Mục lụcMỤC LỤCIDANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮTIVDANH MỤC BẢNG BIẾUVCHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU11.1 Tính cấp thiết của đề tài11.3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu51.3.1 Mục tiêu nghiên cứu51.3.2 Câu hỏi nghiên cứu61.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu61.5 Phương pháp nghiên cứu61.5.1 Sự phù hợp của phương pháp nghiên cứu với đề tài71.5.2 Quá trình nghiên cứu và hướng tiếp cận81.6 Kết cấu đề tài9CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÌNH BÀY THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH102.1 Tổng quan về báo cáo tài chính102.1.1 Khái niệm báo cáo tài chính102.1.2 Tác dụng của báo cáo tài chính102.1.3 Mục đích của báo cáo tài chính102.1.4 Yêu cầu của báo cáo tài chính112.1.5 Hệ thống báo cáo tài chính qua các giai đoạn112.1.6 Các thông tin chung trên báo cáo tài chính.182.2 Yêu cầu trình bày báo cáo tài chính trung thực hợp lý192.2.1 Yêu cầu tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính.192.2.2 Chính sách kế toán202.3 Các giả định và nguyên tắc lập báo cáo tài chính212.3.1 Hoạt động liên tục212.3.2 Cơ sở dồn tích212.3.3 Trọng yếu và tập hợp222.3.4 Bù trừ232.3.5 Tần suất của báo cáo232.3.6 Nhất quán242.3.7 Có thể so sánh24CHƯƠNG 3: SO SÁNH GIỮA VAS VÀ IAS (IFRS) VỀ TRÌNH BÀY THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH263.1 Tổng quan về sự khác nhau giữa VAS và IAS263.1.1 IAS không bắt buộc hình thức263.1.2 IAS có tính thống nhất cao giữa các chuẩn mực263.1.3 Hệ thống tài khoản273.1.4 Hệ thống sổ kế toán283.2 Sự khác nhau giữa VAS 21 và IAS 1 về trình bày thông tin trên Báo cáo tài chính.293.2.1 Hệ thống báo cáo tài chính293.2.2 Trình bày trung thực, hợp lý và phù hợp với chuẩn mực303.2.3 Các nguyên tắc cơ bản303.2.4 Trường hợp không áp dụng các yêu cầu303.2.5 Kỳ báo cáo313.2.6 Phân biệt tài sản, nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn313.2.7 Ngày đáo hạn của các tài sản và công nợ313.2.8 Mẫu biểu Bảng cân đối kế toán313.2.9 Trình bày báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh323.2.10 Cổ tức323.2.11 Thay đổi nguồn vốn chủ sở hữu323.3 Sự khác nhau VAS và IAS về trình bày trong mỗi loại Báo cáo tài chính333.3.1 Bảng cân đối kế toán333.3.2 So sánh Báo cáo kết quả kinh doanh của VAS và IAS523.3.3 Báo cáo lưu chuyển tiền tệ653.3.4 Thuyết minh báo cáo tài chính72CHƯƠNG 4: GỢI Ý NHẰM RÚT NGẮN KHOẢNG CÁCH GIỮA VAS VÀ IAS VỀ TRÌNH BÀY THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH764.1 Thực trạng những khác biệt giữa hai hệ thống chuẩn mực764.2 Nguyên nhân những khác biệt giữa VAS và IAS774.3.1 Nguyên nhân trực tiếp774.3.2 Nguyên nhân thuộc về môi trường kế toán784.3 Sự cần thiết phải rút ngắn khoảng cách giữa VAS và IAS804.4 Một số gợi ý để thu hẹp sự khác biệt của VAS với IAS81KẾT LUẬNVTÀI LIỆU THAM KHẢOVIIPHỤ LỤCIX
Trang 1Mục lục MỤC LỤC I DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT II DANH MỤC BẢNG BIẾU III
CHƯƠNG 1 1
GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 5
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
CHƯƠNG 2 10
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÌNH BÀY THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 10
2.1 Tổng quan về báo cáo tài chính 10
2.2Yêu cầu trình bày báo cáo tài chính trung thực hợp lý 19
2.3 Các giả định và nguyên tắc lập báo cáo tài chính 21
CHƯƠNG 3 26
SO SÁNH GIỮA VAS VÀ IAS (IFRS) VỀ TRÌNH BÀY THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 26
3.1 Tổng quan về sự khác nhau giữa VAS và IAS 26
3.2 Sự khác nhau giữa VAS 21 và IAS 1 về trình bày thông tin trên Báo cáo tài chính 29
3.3 Sự khác nhau VAS và IAS về trình bày trong mỗi loại Báo cáo tài chính 33 CHƯƠNG 4 74
GỢI Ý NHẰM RÚT NGẮN KHOẢNG CÁCH GIỮA VAS VÀ IAS VỀ TRÌNH BÀY THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH 74
4.1 Thực trạng những khác biệt giữa hai hệ thống chuẩn mực 74
4.2 Nguyên nhân những khác biệt giữa VAS và IAS 75
Trang 24.3 Sự cần thiết phải rút ngắn khoảng cách giữa VAS và IAS 78 4.4 Một số gợi ý để thu hẹp sự khác biệt của VAS với IAS 79 KẾT LUẬN V TÀI LIỆU THAM KHẢO VII PHỤ LỤC VIII
DANH MỤC KÍ HIỆU VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Diễn giải
BCTC Báo cáo tài chính
BCĐKT Bảng cân đối kế toán
Trang 3GAAP Generally Accepted Accounting Principles
(các nguyên tắc kế toán được chấp nhận rộng rãi)
IAS International Accounting Standards
(Chuẩn mực kế toán quốc tế)
IFRS International Financial Reporting Standards
(Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế)
VAS Vietnamese Accounting Standards
(Chuẩn mực kế toán Việt Nam)
BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh
EPS Earning Per Share
(Lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu)
DANH MỤC BẢNG BIẾU
Bảng 1 Các nguyên nhân ảnh hưởng tới việc áp dụng
Trang 4Bảng 2 So sánh các khoản mục trên BCĐKT của
Bảng 3 So sánh các khoản mục trên BCKQKD của
Trang 5CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra trên phạm vi toàn cầu khiến các quan hệkinh tế giữa các quốc gia ngày càng chặt chẽ và phức tạp Sự dịch chuyển đầu tư cùngvới sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn đã làm thay đổi các thông lệ quốc tế Tàichính, kế toán với vai trò là công cụ quản lí và một loại hình dịch vụ trong thị trường
mở cũng đã có những thay đổi lớn mang tính quốc tế và là mối quan tâm của hầu hếtcác quốc gia trên thế giới Khi mới ban hành, Chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) tậptrung vào mục tiêu hòa hợp các chuẩn mực kế toán quốc gia với IAS nhưng xu thếphát triển của thị trường vốn quốc tế, thị trường tiêu thụ, thị trường lao động đòi hỏicác nhà đầu tư phải đưa ra các quyết định kinh tế mang tính quốc tế Tuy nhiên, mỗiquốc gia khác nhau lại có đặc điểm về tình hình kinh tế, xã hội, chính trị khác nhaunên các chuẩn mực kế toán cũng có sự khác biệt nhau rất lớn Xuất phát từ yêu cầunày, Ủy ban Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASC) đã đưa ra một hệ thống chuẩn mựcmới với mục tiêu hội tụ kế toán để thống nhất các nguyên tắc kế toán, hạn chế sự khácbiệt giữa các quốc gia trên phạm vi toàn thế giới
Lộ trình đi từ hòa hợp đến hội tụ kế toán quốc tế đang được cả thế giới cùng nỗlực thực hiện Việt Nam đã tham gia vào nhiều tổ chức kinh tế thế giới như Hiệp hộicác quốc gia Đông Nam Á (AEC), Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM), Diễn đàn Hợptác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC), là thành viên chính thức của Tổ chứcThương mại thế giới (WTO) và đặc biệt gần đây, với sự tham gia vào Hiệp định đốitác xuyên Thái Bình Dương (TPP), Việt Nam đã và đang có nhiều cơ hội cũng nhưthách thức để rút ngắn con đường phát triển, thu hẹp khoảng cách về kinh tế với cácquốc gia trên thế giới Trong quá trình đó, cải tiến hệ thống kế toán phù hợp với thông
lệ quốc tế để các BCTC cung cấp thông tin một cách trung thực và đáng tin hơn vớicác nhà quản trị, nhà đầu tư khi đưa ra các quyết định kinh tế đóng một vai trò quantrọng Mục đích của việc ban hành các chuẩn mực kế toán là nhằm hướng dẫn và bắtbuộc các DN lập BCTC trung thực, hợp lý về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh
Trang 6của DN để các đối tượng sử dụng thông tin tài chính của DN đưa ra các quyết địnhkinh tế phù hợp Tuy nhiên, thực tế gần đây cho thấy một số BCTC dù tuân thủ Hệthống chuẩn mực kế toán của Việt Nam (VAS) nhưng vẫn không phản ánh trung thực,hợp lý về tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của DN đặc biệt là các DN niêm yếttrên thị trường chứng khoán gây ra sai lệch cho các quyết định kinh tế của các nhà đầu
tư (ví dụ như tập đoàn Vingroup, các số liệu trong phụ lục) Như vậy, một số câu hỏicấp thiết được đặt ra: VAS đã thực sự phù hợp cho các DN trong nước cũng như phùhợp với các thông lệ quốc tế chưa? Sự khác biệt của VAS với chuẩn mực kế toán quốc
tế, đặc biệt trong việc trình bày thông tin trên BCTC là gì?
