Các điều kiện thường lặp là: sự sẵn sàng của công nghệ, khả năng có được thong tin hiện chưa có hay sự tiến triển của các chi tiết lien quan khác của sản phẩm.. Nếu một ý tưởng chỉ có mộ
Trang 1Câu 29: Trình tự các bước của kỹ thuật phân tích chức năng để xây dựng ý tưởng?
Bước 1: Tìm ra chức năng hoàn chỉnh:
Mục đích của bước này là đưa ra các phát biểu đơn về một chức năng chung dựa trên cơ sở những yêu cầu của khách hàng
- Điều kiện biên của hệ thống phải được xác định rõ ràng
- Năng lượng phải được bảo toàn
- Vật liệu phải được bảo toàn
- Tất cả đối tượng giao tiếp, đã biết, cố định của hệ thống phải được xác định
- Khi them thông tin vào sơ đồ, nên đặt câu hỏi: làm sao ta có thể biết hệ thống đang hoạt động?
Bước 2: Phân tích thành những chức năng con:
Mục đích của bước này là phân tích chung trong hộp đen thành những chức năng con
- Lưu ý là xem xét “cái gì” chứ không phải xem xét “như thế nào”
- Phân tích chức năng càng chi tiết càng tốt
- Liệt kê tất cả các lựa chọn của chức năng
- Tính đến tất cả đầu vào và đầu ra của các dòng năng lượng, vật liệu và thông tin
- Cân nhắc tất cả các bước thao tác
- Dùng các ký hiệu chuẩn khi có thể
- Phát triển các chức năng bằng việc xem xét lại yêu cầu của khách hàng, quan sát các dòng, rà soát lại danh sách các động từ hay thực hiện vai trò của sản phẩm
- Đối với các bài toán thiết kế lại hay tìm các giá trị chuẩn, tháo rời mẫu vật để xác định những chức năng con của nó
Bước 3: Sắp xếp các chức năng con:
Mục đích ở đây là sắp xếp các chức năng hình thành từ bước trước theo trật tự logic để hoàn thiện chức năng chung ở bước 1
- Các dòng năng lượng, vật liệu và thông tin được sắp xếp theo một trật tự logic hay thời gian
- Các chức năng dư phải được xác định và kết hợp lại
- Các lựa chọn của chức năng phải được xác định và hoặc xem chúng như là những tùy chọn hay phải lựa chọn chúng
- Các chức năng không thuộc phạm vi hệ thống thì phải được loại trừ
- Dòng năng lượng và vật liệu phải được bảo toàn khi qua hệ thống
- Đối với các bài toán thiết kế lại thì các dòng năng lượng, vật liệu, thông tin có thể được thiết lập khi tháo rời chi tiết ở bước trước
Bước 4: Hoàn thiện các chức năng con:
Mục đích là phân tích các chức năng con thêm chi tiết nếu có thể Việc phân tích này tiếp tục cho đến khi xảy ra một trong hai điều: đạt tới chức năng “cốt lõi” hay cần các đối tượng mới để
có thể tiếp tục phân tích
Trang 2Câu 30: Trính tự các bước của kỹ thuật đưa ra ý tưởng từ chức năng?
Bước 1: Đưa ra ý tưởng cho từng chức năng:
Mục đích: đưa ra càng nhiều ý tưởng càng tốt cho từng chức năng đã xác định trong phần phân tích chức năng
- Đầu tiên, các chức năng được chuyển khai với càng nhiều lựa chọn càng tốt
- Thứ hai, đối với mỗi chức năng con, triển khai càng nhiều phương thức hoàn thành chức năng càng tốt
Những nguyên nhân giải thích việc thiếu các ý tưởng:
- Người thiết kế chỉ đưa ra những giả thiết cơ bản mà không hình dung ra nó
- Chức năng là đích nhắm cho câu hỏi “thế nào” chứ không phải là “cái gì”
- Kiến thức chuyên môn bị hạn chế
Bước 2: Phối hợp các ý tưởng:
Kết hợp các ý tưởng riêng lẻ thành một ý tưởng thiết kế khả thi Phương pháp ở đây là chọn lựa một ý tưởng cho từng chức năng và kết hợp các ý tưởng đó thành một thiết kế Tuy nhiên có nhiều khó khăn trong phương pháp này:
- Tạo ra quá nhiều ý tưởng
- Nó giả thuyết không đúng khi cho rằng mỗi chức năng của sản phẩm thiết kế là độc lập
và mỗi ý tưởng chỉ thỏa cho một chức năng
- Kết quả sau cùng có thể không có ý nghĩa gì
Câu 31: Các nguồn tham khảo để đưa ra ý tưởng thiết kế?
