Nói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảngNói về lịch sử đảng
Trang 1BÀI THI MÔN: LỊCH SỬ ĐẢNG
Vấn đề 1: Nhận xét của đ/c về phong trào yêu nước của nhân dân ta đầu thế kỷ 20 Quá trình tìm đường cứu nước của đ/c Nguyễn Ái Quốc đối với chủ nghĩa Mác – Lênin từ 1911 đến
1920 và những cống hiến của Người về chính trị để chuẩn bị thành lập chính Đảng đầu tiên ở Việt Nam Theo đ/c cuối năm 1929 đầu năm 1930 lịch sử Đảng bộ Quảng Trị có những vấn đề gì nổi bật
* Nhận xét về phong trào yêu nước của nhân dân ta đầu TK 20:
Từ khi thực dân Pháp xâm lược (1858) đến những năm 20 của thế kỷ XX đã có hàng trăm cuộcđấu tranh anh dũng của dân tộc ta chống kẻ thù xâm lược nhưng đều thất bại
nhân dân ta phải sống cuộc sống vô cùng cơ cực, cơm không có ăn, áo không có mặc, người dânphải làm thân nô lệ, bị bóc lột đến tận xương tủy, không chịu nỗi sự đàn áp, bóc lột dã man của thựcdân Pháp, đến những năm đầu TK 20 các phong trào yêu nước tự phát nỗ ra chống lại kẻ thù xâm lượcvới mục đích đòi có cơm ăn, áo mặc, đòi được tăng lương, như đã có hàng trăm cuộc đấu tranh anhdũng của dân tộc ta chống kẻ thù xâm lược Tiêu biểu là phong trào Cần Vương do Tôn Thất Thuyếtcầm đầu (1885-1896); Phong trào yêu nước tiêu biểu là xu hướng bạo động của Phan Bội Châu và xuhướng cải cách của Phan Chu Trinh; Phong trào yêu nước theo khuynh hướng dân chủ tư sản mà đỉnhcao là cuộc khởi nghĩa Yên Bái do Nguyễn Thái Học lãnh đạo Tất cả các phong trào chống thực dânPháp theo ý thức hệ phong kiến, tư sản của nhân dân ta diễn ra sôi nổi và liên tục, nhưng tất cả đềukhông thành công Sự thất bại của các Phong trào yêu nước Việt Nam và rơi vào khủng hoảng, bế tắc
về đường lối cứu nước chính là do thiếu đường lối và sự lãnh đạo đúng đắn của một tổ chức tiênphong, đòi hỏi Việt Nam phải có một tổ chức CM có khả năng dẫn đường đưa phong trào cứu nước điđến thắng lợi
Nguyễn Ái Quốc, người thanh niên giàu lòng yêu nước đã sớm có chí đánh đuổi thực dân Pháp,giải phóng đồng bào Người rất khâm phục tinh thần yêu nước của các bậc tiền bối, nhưng không tánthành con đường cứu nước của các cụ.Vượt qua tầm hạn chế của những sĩ phu yêu nước đương thời,Người quyết chí ra nước ngoài tìm con đường cứu nước mới
* Quá trình tìm đường cứu nước của đ/c Nguyễn Ái Quốc đối với chủ nghĩa Mác – Lênin
từ 1911 đến 1920
Sống trong cảnh đất xâm lăng, nhân dân bị đạo đày gian khổ, ngày 05/6/1911 đ/c Nguyễn ÁiQuốc ra đi tìm đường cứu nước, sau khi đến nhiều nước trên thế giới và trải qua nhiều nghề lao độngkhác nhau Người đã rút ra một kết luận: ở đâu bọn đế quốc thực dân cũng tàn bạo độc ác, ở đâu ngườilao động cũng bị bóc lột dã man
Khi CM Tháng Mười Nga thành công, Nguyễn Ái Quốc từ nước Anh trở lại nước Pháp, Ngườitham gia các hoạt động chính trị tại Pháp; đầu năm 1919 NAQ tham gia Đảng xã hội Pháp, NAQ đãtán thành việc gia nhập Quốc tế thứ III và biểu quyết sáng lập ra Đảng CS Pháp; Tháng 6 năm 1919NAQ đưa bản yêu sách của người Việt Nam đến Hội nghị Véc Xây; Tháng 7 năm 1920 NAQ đọc bản
sơ thảo lần thứ nhất những Luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của V.I Lênin đăng trênBáo Nhân đạo; Luận cương của Lênin, lý luận của Lênin và lập trường của Quốc tế cộng sản về CMgiải phóng dân tộc là cơ sở để Người gia nhập Quốc tế cộng sản; NAQ trở thành chiến sĩ cộng sản đầutiên của g/c CN và dân tộc Việt Nam; NAQ tích cực truyền bá CN Mác-Lênin về VN nhằm chuẩn bịtiền đề về chính trị, tư tưởng, tổ chức cho sự ra đời của chính Đảng tiên phong ở Việt Nam
Trang 2* Những cống hiến của Người về chính trị để chuẩn bị thành lập chính Đảng đầu tiên ở Việt Nam
Trong thời gian ra đi tìm đường cứu nước và hoạt động CM, NAQ đã cho ra đời hệ thống các quanđiểm vê con đường giải phóng dân tộc đó là:
- Chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của giai cấp công nhân và nhân dân lao động toàn thế giới,
là kẻ thù trực tiếp nguy hại nhất của nhân dân các nước thuộc địa;
- Các dân tộc bị áp bức và thuộc địa muốn giải phóng thì phải dựa vào sức mình là chính;
- Cách mạng giải phóng dân tộc ở các nước thuộc địa và cách mạng vô sản ở “chính quốc” cóquan hệ khăng khít với nhau;
- Cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận cách mạng trong thời đại đế quốc và cách mạng
vô sản Giải phóng dân tộc phải gắn liền với giải phóng nhân dân Lao động, giải phóng giai cấp côngnhân
- Cách mạng muốn thành công phải có lực lượng của toàn dân tham gia, vì CM là việc chung củadân chúng, trong đó công nông là gốc của CM Phải thực hiện sự liên minh chiến đấu giữa các lựclượng CM ở thuộc địa và “chính quốc”
- Cách mạng thuộc địa không phụ thuộc vào CM vô sản ở “chính quốc” mà có tính chủ động, độclập và có thể thành công trước CM ở chính quốc và góp phần đẩy mạnh CM ở chính quốc tiến lên.Giương cao ngọn cờ chống đế quốc và bọn phong kiến tay sai, giành độc lập, tự do là tư tưởng chiếnlược CM đúng đắn của Nguyễn Ái Quốc về CM thuộc địa
- CM thuộc địa, trước hết là giải phóng dân tộc, mở đường tiến lên giải phóng hoàn toàn laođộng, giải phóng con người, tức là làm CM XHCN, phải thực hiện sự liên minh, đoàn kết với các lựclượng CM quốc tế, phải có Đảng CM để lãnh đạo đấu tranh CM
Hệ thống quan điểm CM đúng đắn và sáng tạo đó là nội dung tư tưởng CM giải phóng dân tộctheo CN Mác Lênin của Người Hệ thống quan điểm trên được truyền vào Việt Nam nhằm chuẩn bị về
tư tưởng và chính trị cho việc thành lập Đảng
Trên đây là những cống hiến quan trọng của NAQ về lý luận CM thuộc địa, là sự chuẩn bị vềchính trị cho một Đảng chân chính sắp ra đời ở Việt Nam
Hệ thống quan điểm, lý luận về con đường CM của Nguyễn Ái Quốc trở thành tư tưởng cáchmạng hướng đạo phong trào dân tộc và các tổ chức chính trị theo khuynh hướng CM vô sản, dẫn đến
sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam: Đông Dương cộng sản Đảng (6-1929), An Nam cộngsản Đảng (7-1929) và Đông Dương cộng sản liên đoàn (9-1929)
Yêu cầu bức thiết đặt ra lúc này là: phải thống nhất các tổ chức Đảng thành một Đảng duy nhất
để lãnh đạo CM Việt Nam đấu tranh giành độc lập Từ ngày 3 đến ngày 7/2/1930 hội nghị thống nhấtĐảng đã họp tại Cửu Long (Hương Cảng) dưới sự chủ trì của NAQ đã nhất trí hợp nhất các tổ chứccộng sản thành một đảng duy nhất lấy tên là Đảng CS VN; thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lượcvắn tắt, Chương trình tóm tắt, Điều lệ vắn tắt của Đảng và Điều lệ vắn tắt của các hội quần chúng Vănkiện quan trọng của Đảng được Hội nghị thông qua là: “Cương Lĩnh cách mạng đầu tiên của ĐảngCSVN”
* Theo đ/c cuối năm 1929 đầu năm 1930 lịch sử Đảng bộ Quảng Trị có những vấn đề gì nổi bật
Vào khoảng thời kỳ cuối năm 1929 đầu năm 1930, Tỉnh Quảng Trị nói chung và Đảng bộ QuảngTrị nói riêng có những vấn đề nổi bật mà chúng ta, những người con Q Trị không thể không tìm hiểuquá trình thành lập đảng bộ Quảng Trị, qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu, tại bài làm hôm nay, là họcviên đang học tại trường xin nêu lên những vấn đề nỗi bật của lịch sử Đảng bộ Quảng trị như sau:
Trang 3Đoàn Đại biểu Bắc kỳ đã đưa ra đề nghị thành lập ĐCS với mục đích tổ chức DCS dẫn đạo cho
vô sản giai cấp làm cách mệnh, Cùng thời điểm này, ngày 15/5/1929 Trần văn Cung đến Quảng Trigặp Nguyễn Đình Cương bàn về vấn đề giải tán thanh niên, thành lập nhóm cộng sản ở địa phương
Ngày 16/5/1929, Nguyễn Đình Cương đã triệu tập số hội viên thanh niên tích cự ửng hộ việc tổchức cộng sản tại làng long hưng (Hải Lăng) để giới thiệu khái quát về CNCS và chuyên chính vô sản,đường lối CM ở Đông dương Tại đây, tất cả hội viên thanh niên có nhất trí tuyên bố giải tán thanhniên, thành lập tổ chức CS Nhóm CS đầu tiên của Quảng Trị được thành lập gồm các đ/c: NguyễnĐình Cương, Đoàn Lân, Trần Hữu Dực, Trịnh Đức Tân, Hoàng thị Ái, , Nguyễn Đạm, Trần Ngung
Thông qua Đoàn Bá Thừa để nhóm CS Quảng Trị vận động bà Đoàn Thị Ái ở An Tiêm nuôi đ/cTrần Hữu Dực, mở lớp dạy trẻ em học và làm nơi liên lạc và cơ sở hoạt động của nhóm
Ngày 19/6/1929 Nhóm CS Quảng Trị được đ/c Nguyễn Phong Sắc – Bí thư xứ ủy lâm thời Trung
kỳ đưa truyền đơn và tài liệu của Đông dương CS Đảng để in và phát rộng rải trong tỉnh và khu vựctrung kỳ, nội dung truyền đơn là vạch rõ mục tiêu phương hướng đất tranh CM của Đông dương CSĐảng Việc rãi truyền đơn và thư của Đông dương CS Đảng đã ảnh hưởng vang dội trong tầng lớpnhân dân, việc làm này đã làm cho bọn quan lại của chính phủ nam triều tìm mọi biện pháp đối phó,bắt Đảng viên và Hội viên thanh niên
Nguyễn Đình Diệm- Tri phủ Hải Lăng, tên phản động đội lốt tôn giáo, tên tay sai đắc lực củathực dân pháp đã không từ một thu đoạn để chống phá CM, hắn cho thu giử truyền đơn, cất giấu tàiliệu, bắt giam thanh niên, chỉ trong 2 tháng 7 và 8 năm 1929 toàn tỉnh Q trị bị bắt 60 người, trong đó
có 39 hội viên VNTNCM Đồng Chí Hội và cùng nhiều đảng viên tân việt, hội viên của Hưng nghiệphội xã
Những người bị bắt bị giam ở nhà đày Lao bảo và nhà lao Quảng Trị trong thời gian bị giam ởnàh lao Quảng Trị, đ/c Trần Hửu Dực cùng một số đảng viên CS, Hội viên viên VNTNCM Đồng ChíHộị đa giúp đở nhau lúc ốm đau, đối phóa với kẻ địch, cùng nhau tổ chức đấu tranh chống lại chế độ
hà khắc của nhà tù, đòi cải thiện sinh hoạt trong nhà tù, tổ chức tuyệt thực 7 đến 10 ngày mỗi đợt cuốicùng tên ám sát tỉnh Quảng trị đã đến trại giam tuyên bố giải quyết các yêu sách mà các d/c đưa ra
Dù ở trong tù nhưng đ/c Trần Hửu Dực vẫn vận động anh em bớt suất ăn của mình hàng ngày đểlấy tiền mua giấy mực xuất bản tờ báo tiến lên, nội dung tờ báo giới thiệu về Đảng CSĐông dương vàgiửi thích chủ trương của đảng bằng mọi phương pháp để xây dựng lại cơ sở đảng tại Q Trị
Tháng 11/1929 Đoàn Bá Thừa đã thành lập chi bộ An Tiêm gồm 4 đ/c Đoàn Bá Thừa , NguyễnKháng, Nguyễn Bệc, Nguyễn thị Trúc
Trong thời gian này, Lê Viết Lượng được đ/c Hoàng Thị Ái cung cấp tình hình Q trị, Lê ViếtLượng đã bắt mối với Lê Thế Tiết, khi gặp nhau họ bà cách tổ chức thành lập các chi bộ: Tường Vân(triệu Phong), Tân Tường (Cam lộ), cùng với chi bộ An tiêm, đây là ba chi bộ được thành lập sớmnhất tại Q trị
Sau khi DCS VN được thành lập (03/2/1930) việc XD cơ sở Đảng, thành lập các chi bộ ở Q trị đãđược xúc tiến mạnh mẽ hơn và đã có hàng chục chi bộ được thành lập
Đầu tháng 4/1930 đ/c Trần Hửu Dực đã họp với các bí thư chi bộ ở nà ông Nguyễn Huyên ở làng
vệ nghĩa để bàn bạc thống nhất vạch ra một số công việc phải làm, trong đó:
+ Cũng cố phát triển các chi bộ đảng, khi có nghị quyết và điều lệ đảng do do thượng cấp đưa vềthì tiến hành ngay việc mở hội nghị thành lập tỉnh ủy Quảng trị
Giữa tháng 4/1930 phái viên của phân khu xứ ủy trung kỳ đến gặp đ/c lê Thế Tiết tại Gia đình ởlàng Tường vân bàn về việc lập Ban vận động thành lập Đảng bộ ĐCSVN tỉnh Quảng Trị
Ngày 21/4/1930 Hội nghị đã được tổ chức tại nhà ông Nguyễn Phu ở làng Đại Hào (Triệuphong), Hội nghị đã nhất trí thành lập BCH lâm thời ĐCSVN tỉnh Quảng Trị gồm 3 ủy viên: Lê Thế
Trang 4Tiết, Nguyễn Hữu Mãi, Trần Hữu Dực, cử đ/c Lê Thế Tiết làm Bí thư tỉnh ủy đầu tiên của Đảng bộQuảng Trị.
Vấn đề 2: Thời kỳ 1930-1945 mà nổi bật là giai đoạn 1939-1941 đánh dấu sự chuyển biến chiến lược sắc sảo của Đảng ta được thể hiện như thế nào để chuẩn bị cho thành công của cánh mạng tháng 8/1945? Những đóng góp của các địa phương tỉnh Quảng Trị góp phần làm nên thắng lợi rực rỡ của cách mạng tháng 8/1945.