Với những sự khác biệt đó, Việt Nam cần phải có những giải pháp nào để rút
ngắn khoảng cách? Để trả lời các câu hỏi trên, nhóm nghiên cứu đã chọn đề tài: “So sánh giữa VAS và IAS (IFRS) về trình bày thông tin trên Báo cáo tài chính” trong
công trình Nghiên cứu khoa học sinh viên năm 2016 Nghiên cứu này sẽ đóng góp mộtphần hữu ích trong việc cung cấp những hiểu biết cần thiết về hệ thống chuẩn mực kếtoán Việt Nam VAS và hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế IAS (IFRS), đưa ra cáchạn chế còn tồn tại của hệ thống kế toán Việt Nam và xu hướng của kế toán Việt Namtrong thời gian tới, khi xu hướng hội nhập kinh tế toàn cầu đang ngày càng mạnh mẽ
1.2 Tổng quan các công trình khoa học đã công bố về đề tài nghiên cứu
Đề tài nhóm nghiên cứu là một trong những đề tài thời sự về lĩnh vực kế toánkiểm toán hiện nay và nhận được nhiều sự quan tâm của các học giả cũng như các cơquan nhà nước, các bác lãnh đạo, đặc biệt khi chúng ta hội nhập ngày càng sâu rộngvào nền kinh tế thế giới Có thể kể đến các nghiên cứu nổi bật sau:
Luận văn thạc sĩ “Đề xuất chiến lược hội nhập kế toán quốc tế cho ViệtNam” của Th.s Trình Quốc Việt
Tác giả đã nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển hệ thống kế toán trongnước và trên thế giới; quá trình hòa hợp hội tụ kế toán trong nước với kế toán quốc tế,đồng thời đánh giá khả năng hội nhập kế toán của Việt Nam để đưa ra chiến lược, giảipháp Đề tài khẳng định “VAS có sự chưa thống nhất trong một số khái niệm, thuậtngữ, quan điểm giữa sử dụng các văn bản pháp luật (như Luật đầu tư nước ngoài, luậtthuế, ) và các thông lệ quốc tế Quá trình hội tụ kế toán quốc tế là một quá trình đòi
Trang 7hỏi phải tốn nhiều thời gian và gặp không ít khó khăn trở ngại nhưng là tất yếu” Tácgiả cũng chỉ ra những ưu nhược điểm của hệ thống kế toán hiện tại Tuy nhiên dophạm vi nghiên cứu rộng và bao quát nên không đi sâu phân tích được cụ thể trên cácchuẩn mực để có các giải pháp sát với thực tế đẻ áp dụng.
Liên quan đến vấn đề này, kết quả của một nghiên cứu chỉ ra rằng, mức độ hòahợp của VAS với IAS (IFRS) liên quan đến 10 chuẩn mực được chọn nghiên cứu ởmức bình quân là 68% Ông Bùi Văn Mai – nguyên Vụ trưởng Vụ chế độ kế toán - BộTài chính trong một phỏng vấn của báo Vnexpress cho biết mức độ hòa hợp giữa VAS
và IAS/IFRS thấp hơn so với mục tiêu đề ra là 90%, nghĩa là tồn tại một khoảng cáchđáng kể giữa VAS với IAS (IFRS)
Bài viết “Những khác biệt giữa lập và trình bày báo cáo kết quả hoạt độngkinh doanh theo IAS 1 và VAS 21” của Thạc sĩ Hồ Tuấn Vũ đăng ngày 18/01/2015Thông qua việc nghiên cứu IAS và VAS, bài viết đã đưa ra được bốn điểm khácbiệt giữa hai chuẩn mực trong việc lập, trình bày thông tin trên báo cáo kết quả kinhdoanh (BCKQKD) Thứ nhất là điểm xuất phát lợi nhuận theo IAS được gắn liền vớigiá trị vốn trong khi đó lợi nhuận kế toán theo VAS lại không xuất phát từ giá trị vốn.Thứ hai là sự khác biệt về các yếu tố chi phí, thu nhập của BCKQKD Tiếp đến là vềvốn và bảo toàn vốn, IASB đã đề cập đến khái niệm này trong IAS trong khi VAS thìkhông Cuối cùng là sự khác biệt về phương pháp đo lường các đối tượng kế toán IAS
đề nghị sử dụng phương pháp giá trị hợp lý nhằm tăng tính tin cậy và thích hợp củathông tin trình bày trên BCTC còn VAS lại sử dụng phương pháp giá gốc Trong bài,tác giả cũng chỉ ra những hạn chế của thông tin về kết quả kinh doanh theo VAS 21.Tuy nhiên, bài viết mới chỉ dừng lại ở một khía cạnh của vấn đề trình bày thông tintrên BCTC, đó là trên bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, chưa có nhữngphân tích chi tiết về sự khác biệt giữa IAS 01 và VAS 21 cũng như các đề xuất nhằmrút ngắn sự khác biệt đó
Mới đây nhất là bài nghiên cứu “Thực trạng áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tếtrong việc lập BCTC tại các DN Việt Nam” do Thạc sĩ Nguyễn Diệu Linh thực hiện,đăng trên Tạp chí Khoa học Kiểm toán ngày 11/09/2015
Trang 8Bài nghiên cứu thông qua việc phân tích đặc điểm kinh tế, chính trị, pháp luật,văn hóa, tài chính và nghề nghiệp kế toán ở Việt Nam để đánh giá những thuận lợi vàkhó khăn đối với việc vận dụng IAS vào việc lập BCTC Để đạt được mục tiêu nghiêncứu, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính, xây dựng bảng hỏi, khảo sáttại 101 công ty, DN Việt Nam trong thời gian từ 1/1/2014-1/4/2015, đồng thời thamkhảo các ý kiến chuyên gia cũng như các công trình nghiên cứu khoa học của các tácgiả trong và ngoài nước Kết quả phân tích cho thấy môi trường Việt Nam có nhiềuyếu tố khó khăn hơn là thuận lợi đối với việc áp dụng IAS do mức độ hài hòa của VAS
so với IAS, đặc biệt là về mặt khai báo thông tin đang ở mức thấp (57%), nghĩa là tồntại một khoảng cách đáng kể giữa VAS và IAS Tác giả cũng đưa ra mô hình áp dụngIAS tại Việt Nam là xây dựng hệ thống chuẩn mực kế toán quốc gia riêng, phù hợp vớiđiều kiện của mình, không thể áp dụng ngay toàn bộ IAS mà cần áp dụng một cách cóchọn lọc trên cơ sở hòa hợp với IAS Nghiên cứu tuy đã dựa trên một quy mô mẫu khálớn, cho thấy được thực trạng áp dụng IAS của các DN Việt Nam cũng như cácnguyên nhân của thực trạng đó nhưng lại chưa có các phân tích cụ thể để chỉ ra khoảngcách giữa VAS và IAS trên từng loại BCTC
Nghiên cứu tại các công ty kiểm toán lớn
Hiện nay, các công ty kiểm toán lớn tại Việt Nam như Deloitte, pwc, KPMG hayErnt & Young đều có những nghiên cứu về so sánh VAS và các chuẩn mực kế toánquốc tế Các nghiên cứu đều chỉ ra được những hạn chế cũng như khoảng trống củaVAS, nhưng mới chỉ dừng lại ở các slide trình bày nội bộ mang tính hướng dẫn và lưu
ý cho các kiểm toán viên và các đối tượng liên quan
Ngoài ra, HOSE đã phối hợp với Công ty TNHH Deloitte Việt Nam, thành viêncủa Ban soạn thảo Chuẩn mực và Hội đồng thẩm định ban hành các chuẩn mực cùng
Bộ Tài chính, hoàn tất biên soạn cuốn “Sổ tay so sánh chuẩn mực kế toán Việt Nam vàQuốc tế - Cập nhật dự thảo các chuẩn mực về các dịch vụ liên quan cho công ty niêmyết” Cuốn sổ tay gồm 03 phần: (1) Những khuyến nghị trong việc lập, trình bày vàcông bố thông tin đối với BCTC dành cho các DN niêm yết tại Sở GDCK TP HCM;(2) So sánh giữa IAS (IFRS) và VAS Việc so sánh sự khác nhau giữa 2 hệ thốngchuẩn mực là cách nhanh nhất, đơn giản nhất, giúp các kế toán viên, kiểm toán viêncũng như người đọc BCTC hiểu được sự khác nhau giữa cách lập BCTC theo chuẩn
Trang 9mực; (3) Cập nhật dự thảo các Chuẩn mực về dịch vụ soát xét, dịch vụ đảm bảo, dịch
vụ liên quan cho công ty niêm yết
Tuy nhiên, do số lượng các chuẩn mực lớn mà dung lượng sách bị giới hạn, nêncuốn sách chỉ mang tính hướng dẫn, các nội dung cụ thể cần được xem xét chi tiếttrong Hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam và các Chuẩn mực BCTC Quốc tế
Cùng với quá trình phát triển và hội nhập hóa của đất nước, hòa hợp và hội tụ kếtoán quốc tế đang ngày càng được quan tâm như một xu thế tất yếu của quá trình pháttriển Khi thị trường chứng khoán lành mạnh và bền vững, một trong những tiêu chírất được quan tâm là minh bạch hóa thông tin và tính cập nhật, đầy đủ của thông tin đểcác cổ đông và nhà đầu tư có thể đưa ra những nhận định chính xác và có một cái nhìntoàn diện về DN của mình Việc hiểu biết IAS (IFRS) còn giúp DN có những thông tinhữu ích về các DN khác trong cùng ngành, có mức độ hoạt động tương đương ở cácnước khác Điều này đòi hỏi sự quan tâm thích đáng của Nhà nước cũng như các cơquan chức năng Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây mới chỉ tập trung vào một sốkhía cạnh cụ thể, chưa đánh giá đầy đủ và hệ thống về sự khác nhau giữa trình bàythông tin trên BCTC theo VAS và IAS, chưa đưa ra được những đề xuất, giải pháp cụthể nhằm rút ngắn khoảng cách đang tồn tại giữa VAS và IAS Trước thực tiễn đó, đề
tài nghiên cứu “So sánh giữa VAS và IAS về trình bày thông tin trên Báo cáo tài chính” sẽ tập trung vào phân tích rõ ràng, chi tiết những sự biệt nhau chung cũng như
sự khác biệt trên từng loại BCTC được trình bày theo VAS và IAS, từ đó tìm ranguyên nhân, khoảng cách giữa hai chuẩn mực để có những đề xuất thích hợp với điềukiện Việt Nam hiện nay Nghiên cứu này sẽ cung cấp những thông tin cần thiết chocác DN trong việc áp dụng chuẩn mực phù hợp với thời kì hội nhập hiện nay, từ đóđóng góp tích cực vào thúc đẩy sự phát triển của các DN đó nói riêng và nền kinh tếViệt Nam nói chung
1.3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
1.3.1 Mục tiêu nghiên cứu
Chỉ ra sự khác biệt giữa IAS (IFRS) và VAS trong việc trình bày thông tin trênBCTC, từ đó giúp hiểu rõ và chính xác hơn về những quy định chưa thật đầy đủ vànhững hạn chế của VAS cũng như xu hướng của IAS (IFRS)
Trang 10Giúp cho các DN có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động ở Việt Nam có thể thấyđược những sự khác biệt căn bản giữa hai hệ thống chuẩn mực kế toán, từ đó mà DN
có thể dễ dàng thực hiện sự chuyển đổi từ báo cáo theo VAS sang báo cáo theo chuẩnmực kế toán quốc tế (phục vụ cho mục đích báo cáo tập đoàn) một cách dễ dàng hơn.Đặc biệt, với xu thế đầu tư nước ngoài gia tăng trong điều kiện hội nhập, các tập đoàn
đa quốc gia có cơ sở tại Việt Nam thường yêu cầu các chi nhánh hoặc công ty con tạiViệt Nam trình bày BCTC phù hợp với IFRSs
Đưa ra các đề xuất nhằm rút ngắn khoăng cách giữa VAS và IAS (IFRS), gópphần hoàn thiện hơn hệ thống chuẩn mực kế toán Việt Nam về trình bày thông tin trênBCTC
1.3.2 Câu hỏi nghiên cứu
Nhằm thực hiện được các mực tiêu đã nêu trên, đề tài cần trả lời được 3 câu hỏinghiên cứu tương ứng:
• Những sự khác biệt cơ bản và chủ yếu của VAS và IAS về trình bày thông tintrên BCTC là gì?