1 Sử dụng các phát minh sáng chế và các tạp chí khoa học kỹ thuật
- Xác định kiểu loại hay các phân lớp của lĩnh vực quan tâm
- Tìm các phát minh cụ thể trong kiểu loại đã xác định
- Đối với phát minh có số cụ thể, tìm theo CASSIS, công báo hay chính tài liệu về phát minh
2 Sử dụng chuyên gia hỗ trợ:
Sử dụng chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực đó hoặc là dành thời gian tự nghiên cứu trao dồi kinh nghiệm
Những nhà thiết kế giỏi là những người làm việc lâu năm và chăm chỉ trong một lĩnh vực,
tự thực hiện nhiều tính toán và thực nghiệm để xác định cái gì nên làm và những gì không nên làm
3 Sử dụng trí tuệ tập thể:
Trang 3- Trí tuệ tập thể trong cuộc họp nên tập trung vào từng chức năng riêng biệt.
- Kỹ thuật này được chứng minh là hữu ích khi cần có các ý tưởng mới
4 Sử dụng các sản phẩm sẳn có và các khái niệm như nguồn cung cấp ý tưởng:
Việc quan sát các sản phẩm đang hiện hữu lá một trong những nguồn cung cấp ý tưởng tốt nhất
Câu 32: Trình bày phương pháp đánh giá ý tưởng dựa trên tính khả thi của bài toán?
Khi đánh giá ý tưởng thiết kế, người thiết kế sẽ biểu hiện một trong ba phản ứng sau:
- Nó không khả thi, nó sẽ không làm việc được
- Nó làm việc được với một số điều kiện
- Nó đáng được quan tâm
1 Nó không khả thi:
Nếu một ý tưởng không khả thi hay không có khả năng thực hiện thì nên xem xét lại các khả năng khác nhau trước khi loại bỏ Có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau: không khả thi về kỹ thuật, không đáp ứng được nhu cầu khách hang,…
- Do cách đánh giá ý tưởng có sự khác nhau, con người thường thay đổi theo thói quen Người thiết kế thường có xu hướng loại bỏ những ý tưởng mới và chấp nhận những
gì đã có Quan điểm này có thể kiềm hãm sự phát triển của sản phẩm và cần phân biệt giữa một thay đổi tích cực và một ý tưởng nghèo nàn
- Để xem xét kỹ hơn các ý tưởng ban đầu không khả thi là chúng ta có thể cho một cái nhìn thấu đáo hơn bài toán Trước khi loại bỏ ý tưởng, hãy xem xét có ý tưởng mới nào phát sinh từ nó hay không, thực hiện phép lặp từ quá trình đánh giá ý tưởng ngược về quá trình đưa ra ý tưởng
2 Cần có các điều kiện :
Cân nhắc xem ý tưởng có khả năng thực thi không nếu có một điều kiện nào đó Các điều kiện thường lặp là: sự sẵn sàng của công nghệ, khả năng có được thong tin hiện chưa có hay sự tiến triển của các chi tiết lien quan khác của sản phẩm
3 Nó đáng được triển khai :
Công việc khó khăn nhất trong đánh giá ý tưởng là không phải nó tốt hay xấu mà
nó đáng được triển khai hay không? Kiến thức và kinh nghiệm rất cần để đánh giá ý tưởng
Câu 33: Phương pháp đánh giá ý tưởng dựa trên tính sẵn sàng của công nghệ?
Kỹ thuật đánh giá thứ 2 là xác định tính sẵn sàng của công nghệ được sử dụng trong ý tưởng
Kỹ thuật hoàn thiện cách đánh giá bằng cách so sánh tuyệt đối với khả năng công nghệ hiện tại Công nghệ dung để chế tạo sản phẩm phải ở mức tin cậy để sử dụng cho thiết kế
Trang 4Chú ý là công nghệ mới phải được sẵn sàng đưa vào sản phẩm.
