1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Hệ thống tài chính nhật bản

44 682 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 1,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái quát chung về hệ thống tài chính  Khái niệm Hệ thống tài chính financial system là tổng thể các tổng thể các hoạt độngtrong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân, nhưng

Trang 1

z

Trang 2

HỌC VIỆN NGÂN HÀNG

BỘ MÔN TIỀN TỆ NGÂN HÀNG

ĐỀ TÀI

HỆ THỐNG TÀI CHÍNH CỦA NHẬT BẢN

Trang 3

Giảng viên: Nguyễn Thành Nam

4 Nguyễn Minh Tuấn

5 Khúc Thị Xuân Phương ( Nhóm trưởng – Số điện thoại : 0941940918)

Trang 4

MỤC LỤC

Trang 5

-Danh mục viết tắt:

Trang 6

MỞ ĐẦU

Nhật Bản – quốc gia có nền kinh tế đứng thứ 3 thế giới Một trong những nguyên nhân là nên thành công đó chính là sự vận hành hiệu quả của hệ thống tài chính dưới sự giám sát của các cơ quan nhà nước Cùng là quốc gia có hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng là chủ yếu, Việt Nam sẽ học hỏi được nhiều từ nền kinh tế Nhật Bản Chính vì vậy, nhóm thảo luận quyết định chọn Hệ thống tài chính Nhật Bản làm chủ đề nghiên cứu, từ đó rút

ra những kinh nghiệm, bài học quý báu để áp dụng vào hệ thống tài chính Việt Nam

Trang 7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HỆ THỐNG TÀI CHÍNH

I. Khái quát chung về hệ thống tài chính

Khái niệm

Hệ thống tài chính (financial system) là tổng thể các tổng thể các hoạt

độngtrong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân, nhưng có quan hệ hữu

cơ với nhau về việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế-xã hội trong các lĩnh vực đó

Hệ thống tài chính bao gồm: Nhà đầu tư, người tiết kiệm, tổ chức tài chính, thị trường tài chính, tổ chức quản lý giám sát tài chính

Phân loại

Hiện nay, trên thế giới có 2 loại HTTC:

Các thành phần trong hệ thống tài chính

3.1 Người tiết kiệm

Người tiết kiệm (The lender – savers) là các chủ thể có nhu cầu về các công

cụ tài chính hay là người cung cấp nguồn vốn dư thừa tạm thời cho thị trường Họ

có thể là các hộ gia đình, các doanh nghiệp, Chính phủ, chủ thể nước ngoài ( Giáo trình Tiền tệ ngân hàng, HVNH 2012)

3.2 Người đầu tư

Trang 8

Người đầu tư (The borrower – spenders) là các chủ thể có nhu cầu về vốn để thực hiện kế hoạch sản xuất kinh doanh hoặc tiêu dùng.Để có được nguồn vốn họ tiến hành phát hành các công cụ tài chính trên thị trường tài chính Họ có thể là cácdoanh nghiệp, Chính phủ, các hộ gia đình, chủ thể nước ngoài ( Giáo trình Tiền tệ ngân hàng, HVNH 2012)

Thị trường tài chính bao gồm: Thị trường tiền tệ và Thị trường vốn

Thị trường tiền tệ: là nơi mua bán ngắn hạn các công cụ tài chính

thấp

Có chức năng tài trợ nhu cầu vốn lưu động cho DN, CP

Thị trường vốn: Là nơi mua bán các công cụ tài chính trung và dài hạn.