• Tại sao lại có sự khác biệt này? Nguyên nhân là gì?
• Cần phải làm gì để thu hẹp khoảng cách giữa VAS và IAS?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) và hệ thốngchuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS) liên quan đến trình bày thông tin trênBCTC
• Phạm vi nghiên cứu các chuẩn mực kế toán quốc tế và Việt Nam cũng như cácvăn bản liên quan đến việc trình bày thông tin trên BCTC bao gồm:
Bảng cân đối kế toán
Báo cáo kết quả kinh doanh
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Thuyết minh BCTC
Trang 111.5 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính bao gồm thu thập dữliệu và các minh chứng, nghiên cứu tư liệu, phân tích tổng hợp, diễn giải nhằm sosánh, đánh giá và rút ra các đề xuất Đây là phương pháp tiếp cận nhằm tìm cách mô tả
và phân tích tập trung vào đặc điểm cũng như khoảng cách giữa VAS và IAS từ quanđiểm của nhóm nghiên cứu
1.5.1 Sự phù hợp của phương pháp nghiên cứu với đề tài
Nghiên cứu là quá trình tìm kiếm các tri thức được khái quát hóa để có thể ápdụng vào việc giải thích một loạt hiện tượng Do đó, phải xác định được nguồn để thuthập dữ liệu Trong thực tế, việc sử dụng loại phương pháp nghiên cứu nào phụ thuộcvào loại dữ liệu cần thu thập Khi nghiên cứu tìm hiểu sự khác biệt giữa VAS và IAS,các thông tin hầu hết là định tính như các quy định, hướng dẫn các nguyên tắc vàphương pháp kế toán, sự khác biệt tương quan giữa hai hệ thống chuẩn mực Vì vậy,phương pháp nghiên cứu định tính là phương pháp phù hợp để áp dụng
Trang 121.5.2 Quá trình nghiên cứu và hướng tiếp cận
1.5.2.1 Sơ đồ quá trình nghiên cứu
Hình 1.1 Sơ đồ quá trình nghiên cứu
1.5.2.2 Trình tự tiến hành nghiên cứu
• Thu thập dữ liệu: Đề tài nghiên cứu thu thập cả nguồn thông tin sơ cấp và thôngtin thứ cấp Hai nguồn thông tin này đều được sử dụng trong đề tài nghiên cứu
Thu thập thông tin thứ cấp liên quan đến đề tài nghiên cứu ( dữ liệu thu thậptrong phạm vi 2011 trở lại), cụ thể từ các văn bản tài liệu về VAS, IAS, IFRS và cácvăn bản hướng dẫn áp dụng, các bài nghiên cứu trước đó về đề tài liên quan
Thu thập thông tin sơ cấp từ các phương pháp thu thập thông tin trực tiếp bằngcách phỏng vấn trực tiếp, trao đổi thông tin qua email nhằm thu thập được thông tin đa
Chuẩn mực VAS
Chuẩn mực IFRS/IAS
Phân tích, so sánh
sự khác biệt về nguyên tắc, quy định
Thực trạng khoảng cách hiện tại của VAS so với IAS/IFRS
Phỏng vấn
Phân tích nguyên nhân dẫn tới khác biệt của hai hệ thống chuẩn mực
Gợi ý nhằm rút ngắn khoảng cách
Mục tiêu phát triển
VAS
Xác nhận tính chính xác
Các đề tài trước về sự hòa
hợp của VAS
Trang 13chiều dưới nhiều góc độ, quan điểm từ những cá nhân khác nhau nhằm làm rõ nguyênnhân tạo nên sự khác biệt giữa VAS và IFRS.
• Ghi chép dữ liệu: Sử dụng ghi chú viết tay để ghi nhận thông tin trong cuộcphỏng vấn định tính Việc ghi nhận tài liệu văn bản và tài liệu nghe nhìn có thể dựavào ghi chép phản ánh thông tin về văn bản hay các tài liệu khác cũng như các ý tưởngchính trong tài liệu
• Phân tích dữ liệu và lý giải: Đưa ra ý nghĩa từ việc tìm hiểu và so sánh dữ liệu văn bản, kết hợp với đưa ra ví dụ thực tế với các thông tin định lượng, tiến dần đến sự
am hiểu sâu xa hơn về dữ liệu, trình bày dữ liệu, và thực hiện việc lý giải ý nghĩa bao quát hơn của dữ liệu
• Xác nhận tính chính xác của các phát hiện: Nhận diện và thảo luận một hay nhiềuchiến lược sẵn có để kiểm tra tính chính xác của các phát hiện thông qua việc kiểm tra lại nguồn thông tin, so sánh với nguồn dữ liệu từ thực tế, làm rõ sự thiện lệch mà nhóm nghiên cứu đã đưa ra đồng thời trình bày những thông tin tiêu cực hay không nhất quán đối với chủ đề
• Tường thuật định tính: Nhận xét về việc tường thuật hình thành từ phân tích dữ liệu Đồng thời, mô tả cách so sánh kết quả tường thuật với các lý thuyết và tư liệu chung về đề tài
1.6 Kết cấu đề tài
Chương 1 Giới thiệu chung
Chương 2 Cơ sở lí luận về trình bày thông tin trên Báo cáo tài chính
Chương 3 So sánh VAS và IAS về trình bày thông tin trên Báo cáo tài chínhChương 4 Gợi ý nhằm rút ngắn khoảng cách giữa VAS và IAS về trình bàythông tin trên Báo cáo tài chính
Trang 14CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRÌNH BÀY THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI
CHÍNH 2.1 Tổng quan về báo cáo tài chính
2.1.1 Khái niệm báo cáo tài chính
BCTC là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉtiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn tại mộtthời điểm, tình hình sử dụng vốn và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh (SXKD)của một DN trong một thời kỳ nhất định vào một hệ thống biểu mẫu báo cáo đã quyđịnh
2.1.2 Tác dụng của báo cáo tài chính
BCTC cung cấp các chỉ tiêu kinh tế tài chính cần thiết để kiểm tra một cách có hệthống và toàn diện tình hình thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch về SXKD của DN
BCTC cung cấp những số liệu cần thiết để tiến hành phân tích hoạt động kinh tế,
từ đó có thể đánh giá kết quả hoạt động SXKD, phát hiện những khả năng tiềm tàng vềkinh tế tài chính, nhằm động viên và khai thác những khả năng tiềm tàng đó
BCTC giúp các nhà quản lý, chủ sở hữu, nhà đầu tư, chủ nợ, người lao độngđánh giá được hiệu quả SXKD, thực trạng tài chính của DN Từ đó giúp họ đề ra cácquyết định đúng đắn, phù hợp về quản lý, đầu tư, tín dụng, việc làm,
BCTC cung cấp các số liệu tổng hợp để kiểm tra, kiểm soát các hoạt độngSXKD, việc chấp hành chính sách, chế độ, tổng hợp các chỉ tiêu kinh tế của từngngành và toàn bộ nền kinh tế quốc dân
2.1.3 Mục đích của báo cáo tài chính
BCTC dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh vàcác luồng tiền của một DN, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ DN, cơ quan Nhà nước
và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế.BCTC phải cung cấp những thông tin của một DN về:
Trang 15(1) Tài sản;
(2) Nợ phải trả;
(3) Vốn chủ sở hữu;
(4) DT (DT), thu nhập khác, CP (CP) sản xuất kinh doanh và CP khác;
(5) Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh;
(6) Các luồng tiền
Ngoài các thông tin này, DN còn phải cung cấp các thông tin khác trong “Bảnthuyết minh Báo cáo tài chính” nhằm giải trình thêm về các chỉ tiêu đã phản ánh trêncác BCTC tổng hợp và các chính sách kế toán đã áp dụng để ghi nhận các nghiệp vụkinh tế phát sinh, lập và trình bày BCTC
2.1.4 Yêu cầu của báo cáo tài chính
BCTC phải lập theo đúng mẫu đã quy định: Nội dung, số liệu phản ánh trong cácchỉ tiêu báo cáo phải thống nhất với các chỉ tiêu kế hoạch (chuẩn bị hệ thống mẫu biểutrước khi lập) – theo VAS
BCTC phải chính xác khách quan: Phản ánh một cách trung thực tình hình thực
tế của DN (trước khi lập phải khoá sổ và kiểm tra số liệu)
BCTC phải đơn giản, rõ ràng, thiết thực để phục vụ các đối tượng sử dụng thôngtin kế toán
BCTC phải lập và gửi đúng thời hạn theo quy định
2.1.5 Hệ thống báo cáo tài chính qua các giai đoạn
2.1.5.1 Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam trước năm 1995
Quá trình phát triển hệ thống BCTC Việt Nam cho đến trước năm 1995 có thểđược khái quát qua 3 giai đoạn sau:
Giai đoạn 1: Giai đoạn quản lý nền kinh tế theo cơ chế tập trung quan liêu baocấp - trước năm 1986
Ở đoạn này, kế toán được sử dụng chủ yếu đế quản lý việc thu, chi ngân sách,phục vụ cho yêu cầu quản lý, kiểm soát việc chấp hành kế hoạch bảo vệ tài sản xã hộichủ nghĩa Hệ thống báo cáo kế toán được ban hành lần đầu theo Quyết định 122/CP
Trang 16ngày 01/12/1970 của Hội đồng Chính Phủ bao gồm 13 biểu báo cáo: Bảng tống kết tàisản; Tăng giảm tài sản và quỹ khấu hao; vốn cơ bản; CP phục vụ, quản lý sản xuất; CPsản xuất theo yếu tố; Giá thành sản phẩm so sánh được và toàn bộ sản phẩm theokhoản mục; Giá thành đơn vị các sản phẩm chủ yếu; Những nhân tố làm tăng giảm giáthành; Tiêu thụ; Lãi lỗ và các khoản thanh toán với Ngân sách.