Có 6 chuẩn mực có thể áp dụng để xác định mức độ hoàn thiện của công nghệ:
1 Công nghệ có được thực hiện bởi những phương pháp đã biết hay không?
2 Những thong số giới hạn chức năng có được xác định không?
Khoảng 10 – 15% kích thước của một sản phẩm sau khi hoàn thành cần giới hạn để đảm bảo khả năng hoạt động của sản phẩm
Phải biết thong số nào (kich thước, tính chất vật liệu,…) có ảnh hưởng tới chức năng của sản phẩm
3 Phạm vi hoạt động an toàn và độ nhạy của các thông số có biết không?
- Trong quá trình triển khai ý tưởng, các giá trị thật của tham số có thể bị thay đổi để có được chế đô làm việc mong muốn hay nâng cao tính công nghệ của sản phẩm
- Phải biết giới hạn các thong số này và độ nhạy của sản phẩm đối với thong số đó
4 Các dạng hỏng hóc có xác định được hay không?
Mỗi kiểu hệ thống có các dạng hỏng đặc trưng riêng sẽ rất có ích nếu ta đánh giá được các dạng hỏng khác nhau của sản phẩm
5 Có công cụ nào minh chứng cho câu trả lời khẳng định của bốn câu hỏi trên không? Chuẩn mục quan trọng khi xét đến khả năng công nghệ là việc sử dụng nó để xây dựng mô hình trong phòng thí nghiệm hay ở các sản phẩm khác
6 Công nghệ có được kiểm soát trong suốt vòng đời sản phẩm không?
Ở đây cũng phát sinh ra nhiều câu hỏi khác như việc sử dụng quy trình công nghệ sẽ tạo ra những sản phẩm phụ gì? Sản phẩm phụ có an toàn sau sử dụng không? Sản phẩm
có ra sao khi không còn sử dụng? Nó có được tiêu hủy an toàn không?
Câu 34 : Trình bày phương pháp đánh giá dựa trên sự tiến triển bài toán.
Một khi khẳng định được công nghệ để triển khai ý tưởng là hoàn thiện, cơ sở so sánh được chuyển sang từ yêu cầu khách hang
- Mỗi ý tưởng được so sánh với các tiêu chuẩn theo kiểu tuyệt đối
- Mỗi yêu cầu của khách hang phải được chuyển thành một câu hỏi đặt ra cho từng ý tưởng
- Các câu hỏi phải có thể trả lời được bằng các từ: có hay có thể (go) hoặc là không go) Nếu một ý tưởng chỉ có một vài câu trả lời không (no-go), thì nên sửa đổi nó hơn là loại trừ nó
(no Việc phân tích chức năng, hình dạng và trạng thái của sản phẩm nên được cân nhắc và cập nhật thong qua đánh giá
Câu 35: Trình tự các bước phương pháp ma trận quyết định?
Nó là một phương pháp đánh giá lặp, kiểm tra mức độ hoàn thiện và dễ hiểu của các tiêu chuẩn, xác định nhanh chóng ý tưởng khả thi nhứt và giúp nuôi dưỡng những ý tưởng mới
Phương pháp này sẽ có hiệu quả nếu các thành viên thực hiện một cách độc lập sau đó
Các kết quả được so sánh riêng lẽ với nhau Các kết quả so sánh đưa đến một quá trình lặp tới khi nhóm thiết kế thỏa mãn với chúng
Trang 5- Bước 1: chọn tiêu chuẩn so sánh
Cần xác định tiêu chuẩn để dựa trên đó các ý tưởng có thể so sánh với nhau
- Bước 3: Đưa ra điểm số.