Thỏa mãn các nhu cầu vốn đầu tư trung và dài hạn của CP, DN, HGĐ

3.4 Trung gian tài chính

Trung gian tài chính : là các tổ chức chuyên nghiệp cung ứng các dịch vụ tài chính bằng cách huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi dưới nhiều hình thức

Trang 9

khác nhau rồi dung nguồn vốn này để đầu từ ( chủ yếu là cho vay) nhằm mang lại lợi ích cho các bên tham gia ( Giáo tình tài chính học, HVNH 2013)

- TGTC phi ngân hàng: là các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực tài chính- tiền

tệ, được thực hiện một số hoạt động ngân hàng như là nội dung kinh doanh thườngxuyên, và không làm dịch vụ thanh toán Các TGTC này bao gồm: Công ty bảo hiểm, quỹ trợ cấp, công ty tài chính, quỹ đầu tư ( Giáo trình Tiền tệ ngân hàng, HVNH 2012)

3.5 Tổ chức điều hành, giám sát hệ thống tài chính

- Tổ chức giám sát tài chính quốc gia: là cơ quan quan trọng nhất trong việc giám

sát hoạt động hệ thống tài chính Với mục tiêu đảm bảo sự an toàn và lành mạnh của các định chế tài chính, đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia giao dịch tài chính qua đó thúc đẩy sự vận động của dong vốn một cách hiệu quả

- Ngân hàng trung ương: là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc

Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn

Trang 10

vỡ Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc sở hữu của Nhà nước, nhưng vẫn có

- Ủy ban chứng khoán quốc gia:là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính Việt Nam, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước

chứng khoán và thị trường chứng khoán; quản lý các hoạt động dịch vụ thuộc lĩnh vực chứng khoán và thị trường chứng khoán theo quy định của pháp luật

Chương 2

Thực trạng hoạt động của Hê thống tài chính Nhật Bản

I. Thị trường tài chính Nhật Bản giai đoạn 2010-2014

Trang 11

khoán Tokyo” được thành lập vào ngày 15 tháng 5 năm 1878; và hoạt động giao dịch của nó được bắt đầu vào ngày 1 tháng 6

- 04/1947 ,Sở giao dịch chứng khoán Nhật Bản” bị giải thể

- 01/04/1949 Sở giao dịch chứng khoán Tokyo" dưới hình thức hiện nay được thành lập (mở cửa vào ngày 16 tháng 5)

-02/04/1956 Bắt đầu giao dịch trái phiếu

-02/10/1961Các phiên giao dịch cổ phiếu thứ hai được mở cử

-01/10/1966 Trái phiếu chính phủ được niêm yết lần đầu tiên sau Chiến tranh thế giới thứ II

-01/11/2011 Tập đoàn giao dịch chứng khoán Tokyo được thành lập sau khi

chuyển đổi TSE thành hình thức doanh nghiệp

-17/10/2007 Thành lập tập đoàn quản lý giao dịch chứng khoán Tokyo (Tokyo Stock Exchange Regulation)

-01/11/2007 Bắt đầu hoạt động tại Tokyo stock exchange regulation

Hiện nay, Nhật Bản có 8 Sở giao dịch chứng khoán theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là: Sapporo, Niigata, Tokyo, Nagoya, Kyoto, Osaka,Hiroshima và Fukuoka Trong đó 3 sở giao dịch chứng khoán Tokyo, Nagoya, Osaka là Sở giaodịch chứng khoán mang tính “quốc gia”, giao dịch chiếm tới 98,1% tổng giá trị giao dịch chứng khoán trên TTCK Nhật Bản

Bên cạnh các Sở giao dịch chứng khoán, tại Nhật Bản còn có các thị trườngchứng khoán phi tập trung, tiêu biểu đó là Nhật Bản có hai thị trường OTC cùng hoạt động đồng thời, đó là thị trường Jasdaq và thị trường J-net

Năm 1991, thj trường Jasdaq bắt đầu hoạt động trên cơ sở phát triển thị trường OTC truyền thống hoạt động từ tháng 2/1963 do Hiệp hội các nhà kinh doanh chứng khoán Nhật Bản (JSDA) quản lý