Mục tiêu của hệ thống báo cáo này là nhằm hệ thống các số liệu và những thuyếtminh cần thiết nhằm thể hiện tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và sửdụng vốn của đơn vị kế toán trong một thời kỳ nhất định bằng những chi tiêu tài chính
đã quy định, số liệu này được các cơ quan quản lý chức năng của nhà nước sử dụng đểnghiên cứu, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch, kiểm soát việc tuân thủ các quyđịnh và điều hành các tài nguyên giữa các xí nghiệp trong toàn bộ nền kinh tế quốcdân
Hệ thống BCTC trong giai đoạn này đã cung cấp thông tin toàn diện về hoạtđộng của DN phục vụ cho yêu cầu quản lý tập trung có tác dụng tích cực cho việckiếm soát và chỉ đạo của cơ quan chủ quản cũng như của các cơ quan chức năng củaNhà nước để thực hiện yêu cầu kế hoạch hóa tập trung, phù hợp với yêu cầu trong giaiđoạn xây dựng nền kinh tế còn rất nhiều manh mún và kém phát triển Tuy nhiên hệthống BCTC này bộc lộ những nhược điếm:
• Cấu trúc của hệ thống báo cáo quá cồng kềnh (13 báo cáo) với quy định vàviệc tính toán các chi tiêu phức tạp, đòi hỏi người lập và người đọc báo cáo phải cómột hiểu biết tương xứng về kế toán
• Tần số báo cáo dày đặc (tháng, quý, 6 tháng, năm) đã làm tăng khối lượng
Trang 17định nhưng hệ thống báo cáo kế toán vẫn có số lượng và nội dung báo cáo nặng nề,rườm rà và được thực hiện một cách tập trung, mang nặng tính hình thức, chưa pháthuy được tác dụng tích cực cho quá trình quản lý, điều hành trong DN, thông tin chủyếu chỉ tập trung cho việc kiếm soát chỉ đạo của cấp trên và của cơ quan chức năng.Giai đoạn 3: Từ năm 1990 - 1995: ở giai đoạn này, những chủ trương phát triểnkinh tế xã hội, chủ trương đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo hướng hạch toán vàkinh doanh xã hội chủ nghĩa được cụ thế hóa và đưa vào cuộc sống và hệ thống BCTC
kế toán định kỳ năm 1990 được ban hành theo Quyết định số 224TC-CĐKT ngày18/04/1990 của Bộ trưởng Bộ Tài chính (BTC) Theo quyết định này, hệ thống báocáo kế toán thống kê định kỳ gồm 4 báo cáo: Bảng tổng kết tài sản (01/BCKT); Bảngkết quả kinh doanh (02/BCKT); CP sản xuất kinh doanh theo yếu tố (03/BCKT); Bảnggiải trình kết quả hoạt động SXKD (04/BCKT)
Báo cáo kế toán ở giai đoạn này đã có những thay đổi phù hợp với sự phát triếncủa nền kinh tế cũng như những biến đổi trong cơ chế quản lý điều hành DN và do vậyphần nào cũng làm cho thông tin có tính đa dạng phù hợp hơn với yêu cầu đối mới vàđáp ứng được nhu cầu thông tin cho các đối tượng sử dụng Tuy nhiên do nền kinh tếnước ta đang trong quá trình có những thay đổi lớn nên hệ thống kế toán nói chung vàbáo cáo kê toán nói riêng chưa bao quát được hết những vấn đề mới phát sinh, do vậycác nội dung được phản ánh cũng như cách xác định các nội dung thông tin được cungcấp vừa thiếu sót vừa chưa đảm bảo tính khoa học, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế.Những hạn chế này làm ảnh hưởng đến tính hữu ích của thông tin cung cấp cho cácđối tượng sử dụng và do vậy phần nào đã làm mờ nhạt vai trò của kế toán trong côngtác quản lý
Tóm lại, hệ thống báo cáo thời kỳ trước 1995 qua 3 giai đoạn có chiều hướnggiảm về số lượng báo cáo, các chỉ tiêu trình bày tăng tính tổng hợp, nội dung các chỉtiêu ngày càng phong phú, phản ánh đầy đủ hơn các nghiệp vụ kinh tế mới của nềnkinh tế thị trường về hình thức trình bày thông tin trên báo cáo ngày càng thể hiện tínhkhoa học thông qua việc phân loại, sắp xếp các chỉ tiêu Hơn nữa, hệ thống BCTC đã
có sự chuyển hướng về xác định đối tượng phục vụ, từ đối tượng là phục vụ cho quản
lý và kiểm soát của nhà nước thì cuối giai đoạn này đã chuyển dần sang phục vụ thông
Trang 18tin cho nhiều đối tượng khác hướng tới hội nhập với quốc tế về kế toán, làm tiền đềcho việc hội nhập kinh tế.
2.1.5.2 Nội dung của hệ thống báo cáo tài chính Việt Nam từ năm 1995 đến nay
Giai đoạn này là giai đoạn tiếp tục đấy mạnh công cuộc đối mới kinh tế đất nước,
là quá trình chuyển đổi mạnh mẽ sang nền kinh tế thị trường theo định hướng Xã hộiChủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước Trước yêu cầu đổi mới của nền kinh tế cũngnhư sự hội nhập kinh tế, hệ thống kế toán Việt Nam đòi hỏi phải được đổi mới mộtcách toàn diện, đồng bộ và triệt để cả nội dung lẫn hình thức nhằm đáp ứng yêu cầu vànội dung của cơ chế quản lý kinh tế trong nền kinh tế thị trường và từng bước hòanhập với các nguyên tắc, chuẩn mực, thông lệ chung về kế toán phổ biến của các nướctrên thế giới và trong khu vực Do đó, hệ thống BCTC ở giai đoạn sau 1995 luônkhông ngừng được hoàn thiện dần cho phù hợp với VAS đã được ban hành
Nội dung của hệ thống BCTC quy định cho các DN bao gồm 4 biếu mẫu báocáo: Bảng cân đối kế toán (BCĐKT); Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; Báo cáolưu chuyển tiền tệ; Thuyết minh BCTC
Ngoài ra, để phục vụ yêu cầu quản lý kinh tế, yêu cầu chỉ đạo điều hành cácngành, các Tổng công ty có thể quy định thêm các BCTC chi tiết khác
Tuy nhiên, với sự ra đời của 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam, hệ thống BCTChiện hành đã có một số thay đổi phù hợp với các chuẩn mực kế toán đã được ban hành
và chế độ kế toán mới, cụ thể sự thay đổi đó như sau:
Hệ thống BCTC theo Quyết định số 1141/TC/CĐKT ngày 01/01/1995 gồm:Bảng cân đối kế toán (B01-DN); Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (B02-DN);Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (B03-DN); Thuyết minh BCTC (B04-DN)
Trong đó, báo cáo lưu chuyền tiền tệ tạm thời chưa quy định bắt buộc, chỉkhuyến khích các DN lập và sử dụng báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Hệ thống BCTC đã thực sự phù hợp với mục tiêu cung cấp thông tin tài chínhcho các đối tượng sử dụng, đã có sự tương thích nhất định với thông lệ quốc tế và dovậy đã phát huy được tác dụng tích cực trong việc thỏa mãn nhu cầu thông tin hữu íchcho các đối tượng sử dụng Tuy nhiên, đây là giai đoạn mà nền kinh tế nước ta có
Trang 19những thay đối lớn, toàn diện, do đó nội dung kinh tế tài chính trong giai đoạn nàycũng phát sinh rất phong phú và phức tạp Đặc biệt khi các luật thuế mới được banhành ( thuế GTGT, thuế TNDN ) thì hệ thống BCTC đã bộc lộ một số khiếm khuyếtlàm ảnh hưởng đến việc cung cấp thông tin liên quan đến quá trình kiểm soát của các
cơ quan quản lý Nhà nước Do đó, đến tháng 10/2000, BTC ban hành hệ thống BCTCtheo Quyết định số 167/2000/ỌĐ-BTC
Hệ thống BCTC theo quyết định số 167/2000/QĐ-BTC ngày 25/10/2000 gồm:Bảng cân đối kế toán (B01-DN); Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh (B02-DN);Báo cáo lưu chuyển tiền tệ (B03-DN); Thuyết minh BCTC (B09-DN)
Hệ thống BCTC theo quyết định số 167/2000/QĐ-BTC thực chất vẫn dựa trênnền tảng của hệ thống BCTC theo quyết định 1141/TC/CĐKT, chỉ hệ thống hóa lạicác chỉ tiêu theo các văn bản đã được sửa đổi trong giai đoạn từ năm 1995-2000