Tại thời này của quá trình thiết kế, mỗi kỹ sư đều có một ý tưởng mà họ cho là tốt nhất cần tiếp tục triển khai
Chọn ý tưởng này làm chuẩn so sánh, tất cả các ý tưởng khác được so sánh với chuẩn so sánh dựa trên thước đo là yêu cầu khách hang
Đối với mỗi so sánh, ý tưởng có thể tốt hơn, tương đương hoặc là xấu hơn chuẩn so sánh
+ Nếu là tốt hơn chuẩn thì ý tưởng đó được ghi dấu (+)
+ Nếu là tương đương thì sử dụng dấu S
+ Nếu không đáp ứng yêu cầu thì ghi dấu (-)
Nếu ma trận các quyết định thì ghi bằng số +1, 0, -1
Lưu ý: nếu không thể so sánh với yêu cầu khách hang thì phải triển khai thêm nhiều dữ liệu
- Các điểm số có thể được hiểu theo một số cách:
+ Các ý tưởng gần giống nhau có tổng số điểm cộng (+) cao, thì cần chú ý xem chúng mạnh ở mặc gì, chúng thỏa mãn tieu chuẩn nào tốt hơn chuẩn so sánh
+ Nếu hầu hết các ý tưởng có cùng một điểm số về một tiêu chuẩn thì kiểm tra kỹ tiêu chuẩn đó
Để hiểu rõ hơn, thực hiện lại các so sánh theo đó ý tưởng có điểm số cao nhất được xem như
là một chuẩn so sánh mới
Trang 6Sau khi mỗi thành viên hoàn thành quá trình này, toàn bộ nhóm có thể so sánh các kết quả riêng lẽ nhau Thảo luận giữa các thành viên trong nhóm sẽ chọn lọc được một số ý tưởng để triển khai.
Câu 36: Thiết kế tính an toàn vả các cách thiết lập tính an toàn cho sản phẩm?
Thiết kế tính an toàn cho sản phẩm nghĩa là bảo đảm sản phẩm sẽ không làm tổn hại hay lãng phí
Thiết kế tính an toàn không chỉ là bảo vệ con người khỏi tác hại của sản phẩm mà còn bao gồm những lãng phí, mất mác của các nhân tố khác do bị ảnh hưởng của sản phẩm và tác động của sản phẩm đối với môi trường trrong trường hợp bị hỏng hóc
Có 3 cách thiết lập tính an toàn cho sản phẩm:
+ Cách thứ nhất: thiết kế tính an toàn trực tiếp trên sản phẩm
+ Cách thứ hai: them các thiết bị bảo vệ vào sản phẩm
+ Cách thứ ba: đưa ra thong cáo nguy hiểm tiềm ẩn khi sử dụng sản phẩm (các bản hiệu, âm thanh hay đèn báo…)
Phải luôn đảm bảo tín an toàn trong thiết kế rất khó thiết kế các tấm che chắn không gây
trở ngại khi sử dụng và các thống cáo không hoàn toàn loại bỏ trách nhiệm của người thiết kế khi xảy ra tai nạn Một sản phẩm an toàn thật sự là một sản phẩm được thiết kế tính an toàn bên trong nó.
Câu 37: Những sai sót thường được đưa ra khi kiện tụng và trách nhiệm của người thiết kế
về tính pháp lý của sản phẩm?
Tính pháp lý sản phẩm là khía cạnh luật pháp đặc biệt liên quan đến các tổn thất về tài sản, con người hay tổn hại về môi trường do những sai xót trong sản phẩm Các nhà thiết kế cần phải hiểu rõ phạm vi trách nhiệm mở rộng này trong thiết kế sản phẩm
Có 3 lời buộc tội khác nhau cho sai xót có thể chóng lại người thiết kế về nghĩa vụ pháp lý đối với sản phẩm:
- Sản phẩm có sai sót trong thiết kế lời buộc tội điển hình là sai sót khi ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật ở thời điểm đó Loại buộc tội hay gặp là: tính toán không phù hợp, sử dụng vật liệu kém phẩm chất, thực hiện các thử nghiệm không đầy đủ và không tuân thủ những tiêu chuẩn thông thường đã được công nhận để tự bảo vệ, người thiết kế cần:
Giữ gìn cẩn thận các ghi chép
Sử dụng các tiêu chuẩn thong thường đã được chấp nhận ngay khi có thể
Sử dụng các kỹ thuật đánh giá hiện đại
Trang 7 Theo dõi lý lẽ của quá trình thiết kế.
- Thiết kế không bao gồm các thiết bị an toàn phù hợp
Tính toán an toàn hoặc có sẵn trong sản phẩm hoặc được thêm vào sản phẩm, hoặc bằng cách thong cáo cho người sử dụng theo đó, người thiết kế cần phải dự đoán, cân nhắc trước tất cả các khía cạnh an toàn của sản phẩm trong suốt quá trình thiết kế
- Người thiết kế không dự đoán trước tất cả các lựa chọn khả thi dung trong sản phẩm Những buộc tội về sai sót có thể gây ra những vụ kiện tụng nằm ngoài khả năng kiểm soát của kỹ sư thiết kế như: sai sót chế tạo, sản phẩm được quảng cáo không đúng
sự thật và không đưa ra các khuyến cáo sử dụng an toàn
Không nên bỏ qua những rủi ro mà không có sự cân nhắc của người khác có trách nhiệm trong thiết kế
Câu 38: Tập hợp các điều kiện ràng buộc về không gian trong thiết kế hình dạng cho sản phẩm?
