1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

GIAO TRINH GIAO DUC HOC TIEU HOC

259 2,3K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 259
Dung lượng 1,3 MB
File đính kèm GIAO TRINH GIAO DUC HOC TIEU HOC.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mối liên hệ có tính quy luật này được thể hiện ở chỗ: tính chất của giáo dục bao giờ cũng phù hơp với trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất vốn có của mỗ

Trang 1

Đại học Huế Trung tâm đào tạo từ xa

GS.TS Đặng Vũ Hoạt PTS Phó Đức Hoà

G i á o t r ì n h Giáo dục học Tiểu học

(Sách dùng cho hệ đào tạo từ xa)

(In lần thứ năm)

Nhà xuất bản đại học s− phạm

Trang 2

M sè: 02.01 432/1001 §H 2013

Trang 3

Mục lục

Trang

Lời nói đầu 5

Học phần thứ nhất 7

cơ Sở cHUNG củA giáo Dục TiểU Học 7

Chương I: Giáo dục học là một môn khoa học 6

Chương II: Giáo dục và sự phát triển nhân cách 45

Chương III: Mục đích và nhiệm vụ của giáo dục tiểu học 73

Học phần thứ hai 111

Lí luận dạy học 111

Chương I: Quá trình dạy học tiểu học 111

Chương II: Nguyên tắc dạy học tiểu học 147

Chương III: Nội dung dạy học tiểu học 170

Chương IV: Phương pháp dạy học tiểu học 192

Chương V: Các hình thức tổ chức dạy học tiểu học 242

Trang 5

LờI NóI ĐầU

Giáo trình “Giáo dục học tiểu học” dành cho giáo viên tiểu học với hình thức đào tạo từ xa - một hình thức tổ chức dạy học mới theo xu thế đổi mới của đất nước Trong cuốn tài liệu này, những người biên soạn đã sử dụng rộng rãi những tài liệu nghiên cứu về tâm lí học sư phạm, về lí luận dạy học

và lí luận dạy học bộ môn, cũng như những kinh nghiệm tiên tiến của các giáo viên tiểu học

Các tác giả đã cố gắng trình bày cho người học nắm được những quan

điểm khác nhau hiện nay về các vấn đề thuộc các lĩnh vực giáo dục tiểu học, nhằm hướng cho học viên học tập theo quan điểm hệ thống mở cùng học và suy ngẫm

Các câu hỏi và bài tập đòi hỏi học viên chẳng những phải nhớ lại những kiến thức đã học mà còn vận dụng chúng để giải quyết những bài tập giáo dục, thúc đẩy họ phải suy nghĩ phát biểu những chính kiến riêng của mình Cuốn sách này xuất bản lần đầu tiên theo phương thức tổ chức dạy học mới đặt người học ở vị trí trung tâm, chủ yếu là nghiên cứu tài liệu nên không tránh khỏi những hạn chế nhất định Chúng tôi rất mong được bạn

đọc góp ý và bổ sung thêm

Chúng tôi xin chân thành cám ơn

Các tác giả

Trang 7

Học phần thứ nhất

cơ Sở cHUNG củA giáo Dục TiểU Học

Chương I

GIáO DụC HọC Là MộT MÔN KHOA HọC

I GIáO DụC Là MộT HIệN TƯợNG Xã Hội

1 Giáo dục là một nhu cầu tất yếu của xã hội

Từ khi xuất hiện trên trái đất, để có thể tồn tại và phát triển, loài người

đã không ngừng nhận thức thế giới xung quanh cũng như thế giới bên trong con người mình Nhờ đó loài người đã dần dần phát triển và nắm vững ngày càng nhiều quy luật và tính quy luật của các sự vật, hiện tượng khách quan; tích luỹ, khái quát hoá hệ thống ngày càng nhiều kinh nghiệm phong phú, đa dạng trong mọi lĩnh vực hoạt động có liên quan đến tự nhiên, xã hội và tư duy

Song không phải chỉ có nhận thức thế giới mà loài người còn tự giác, tích cực vận dụng sáng tạo những kinh nghiệm này để cải tạo thế giới xung quanh, đồng thời cải tạo cả bản thân mình, nhằm phục vụ cho những mục