Hệ thống BCTC này đã khắc phục được phần nào hạn chế của hệ thống trước, nó
đã phản ánh khá đầy đủ các sự kiện kinh tế tài chính phát sinh trong quá trình hoạtđộng kinh doanh đã phù hợp hơn với thông lệ chung của kế toán trên thế giới và tạođược sự tin cậy cho các đối tượng bên trong và bên ngoài DN Tuy nhiên vẫn có một
số hạn chế nhất định về nội dung và phương pháp lập Vì thế, ngày 09/10/2002 BTC
đã ban hành Thông tư số 89/2002/TT - BTC
Hệ thống BCTC điều chỉnh theo Thông tư số 89/2002/TT- BTC ngày 09/10/2002của BTC:
Ngày 31/12/2001, Bộ trưởng BTC ban hành Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC
về việc ban hành và công bố 4 chuẩn mực kế toán đợt 1, bao gồm:
Chuẩn mực số 02: Hàng tồn kho Chuẩn mực số 03: TSCĐ hữu hình Chuẩn mực
số 04: TSCĐ vô hình Chuẩn mực số 14: DT và thu nhập khác Và ban hành thông tư số89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002 hướng dẫn kế toán thực hiện 4 chuấn mực kế toánđợt 1, theo đó hệ thống BCTC với 4 mẫu biểu có những thay đổi ở Biểu 01-DN - Bảngcân đối kế toán và Biểu 02 - DN - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Đến ngày 31/12/2006 06 chuẩn mực kế toán đợt 2 được ban hành theo quyết định
số 165/2002/QĐ-BTC ngày 31/12/2002 gồm:
Trang 20Chuẩn mực số 01: Chuẩn mực chung
Chuẩn mực số 06: Thuê tài sản
Chuấn mực số 10: Ảnh hưởng của việc thay đổi tỷ giá hối đoái
Chuấn mực số 15: Hợp đồng xây dựng
Chuẩn mực số 16: Chi phí đi vay
Chuấn mực số 24: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Tiếp theo đó, ngày 30/12/2003, Bộ trưởng BTC ban hành quyết định số234/2003/ỌĐ-BTC công bố 06 chuẩn mực kế toán Việt Nam đợt 3 gồm:
Chuẩn mực số 05: Bất động sản đầu tư
Chuẩn mực số 07: Kế toán các khoản đầu tư vào công ty liên kết
Chuấn mực số 08: Thông tin tài chính về những khoản góp vốn liên doanh Chuẩn mực số 21: Trình bày BCTC
Chuẩn mực số 25: BCTC hợp nhất và kế toán các khoản đầu tư vào công ty conChuẩn mực số 26: Thông tin về các bên có liên quan
Để hướng dẫn thực hiện 12 chuẩn mực kế toán mới ban hành đó, BTC đã banhành Thông tư số 105/2003/TT-BTC ngày 04/11/2003 để bổ sung thêm một số chỉ tiêutrên hệ thống BCTC đầy đủ hơn
Đến ngày 15/02/2006 06 chuẩn mực kế toán đợt 4 được Bộ trưởng BTC banhành theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/02/2005 gồm:
Chuẩn mực số 17: Thuế thu nhập DN
Chuẩn mực số 22: Trình bày bố sung BCTC của các ngân hàng và tố chức tàichính tương tự
Chuấn mực số 23: Các sự kiện phát sinh sau ngày kết thúc kỳ kế toán năm
Chuấn mực số 27: BCTC giữa niên độ
Trang 21Chuẩn mực số 28: Báo cáo bộ phận
Chuẩn mực số 29: Thay đổi chính sách kế toán, ước tính kế toán và các sai sót.Tiếp theo đó, 04 chuẩn mực kế toán đợt 5 được ban hành theo Quyết định số100/2005/QĐ-BTC ngày 28/12/2005 của Bộ trưởng BTC gồm:
Chuẩn mực số 11: Hợp nhất kinh doanh
Chuấn mực số 18: Các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm tàng
Chuẩn mực số 30: Lãi trên cổ phiếu
Chuẩn mực số 19: Hợp đồng bảo hiểm
Để hướng dẫn các chuẩn mực kế toán mới ban hành đó, Bộ trưởng BTC đã banhành Quyết định số 15/2006/ỌĐ-BTC ngày 20/03/2006
Theo Chế độ kế toán DN ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ- BTC ngày
20 tháng 03 năm 2006 của Bộ trưởng BTC, hệ thống BCTC hiện hành ở Việt Nam baogồm BCTC năm và BCTC giữa niên độ
BCTC năm gồm:
Bảng cân đối kế toán
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Bản thuyết minh BCTC
BCTC giữa niên độ: BCTC giữa niên độ gồm BCTC giữa niên độ dạng đầy đủ
và BCTC giữa niên độ dạng tóm lược
BCTC giữa niên độ dạng đầy đủ
Bảng cân đối kế toán giữa niên độ Mẫu số B 0l a - DNBáo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ
Trang 22BCTC giữa niên độ dạng tóm lược
Bảng cân đối kế toán giữa niên độ Mẫu số B 0l b - DNBáo cáo kết quả hoạt động kinh doanh giữa niên độ
Tính tới thời điểm hiện nay, Thông tư 200/2014/TT-BTC được BTC ban hànhngày 22/12/2014, quy định chế độ kế toán DN mới nhất hướng dẫn kế toán áp dụngchế độ kế toán DN đối với DN mình Thông tư 200 bao gồm một số quy định về sổsách, chứng từ kế toán, BCTC được hướng dẫn tỉ mỉ trong nội dung thông tư Thông
tư này chính thức thay thế cho chế độ kế toán cũ ban hành kèm theo Quyết định15/2006/QĐ-BTC và Thông tư 244/2009/TT-BTC Về cụ thể chi tiết, đề tài sẽ trìnhbày lồng ghép trong các phần sau
2.1.6 Các thông tin chung trên báo cáo tài chính.
2.1.6.1 Những thông tin chung về DN
Trong BCTC, DN phải trình bày các thông tin sau đây:
a) Tên và địa chỉ của DN báo cáo;
b) Nêu rõ BCTC này là BCTC riêng của DN hay BCTC hợp nhất của tập đoàn;c) Kỳ báo cáo;
d) Ngày lập BCTC;
e) Đơn vị tiền tệ dùng để lập BCTC
Các thông tin quy định trong phần trên được trình bày trên mỗi BCTC Tuỳ từngtrường hợp, cần phải xác định cách trình bày thích hợp nhất các thông tin này Trườnghợp BCTC được trình bày trên các trang điện tử thì các trang tách rời nhau đều phảitrình bày các thông tin kể trên nhằm đảm bảo cho người sử dụng dễ hiểu các thông tinđược cung cấp
Trang 232.1.6.2 Kỳ báo cáo
BCTC của DN phải được lập ít nhất cho từng kỳ kế toán năm Trường hợp đặcbiệt, một DN có thể thay đổi ngày kết thúc kỳ kế toán năm dẫn đến việc lập BCTC chomột niên độ kế toán có thể dài hơn hoặc ngắn hơn một năm dương lịch Trường hợpnày DN cần phải nêu rõ:
a) Lý do phải thay đổi ngày kết thúc kỳ kế toán năm, và
b) Các số liệu tương ứng nhằm để so sánh được trình bày trong báo cáo kết quảhoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ và phần thuyết minh BCTC có liênquan, trong trường hợp này là không thể so sánh được với các số liệu của niên độ hiệntại
Trong trường hợp đặc biệt, chẳng hạn một DN sau khi được mua lại bởi một DNkhác có ngày kết thúc niên độ khác, có thể được yêu cầu hoặc quyết định thay đổingày lập BCTC của mình Trường hợp này không thể so sánh được số liệu của niên độhiện tại và số liệu được trình bày nhằm mục đích so sánh, do đó DN phải giải trình lý
do thay đổi ngày lập BCTC
2.2 Yêu cầu trình bày báo cáo tài chính trung thực hợp lý
2.2.1 Yêu cầu tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính.
BCTC phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính, tình hình
và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của DN Để đảm bảo yêu cầu trung thực vàhợp lý, đòi hỏi các BCTC phải có sự miêu tả đáng tin cậy các nghiệp vụ, sự kiện vàđiều kiện theo bản chất và các tiêu chuẩn được thừa nhận về tài sản, nợ phải trả, DT và
CP và được trình bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và cácquy định có liên quan hiện hành trong phạm vi quốc gia và quốc tế
Trong mọi trường hợp thực tế, để một thực thể kinh doanh trình bày BCTC trungthực và hợp lý, cần phải:
a) Lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán phù hợp với các quy định củachuẩn mực kế toán quốc gia và quốc tế
Trang 24b) Trình bày các thông tin, kể cả các chính sách kế toán, nhằm cung cấp thông tinphù hợp, đáng tin cậy, so sánh được và dễ hiểu.