Các vách thành hay vỏ bao bên ngoài là các rang buộc không gian của sản phẩm việc phát triển các sản phẩm trên bản vẽ bố trí phải bắt đầu từ những kiến thức về điều kiện rang buộc không gian xuất phát từ mối lien hệ với các đối tượng khác
- Chúng ta phải làm việc trong mối quan hệ với đối tượng khác đang tồn tại không thể thay đổi được
- một số rang buộc không gian là phần không gian cần thiết cho hoạt động của các chức năng: tầm nhìn mắt, tránh thất thoát hay gây cản trở dòng vật liệu
- các mối quan hệ về chức năng và các yêu cầu về không gian có thể thay đổi trong giai đoạn này
- Xem xét toàn bộ vòng đời sản có thể nảy sinh các điều kiện rang buộc về không gian
Câu 39: Định cấu hình các bộ phận trong thiết kế hình dạng cho sản phẩm?
Định cấu hình là tìm hiểu kiến trúc, kết cấu hay sắp xếp các bộ phận trong sản phẩm định cấu hình cho sản phẩm bao gồm các quyết định chia sản phẩm ra thành bao nhiêu bộ phận, xác định
vị trí và định hướng cho chúng
Quyết định phân tích một sản phẩm hay một bộ phận ra làm các bộ phận riêng lẻ được đưa ra dựa trên cơ sở của một trong các lý do:
- Tách riêng lẻ nếu cần dịch chuyển
- Tách rời nếu chúng được làm từ vật liệu khác nhau
- Tách rời nếu chúng cần dịch chuyển để có thể tiếp cận
- Tách rời nếu chúng cần hiệu chình vật liệu hay khuyết điểm
- Tách rời nếu chúng là những bộ phận tiêu chuẩn
- Tách rời nếu các chi tiết tách rời cho giá trị nhỏ nhất
Vấn đề quan trọng không kém trong quá trình thiết kế cấu hình cho sản phẩm là xác dịnh vị trí tương đối và định mức cho các bộ phận trong mối quan hệ với các bộ phận khác
Câu 40: Những điều kiện rang buộc đối với các phần liên kết giữa các bộ phận trong thiết kế hình dạng cho sản phẩm
Các phần giao tiếp hay phần chung giữa các bộ phận hỗ trợ chức năng, xác định hướng và vị trí tương đối giữa chúng
Trang 81 Phần giao tiếp phải luôn phản ánh về lực, ổn định về dòng năng lượng, vật liệu và thong tin.
2 Sau khi phát triển các phần giao tiếp với các đối tượng bên ngoài, hãy xem xét các phần giao tiếp thực hiện các chức năng quan trong nhất
3 Việc duy trì tính độc lập của chức năng đóng vai trò quan trọng trong thiết kế bộ phận điều này có nghĩa sự thay đổi trong từng kích thước giới hạn của bộ phận chỉ ảnh hưởng đến một chức năng
4 Phải chú ý đến việc tách rời sản phẩm thành những bộ phận riêng lẽ
5 Tính phức tạp phát sinh khi một chức năng được thực hiện cùng lúc bởi nhiều bộ phận và khi một bộ phận có vai trò trong nhiều chức năng
Khi phát triển các mối lien kết, nên phân loại nó thành một hay nhiều kiểu:
Liên kết cố định, không điều chỉnh mỗi đối tượng đều hỗ trợ các đối tượng khác
Liên kết có khả năng điều chỉnh kiểu lien kết này phải có tối thiểu một bậc tự do có thể khóa lại mối lien kết này có thể điều chỉnh tại chỗ làm việc hay chỉ có thể điều chỉnh tại nhà máy chế tạo
Các liên kết có thể điều chỉnh tại chỗ có thể đạt được nhờ bulong hay vít
Liên kết có khả năng tách rời những chức năng liên quan tới nó phải được khảo sát tỉ mỉ
Liên kết theo vị trí Trong nhiều mối lien kết, phần giao tiếp xác định hướng và vị trí tương đối của một trong những bộ phận với bộ phận khác
Liên kết chốt xoay bản lề Có một hay nhiều bậc tự do khả năng truyền dẫn năng lượng
và thong tin của chúng là vấn đề quan trọng đối với chức năng của một bộ phận tương tự mối ghép có khả năng điều chỉnh, chức năng của mối ghép được xem xét cẩn thận
Câu 41: những điều kiện rang buộc với phần than của các chi tiết trong thiết kế chi tiết các
bộ phận?