Trang 12

Thị trường J-net đi vào hoạt động từ tháng 5 năm 2000 được tổ chức dành cho cácchứng khoán không được niêm yết trên sở giao dịch nhằm đáp ứng yêu cầu tiết kiệm thời gian và chi phí cho các đối tượng tham gia thị trường, hoạt động theo phương thức thương lượng giá

TTCK Nhật Bản đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn dài hạn cho Chính Phủ và các công ty Nói đến TTCKNhật Bản trước hết phải kể đến Sở giao dịch chứng khoán Tokyo (Tokyo Stock Exchange – TSE) bởi vì Sở giao dịch chứng khoán Tokyo ra đời sớm nhất vào năm 1878, sở giao dịch lớn nhất tại Nhật Bản về số lượng chứng khoán lưu hành cũng như về doanh thu và đứng thứ 2 thế

Hiện tại sở giao dịch này niêm yết 2271 công ty nội địa và 31 công ty nước ngoài với tổng khối lượng vốn hóa thị trường hơn 4000 tỷ USD.Các cổ phiếu niêm yết tại TSE được phân ra Phần thứ nhất (cho các công ty lớn), Phần thứ 2 (cho các công ty vừa) và phần "Mẹ" (cho các công ty mới bắt đầu tăng trưởng cao) Từ tháng 3/2006, có 1721 công ty ở Phần thứ 1, 489 ở Phần thứ 2 và 156 công ty

"Mẹ"

Thị trường cố phiếu:

Các chỉ số ghi nhận sự biến đổi của TSE là chỉ số Nikkei 225 của các công tyđược chọn lọc bởi tờ Nhật báo Kinh tế Nhật Bản; chỉ số Topix dựa trên giá cổ phiếu của các công ty Phần 1; chỉ số J30 của các công ty công nghiệp lớn được xácnhận bởi các tờ báo khổ rộng chính của Nhật Bản

Trong các chỉ số trên, chỉ số Nikkei 225 là chỉ số được thiết lập để phản ánh toàn thị trường, chứ không phải riêng ngành công nghiệp cụ thể nào nên Nikkei là chỉ số được sử dụng nhiều nhất và có ảnh hưởng nhất tới TTCK Nhật chỉ số Nikkei 225 được tính bằng bình quân gia quyền giá của 225 loại cổ phiếu lớn nhất tại Tokyo ( tính bằng đồng yên Nhật) Ngoài ra, Chỉ số Nikkei 225 còn là một chỉ

Trang 13

này là vào ngày 29 tháng 12 năm 1989 vào thời điểm giao dịch trong ngày đã có

Nhờ cuộc cải cách kinh tế quan trọng Nhật Bản (Abenomic), thị trường chứng khoán Nhật bản đã tăng hơn 50% từ năm 2013 đến nay Một sự phục hồi mạnh mẽ của thị trường với khối lượng giao dịch lớn kể từ khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Thêm vào đó, chính sách giảm thuế thu nhập doanh nghiệp ít nhất là 3,3% vào năm 2016 cũng đã tiếp thêm động lực tăng trưởng cho TTCK Nhật Bản năm 2015

Biểu đồ1 : Diễn biến của chỉ số Nikkei 225 giai đoạn 2011-2015

Trang 14

Nguồn: Bloobegr business

TTCP Nhật Bản có sức hút mạnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài Minh chứng cho điều đó là (tính tới cuối tháng3/2015) tỷ lệ cổ phiểu của các doanh nghiệp Nhật Bản do người nước ngoài sở hữu trong tài khóa 2014 đã lên tới 31,7% Con số này đã đạt kỷ lục ba năm liên tiếp từ 2013 đến 2015 và hiện các nhà đầu

tư nước ngoài là cổ đông lớn nhất của các công ty Nhật Bản Do với kỳ vọng các doanh nghiệp Nhật Bản sẽ kinh doanh thuận lợi, quyết định bổ sung các biện pháp nới lỏng tài chính của NHTW Nhật Bản (BoJ) hồi cuối tháng 10/2014 là nhân tố