c) Cung cấp các thông tin bổ sung khi quy định trong chuẩn mực kế toán không
đủ để giúp cho người sử dụng hiểu được tác động của những giao dịch hoặc những sựkiện cụ thể đến tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của DN
2.2.2 Chính sách kế toán
DN phải lựa chọn và áp dụng các chính sách kế toán cho việc lập và trình bàyBCTC phù hợp với quy định của từng chuẩn mực kế toán Trường hợp chưa có quyđịnh ở chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán hiện hành, thì DN phải căn cứ vào chuẩnmực chung để xây dựng các phương pháp kế toán hợp lý nhằm đảm bảo BCTC cungcấp được các thông tin đáp ứng các yêu cầu sau:
a) Thích hợp với nhu cầu ra các quyết định kinh tế của người sử dụng;
b) Đáng tin cậy, khi:
• Trình bày trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinhdoanh của DN;
• Phản ánh đúng bản chất kinh tế của các giao dịch và sự kiện không chỉ đơnthuần phản ánh hình thức hợp pháp của chúng;
• Trình bày khách quan, không thiên vị;
• Tuân thủ nguyên tắc thận trọng;
• Trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu
• Chính sách kế toán bao gồm những nguyên tắc, cơ sở và các phương pháp
kế toán cụ thể được DN áp dụng trong quá trình lập và trình bày BCTC
Trong trường hợp không có chuẩn mực kế toán hướng dẫn riêng, khi xây dựngcác phương pháp kế toán cụ thể, DN cần xem xét:
Trang 25a) Những yêu cầu và hướng dẫn của các chuẩn mực kế toán đề cập đến nhữngvấn đề tương tự và có liên quan;
b) Những khái niệm, tiêu chuẩn, điều kiện xác định và ghi nhận đối với các tàisản, nợ phải trả, thu nhập và CP được quy định trong chuẩn mực chung;
c) Những quy định đặc thù của ngành nghề kinh doanh chỉ được chấp thuận khinhững qui định này phù hợp với các 2 điểm trên
2.3 Các giả định và nguyên tắc lập báo cáo tài chính
2.3.1 Hoạt động liên tục
Khi lập và trình bày BCTC, người đứng đầu DN cần phải đánh giá về khả nănghoạt động liên tục của DN BCTC phải được lập trên cơ sở giả định là DN đang hoạtđộng liên tục và sẽ tiếp tục hoạt động kinh doanh bình thường trong tương lai gần, trừkhi DN có ý định cũng như buộc phải ngừng hoạt động, hoặc phải thu hẹp đáng kể qui
mô hoạt động của mình Khi đánh giá, nếu người đứng đầu DN biết được có nhữngđiều không chắc chắn liên quan đến các sự kiện hoặc các điều kiện có thể gây ra sựnghi ngờ lớn về khả năng hoạt động liên tục của DN thì những điều không chắc chắn
đó cần được nêu rõ Nếu BCTC không được lập trên cơ sở hoạt động liên tục, thì sựkiện này cần được nêu rõ, cùng với cơ sở dùng để lập BCTC và lý do khiến cho DNkhông được coi là đang hoạt động liên tục
Trong việc đánh giá hoạt động liên tục là phù hợp hay không, người đứng đầu
DN cần phải xem xét đến mọi thông tin có thể dự đoán được về tương lai, tối thiểutrong vòng 12 tháng tới kể từ ngày kết thúc niên độ kế toán Mức độ xem xét phụthuộc vào thực tế của từng trường hợp Khi trong quá khứ DN có lợi nhuận hoạt động
và tự chủ được các nguồn tài chính, họ có thể đưa đến kết luận rằng cơ sở hoạt độngliên tục của DN là hợp lý mà không cần phân tích cụ thể Trong những trường hợpkhác, người đứng đầu DN cần quan tâm đến các nhân tố liên đới đến lợi ích hiện tại và
kỳ vọng, các khoản nợ đến hạn hay các nguồn tài chính thay thế trước khi khẳng định
cơ sở hoạt động liên tục là phù hợp
Trang 262.3.2 Cơ sở dồn tích
DN phải lập BCTC theo cơ sở kế toán dồn tích, ngoại trừ các thông tin liên quanđến các luồng tiền Theo cơ sở kế toán dồn tích, các giao dịch và sự kiện được ghinhận vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực thu, thực chi tiền vàđược ghi nhận vào sổ kế toán và BCTC của các kỳ kế toán liên quan Các khoản CPđược ghi nhận vào Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc phù hợpgiữa DT và CP Tuy nhiên, DN chỉ ghi nhận tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, DT
và CP khi nó thỏa mãn bản chất và các tiêu chuẩn được thừa nhận
2.3.3 Trọng yếu và tập hợp
Từng khoản mục trọng yếu phải được trình bày riêng biệt trong BCTC Cáckhoản mục không trọng yếu thì không phải trình bày riêng rẽ mà được tập hợp vàonhững khoản mục có cùng tính chất hoặc chức năng
Khi trình bày BCTC, một thông tin được coi là trọng yếu nếu không trình bàyhoặc trình bày thiếu chính xác của thông tin đó có thể làm sai lệch đáng kể BCTC, làmảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng BCTC Tính trọng yếu phụ thuộcvào quy mô và tính chất của các khoản mục được đánh giá trong các tình huống cụ thểnếu các khoản mục này không được trình bày riêng biệt Để xác định một khoản mụchay một tập hợp các khoản mục là trọng yếu phải đánh giá tính chất và quy mô củachúng Tuỳ theo các tình huống cụ thể, tính chất hoặc quy mô của từng khoản mục cóthể là nhân tố quyết định tính trọng yếu Ví dụ, các tài sản riêng lẻ có cùng tính chất vàchức năng được tập hợp vào một khoản mục, kể cả khi giá trị của khoản mục là rấtlớn Tuy nhiên, các khoản mục quan trọng có tính chất hoặc chức năng khác nhau phảiđược trình bày một cách riêng rẽ
Nếu một khoản mục không mang tính trọng yếu, thì nó được tập hợp với cáckhoản đầu mục khác có cùng tính chất hoặc chức năng trong BCTC hoặc trình bàytrong phần thuyết minh BCTC Tuy nhiên, có những khoản mục không được coi làtrọng yếu để có thể được trình bày riêng biệt trên BCTC, nhưng lại được coi là trọngyếu để phải trình bày riêng biệt trong phần thuyết minh BCTC
Trang 27Theo nguyên tắc trọng yếu, DN không nhất thiết phải tuân thủ các quy định vềtrình bày BCTC của các chuẩn mực kế toán cụ thể nếu các thông tin đó không có tínhtrọng yếu.
2.3.4 Bù trừ
Các khoản mục tài sản và nợ phải trả trình bày trên BCTC không được bù trừ, trừkhi một chuẩn mực kế toán khác quy định hoặc cho phép bù trừ
Các khoản mục DT, thu nhập khác và CP chỉ được bù trừ khi:
a) Được quy định tại một chuẩn mực kế toán khác; hoặc
b) Các khoản lãi, lỗ và các CP liên quan phát sinh từ các giao dịch và các sự kiệngiống nhau hoặc tương tự và không có tính trọng yếu Các khoản này cần được tậphợp lại với nhau phù hợp với quy định của nguyên tắc phù hợp
Các tài sản và nợ phải trả, các khoản thu nhập và CP có tính trọng yếu phải đượcbáo cáo riêng biệt Việc bù trừ các số liệu trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhhoặc BCĐKT, ngoại trừ trường hợp việc bù trừ này phản ánh bản chất của giao dịchhoặc sự kiện, sẽ không cho phép người sử dụng hiểu được các giao dịch hoặc sự kiệnđược thực hiện và dự tính được các luồng tiền trong tương lai của DN
Thêm vào đó, các khoản lãi và lỗ phát sinh từ một nhóm các giao dịch tương tự
sẽ được hạch toán theo giá trị thuần, ví dụ các khoản lãi và lỗ chênh lệch tỷ giá, lãi và
lỗ phát sinh từ mua, bán các công cụ tài chính vì mục đích thương mại Tuy nhiên, cáckhoản lãi và lỗ này cần được trình bày riêng biệt nếu quy mô, tính chất hoặc tác độngcủa chúng là trọng yếu
2.3.5 Tần suất của báo cáo
Một DN phải đưa ra một bộ BCTC hoàn chỉnh (bao gồm thông tin tổng quát) ítnhất hàng năm Khi DN đổi ngày kết thúc của kỳ báo cáo hay làm BCTC cho một kỳngắn hơn hay dài hơn một năm, họ phải đưa ra:
(a) Lý do cho việc sử dụng một kỳ ngắn hơn hay dài hơn, và
Trang 28(b) Các số liệu trình bày trong BCTC là không so sánh được một cách hoàn toàn.Thông thường, DN chuẩn bị BCTC cho một năm kế toán, tuy nhiên, vì lý do thựctiễn, một số DN lựa chọn lập cho 52 tuần.
2.3.6 Nhất quán
Việc trình bày và phân loại các khoản mục trong BCTC phải nhất quán từ niên
độ này sang niên độ khác, trừ khi:
a) Có sự thay đổi đáng kể về bản chất các hoạt động của DN hoặc khi xem xét lạiviệc trình bày BCTC cho thấy rằng cần phải thay đổi để có thể trình bày một cách hợp
lý hơn các giao dịch và các sự kiện; hoặc
b) Một chuẩn mực kế toán khác yêu cầu có sự thay đổi trong việc trình bày
DN có thể trình bày BCTC theo một cách khác khi mua sắm hoặc thanh lý lớncác tài sản, hoặc khi xem xét lại cách trình bày BCTC Việc thay đổi cách trình bàyBCTC chỉ được thực hiện khi cấu trúc trình bày mới sẽ được duy trì lâu dài trongtương lai hoặc nếu lợi ích của cách trình bày mới được xác định rõ ràng Khi có thayđổi, thì DN phải phân loại lại các thông tin mang tính so sánh cho phù hợp với các quyđịnh và phải giải trình lý do và ảnh hưởng của sự thay đổi đó trong phần thuyết minhBCTC
2.3.7 Có thể so sánh
Các thông tin bằng số liệu trong BCTC nhằm để so sánh giữa các kỳ kế toán phảiđược trình bày tương ứng với các thông tin bằng số liệu trong BCTC của kỳ trước Cácthông tin so sánh cần phải bao gồm cả các thông tin diễn giải bằng lời nếu điều này làcần thiết giúp cho những người sử dụng hiểu rõ được BCTC của kỳ hiện tại
Khi thay đổi cách trình bày hoặc cách phân loại các khoản mục trong BCTC, thìphải phân loại lại các số liệu so sánh (trừ khi việc này không thể thực hiện được) nhằmđảm bảo khả năng so sánh với kỳ hiện tại, và phải trình bày tính chất, số liệu và lý doviệc phân loại lại Nếu không thể thực hiện được việc phân loại lại các số liệu tương
Trang 29ứng mang tính so sánh thì DN cần phải nêu rõ lý do và tính chất của những thay đổinếu việc phân loại lại các số liệu được thực hiện.
