng U Minh với những con vật bắt ở trong rừng được mang ra bán Nhưng đó lại là cái chất đặc sệt của Nam Bộ được đúc kết lại từ đời sống văn hóa văn minh miệt vườn của cư dân Nam Bộ từ thuở khai hoang cho đến nay
Chợ ban ngày đã vậy, chợ ban đêm thì lại mang một phong cách khác, có vẻ sung túc hơn, nhưng vẫn có cái gì đó lạ lùng, mang dáng vẻ của những thương nhân người Hoa: “Đèn măng sông trong các hiệu buôn, các tiệm ăn của người Hoa kiều thắp lên sáng rực… Từng dãy dài những chiếc cần xé to tướng, những chiếc thúng đựng đầy ắp không trông rõ và không biết đó là thức gì mà các thương lái mang tới giao cho chủ vựa Mỗi người giao hàng thắp một ngọn đèn Đèn người mua, đèn người bán cứ như sao sa” [Đoàn Giỏi 1992]