đích sống còn của mình, xây dựng và phát triển xã hội về mọi mặt để toàn xã hội cũng như mỗi cá nhân ngày càng có cuộc sống văn minh, thịnh vượng Qua đó, vốn kinh nghiệm của loài người lại không ngừng được phát triển

Để xã hội có sự tồn tại và ngày càng phát triển lên những trình độ cao hơn, loài người phải phấn đấu không mệt mỏi qua các thế hệ: thế hệ nọ nối tiếp thế hệ kia trong suốt quá trình phát triển lịch sử xã hội

Trang 8

Vì vậy, những thế hệ trước phải truyền lại những kinh nghiệm đã tích luỹ được, khái quát hoá và hệ thống hoá được qua các hoạt động thực tiễn cho những thế hệ trẻ để họ có thể kế thừa, phát triển và tiếp tục đưa xã hội không ngừng vận động đi lên, mang lại cho loài người ngày càng nhiều phúc lợi, làm cho chất lượng cuộc sống ngày càng được nâng cao

Sự truyền thụ và tiếp thu hệ thống những kinh nghiệm đó, về thực chất,

là sự giáo dục của những thế hệ đi trước đối với những thế hệ đi sau

Nói khác đi, giáo dục là một nhu cầu tất yếu của x hội và sự xuất hiện hiện tượng giáo dục trong x hội 1à một tất yếu lịch sử

ở đây có mấy điểm đáng chú ý:

Một là, xã hội, muốn tồn tại và không ngừng phát triển thì phải thực

hiện nhiều chức năng: chức năng chính trị - xã hội, chức năng kinh tế - sản xuất, chức năng tư tưởng - văn hoá và chức năng rất quan trọng không thể thiếu được - đó là chức năng giáo dục đào tạo những thế hệ kế thừa sự nghiệp phát triển xã hội

- Hai là, hiện tượng giáo dục chỉ có trong x hội loài người Đó là một

hiện tượng khách quan được tiến hành một cách có ý thức của con người Chúng ta cũng thấy một số động vật chẳng hạn cũng có một số động tác tạm gọi là “dạy” con bắt mồi, song đó chỉ là những động tác có tính bản năng của chúng mà thôi, không hề có ý thức như loài người

- Ba là, hiện tượng giáo dục bắt đầu có từ khi xuất hiện loài người

Song tất nhiên khởi thuỷ hiện tượng này diễn ra một cách tự phát trong quá trình hoạt động thực tiễn, ví như trong quá trình săn bắn muông thú thì người lớn truyền lại cho trẻ em những kinh nghiệm săn bắn có hiệu quả; trong quá trình hái lượm quả, cây để làm thực phẩm thì người lớn truyền đạt cho trẻ em những kinh nghiệm hái lượm sao cho không những quả, cây thu lượm được có thể ăn được mà còn thu lượm được ngày càng nhiều

Về sau, hiện tượng giáo dục dần dần được tiến hành một cách tự giác,

có mục đích, có nội dung ngày càng có hệ thống, có phương pháp và có tổ chức, nhất là từ khi loài người chuyển sang chế độ nô lệ Từ đó, hiện tượng giáo dục được tiếp tục biến đổi, phát triển cùng với sự phát triển của xã hội,

và nó sẽ tồn tại và phát triển cùng xã hội loài người Với ý nghĩa này, chúng

ta nói rằng, hiện tượng giáo dục, với tư cách là một hoạt động xã hội, có tính vĩnh hằng

Trang 9

2 Tính lịch sử và tính giai cấp của giáo dục

a Tính lịch sử của giáo dục

Trong suốt quá trình tồn tại và phát triển, giáo dục có mốì liên hệ có tính quy luật với trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất xã hội

Mối liên hệ có tính quy luật này được thể hiện ở chỗ: tính chất của giáo dục bao giờ cũng phù hơp với trình độ phát triển của các lực lượng sản xuất

và các quan hệ sản xuất vốn có của mỗi hình thái kinh tế - xã hội, ở mỗi nước, tuỳ theo đặc điểm, trình độ phát triển và những điều kiện cụ thể của mình, lại có những bước đi phát triển tương ứng của giáo dục