Trường hợp không thể phân loại lại các thông tin mang tính so sánh để so sánhvới kỳ hiện tại, như trường hợp mà cách thức thu thập các số liệu trong các kỳ trướcđây không cho phép thực hiện việc phân loại lại để tạo ra những thông tin so sánh, thì
DN cần phải trình bày tính chất của các điều chỉnh lẽ ra cần phải thực hiện đối với cácthông tin số liệu mang tính so sánh Chuẩn mực “Lãi, lỗ thuần trong kỳ, các sai sót cơbản và các thay đổi trong chính sách kế toán" đưa ra quy định về các điều chỉnh cầnthực hiện đối với các thông tin mang tính so sánh trong trường hợp các thay đổi vềchính sách kế toán được áp dụng cho các kỳ trước
Trang 30CHƯƠNG 3
SO SÁNH GIỮA VAS VÀ IAS (IFRS) VỀ TRÌNH BÀY THÔNG TIN TRÊN
BÁO CÁO TÀI CHÍNH 3.1 Tổng quan về sự khác nhau giữa VAS và IAS
3.1.1 IAS không bắt buộc hình thức
Khác với VAS, IAS mặc dù đưa ra rất chí tiết các định nghĩa, phương pháp làm,cách trình bày và những thông tin bắt buộc phải trình bày trong các BCTC nhưng IAScũng như ở hầu hết các nước không bắt buộc tất cả các DN phải sử dụng chung cácbiểu mẫu BCTC giống nhau vì các công ty có quy mô, đặc điểm ngành nghề kinhdoanh rất khác nhau, nên hệ thống tài khoản, hệ thống chứng từ, các sổ kế toán thốngnhất và đặc biệt là các biểu mẫu BCTC thống nhất sẽ không đáp ứng được yêu cầu đadạng và phong phú của các DN và các nhà đầu tư
Chế độ kế toán Việt Nam đưa ra một hệ thống tài khoản thống nhất, biểu mẫuBCTC bắt buộc cho tất cả các DN áp dụng (hầu hết các quốc gia trên thế giới khônglàm như vậy) Ví dụ một số ít quốc gia như Pháp, Thụy Điển, có hệ thống tài khoản
kế toán thống nhất nhưng nó mang tính hướng dẫn nhiều hơn là bắt buộc
Theo chế độ kế toán Việt Nam, việc các côFng ty mở thêm các tài khoản cấp 1,cấp 2 ngoài hệ thống tài khoản kế toán thống nhất cần phải xin phép BTC Một số hiệphội chuyên ngành của các nước có thể có một hệ thống tài khoản kế toán thống nhất,nhưng nó hoàn toàn mang tính hướng dẫn mà không có tính bắt buộc Chẳng hạn Hiệphội các khách sạn của Mỹ và Canada đưa ra một “hệ thống tài khoản kế toán thống
nhất dành cho các khách sạn”, nó mang tính hướng dẫn không bắt buộc Trên thực tế,
đó là một bộ các BCTC, báo cáo quản trị và việc giải thích các chỉ tiêu của các báo cáo
đó, không đưa ra kí hiệu tài khoản bắt buộc
Tóm lại, những vấn đề mang tính hình thức bên ngoài, chế độ kế toán Việt Nammang tính bắt buộc cao nhưng IAS thì không
3.1.2 IAS có tính thống nhất cao giữa các chuẩn mực
VAS còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng, hướng dẫn thiếu nhiều tình huống và đặcbiệt còn nhiều mâu thuẫn giữa các chuẩn mực, giữa chuẩn mực và thông tư
Trang 31Phần này được đề tài trình bày kĩ hơn ở mục 3.2 và 3.3
Ở hầu hết các nước sẽ không có khái niệm hệ thống tài khoản kế toán thống nhấtchung cho một quốc gia vì họ hiểu rằng điều đó là không cần thiết vì mỗi công ty cónhu cầu thông tin, quản trị khác nhau nên các công ty sẽ tự xây dựng cho mình sẽ làhợp lí nhất
Ở Việt Nam, BTC ban hành một hệ thống tài khoản kế toán thống nhất dùng chocác DN Hệ thống tài khoản kế toán ở Việt Nam gồm có nhiều bảng hệ thống khácnhau theo từng loại hình, nó dùng để phân loại các tài khoản từ loại 0 - 9, các địnhkhoản kinh tế theo trình tự, đơn vị này quy định thống nhất về các loại tài sản, ký hiệu,tên gọi của tài khoản kế toán Tuy nhiên cần phải hiểu rằng hệ thống tài khoản này chỉđáp ứng được việc ra các BCTC thông thường cho người ngoài Các công ty muốn có
hệ thống kế toán hiệu quả cần phải thiết kế riêng cho mình một hệ thống tài khoản dựatrên hệ thống tài khoản kế toán thống nhất và các nhu cầu thông tin quản trị nội bộ củacông ty Hệ thống tài khoản kế toán đó phải đáp ứng được yêu cầu của không nhữngcác BCTC cho bên ngoài mà điều quan trọng là cho các báo cáo quản trị nội bộ củacông ty
3.1.3.1 Tên gọi
Theo thông lệ quốc tế, tên gọi tài khoản chính là tên gọi ngắn gọn của số dư tàikhoản hay chỉ tiêu cần quản lí, không nên ghép chung nhiều chỉ tiêu khác nhau vàochung một tài khoản Trong công tác kế toán, nhiều tài khoản không đồng nghĩa vớiphức tạp và ngược lại ít tài khoản không có nghĩa là đơn giản
Các chỉ tiêu khác nhau phải được ghi chép và báo cáo riêng biệt, không nên gộpchung nhiều mục có nội dung và ý nghĩa rất khác nhau vào một tài khoản
Trang 32Theo chế độ kế toán Việt Nam, phần hệ thống tài khoản kế toán thống nhất, số
dư các tài khoản chiết khấu và giảm giá, cuối kì được kết chuyển trực tiếp ghi nợ tàikhoản DT làm giảm DT Như vậy, số dư tài khoản DT là số tiền DT thuần chứ khôngphải là tổng DT BCKQKD cần trình bày tổng DT và cả các khoản giảm trừ DT, lúc
đó kế toán viên lại phải cần một số kỹ thuật lấy số dư của các tài khoản này trước khiđược chuyển vào tài khoản DT
3.1.4 Hệ thống sổ kế toán
Cả IAS và VAS không quy định bắt buộc về hệ thống sổ kế toán và hệ thốngchứng từ kế toán vì nó là các phương tiện kế toán để đáp ứng được đầu ra là cácBCTC Một số hệ thống sổ kế toán làm bằng tay hiệu quả thường gồm các sổ nhật ký
(6) Sổ cái, sổ phụ, sổ chi tiết
Trong chế độ kế toán Việt Nam đã có những thay đổi rất lớn là không bắt buộctheo quy định của BTC mà chỉ mang tính chất tham khảo Phần sổ sách của BTC cótrình bày 5 hình thức sổ kế toán:
Trang 33(1) Chứng từ ghi sổ
(2) Nhật ký chung
(3) Nhật ký sổ cái
(4) Nhật ký – chứng từ
(5) Kế toán trên máy tính
3.2 Sự khác nhau giữa VAS 21 và IAS 1 về trình bày thông tin trên Báo cáo tài chính.
3.2.1 Hệ thống báo cáo tài chính
Hệ thống BCTC của DN gồm:
Bảng cân đối kế toán Bảng cân đối kế toán
Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhBáo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Thuyết minh BCTC
Các thuyết minh BCTC, bao gồm thuyết
minh về các chính sách kế toán chủ yếu
và các thuyết minh khác
Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu đượctrình bày ở thuyết minh BCTC
Theo quy định của VAS thì không bắt buộc có Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu
mà phần này được lồng trong bản thuyết minh về BCTC
3.2.2 Trình bày trung thực, hợp lý và phù hợp với chuẩn mực
Trang 34Giống nhau
BCTC phải trình bày một cách trung thực và hợp lý tình hình tài chính,tình hình và kết quả kinh doanh và các luồng tiền của DN Việc ápdụng các chuẩn mực, trong mọi trường hợp, nhằm đảm bảo việc trìnhbày trung thực và hợp lý của BCTC
Khác nhau Tính linh hoạt trong việc áp dụng
các chuẩn mực
Tính bắt buộc trong việc áp dụngcác chuẩn mực, các chính sách vàqui định
3.2.4 Trường hợp không áp dụng các yêu cầu
• IAS: Trong một số trường hợp đặc biệt, cho phép việc không áp dụng các yêucầu chung nhằm đảm báo BCTC được trình bày trung thực và hợp lý, khi Ban Giámđốc DN thấy rằng việc tuân thủ theo các quy định chung sẽ làm sai lệch BCTC Tuynhiên, việc không áp dụng theo các qui định chung cần được trình bày
• VAS: Không đề cập vấn đề này Trong thực tế, các DN phải được sự đồng ýcủa BTC về việc áp dụng các chính sách kế toán có sự khác biệt so với các chuẩn mực
Trang 353.2.5 Kỳ báo cáo
• IAS/VAS: BCTC của DN phải được lập ít nhất cho kỳ kế toán năm Trường hợpđặc biệt, một DN có thể thay đổi ngày kết thúc kỳ kế toán năm dẫn đến việc lập BCTCcho một niên độ kế toán có thể dài hơn hoặc ngắn hơn một năm dương lịch và việcthay đổi này cần được thuyết minh
• IAS: Không đề cập vấn đề này Có thể lập BCTC cho giai đoạn 52 tuần vì yêucầu thực tế nếu BCTC không có những khác biệt trọng yếu so với BCTC lập cho kỳ kếtoán năm
•VAS: Không đề cập vấn đề này Việc lập BCTC cho một niên độ kế toán khôngđược vượt quá 15 tháng
3.2.6 Phân biệt tài sản, nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn
• IAS: DN có thể lựa chon việc trình bày hoặc không trình bày riêng biệt các tàisản và nợ phải trả thành ngắn hạn và dài hạn Trường hợp DN không trình bày riêngbiệt các tài sản và công nợ ngắn hạn và dài hạn, thì các tài sản và nợ phải trả phải đượctrình bày thứ tự theo tính thanh khoản giảm dần
• VAS: Tài sản, nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn phải được trình bày thành cáckhoản mục riêng biệt trên BCĐKT Trường hợp DN không thể phân biệt được tài sản
và nợ phải trả do đặc thù của hoạt động thì tài sản và nợ phải trả phải được trình bàythứ tự theo tính thanh khoản giảm dần
3.2.7 Ngày đáo hạn của các tài sản và công nợ
IAS: DN cần trình bày ngày đáo hạn của cả tài sản và công nợ để đánh giá tínhthanh khoản và khả năng thanh toán của DN
VAS: Không đề cập vấn đề này
3.2.8 Mẫu biểu Bảng cân đối kế toán
IAS: Không đưa ra BCĐKT mẫu
VAS: BCĐKT được lập phù hợp với các quy định trong văn bản hướng dẫnthực hiện chuẩn mực này
IAS/VAS: Việc điều chỉnh các khoản mục trình bày trên BCĐKT có thể baogồm:
Trang 36Các khoản mục hàng dọc được đưa thêm vào khi một chuẩn mực kế toán khác yêucầu phải trình bày riêng biệt trên BCĐKT hoặc khi quy mô, tính chất hoặc chức năngcủa một yếu tố thông tin đòi hỏi phải trình bày riêng biệt nhằm phản ánh trung thực vàhợp lý tình hình tài chính của DN
Cách thức trình bày và xắp xếp theo thứ tự các yếu tố thông tin có thể được sửađổi theo tính chất và đặc điểm hoạt động của DN nhằm cung cấp những thông tin cầnthiết cho việc nắm bắt được tình hình tài chính tổng quan của DN
3.2.9 Trình bày báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
IAS/VAS: DN cần trình bày Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo chứcnăng của CP Trường hợp do tính chất của ngành nghề kinh doanh mà DN không thểtrình bày các yếu tố thông tin trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh theo chứcnăng của CP thì được trình bày theo bản chất của CP
Các thông tin phải được trình bày hoặc trong BCKQKD hoặc trong Bản thuyếtminh BCTC
VAS: Thông tin này cần phải được trình bày trong Bản thuyết minh BCTC
3.2.11 Thay đổi nguồn vốn chủ sở hữu
IAS/VAS: DN phải trình bày những thông tin phản ánh sự thay đổi nguồn vốnchủ sở hữu:
Lãi hoặc lỗ thuần của niên độ;
Từng khoản mục thu nhập và CP, lãi hoặc lỗ được hạch toán trực tiếp vào nguồnvốn chủ sở hữu theo quy định của các chuẩn mực kế toán khác và số tổng cộng cáckhoản mục này;
Tác động luỹ kế của những thay đổi trong chính sách kế toán và những sửa chữasai sót cơ bản được đề cập trong phần các phương pháp hạch toán quy định trong
Trang 37Chuẩn mực “Lãi, lỗ thuần trong kỳ, các sai sót cơ bản và các thay đổi trong chính sách
IAS: Thông tin này có thể trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhhoặc trong Bản thuyết minh BCTC
VAS: Thông tin này phải được trình bày trong Bản thuyết minh BCTC
3.3 Sự khác nhau VAS và IAS về trình bày trong mỗi loại Báo cáo tài chính
3.3.1 Bảng cân đối kế toán
3.3.1.1 Tiền
IAS (IFRS): Ghi nhận ngay khi phát sinh thu chi tiền, khi phê duyệt séc DNkhông phụ thuộc vào ngân hàng Cuối kỳ, kế toán phải lập bảng điều hòa, đối chiếugiữa số dư tiền theo sổ kể toán của công ty và theo số dư của ngân hàng
VAS: Ghi nhận căn cứ vào giấy báo Nợ, báo Có của ngân hàng DN hoàn toànphụ thuộc vào việc ghi chép của ngân hàng Như vậy khi ngân hàng có ghi sai sót,nhầm lẫn DN vẫn phải theo
3.3.1.2 Khoản phải thu thương mại
IAS (IFRS): Tách biệt giữa các khoản phải thu thương mại (từ bán hàng hóa,dịch vụ) và các khoản phải thu đầu tư và tài chính (do bán TSCĐ hay các khoản phảithu khác như bán cổ phiếu) Có như vậy kế toán có thể lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ
dễ dàng và chính xác, dòng tiền không bị lẫn lộn giữa các hoạt động kinh doanh, hoạtđộng đầu tư và hoạt động tài chính Các khoản phải thu thương mại không bao gồmcác khoản phải thu về bán tài sản (đầu tư) hay tài chính, hay giữa các công ty trongmột tập đoàn
Dự phòng phải thu khó đòi: Tùy theo bản chất, nếu khoản phải thu không có khả
Trang 38năng đòi được thì cần phải lập khoản dự phòng, không quan tâm đến thời gian nợ gốctheo hợp đồng ban đầu hay đã gia hạn.