a/ Thiết kế chi tiết các bộ phận
- Sau khi xác định các bề mặt giao tiếp chức năng, bài toán thiết kế phần than kết nối các điểm giao tiếp của bộ phận được thực hiện và thường rất công phu
- Vật liệu giữa các phần giao tiếp nói chung phục vụ ba mục đích:
1 Dung để chịu lực hay các dạng năng lượng khác
2 Làm nhiệm vụ bao bộc hay dẫn hướng cho các chi tiết khác
3 Cung cấp hình dạng bề mặt ngoài
- Tốt nhất là nên kết nối các phần giao tiếp bằng những cấu trúc có hinh dạng bền vững _ những cấu trúc có thể truyền tải trọng từ phần giao tiếp này tới phần giao tiếp khác với ứng suất nội nhỏ nhất
- Hình dạng bền vững lý tưởng là hình dạng mà trong đó lực được phân bố đều trên toàn
bộ cấu trúc Theo đó, ứng suất cũng được phân bố đều và hư hỏng chỉ xảy ra khi ứng suất tại tất cả các vị trí đều đạt tới giá trị tới hạn
- Hình dạng bền vững nhất là một thanh chịu kéo (hoặc nén)
- Một số hình dạng chịu lực tốt:
• Khung giàn mang vật liệu, thiết kế hình dạng dưới dạng tam giác
Trang 9• Hình trụ rỗng chịu moment xoắn tốt nhất, nó tạo nên một ứng suất đều trên toàn vật liệu bất kỳ dạng khối lăng trụ kín nào cũng có tính chất tương tự
• Dầm chữ I thiết kế để chịu moment uốn hiệu quả nhất do phần lớn vật liệu phân bố ở xa trục trung hòa
- Thông thường triển khai ứng suất khi thiết kế thân của bộ phận có thể sử dụng các đường truyền lục trực tiếp một phương pháp hiển thị trực tiếp các lực được truyền xuyên qua
các bộ phận là kỹ thuật dòng lực hiển thị Phương pháp này được giải thích bằng các quy tắc sau:
1 Xem lực giống như một lưu chất chảy vào trong, ra ngoài phần giao tiếp và đi qua than của bộ phận
2 Lưu chất chọn các đường có lực cản tối thiểu qua than bộ phận
3 Phác họa các đường cong
4 Ký hiệu cho kiểu ứng suất chính của đường cong tại mỗi vị trí
5 Lực truyền ở phần giao tuyến chủ yếu là lực nén
Tóm lại: dòng lực giúp ta hình dung được ứng suất trong chi tiết hay bộ phận, tốt nhất nếu đường lực là ngắn và thẳng càng nhiều đường lực không thẳng thì càng nhiều điểm tập trung ứng suất và nguy hiểm
- Trong thiết kế phần than cần lưu ý độ cứng quyết định tới giá trị tương ứng của kích thước nhiều hơn là ứng suất mặc dù sổ tay thiết kế nhấn mạnh sức bền, trong nhiều bộ phận mối quan tâm tập trung vào độ cứng của nó
- Sau cùng, trong thiết kế các bộ phận, sử dụng hình dạng tiêu chuẩn khi có thể
b/ Hoàn thiện và hoàn chỉnh
- Công việc hoàn thiện là làm cho đối tượng ít trừu tượng hơn (hay cụ thể hơn) Công việc hiệu chỉnh là thay đổi thiết kế mà không làm thay đổi mức độ trừu tượng nó
- Các kiểu hiệu chỉnh:
• Việc kết hợp là sử dụng một bộ phận thực hiện nhiều chức năng thay thế cho nhiều bộ phận
• Việc phân tích là phân chia một bộ phận thành nhiều phần, bộ phận nhỏ hơn
• Việc phóng lớn nghĩa là làm cho một bộ phận hay một số chi tiết của nó nhỏ hơn
• Việc sắp xếp lại nghĩa là định lại cấu hình cho bộ phận hay chi tiết của nó
• Việc thay thế nghĩa là xác định những ý tưởng, bộ phận hay chi tiết khác thay thế cho
ý tưởng hiện thời
- Nếu quá trình thiết kế bị mắc kẹt ở một chức năng hay bộ phận nào đó và việc hiệu chỉnh cho thấy không giải quyết được vấn đề để giai quyết ta nên áp dụng 3 phương pháp:
Quay trở lại kỹ thuật đưa ra ý tưởng, cố gắng triển khai những ý tưởng mới
Cân nhắc em các quyết định thiết kế nào đó có làm thay đổi hay vô tình them vào chức năng của bộ phận
Nếu việc điều tra những thay đổi chức năng không hỗ trợ cho việc giải quyết vấn đề
Câu 42: Mục đích sử dụng bản vẽ?