Đảng chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc
Ngày 1-9-1930, phát xít Đức tấn công Ba Lan Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ
Chiến tranh thế giới ảnh hưởng sâu sắc đến tình hình mọi mặt ở Đông Dương Thực hiện chínhsách thời chiến, thực dân Phát điên cuồng tấn công Đảng Cộng sản Đông Dương và các đoàn thể quầnchúng, các tổ chức do Đảng lảnh đạo Một số quyền tự do dân chủ giành được trong thời kỳ 1936-
1939 bị thủ tiêu
Hai tháng sau khi chiến tranh bùng nổ, Trung ương Đảng họp từ ngày 6 đến ngày 8-11-1939 tại BàĐiểm (Gia Định), do đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng Bí thư của Đảng chủ trì Hội nghị đả phân tíchsâu sắc bản chất cuộc chiến tranh, đặc điểm cơ bản cách mạng Đông Dương xác định: mục tiêu chiếnlược trước mắt cuả cách mạnh Đông Dương là đánh đổ đế quốc và tay sai, giải phóng Đông Dương,làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Hội nghị quyết định thay đổi một số khẩu hiệu, chuyểnhướng hình thức tổ chức và hình thức đấu tranh Tạm gác khẩu hiệu “ tịch thu ruộng đất của giai cấpđịa chủ”, chỉ chủ trương “ tịch thu ruộng đất của đế quốc và tay sai” Không nêu khẩu hiệu lập Chínhphủ Xôviết công nông binh mà đề ra khẩu hiệu thành lập Chính phủ Liên bang cộng hòa dân chủ ĐôngDương Quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương thay cho Mặt trận dânchủ Đông Dương
Sự sáng tạo và nhạy bén nhất của Hội nghị là đã nêu ra phương hướng chiến lược tập trung mũinhọn của cách mạng vào đế quốc và tay sai, giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, chuẩn bị điềukiện giành chính quyền
Ngày 22-9-1940, quân Nhật từ Trung Quốc đánh vào Lạng Sơn, quân Pháp bỏ chạy Ở những nơipháp bỏ chạy chính quyền địch lung lay dữ dội Trước tình hình đó, ngày 27-9-1940, Đảng bộ Bắc Sơnkịp thời lảnh đạo nhân dân đứng dậy khởi nghiac giành chính quyền ở huyện lỵ Khởi nghĩa Bắc Sơn
mở đầu thời kỳ kết hợp đấu tranh chính trị với đấu tranh vũ trang, gây tiếng vang trong cả nước, thứctỉnh mạnh mẽ nhân dân vùng dậy đấu tranh
Từ ngày 6 đến ngày 9-11-1940, Hội nghị Trung ương họp tại làng Đình Bảng (Bắc Ninh) Hộinghị khẳng định chủ trương nêu cao nhiệm vụ giải phóng dân tộc, tạm rút khẩu hiệu ruộng đất của hộinghị Trung ương tháng 11-1939 là đúng Hội nghị quyết định duy trì lực lượng vũ trang Bắc Sơn vàchủ trương thành lập những đội du kích hoạt động phân tán, dùng hình thức vũ trang vừa chiến đấuchống địch, bảo vệ nhân dân, vừa phát triển cơ sở cách mạng, tiến tới thành lập khu căn cứ, lấy vùngBắc Sơn, Vũ Nhai làm trung tâm Về đề nghị khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ, Hội nghị nhận định rằng:điều kiện khởi nghĩa chưa chín muồi nên không cho phép Xứ ủy Nam Kỳ phát động khởi nghĩa.Nhưng khi đồng chí Phan Đăng Lưu về đến Sài Gòn thì lệnh khởi nghĩa của Xứ ủy Nam Kỳ đã phát đikhắp nơi Hội nghị đả cử ra Ban chấp hành Trung ương lâm thời và phân công đồng chí Trường Chinhlàm Quyền Bí thư
Ngày 23-11-1940, khởi nghĩa Nam Kỳ bùng nổ Tuy thất bại nhưng Đảng bộ và nhân dân Nam
Kỳ đã đấu tranh cực kỳ anh dũng, nêu tấm gương sáng về ý chí cách mạng
Trang 5Ngày 13-1-1941, binh lính yêu nước trong quân đội Pháp do Đội Cung (Nguyễn Văn Cung) chỉhuy làm binh biến đánh chiếm đồn chợ Rạng (Đô Lương, Nghệ An) rồi tiến về Vinh Cuộc nổi dậy này
bị thực dân Pháp dập tắt
Hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ và cuộc nổi dậy của binh lính Đô Lương diễn ra ở cả ba
kỳ Bắc, Trung, Nam và trong hơn ba tháng (tháng 9-1940 tháng 1-1941) chưa dành được thắng lợi,nhưng đó là những tiếng súng báo hiệu cho cuộc khởi nghĩa toàn quốc, là bước đầu đấu tranh bằng vũlực của cách mạng Việt Nam Các cuộc khởi nghĩa đó đã cho Đảng ta những kinh nghiệm quý báu vềkhởi nghĩa
Ngày 28-1-1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc từ nước ngoài về Cao Bằng Đồng chí triệu tập Hộinghị Trung ương họp tại Pác Bó (Cao Bằng), từ ngày 10 đến ngày 19-5-1941
Hội nghị xác định:”Nhiệm vụ giải phóng dân tộc, độc lập cho đất nước là một nhiệm vụ trước tiêncủa Đảng ta” Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Namđộc lập đồng minh gọi tắt là Việt Minh Ngày 19-5-1941, Mặt trận Việt Minh chính thức được thànhlập Các đoàn thể quần chúng đều lấy tên là Hội Cứu quốc thay cho Hội phản đế trước đây Hội nghị
đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa ba dân tộc trên bán đảo Đông Dương Hội nghị chủ trươngkhông giũ khẩu hiệu thành lập Chính phủ Liên bang cộng hòa dân chủ Đông Dương như trước đây, màgiải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ của từng nước Hội nghị chỉ rõ: chuẩn bị khởi nghĩa vũtrang là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn hiện tại Hội nghị cử ra Ban chấphành Trung ương Đảng, bầu đồng chí Trường Chinh làm Tổng Bí thư, bầu Ban Thường vụ gồm cácđồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt
Hội nghị Trung ương tháng 5-1941 đả hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc và cùng với Nghịquyết Hội nghị Trung ương năm 1939 và 1940 là một trong những nhân tố đưa đến thắng lợi của Cáchmạng Tháng Tám 1945
Sau Hội nghị Trung ương tháng 5-1941, Đảng ta bắt tay vào việc triển khai tổ chức thực hiệnNghị quyết, xây dựng Mặt trận Việt Minh, phát động phong trào đánh Pháp, đuổi Nhật, chuẩn bị khởinghĩa giành chính quyền Cùng với sự ra đời của Mặt trận Việt Minh là sự ra đời các đoàn thể cáchmạng: Công nhân Cứu quốc, Nông dân Cứu quốc, Thanh niên Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc… ViệtMinh và các đoàn thể Cứu quốc được thành lập đã phát huy vai trò to lớn trong việc động viên, tổ chứctoàn dân đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, cứu nước, cứu nhà
Sau khởi nghĩa Bắc Sơn, thực hiện chủ trương của Trung ương duy trì và phát triển đội du kíchBắc Sơn thành đội cứu quốc quân để làm nòng cốt cho việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng,xây dựng căn cứ địa Bắc Sơn-Võ Nhai Cuối năm 1941, đồng chí Nguyễn Ái Quốc quyết định thànhlập đội tự vệ võ trang Cao Bằng đê thúc đẩy việc xây dựng cơ sở chính trị và chuẩn bị cho việc xâydựng lực lượng vũ trang
Trong thời gian này, để đảm bảo sự thống nhất ý chí và hành động trong Đảng, Đảng đã kiênquyết đấu tranh chống lại những khuynh hướng chia rẽ, bè phái, phê phán khuynh hướng hữu hoặc tảtrong công tác chuẩn bị khởi nghĩa
Những đóng góp của các địa phương tỉnh Quảng Trị góp phần làm nên thắng lợi rực rỡ của cách mạng tháng 8/1945.