Sự phát triển tương ứng của giáo dục được thể hiện ở mục đích giáo dục, hệ thống giáo dục, mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp, giai đoạn, hình thức tổ chức giáo dục, chính sách giáo dục

Như vậy là, giáo dục luôn luôn biến đổi trong quá trình phát triển lịch

sử của loài người Nói cách khác, giáo dục có tính chất lịch sử - cụ thể

Từ đó, chúng ta có thể rút ra mấy điểm đáng chú ý:

- Một là, giáo dục “không nhất thành bất biến”

- Hai là, không thể có một nền giáo dục rập khuôn cho mọi hình thái kinh tế - xã hội, cho mọi quốc gia, cho mọi giai đoạn phát triển của mỗi hình thái kinh tế - xã hội cũng như của mỗi nước

- Ba là, cần và có thể học tập kinh nghiệm của quá khứ, của các nước khác một cách chọn lọc, có phê phán và vận dụng chúng vào hiện tại, vào nước mình sao cho phù hợp, không rập khuôn, máy móc

b Tính giai cấp của giáo dục

Giáo dục không những có tính vĩnh hằng, tính lịch sử cụ thể mà còn có tính giai cấp Thật vậy, trong xã hội có giai cấp, giáo dục cũng trở thành một công cụ quan trọng của giai cấp nắm quyền, phục vụ cho mục đích chính trị của nó

Tính giai cấp quy định mục đích giáo dục, hệ thống giáo dục, mục tiêu giáo dục, nội dưng giáo dục, phương pháp giáo dục, hình thức tổ chức giáo dục, chính sách giáo dục Nói tóm lại, tính giai cấp chi phối toàn bộ nền giáo dục trong xã hội có giai cấp: Ví như, trong xã hội phong kiến, giáo dục nhằm đào tạo những con người giáo điều, buộc phải học, phải làm một cách máy móc, rập khuôn những điều đã nói trong sách, phục vụ một cách mù quáng cho giai cấp phong kiến nắm chính quyền Còn trong xã hội ta, giáo

Trang 10

dục mang tính chất nhân dân, được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm mục tiêu chung là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước; tạo cơ hội và điều kiện cho mọi người

đều được đi học đều được phát triển nhiều mặt của nhân cách và trở thành những công dân, những người lao động sáng tạo, góp phần tích cực vào sự nghiệp phát triển đất nước giàu mạnh, công bằng, văn minh

3 Một số nét về sự đổi mới giáo dục Việt Nam

a Chúng ta đang tích cực tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện và sâu

sắc: Chuyển từ một nền kinh tế tập trung, quan liêu vận hành theo cơ chế bao cấp sang một nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường, có

điều tiết của Nhà nước Đồng thời, chúng ta chủ trương chính sách “mở cửa”, muốn làm bạn với mọi dân tộc, mọi quốc gia trên toàn thế giới

Trên đà đổi mới đó, Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khoá VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định đưa nước ta tiến vào một thời kì phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Để tiến hành sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phải hết sức coi trọng nhân tố con người Nhân tố con người được đặt

vào vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế - xã hội, xây dựng đất nước Như

vậy có nghĩa là sự phát triển nguồn lực con người quyết định mọi sự phát triển xã hội trên cơ sở đường lối phát triển đất nước đã được Đảng và Nhà

nước ta xác định đúng đắn Nói cách khác, phải “lấy việc phát huy tốt nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững” Vì vậy, chúng ta đã và đang coi trọng và thực hiện chiến lược con người

b Để đáp ứng được yêu cầu này, theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá VII về “Tiếp tục

đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”, đã nêu lên những quan điểm chỉ đạo sau đây:

- Cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu; là động lực thúc đẩy, là điều kiện cơ bản đảm bảo cho sự thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ đất nước

Phải coi trọng đầu tư giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội

Huy động toàn bộ xã hội làm giáo dục; động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lí của Nhà nước

Trang 11

- Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, đào tạo ra những con người có kiến thức văn hoá, khoa học, có kĩ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo, có kỉ luât giàu lòng nhân ái, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, sống lành mạnh, đáp ứng nhu cầu phát triển