Trang 10Các bản vẽ không chỉ là hình thức được sử dụng để trao đổi thông tin của người thiết kế mà chúng còn là một phần không thể thiếu trong quá trình thiết kế.
Các bàn vẽ được dùng để:
1 Lưu trữ hình dạng hình học của thiết kế
2 Trao đổi ý tưởng giữa người thiết kế với nhau và giữa người thiết kế với người chế tạo
3 hỗ trợ phân tích Các kích thước và dung sai bì thiếu có thể được tính trên bản vẽ khi nó được triển khai
4 Mô phỏng quá trình làm việc của sản phẩm
5 kiểm tra mức độ hoàn thiện
6 có tác dụng như phần hỗ trợ cho bộ nhớ ngắn người TK thường hay dung các bản vẽ phác để lưu những thong tin mà họ hay quên
7 Có tác dụng như công cụ tổng hợp sơ đồ phác học và các bản vẽ chính thức chob phép kết hợp các sang kiến riêng lẻ thành một ý tưởng mới
Trong suốt quá trình thiết kế người ta đưa ra nhiều kiểu bản vẽ các phác họa sử dụng trong giai đoạn xây dựng ý tưởng phải được triển khai tới bản vẽ sau cùng có đủ các thong tin Thường bắt đầu bằng bản vẽ bố trí sắp đặt toàn bộ sản phẩm giúp ta xác định dạng hình học của bộ phận và chi tiết một phần thong tin được thể hiện trên bản vẽ bố trí Khi sp được cụ thể hóa, thong tin được chuyển sang bản vẽ chiết hay bản vẽ lắp
Câu 43: Các đặc điểm của bản vẽ bố trí các chi tiết?
bản vẽ bố trí là một tài liệu hỗ trợ triển khai các bộ phận chính và các mối lien hệ giữa chúng.bản vẽ bố trí có các đặc điểm:
- Là bản vẽ làm việc nên nó thường xuyen bị thay đổi trong quá trình thiết kế do những thay đổi ít được lưu giữ, thong tin có thể bị mất ghi chép cẩn thận trong sổ tay thiết kế sẽ
bù đấp được mất mác này
- Bản vẽ bố trí được vẽ theo tỉ lệ, có khung tên tiêu chuẩn
- Chỉ có những kích thước quan trọng mới được trình bày trển bản vẽ bố trí
- Dung sai thường không được trình bày trừ khi nó quan trọng
- Các ghi chú trên bản vẽ bố trí để cho biết chi tiết hay chức năng của sản phẩm
- Khi bản vẽ lắp và chi tiết được triển khai thì bản vẽ bố trí ít quan trọng hơn
Câu 44: Các đặc điểm của bản vẽ chi tiết:
Tất cả các kích thước phải có dung sai
Các chi tiết về vật liệu và yêu cầu về chế tạo phải rõ ràng và được viết bằng các từ
kỹ thuật
Tuân thủ các tiêu chuẩn bản vẽ
Khung chữ ký tiêu chuẩn cũng phải được trình bày theo quy định trong bản vẽ
Câu 45: Các đặc điểm của bản vẽ lắp?
Mỗi chi tiết được ký hiệu bằng số hay chữ trong bản liệt kê chi tiết
Có thể tham chiếu tới những bản vẽ khác