Sau khi Nhật đảo chính Pháp, ngày 9-3-1945 phát xít Nhật đã kéo đến Quảng Trị Chúng thànhlập chính quyền bù nhìn do Phan Văn Hy làm tỉnh trưởng Sự áp bức của phát xít Nhật và tay sai đãlàm cho cuộc sống của mọi tầng lớp nhân dân ngày càng điêu đứng, cùng quẫn Ý thức giác ngộ củaquần chúng nhân dân ngày càng được nâng cao Giữa lúc đó nhiều đảng viên cộng sản từ các nhà tù đếquốc lần lượt được trả tự do trở về tham gia lãnh đạo phong trào cách mạng trong tỉnh Đây chính làlực lượng chủ chốt, là một trong những nhân tố góp phần đẩy mạnh cao trào kháng Nhật cứu nước và
Trang 6tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong thời gian tới Tháng 4-1945, Tỉnh ủy lâm thời được thành lập
do đồng chí Bùi Trung Lập làm Bí thư Từ đó, phong trào cách mạng trong tỉnh phục hồi và phát triểnmạnh mẽ Cuối tháng 6-1945, sau khi nhận được chỉ thị "Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúngta” của Ban thường vụ Trung ương Đảng, Tỉnh ủy lâm thời liền triệu tập Hội nghị đại biểu toàn tỉnhnhằm quán triệt chỉ thị của Trung ương và chủ trương đẩy mạnh mọi mặt công tác để phát động phongtrào kháng Nhật cứu nước Hội nghị cũng quyết định đổi Tỉnh ủy lâm thời thành Ban vận động thốngnhất Đảng bộ Sau hội nghị, Ủy ban dân tộc giải phóng của các phủ, huyện lần lượt ra đời Ở nhiềuthôn xã, uy thế Việt Minh đã lấn át uy thế của chính quyền bù nhìn Bọn quan lại cũng hoang mang,dao động, mất hết khả năng đàn áp cách mạng, khí thế quần chúng đã sẵn sàng đứng dậy Phong tràođóng góp công, của ủng hộ cách mạng phát triển rộng khắp
Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh không điều kiện, hưởng ứng lời kêu gọi "Toàn quốc tổngkhởi nghĩa" của Hồ Chủ Tịch và quân lệnh số 1 của Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, ngày 18-8-1945,Ban thống nhất Đảng bộ triệu tập hội nghị đại biểu toàn tỉnh Hội nghị quyết định thành lập Ủy bankhởi nghĩa do đồng chí Trần Hữu Dực làm chủ tịch và quyết định tổng khởi nghĩa giành chính quyềntrong toàn tỉnh dự định khoảng từ 21 đến 25-8-1945 Từ ngày 19-8-1945, cùng với Hà Nội, nhiều địaphương trong cả nước cũng đã giành chính quyền thắng lợi Trong không khí sôi sục của cả nước,trước sự phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng trong tỉnh, chiều 22-8-1945 Ủy ban khởi nghĩatỉnh đã phát lệnh khởi nghĩa
Ngay sau khi lệnh khởi nghĩa được phát ra, để biểu dương lực lượng và thị uy, 19 giờ ngày 22-8-1945,
ba đại đội tự vệ vũ trang dưới sự điều khiển của đồng chí Trần Hồng Chương tiến vào thị xã tuầnhành, thị uy Đoàn quân vừa đi vừa hô vang khẩu hiệu: "Đánh đổ chính quyền bù nhìn Bảo Đại,TrầnTrọng Kim","Ủng hộ Mặt trận Việt Nam độc lập Đồng minh", "Thành lập chính quyền nhân dân cáchmạng'' Đoàn biểu tình vũ trang tiến đến đâu đều được đồng bào thị xã Quảng Trị hưởng ứng nhiệt liệt
và gia nhập vào mỗi lúc một đông thêm Đoàn người diễu qua các đường phố lớn với khí thế hùngdũng, mạnh mẽ 1 giờ ngày 23-8-1945, theo lệnh của Ủy ban khởi nghĩa tỉnh, các đơn vị tự vệ chiếnđấu làm nhiệm vụ chiếm đóng và dự bị đều đột nhập nội thị, chiếm lĩnh tất cả các vị trí được phân
nhiệm vụ biểu tình thị uy chính trị, từ các hướng rầm rập kéo vào thị xã Cả thị xã lúc này như mộtbiển người; như một rừng băng, cờ, khẩu hiệu; với tiếng trống mõ, thanh la gióng 3, gióng 6 vang rềnnhư sấm dậy Cách mạng thực sự là ngày hội của quần chúng nhân dân lao động Đúng 5 giờ sángngày 23-8-1945, cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền ở thị xã tỉnh lỵ Quảng Trị kết thúc thắng lợi.Đến 9 giờ ngày 23-8-1945, một cuộc mít tinh lớn được tổ chức trước tòa Công sứ Pháp, lúc này là trụ
sở của Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Quảng Trị Thay mặt Ủy ban khởi nghĩa tỉnh, đồngchí Trần Hữu Dực trịnh trọng tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ, thành lập chính quyền cách mạng trongtoàn tỉnh trước sự reo hò như sấm dậy của quần chúng Cùng với cuộc khởi nghĩa giành chính quyền ởtỉnh lỵ Quảng Trị, trong những ngày 22, 23, 24 tháng 8, công nhân các công sở, đồn điền đã sát cánhcùng nông dân và các tầng lớp nhân dân toàn tỉnh nổi dậy Đêm 22, rạng ngày 23-8-1945, các phủ,huyện Triệu Phong, Hải Lăng, Gio Linh, Vĩnh Linh đều đồng loạt khởi nghĩa giành chính quyền về taynhân dân Đến 6 giờ sáng ngày 24-8, tại Cam Lộ khởi nghĩa đã giành thắng lợi Tại thị trấn Đông Hà,sáng 25-8-1945, chính quyền cách mạng đã về tay nhân dân Riêng huyện Hướng Hóa, trước ảnhhưởng của phong trào cách mạng ở các địa phương khác, chính quyền địch đã tự tan rã Chính quyềncách mạng ở Hướng Hóa được thành lập vào ngày 25-8-1945 Như vậy, việc khởi nghĩa giành chínhquyền về tay nhân dân trong toàn tỉnh đến ngày 25-8-1945 đã kết thúc thắng lợi
Thắng lợi của cách mạng Tháng Tám ở Quảng Trị là thắng lợi của lòng yêu nước, tinh thần đoànkết, ý chí quyết tâm giành độc lập của toàn Đảng, toàn dân Với những thuận lợi cơ bản ở trong nước
Trang 7và địa phương, Đảng bộ Quảng Trị đã biết nắm thời cơ, vận dụng đúng đắn và sáng tạo đường lối khởinghĩa của Đảng vào điều kiện cụ thể ở địa phương mình để phát động, cổ vũ toàn dân nổi dậy giànhchính quyền Cách mạng Tháng Tám thành công đã lật nhào ách thống trị của đế quốc, phong kiến,đem lại độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam Sau hơn 80 năm đô hộ của thực dân, đế quốc, cùng vớinhân dân cả nước, nhân dân Quảng Trị đã thật sự làm chủ làm chủ cuộc đời mình
Vấn đề 3: Để đánh thắng chiến lược chiến tranh của DQ Mỹ ở Mnam từ 1954 -1975, Đảng ta đề
ra đường lối chủ trương đúng đắn khoa học được thể hiện như thế nào? Những hiểu biết của đ/c
về giai đoạn này về Đảng bộ và ND Q.Trị Hai mươi mốt năm vừa XD CNXH vừa là hậu phương lớn cho CM M.Nam, nhân dân Miền Bắc đã thu hái những kết quả rất đáng tự hào - Hãy chứng minh.