mà giới phân tích nhận định cổ phiếu Nhật Bản sẽ tăng giá và quyết định mua vào

Bên cạnh đó, TTCP Nhật bản cũng có sức hút mãnh liệt với các ngân hàng đầu tư tín thác.Trong tài khóa 2014, các ngân hàng tín thác mua vào 3.509 tỷ yên-

số lượng lớn nhất trogn sáu nam qua Hiện tỷ lệ sở hữu cổ phiếu Nhật Bản của các ngân hàng tín thác đạt 18% - lần đầu tiên vượt qua tỷ lệ sở hữu cá nhân 17,3% ( trong 12 năm gần đây)

Trang 15

TTCP Nhật Bản bị ảnh hưởng khá lớn bởi giá xuất khẩu Do nền kinh tế NhậtBản quá phụ thuộc vào xuất khẩu nên khi giá trị xuất khẩu tăng, lợi nhuận của doanh nghiệp tăng tác động mạnh đẩy giá chứng khoán lên theo và ngược lại Từ năm 2003 đến nay, hai chỉ số xuất khẩu và Nikkei 225 có biểu hiện “ cùng tiến” là

rõ hơn cả

Biểu đồ 2: Mối liên giữa chỉ sô giá xuất khẩu và chỉ số Nikkei 225 tại Nhật Bản

Nguồn: Ngân Hàng Nhật Bản Thị trường cố phiếu Nhật Bản có vai trò rất quan trọng đối với các doanh nghiệp trong cũng như ngoài nước trong việc tăng giá trị vốn hóa, cung cấp nguồn tiền đầu tư cho các dự án…

Thị trường trái phiếu

Nhật Bản có thị trường nợ công lớn nhất thế giới với tỷ lệ nợ công đang ở mức 200% GDP Mặc dù vậy, thị trường nợ công của Nhật Bản không quá đáng lo

Trang 16

ngại do phần lớn lượng nợ này được nắm bởi các nhân tố trong nước như: người dân Nhật, ngân hàng Nhật…

Biểu đồ 3: Tổng giá trị TPCP đang lưu hành (2008-2014) Đơn vị : nghìn yen

Nguồn: JSDA

Lợi suất TPCP Nhật Bản có xu hướng giảm dần qua các năm và giảm mạng

từ giai đoạn năm 2012 đến nay, lợi suất trái phiếu tính đến thời điểm tháng 9/2015

đã bị giảm gần 70% so với lợi suất TPCP đầu năm 2012 Mặc dù vậy, TPCP Nhật Bản vẫn nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà đầu tư trong và ngoài nước bởi mức độ an toàn cao

Biểu đồ 4: Diễn biến lợi suất TPCP giai đoạn 2012-2015

Nguồn: Investing.com Với cấu trúc HTTC dựa vào ngân hàng, ở Nhật Bản lượng vốn huy động của các doanh nghiệp từ phát hành trái phiếu thấp hơn rất nhiều ( trung bình

khoảng 8 lần) so với đi vay từ các tổ chức trung gian tài chính

Biểu đồ 5: So sánh tổng giá trị vốn vay từ TPDN với

Trang 17

vay nợ Ngân hàng của DN

Nguồn: BOJ Nhật Bản còn nổi tiếng với TTTP quốc tế, với quy mô lớn nhất thế giới cùng với Mỹ TTTP quốc tế Nhật Bản gồm hai thị trường.Thị trường công khai- Thị trường Samurai, trên đây các nhà phát hành cần có điều kiện tiên quyết là phải được xếp hạng tín nhiệm từ BBB trở lên.Các trái phiếu Samurai chủ yếu được các nghiệp đoàn và các công ty Nhật bảo lãnh Thị trường không công khai, các nhà phát hành không cần tuyên bố bất kỳ một tài liệu nào theo luật giao dịch chứng khoán Tuy nhiên số lượng trái phiếu này cũng ít và cũng ít nhà đầu tư