Tài khoản Phải thu nội bộ: Thông lệ quốc tế thường tách ra phải thu nội bộ trong tập đoàn nhằm mục tiêu dễ dàng cho việc tính toán và loại trừ các giao dịch trong nội bộ công ty và nội bộ tập đoàn Nếu không có tài khoản phải thu hay phải trả nội bộ tập đoàn, kế toán sẽ rất khó khăn trong việc làm báo cáo hợp nhất Thiết nghĩ các công ty hoạt động theo mô hình tập đoàn nên và cần thiết phải có các tài khoản phải thu nội bộ, TK phải trả nội bộ cũng như tài khoản DT nội bộ.
VAS: Không có sự tách biệt giữa các khoản phải thu kinh doanh (do bán hànghóa, dịch vụ) với các khoản phải thu đầu tư và phải thu tài chính Nó làm cho ngườiđọc BCTC không nhận được các thông tin đúng, ảnh hưởng đến việc lập báo cáo lưuchuyển tiền tệ, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh có thể rất dễ lẫn lộn với dòng tiềnđầu tư
Dự phòng phải thu khó đòi: TT 200 nêu rõ thời gian quá hạn của khoản nợ phải
thu được xác định là khó đòi phải trích lập dự phòng được căn cứ vào thời gian trả nợgốc theo hợp đồng ban đầu, không tính đến việc gia hạn nợ giữa các bên
TK131 Các khoản phải thu của khách hàng:
Ngoài việc ghi nhận các khoản phải thu mang tính chất thương mại phát sinh từgiao dịch có tính chất mua – bán như: Phải thu về bán hàng, cung cấp dịch vụ TT 200
còn thêm phải thu từ bán tài sản Giữa DN và người mua (là đơn vị độc lập với người
bán, gồm cả các khoản phải thu giữa công ty mẹ và công ty con, liên doanh, liên kết)
TK 136 Phải thu nội bộ: chỉ gồm các khoản phải thu giữa đơn vị cấp trên và đơn
vị cấp dưới trực thuộc không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc
3.3.1.3 Hàng tồn kho
3.3.1.3.1 Phương pháp tính giá thành
IAS (IFRS) Tính giá thành sản xuất sản phẩm: thường sử dụng phương pháp giáthành thông thường: Nguyên liệu trực tiếp và nhân công trực tiếp tính theo thực tế(không quá định mức cho phép), nhưng CP sản xuất chung được phân bổ theo mức độhoạt động bình thường Giá thành sản phẩm sẽ ổn định giữa các kỳ, bất chấp lượng sảnxuất giữa các kỳ có thể khác nhau lớn
Trang 39VAS yêu cầu giống như IFRS tính giá thành theo phương pháp thông thường.Tuy nhiên do việc hướng dẫn chưa đầy đủ, rõ ràng cũng như các thông lệ từ trước đếnnay và giáo dục trong các trường đại học, nên phần lớn các DN vẫn tính theo giá thànhthực tế, số thực tế về nguyên liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và CP sản xuất chung.
CP sản xuất chung phân bổ cho sản phẩm chưa tính theo mức độ hoạt động bìnhthường của DN như VAS quy định Phân bổ CP sản xuất chung theo thực tế phát sinh
có thể làm cho giá thành sản phẩm biến động lớn giữa các kỳ (tháng) Hầu hết các DNhoạt động có tính thời vụ và làm cho việc sử dụng giá thành sản phẩm cho việc địnhgiá bán và cho các quyết định quản trị cũng bị hạn chế
3.3.1.3.2 CP nhân công trực tiếp
IAS (IFRS) thường không bao gồm các khoản bảo hiểm xã hội, y tế, thất nghiệp,công đoàn vì những khoản này thường không thể tính được chính xác cho 1 giờ củacông nhân trực tiếp Để thông tin có ý nghĩa hơn trong quản trị, CP nhân công trực tiếp
sẽ biến đổi theo sản lượng sản xuất Do vậy theo thông lệ quốc tế, CP nhân công trựctiếp thường chỉ bao gồm tiền lương, tiền công của công nhân trực tiếp và các khoảntiền gắn liền với giờ lao động trực tiếp có thể như tiền cơm giữa ca, tiền ngoài giờ hệ
số 1 Nó không bao gồm các khoản tiền đi theo người lao động trực tiếp như CP bảohiểm xã hội, bảo hiểm y tế, công đoàn phí, đồng phục, bảo hộ lao động Tiền ngoài giờ
hệ số chênh lệch lớn hơn 1 được tính là CP lao động gián tiếp
VAS bao gồm tiền lương và tất cả các CP cho người lao động trực tiêp sản xuất
Nó bao gồm cả các khoản ngoài lương như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, CP côngđoàn Trừ trong công ty xây dựng, tính giống như IAS vì phần lớn là công nhân thuêngoài Điều này có thể làm cho việc sử dụng thông tin giá thành cho các quyết địnhkinh doanh có thể bị sai lệch, không tốt cho việc ra các quyết định
3.3.1.3.3 Giá thành cùa các tài sản sinh vật và sản phẩm nông nghiệp
Theo IAS 41: Các sản phâm nông nghiệp và tài sản sinh vật được ghi theo giá trịhợp lý trừ đi CP điềm bán hàng ước tính Trừ khi giá trị hợp lý không xác định đượcmột cách đáng tin cậy, sẽ sử dụng phương pháp giá gốc
Theo VAS: Nó được ghi theo giá gốc hay CP ban đầu Không theo giá trị hợp lýtrừ CP điểm bán hàng như IAS 41 Điều này có thể làm cho BCTC của VAS khôngphản ánh trung thực tình hình tài chính của DN
Trang 403.3.1.4 Đầu tư cổ phần dưới 20% vào công ty đầu tư
3.3.1.4.1 Cổ phiếu kinh doanh
IAS (IFRS): Ban đầu ghi khoản đầu tư theo giá phí, cuối kỳ ghi giá trị đầu tưtheo giá thị trường Chênh lệch giữa giá thị trường và giá ghi sổ trước đó sẽ ghi vào lãi
lỗ chưa thực hiện
Ví dụ 3.1: Giá vốn đầu tư 8 tỷ Việt Nam Đồng (VND), giá hợp lý (thị trường)
cuối kỳ là 7,3 tỷ VND, thì suy ra lỗ chưa thực hiện được ghi nhận trên BCKQKD là:0,7 tỷ VND
IFRS sẽ báo cáo như sau:
Giá trị thuần đầu tư cổ phiếu thương mại 7,3
VAS: Ghi theo giá gốc Cuối kỳ nếu giá thị trường xuống thấp hơn giá gốc, lập
khoản dự phòng ghi vào CP tài chính Sang kỳ tiếp theo nếu giá cổ phiếu lên lại, điềuchỉnh khoản dự phòng, ghi vào thu nhập tài chính
Theo ví dụ bên, VAS lập BCTC như sau:
Giá trị thuần đầu tư cổ phiếu ngắn hạn 7,3
Báo cáo kết quả kinh doanh
3.3.1.4.2 “Đầu tư chứng khoán sẵn sàng để bán”
IAS (IFRS): Đầu tư ban đầu được ghi theo giá vốn, cuối kỳ điều chỉnh khoản đầu
tư về giá thị trường và ghi tăng (nếu giá cao hơn so với giá cũ) hoặc giảm vốn chủ sờhữu trên BCĐKT nhưng không trình bày trên BCKQKD
Ví dụ 3.2: Giá mua cổ phiếu là 80.000 VNĐ/CP, cuối kỳ giá thị trường là 73.000