* Đường lối chủ trương đúng đắn khoa học của Đảng Để đánh thắng chiến lược chiến tranh của
Mỹ - Ngụy Mà trong đó, những chủ trương, sách lược, những nhận định và hành động của Đảng làcực kỳ quan trọng
1 Chủ trương, nhiệm vụ của đảng ta trong quá trình lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam từ 1954-1975
Sau năm 1954, Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ do Đảng lãnhđạo đã giành được thắng lợi, song sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ trên phạm vi cả nước vẫnchưa hoàn thành Miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, song miền Nam vẫn còn dưới ách thống trị củathực dân và tay sai Đất nước tạm thời bị chia làm hai miền
Đứng trước những biến đổi phức tạp nêu trên, lịch sử lại đặt cho Đảng ta một yêu cầu bức thiết làphải vạch ra đường lối chiến lược đúng đắn để đưa cách mạng Việt Nam tiến lên phù hợp với tình hìnhmới của đất nước và phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại Xuất phát từ việc nhận thức sâusắc tình hình thế giới và đặc điểm cơ bản của tình hình đất nước sau tháng 7-1954, trải qua nhiều hộinghị của Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị, chủ trương chiến lược cách mạng Việt Namtrong giai đoạn mới của Đảng đã từng bước hình thành
* Chủ trương tiếp tục thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam giai đoạn 1954-1960
Nắm vững âm mưu, thủ đoạn của đế quốc Mỹ ở Việt Nam và Đông Dương, nên ngay trước ngày
ký Hiệp định Giơnevơ, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa II) từ ngày 15đến ngày 17-7-1954, đã chỉ rõ: "Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nóđang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằmchống đế quốc Mỹ"
Trang 8Ngày 22-7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi đồng bào và cán bộ chiến sĩ cả nước:
"Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất định sẽ thống nhất, đồng bào cả nước nhất địnhđược giải phóng"
Về cách mạng miền Nam, Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 9-1954 nêu rõ: Đế quốc Mỹ và tay saiđang mưu tính, phá hoại Hiệp định Giơnevơ nhằm chia cắt lâu dài Việt Nam Cuộc đấu tranh của nhândân miền Nam phải chuyển từ đấu tranh vũ trang sang đấu tranh chính trị Nhiệm vụ của Đảng ở miềnNam trong giai đoạn mới là: "lãnh đạo nhân dân miền Nam đấu tranh thực hiện Hiệp định đình chiến,củng cố hòa bình, thực hiện tự do dân chủ, cải thiện dân sinh, thực hiện thống nhất và tranh thủ độclập Đồng thời phải lãnh đạo nhân dân đấu tranh chống những hành động khủng bố, đàn áp, phá cơ sởcủa ta, bắt bớ cán bộ ta và quần chúng cách mạng, chống những hành động tiến công của địch, ngụy,giữ lấy quyền lợi quần chúng đã giành được trong thời kỳ kháng chiến, nhất là ở những vùng căn cứđịa và vùng du kích cũ của ta"
Thực hiện Chỉ thị của Bộ Chính trị về tình hình và công tác của các đảng bộ miền Nam, tháng
10-1954, Xứ ủy Nam Bộ được thành lập, do Lê Duẩn, ủy viên Bộ Chính trị làm Bí thư
Từ thực tiễn cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân miền Nam, tháng 8-1956, Lê Duẩn đã dựthảo Đường lối cách mạng miền Nam Bản Đường lối cách mạng miền Nam được đưa ra thảo luận tạiHội nghị Xứ ủy Nam Bộ họp tháng 12-1956
Bản Đường lối vạch rõ để chống Mỹ-Diệm, nhân dân miền Nam chỉ có con đường cứu nước và
tự cứu mình là con đường cách mạng Ngoài con đường cách mạng không có một con đườngkhác Mục đích của cách mạng miền Nam là phải đánh đổ chính quyền độc tài phátxít Mỹ - Diệm,thực hiện một chính quyền liên hiệp dân chủ có tính chất dân tộc, độc lập, để giải phóng nhân dânmiền Nam ra khỏi ách đế quốc phong kiến độc tài phátxít Mỹ - Diệm để cùng với toàn quốc thực hiệnhòa bình, thống nhất, độc lập dân tộc
Tháng 12-1957, tại Hội nghị lần thứ mười ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ ChíMinh nêu rõ, nước ta tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa Hai nhiệm vụ cách mạng nói trên đều quan trọng, coinhẹ một nhiệm vụ nào cũng đều sai lầm
Tháng 1-1959, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ mười lăm Trên cơ sởphân tích tình hình thế giới và trong nước, Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ: Nhiệm vụ cơ bản của cáchmạng miền Nam là giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc, hoàn thành cách mạng dântộc dân chủ ở miền Nam; Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương cũng nêu rõ cần tăng cườngcông tác Mặt trận để mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân; củng cố, xây dựng Đảng bộ miền Nam thậtvững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức để đủ sức lãnh đạo trực tiếp cách mạng miền Nam
* Giai đoạn 1961-1965: Đảng lãnh đạo nhân dân đánh thắng chiến lược chiến tranh đặc biệt
Đầu năm 1961Tổng thống Mỹ Kennơđi đưa ra chiến lược “phản ứng linh hoạt” với 3 kiểu chiếntranh: chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và chiến tranh tổng lực Đặc điểm của chiến tranh đặcbiệt là dùng quân đội tay sai làm công cụ chiến tranh
Tình hình đó đặt ra yêu cầu mới cho Đảng ta trong việc xác định quyết tâm và đề ra đường lốikháng chiến chống Mỹ, cứu nước nhằm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thốngnhất Tổ quốc
Tháng 1/1961 Bộ chính trị chủ trương chuyển từ khởi nghĩa sang chiến tranh cách mạng, từngbước đưa đấu tranh vũ trang lên cùng với đấu tranh chính trị Tháng 10/1961 Trung ương cục miềnnam được thành lập để trực tiếp chỉ đạo cách mạng miền nam, đẩy mạnh xây dựng lực lượng cả quân
sự lẫn chính trị trên cả 3 vùng chiến lược Thực hiện phương châm “hai chân, ba mũi, ba vùng”vớinguyên tắc đảng bám dân, dân bám đất, du kích bám địch”
Trang 9* Giai đoạn 1965 - 1968 đã đánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ"
Việc đế quốc Mỹ mở cuộc "Chiến tranh cục bộ", ồ ạt đưa quân đội viễn chinh Mỹ và các nướcchư hầu vào trực tiếp xâm lược miền Nam đã làm cho tương quan lực lượng trở nên bất lợi cho ta
- Trước hành động gây "Chiến tranh cục bộ" ở miền Nam, tiến hành chiến tranh phá hoại ramiền Bắc của đế quốc Mỹ, Hội nghị Trung ương lần thứ 11 (tháng 3/1965) và lần thứ 12 (tháng12/1965) đã tập trung đánh giá tình hình và đề ra đường lối kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trên cảnước
Kết hợp với những thắng lợi về quân sự và chính trị, ngày 28/1/1967 Hội nghị lần thứ 13 BCHTrung ương khoá III đã quyết định mở mặt trận ngoại giao nhằm tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, pháthuy sức mạnh tổng hợp để đánh Mỹ
Hội nghị lần thứ 14 BCH Trung ương khoá III tiếp tục khẳng định:”Anh dũng tiến lên, thực hiệntổng công kích và tổng khởi nghĩa, giành thắng lợi quyết định cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước”
Cuộc tổng tiến công và nỗi dậy Mậu Thân 1968 là một đòn chiến lược đánh vào tận hang ổ của
kẻ thù làm cho chiến lược “chiến tranh cục bộ” của Mỹ thất bại
* Giai đoạn: 1969-1975: đánh thắng chiến lược “VN hoá chiến tranh”, giải phóng miền nam thống nhất đát nước.