Nguồn: JSDA TTTP Nhật Bản tuy với quy mô không lớn nhưng cũng đã đóng một vai trò quan trong trọng việc cung cấp nguồn vốn cho các doanh nghiệp cũng như góp phần bù đắp thiếu hụt ngân sách của chính phủ Nhật Bản, bên cạnh đó là công cụ giúp chính phủ Nhật Bản thực hiện các CSTT nhằm hỗ trợ nền kinh tế

2. Thị trường tiền tệ

2.1 Thị trường Liên ngân hàng

Thị trường LNH của Nhật Bản gồm có thì trường mua tiền tệ ( call money market) dành cho những giao dịch cực ngắn, phục vụ cho giao dịch thương mại và thị trường thương phiếu (bill market) dành cho các giao dịch dài hạn

Hoạt động với quy mô lớn, thị trường LNH Nhật Bản có khối lượng giao dịch trung bình ngày trong tháng lên tới 90 nghìn tỷ yen và có xu hướng tăng dần qua các năm.Các giao dịch chuyển tiền LNH được tiếp nhận cũng như xử lý nhờ

Trang 18

hệ thống Zengin – Hệ thống LNH và được quyết toán thông qua các tài khoản mở tai NHTW.

Biểu đồ 7: Giá trị giao dịch trung bình ngày trong tháng (2010-2014)

Nguồn: BOJ Lãi suất trên thị trường LNH Nhật Bản được tự do xác định trên cơ sở cung cầu về vốn và làm lãi suất tham chiếu cho mọi định chế tài chính.Diễn biến lãi suấttrên thì trường LNH Nhật Bản khá ổn định từ năm 2011 đến nay, Lãi suất qua đêmkhông có biến động gì và luôn xấp xỉ ở mức 0,1%

Nguồn: BOJ2.2 Thị trường tiền tệ mở rộng

Nghiệp vụ thị trường mở không chỉ đóng vai trò là kênh huy động vốn giúp các tổ chức ngân hàng đảm bảo tính thanh khoản, mà nó còn là một công cụ hữu hiệu giúp NHTW thực hiện các chính sách tiền tệ, điều phối cung cầu tiền trong thịtrường để định hướng lãi suất cho từng thời kì

Nhật Bản là nước có chủng loại các GTCG gia dịch trong nghiệp vụ thị trường mở rất phong phú.Có thể thấy điều này qua danh mục các loại giấy tờ có giá được NHTW Nhật Bản sử dụng như: Trái phiếu Chính Phủ, Tín phiếu kho bạc,trái phiếu doanh nghiệp, thương phiếu, Hóa đơn gairm giá kho bạc, quỹ giao dịch, quỹ đầu tư ủy thác bất động sản Nhật Bản

Tuy nhiên, hàng hóa đầu tiên được sử dụng trên thị trường OMO sẽ là các GTCG có tính thanh khoản cao như Trái phiếu Chính Phủ và tín phiếu kho bạc Vàcác trái phiếu chính phủ vẫn là cơ sở quan trọng cho các hoạt động của thị trường

mở Nhật Bản Đặc biệt là trên thị trường đấu thầu tín phiếu, trái phiếu chính phủ, BOJ được phép thực hiện vai tròlà người mua cuối cùng Điều này giúp BOJ luôn

Trang 19

có công cụ chủ động điều hòa thị trường tiền tệ mà không nhất thiết phải phát hànhtrái tín phiếu NHTW.