Tháng 1/1970 Hội nghị lần thứ 18 BCH Trung ương khoá III đề ra nhiệm vụ trước mắt là đẩymạnh cuộc kháng chiến tren tất cả các mặt, vừa tấn công vừa xây dựng lực lượng, giành thắng lợi từngbước đi đến giành thắng lợi quyết định
Tháng 7/1973 Hội nghị lần thứ 21 BCH Trung ương khoá III đã ra nghị quyết:” Thắng lợi vĩ đạicủa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng VN trong giai đoạn mơi” Nghịquyết khẳng định “ con đường của cách mạng miền nam là con đường bạo lực cách mạng Bất kể trongtình hình nào, ta cũng phải nắm vững thời cơ, giữ vững đường lối chiến lược tiến công và chỉ đạo linhhoạt để đưa cách mạng miền nam tiến lên”
Sau một thời gian chuẩn bị, từ ngày 30/9/1974 đến ngày 10/8/1974, Bộ chính trị họp bàn về chủtrương giải phóng miền Nam Tại hội nghị này BCT đã phê chuẩn kế hoạch hai năm và kế hoạch tácchiến năm 1975 Từ ngày 8/12/74 đến 8/01/75, BCT tiếp tục họp lần 2 Hội nghị chỉ rõ “ nắm vữngthời cơ lịch sử, mở nhiều chiến dịch tổng hợp liên tiếp, đánh những trận quyết định, kết thúc cuộckháng chiến chống Mỹ cứu nước”
Với sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Đảng, quân ta đã vượt lên mọi gian khổ hy sinh, bền bỉ
và anh dũng chiến đấu, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ buộc
Mỹ phải xuống thang chiến tranh, chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta tại Pari; mà đỉnh cao là Đạithắng Mùa Xuân 1975 với Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đập tan toàn bộ chính quyền địch, buộcchúng phải tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, giải phóng hoàn toàn miền Nam
2 Đảng bộ và nhân dân Quảng Trị giai đoạn từ 1954-1975
- Từ 1954-1960:
+ Quảng Trị đấu tranh chính trị đòi thi hành Hiệp định Giơnevơ, tiếp thu “Đề cương cách mạngmiền Nam” Khôi phục và phát triển lực lượng, tạo thế tiến lên tiến công địch
+ Khu vực Vĩnh Linh ra sức khôi phục và phát triển kinh tế, xây dựng chủ nghĩa xã hội làm căn
cứ vững chắc cho cách mạng miền Nam
- Từ 1961-1965:
+ Quảng Trị chống chiến lược “ Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ
+ Khu vực Vĩnh Linh thực hiện kế hoạch Nhà nước 5 năm lần thứ nhất (1961-1965) Sẵn sàngđối phó với âm ưu leo thang chiến tranh đánh phá miền Bắc của Mỹ, tích cực chi viện sức người, sứccủa cho chiến trường Quảng Trị
Trang 10+ Đấu tranh đòi thi hành Hiệp Định Pari, ra sức xây dựng và củng cố vùng giải phóng.
+ Vĩnh Linh khôi phục và phát triển kinh tế, tổ chức đời sống, bảo đảm quốc phòng na ninh.+ Chiến dịch xuân hè 1975: Giải phóng phần đất, phần đân còn lại; góp phần tham gia vào chiếndịch giải phóng Huế-Đà Nẵng và chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử
3 21 năm vừa XD CNXH vừa là hậu phương lớn cho CM M.Nam, nhân dân Miền Bắc đã thu hái những kết quả rất đáng tự hào - Hãy chứng minh.
Hai mươi mốt năm quân và dân MB đã tập trung toàn bộ trí tuệ và sức lực vừa tiến hành CMCNXH ở MB, vừa bảo vệ vững chắc thành quả CM và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của hậu phươngđối với tiền tuyến
Mặc dù đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai ở MN có nhiều âm ưu phá hoại hòng xóa bỏ nhữngthành tựu mà CM đã đạt được trên đất nước ta, nhưng MB vẫn tiếp tục đi lên CNXH, làm cơ sở vữngchắc cho cuộc đấu tranh thống nhất nước nhà
Cơ sở vất chất – kỹ thuật được xây dựng một bước Đã có cơ sở đầu tiên của công nghiệp nặng.Năng lực các ngành công nghiệp giao thông, xây dựng đều tăng so với trước chiến tranh Một số trungtâm công nghiệp lớn của đất nước được hình thành
Sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao đều phát triển Công tác đào tạođội ngũ khoa học kỹ thuật và công nhân tăng gấp nhiều lần so với khi mới giải phóng Mạng lưới y tếđược mở rộng từ trung ương đến cơ sở, từ đồng bằng đến miền núi An ninh chính trị và trật tự xã hộiđược giữ vững Đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân được ổn định và có nhiều mặt được cảithiện
Trong chiến tranh phá hoại giắc Mỹ đã nén xuống MB 2,5 triệu tấn bom đạn Song với sứcmạnh vật chất và tinh thần của truyền thống dân tộc và của chế độ XHCN, quân và dân MB đã bắn rơi4.141 máy bay Mỹ, bắt sống 472 giặc lái, đánh bại các cuốc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ,giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ đối với nước ta, góp phần tạo thế và lựcmới cho CM MN
NB hoàn thành xuất sắc nghĩa vụ của một hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn, đồng camcộng khổ, sát cánh với đồng bào MN đánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược và bè lũ tay sai, giải phónghoàn toàn MN thống nhất đất nước Đồng thời hoàn thành xuất sác nghĩa vụ quốc tế đối với CM Lào
và Campuchia
Về mặt ngoại giao, Đảng và Chính phủ đã không ngừng củng cố tình đoàn kết hữu nghị vớiLiên Xô, Trung Quốc và các nước XHCN anh em khác, thực hiện sự phối hợp chặt chẽ với các nướcanh em trong hoạt động quốc tế và đấu tranh ngoại giao, tranh thủ viện trợ về kinh tế nhằm khôi phục
và phát triển kinh tế MB
Trang 11\ Tháng 11/1957 Đảng Lao động VN tham gia Hội nghị 64 Đảng Cộng sản và nhân dân thế giới.Trong lịch sử Đảng ta đó là sự kiện quan trọng vì đây không chỉ là lần đầu Đảng ta tham gia một Hộinghị quốc tế lớn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế mà vì đây là lần đầu ta đóng gópnhững nội dung quan trọng trong một hội nghị quốc tế
Đánh giá vai trò của MB đối với cuộc K/chiến chống Mỹ, cứu nước, Đại hội đại biểu toàn quốclần thứ IV của Đảng (1976) khẳng định: Không thể nào có thắng lợi của cuộc K/chiến chống Mỹ cứunước nếu không có MB XHCN… MB đã dốc vào cuộc chiến tranh cứu nước và giữ nước toàn bộ sứcmạnh của chế độ XHCN và đã làm tròn một cách xuất sắc căn cứ địa CM của cả nước, xứng đáng làpháo đài vô địch của CNXH./
Vấn đề 4: Sau đại thắng mùa xuân 1975, tổ quốc thống nhất, Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước tiến lên xây dựng CNXH và từng bước tìm tòi con đường đổi mới, đỉnh cao là Đại hội lần VI/
1986 được gọi là Đại hội đổi mới đất nước Những hiểu biết của đồng chí về giai đoạn lịch sử này.
Đảng CSVM, đội tiên phong của giai cấp công nhân và nhân dân lao động của dân tộc VN; từkhi ra đời đến nay, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đánh thắng 2 đế quốc hùng mạnh vào bậc nhất thếgiới đó là thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, giành lấy hòa bình thống nhất cho tổ quốc Sau khi đất nướcthống nhất, Đảng đã lãnh đạo nhân dân tiến lên xây dựng CNXH bỏ qua giai đoạn phát triển củaCNTB, đồng thời từng bước tìm tòi con đường đổi mới đất nước để từng bước ổn định đời sống củanhân dân, hướng đến mục đích xây dựng một đất nước Việt Nam độc lập, tự do và hùng mạnh
Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần VI Đảng cộng sản VM họp từ ngày 15 đến 18 tháng 12/1986
Dự Đại hội có 1129 đại biểu tham dự thay mặt cho 1,9 triệu đảng viên trong cả nước Đại hội đã ngheBáo cáo chính trị của BCHTW đảng khóa V và nhiều văn kiện quan trọng khác Đồng chí Nguyễn VănLinh được bầu làm tổng Bí thư Đại hội VI được gọi là Đại hội đổi mới đất nước vì:
Đại hội đã chủ trương thay những cái củ cái không còn phù hợp bằng những cái mới hơn, cái tốthơn, tiến bộ hơn trước Đại hội đã thẳng thắn phê bình về những sai lầm, khuyết điểm của Đảng trong
10 năm qua, đồng thời đề ra các mục tiêu, hướng đi phù hợp với tình hình mới Đại hội quyết định đẩymạnh xây dựng CNXH theo nhận thức tư duy mới và hệ thống các chủ trương chính sách theo cơ chếquản lý mới Đường lối đổi mới được hình thành từ những khởi động đổi mới từng phần ở địa phương.Đảng và NN đã kịp thời tổng kết thực tiển, điều chỉnh cơ chế, chính sách để thúc đẩy kinh tế phát triểnnhằm khắc phục những tác động xấu của khủng hoảng KT- XH
Quá trình đổi mới được bắt đầu từ Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 BCHTW khóa IV (tháng8/1979) làm cho sản xuất bung ra, chỉ thị 100cuar Ban bí thư (1/1981) về khoán sản phẫm trong sảnxuất nông nghiệp, Quyết định 25CP và 26 Cpcuar chính phủ (1/1981) về caair tiến cơ chế quản lýtrong sản xuất quốc doanh; quan điểm của Đại Hội V của đảng (3/1982)…Tất cả để đi đến hoàn tất cácquan điểm cơ bản của đường lối đổi mới tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI cua Đảng Nội dungđường lối đổi mới gồm các vấn đề chủ yếu:
- Đổi mới cơ cấu KT: có chính sách sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế, xá định nền KT
có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ
Đại hội xác định các thành phần KT đang tồn tại ở nước ta gồm có: KT XHCN, KT cá thể tiểuchủ, KT tư bản tư nhân, KT tự cấp tự túc ở vùng núi cao Cùng với việc xá định kt nhiều thành phần,Đảng còn chủ trương điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư, tập trung thực hiện 3 chương trình mục tiêu vềluwpwng thực, thực phẫm và hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu Bố trí lại cơ cấu sản xuất, xem nôngnghiệp là vị trí hàng đầu
Trang 12- Đổi mới cơ chế QL: Xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, hành chính, bao cấp từ lâu đãkhông tạo được động lực phát triển cho nền KT chuyễn sang hạch toán kinh doanh XHCN, kết hợp kếhoạch và thị trường là 2 đặc trưng cơ bản của cơ chế quản lý mới đó là: tính kế hoạch và sử dụng đúngquan hệ hàng hóa- tiền tệ
- Đổi mới hoạt động KT đối ngoại, trên cơ sở mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại:Đại Hội xác định trong những năm tiếp theo Nhà nước ta xác định nhiệm vụ chính trên lĩnh vực đốingoại đó là: Công bố chính sách khuyến kích nước ngoài đầu tư vào VN với nhiều hình thức nhất làcác nghành và cơ sở đòi hỏi kỷ thật cao; đồng thời coi trọng và động viên Việt kiều góp phần xâydựng đất nước bằng nhiều cách
- Đổi mới và tăng cường, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước: Nhà nước tăng cường quản
lý kinh tế - xã hội bằng hệ thống pháp luật, tăng cường bộ máy nhà nước từ TƯ đến địa phương thành
1 hệ thống nhất có sự phân định về nhiệm vụ và quyền hạn theo từng cấp , đồng thời phân biệt rõ ràng
về chức năng quản lý hành chính kinh tế với quản lý sản xuất kinh doanh
Giữ vững pháp luật, kỷ cương nhà nước trật tự xã hội; giữ vững quốc phòng an ninh Xây dựng
bộ máy gọn nhẹ, có chất lượng cao với đội ngũ cán bộ có phẫm chất chính trị và năng lực quản lý nhànước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội
- Đổi mới tư duy lý luận và phong cách lãnh đạo của Đảng: Đường lối đổi mới được xác địnhtrên cơ sở đổi mới duy lý luận, nhận thức rõ hơn về CNXH và thời kỳ quá độ lên CNXHđể vân dụngphù hợp vào thực tiển cách mạng VN
Cần khắc phục bệnh quan liêu, xa rời thực tế, xã rời quần chúng, thực sự gắn bó với dân, lấy dânlàm gốc Khắc phục sự lạc hậu về nhận thức, lý luận với những quan điểm sai lầm lệch lạc, lỗi thời.Nâng cao đạo đức CM gắn với nâng cao trí tuệ hiểu biết nâng cao sức chiến đấu của Đảng
Từ thực tiễn của hơn 20 năm đổi mới có thể khái quát một số bài học sau đây.
Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên
nền tảng chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp
Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sángtạo của nhân dân, xuất phát từ thực tiễn, nhạy bén với cái mới
Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời ra sức tranh thủ ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộcvới sức mạnh thời đại trong điều kiện mới
Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thốngchính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thuộc
Trong 5 năm qua, vượt qua những khó khăn, thách thức, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã đoànkết, nỗ lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và đạt được nhữngthành tựu quan trọng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội:
- Về kinh tế: Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng khá, bình quân 5 năm 2005 – 2010 đạt 10,8%;GDP bình quân đầu người năm 2010 ước đạt 16 triệu đồng, tương đương 845 USD; tổng thu ngân sáchtrên địa bàn năm 2010 ước đạt 850 tỷ đồng, tăng bình quân 15,5%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch
Trang 13đúng hướng, tỷ trọng giá trị trong GDP năm 2010 của các ngành: công nghiệp và xây dựng 37,5%;nông - lâm - ngư nghiệp 27,4%; thương mại - dịch vụ 35,1% Các ngành, lĩnh vực sản xuất kinh doanhphát triển Sản xuất nông nghiệp tiếp tục phát triển toàn diện và theo hướng công nghiệp hoá, hiện đạihoá gắn với xây dựng nông thôn mới Giá trị của ngành nông – lâm - ngư nghiệp bình quân 5 năm tăng3,5%/năm Công nghiệp và xây dựng tiếp tục phát triển, năng lực sản xuất, kinh doanh của ngànhkhông ngừng tăng lên, giá trị của ngành bình quân 5 năm tăng 21%/năm Thương mại - dịch vụ pháttriển cả về quy mô, ngành nghề, thị trường, hạ tầng kỹ thuật và hiệu quả kinh doanh; giá trị của ngànhbình quân 5 năm tăng 8,4%/năm Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội tăng nhanh, trong 5 năm huyđộng được 17.479 tỷ đồng, tăng gấp 3 lần giai đoạn 2000 - 2005 Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội pháttriển khá toàn diện trên tất cả các vùng
-Văn hoá - xã hội: đạt được những tiến bộ mới, đời sống nhân dân tiếp tục được nâng lên.Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá cơ sở được củng cố và phát triển Các thiếtchế văn hoá, thể thao được đầu tư xây dựng mới Sự nghiệp giáo dục - đào tạo tiếp tục phát triển cả vềmạng lưới, quy mô và chất lượng Công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ đượcchú trọng Thực hiện các chính sách chăm sóc sức khoẻ nhân dân, giải quyết việc làm, xóa đói giảmnghèo, chăm sóc người có công, an sinh xã hội có nhiều tiến bộ Trong 5 năm giải quyết việc làm mớicho 42.500 lao động Tỷ lệ hộ nghèo năm 2010 giảm xuống còn 13%
- Quốc phòng - an ninh: được tăng cường, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninhnhân dân được củng cố; an ninh chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được giữ vững
Công tác quản lý, điều hành của các cấp chính quyền có chuyển biến tiến bộ, hiệu lực, hiệu quảđược nâng lên Công tác cải cách hành chính được đẩy mạnh Hệ thống tổ chức các cơ quan tư phápđược tăng cường, chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án được nâng lên Công tácphòng, chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm đạt kết quả bước đầu Quan hệ đối ngoại tiếptục được mở rộng và có hiệu quả, nhất là đối với các nước láng giềng trong khu vực, góp phần khaithác tốt hơn lợi thế tuyến hành lang kinh tế Đông - Tây
Hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân có bước đổi mới, chất lượng được nânglên; khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố và tăng cường Thực hiện tốt các chính sách về dân tộc vàtôn giáo Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được đẩy mạnh, tăng cường giáo dục chính trị tư tưởng;năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên được nânglên, đoàn kết trong nội bộ Đảng được giữ vững Thực hiện cuộc vận động "Học tập và làm theo tấmgương đạo đức Hồ Chí Minh" đã tạo được chuyển biến tích cực trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội Công tác kiểm tra, giám sát được tăng cường Công tác dân vận của cấp uỷ Đảng ngày càng toàndiện và hiệu quả hơn Nội dung và phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng có bước đổi mới Nguyêntắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt đảng được giữ vững
Vấn đề 5: Những cống hiến vĩ đại của Mác-Ăngghen cho phong trào cộng sản công nhân quốc tế giữa thế kỷ XIX về xây dựng đảng Kế thừa những cống hiến vĩ đại của Mác-Ăngghen, Lê Nin
đã hoàn thiện về lý luận và thông qua hoạt động thực tiễn đúc kết về 8 nguyên lý về Đảng kiểu mới của giai cấp công nhân Tại đại hội X (2006) Đảng ta đã bổ sung vào kho tàng lý luận của
CN Mác Lê Nin những nguyên tắc nào?
C.Mác và Ph.Ăngghen là người đầu tiên xây dựng những tư tưởng về Đảng Cộng sản và trực tiếp áp dụng vào công tác xây dựng Đảng Tư tưởng về Đảng cộng sản được hình thành cùng với quá trình phát triển, hoàn thiện tư tưởng, quan điểm duy vật về lịch sử, về chủ nghĩa cộng sản và về sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của gccn V.I.Lênin đã kế thừa, phát triển những tư tưởng về đảng cộng sản của c.mác và ph.ăngghen, đưa ra các nguyên lý đảng kiểu mới
Trang 14Những nguyên lý về Đảng kiểu mới của Lênin gồm:
Thứ nhất: Chủ nghĩa Mác là nền tảng tư tưởng là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng
cộng sản Lênin viết: “Chúng ta hoàn toàn đứng trên cơ sở lý luận của Mác: lý luận đó là lý luận đầutiên đã biến CNXH từ không tưởng trở thành khoa học… lý luận đó đã chỉ rõ nhiệm vụ thật sự củađảng CNXH cách mạng”
Thứ hai: ĐCS là đội tiên phong chính trị có tổ chức và là đội ngũ có tổ chức chặt chẻ nhất, cách
mạng nhất và giác ngộ nhất của giai cấp công nhân Vai trò tiên phong của đảng thể hiện trên lĩnh vực
lý luận về mặt tổ chức và hành động gương mẫu của đảng viên trong thực tiển Lênin đã đưa ra một sốluận điểm: “ chỉ đảng nào được một lý luận tiên phong hướng dẫn thì mới có khả năng làm tròn vaitrò người chiến sỷ tiên phong”
Thứ ba: Khi giành được chính quyền Đảng là hạt nhân lảnh đạo hệ thống chính trị của CNXH
và là một bộ phận của hệ thống đó Theo Lênin sự lảnh đạo của Đảng cộng sản là điều kiện tiên quyếtbảo đảm cho công cuộc đấu tranh giữ vững chĩnh quyền và xây dựng thành công CNXH Người chỉrõ: Buông lõng sự lảnh đạo của ĐCS là sai lầm về nguyên tắc, bởi vậy sẻ thủ tiêu sức mạnh của nhànước XHCN và cả hệ thống của nó và sẻ mở đường cho các phần tử cơ hội phản động cướp chínhquyền
Thứ tư: Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản trong xây dựng tổ chức, sinh hoạt và hoạt động
của đảng Tập trung dân chủ là thuộc tính cơ bản của Đảng thể hiện bản chất và sự sống còn củaĐảng Là tiêu chí để phân biệt đảng kiểu mới của giai cấo công nhân Đảng cách mạng chân chính vớicác đảng phái khác
Thứ năm: Đoàn kết thống nhất là sức mạnh vô địch của đảng, tự phê bình và phê bình là quy
luật phát triển của đảng Lênin đưa ra khẩu hiệu “vô sản tất cả các nước và các dân tộc bị áp bức đoànkết lại” Để sự đoàn kết thống nhất trong đảng luôn luôn được cũng cố và phát triển, Đảng cần phảithực hiện tự phê bình và phê bình, đây là quy luật phát triển của Đảng, có tác dụng phát triển, giảiquyết mâu thuẩn đối với từng cá nhân, từng tổ chức và cả hệ thống của đảng
Thứ sáu: Đảng gắn bó chặt chẻ với nhân dân, kiên quyết đấu tranh để ngăn ngừa và khắc phục
bệnh quan liêu, Người cho rằng “những người cộng sản chỉ như những giọt nước trong đại dương nhândân Nếu không có sự đồng tình ủng hộ của nhân dân thì mọi chủ trương đường lối của đảng không thểtrở thành hiện thực Sức mạnh của đảng là ở sự gắn bó mật thiết với nhân dân khi nắm chính quyền,Đảng có nhiều điều kiện mới, công cụ mới để tăng cường mối liên hệ giữa đảng với nhân dân nhưngcũng dể nảy sinh bệnh quan liêu, mệnh lệnh, tham nhũng…làm cho đảng viên thoái hoá biến chất, xarời quần chúng
Thứ bảy: Đảng phải tích cực kết nạp những đại biểu ưu tú của giai cấp công nhân và nhân dân
lao động vào đảng, kịp thời đưa những người không đủ tiêu chuẩn và những phần tử cơ hội ra khỏiđảng
Thứ tám: ĐCS mang tính quốc tế Tính quốc tế của ĐCS bắt nguồn từ sức mạnh lịch sử toàn
thế giới của giai cấp công nhân Theo Lênin chủ nghĩa quốc tế không phải là lời nói suông, không phải
là lời tỏ tình đoàn kết, không phải là nghị quyết mà là hành động
Từ những nguyên lý nêu trên Lênin đã kế thừa, phát triển những tư tưởng của Ăngghen về đảng kiểu mới, thể hiện rõ nhất ở những nguyên lý sau:
Mác-Nguyên lý về nguyên tắc tập trung dân chủ:
Ngay từ khi chuẩn bị cho sự ra đời ĐCS đầu tiên trên thế giới Mác- Ăngghen đã chủ trươngđảng phải được xây dựng tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ Nôi dung cơ bảncủa nguyên tắc này đã được thể hiện đầy đủ trong điều lệ của liên đoàn những người cộng sản và điều
lệ của hội liên hiệp công nhân quốc tế (quốc tế thứ nhất)