Nguồn: BOJ Nhật Bản đang tiếp tục thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng nhằm chống lạitình trạng giảm phát kéo dài Điều đó dẫn đến hiện tượng lượng cung tiền thì tăng dần qua các năm nhưng lãi suất trên thị trường OMO lại bị kìm chế ở mức thấp Đối tượng tham gia giao dịch OMO ở Nhật bản bị hạn chế hơn so với các quốc gia khác Đối tượng quan trọng của BOJ là các Ngân Hàng do đó BOJ sẽ thực hiện các giao dịch OMO chủ yếu thông qua các nhà giao dịch sơ cấp và phạm

vi của những nhà sơ cấp này chính là các ngân hàng mà không bao gồm các trung gian tài chính phi ngân hàng và các doanh nghiệp

Ngoài các nghiệp vụ thông thường như: cấp vốn dài hạn thông qua mua không hoàn lại TPCP, cấp vốn ngắn hạn thông qua mua không hoàn lại hoặc mua

có kỳ hạn , trị trưởng mở còn có chương trình mua tài sản Chương trình mua tài sản được thiết lập trên bảng cân đối của Ngân hàng thông qua lãi suất cố định với các tài sản thế chấp , với mục đích khuyến khích sự suy giảm lãi suất thị trường dàihạn và giảm rủi ro khác nhau để nâng cao hơn nữa nới lỏng tiền tệ

II. Trung Gian Tài chính

1. Hệ thống ngân hàng trung gian Nhật Bản

1.1 Cấu trúc của hệ thống NHTG

Trang 21

Tính đến tháng 7/2015, tổng dư nợ cho vay tính riêng cho khối các ngânhàng thương mại tư nhân đạt hơn 450,000 tỷ yen.Trong khi lượng trái phiếu doanhnghiệp phát hành mới trong năm 2014 chỉ đạt gần 8,400 tỷ yen.Tổng lượng tráiphiếu doanh nghiệp còn lưu hành đến hết năm 2014 đạt hơn 59,300 tỷ yen.Nhưvậy, lượng vốn huy động từ thị trường chứng khoán là nhỏ so với lượng vốn huyđộng từ ngân hàng trung gian, khẳng định tầm quan trọng của hệ thống ngân hàngtrung gian tại Nhật Bản.

1.3Thực trạng hoạt động của NHTG Nhật Bản

Tổng lượng huy động vốn bằng tiền gửi của các ngân hàng thương mại tưnhân trong nước tính đến tháng 9/2015 là 870,494 tỷ yen Trong đó, huy động vốnbằng tiền gửi của City banks và Ngân hàng khu vực chiếm tỷ trọng lớn nhất lầnlượt là 36% , 37% Tiếp theo đó là hoạt động tín thác chiếm 16% và ngân hàng tínthác 5,2% Thấp nhất là ngân hàng nước ngoài với lượng vốn huy dộng chỉ chiếm 8% trogn tổng số vốn huy động

Nguồn: BOJ Tổng lượng vốn huy động từ các ngân hàng trong hệ thống ngân hàngthương mại đều tăng qua các năm

Trang 22

Nguồn: BOJ

b Các tổ chức tín dụng khác

Bên cạnh các ngân hàng thương mại tư nhân và các ngân hàng shinkin,

có một nhóm khác cũng đóng vai trò khá lớn trong hệ thống ngân hàng, trong đóhầu hết là các ngân hàng trung ương của các nhóm tổ chức tín dụng hợp tác

Cũng đóng góp một phần không nhỏ vào tổng lượng vốn huy động, nhóm các tổchức tín dụng hợp tác và NHTW tính đến tháng 9/2015 đã huy động đưuọc 15,605

tỷ yen Lượng vốn huy động tăng đều qua các năm

Nguồn: BOJ

Tính đến cuối tháng 7/2015, tổng dư nợ cho vay của các Ngân hàng thươngmại tư nhân là 450,845.6 tỷ yen.Trong đó các tổ chức ngân hàng thương mại tưnhân, City banks và nhóm các ngân hàng thuộc Hiệp hội Ngân hàng Khu vực NhậtBản là hai nhóm có dư nợ cho vay lớn nhất Dư nợ cho vay của City banks đạt

Ngày đăng: 08/09/2016, 21:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w