đất nước những năm 90 và chuẩn bị cho tương lai

Phải mở rộng quy mô, đồng thời chú trọng nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục, gắn học với hành, tài và đức

- Giáo dục phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại

Thực hiện tốt một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người; xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách nhiệm của mỗi người công dân

- Đa dạng hoá các hình thức đào tạo Thực hiện công bằng trong giáo dục

c Với những quan điểm chỉ đạo trên đây chúng ta phải tích cực phấn

đấu giải quyết có chất lượng và hiệu quả hàng loạt vấn đề như sau:

- Phấn đấu từ nay đến khoảng cuối thập kỉ thứ nhất của thế kỉ XXl, xây dựng cho được một hệ thống giáo dục - đào tạo phát triển đi trước một bước

sự phát triển kinh tế với các tính chất đặc trưng sau đây:

+ Một là, tính phổ cập rộng và chất lượng cao về trình độ đạo đức, trình

độ văn hoá, khoa học và công nghệ Bậc giáo dục phổ cập chung trong cả nước sẽ là trung học cơ sở; còn ở các vùng kinh tế phát triển, đô thị, khu công nghiệp là trung học chuyên ban và chuyên nghiệp; ở các vùng xa xôi, hẻo lánh cá biệt là tiểu học

+ Hai là, tính đáp ứmg nhu cầu nhân lực về số lượng và chất lượng của

sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

+ Ba là, tính tiên tiến thế giới Tạo những điều kiện ưu tiên cho một bộ

phận “tinh hoa”, quy mô nhỏ của hệ thống giáo dục - đào tạo đạt được những tiêu chuẩn cao về đạo đức, về trình độ khoa học, công nghệ ngang mức tiên tiến của thế giới, trước hết là trong khu vực

+ Bốn là, tính thu hút các nguồn đầu tư của Nhà nước, của nhân dân,

các giới kinh doanh và các tổ chức xã hội bằng các hoạt động giáo dục - đào tạo có hiệu quả cao

+ Năm là, tính liên thông rộng r i với thế giới nhằm tiếp cận và chọn

lọc, vận dụng vào nước ta những thành tựu giáo dục - đào tạo của thế giới

- Phân biệt và phấn đấu thực hiện ba loại mục tiêu phát triển

Trang 12

+ Mục tiêu phát triển tổng quát (vĩ mô): Nâng cao dân trí, đào tạo nhân

lực, bồi dưỡng nhân tài

+ Mục tiêu phát triển nhân cách: Giáo dục và đào tạo những con người

phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức, có kĩ năng nghề nghiệp, lao động tự chủ, sáng tạo

+ Mục tiêu phát triển cụ thể của các ngành học, bậc học: Xoá mù chữ

và phổ cập giáo dục tiểu học; xây dụng bậc trung học mới; mở rộng bậc đại học và sau đại học; xây dựng hệ thống trung tâm chất lượng cao (Phạm

Minh Hạc - Giáo dục con người hôm nay và ngày mai Trường Cán bộ Quản

lí giáo dục - đào tạo, Hà Nội, 1995)

- Trên cơ sở đó, định hướng cho những hoạt động cụ thể

+ Tạo ra sự chuyến biến về nhận thức trong toàn dân về giáo dục và

phát triển giáo dục: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “Giáo dục là chìa khoá mở cửa vào tương lai”, phát triển giáo dục nhằm phục vụ cho sự phát triển kinh tế - xã hội

+ Đổi mới cơ câú hệ thống giáo dục quốc dân trên nguyên tắc “giáo dục

cho mọi người và giáo dục suốt đời” Đa dạng hoá các loại hình trường lớp trên cơ sở thống nhất về mục tiêu - xây dựng các trường trọng điểm, các trung tâm có chất lượng cao

+ Đổi mới mục tiêu, nội dung, phưong pháp giáo dục: Giáo dục những

người công dân, những người lao động có đạo đức, giàu 1òng nhân ái, tự chủ, năng động, sáng tạo, tăng cường giáo dục nhân văn, những tri thức hiện

đại phù hợp với thực tiễn Việt Nam; bồi dưỡng phương pháp tự học, tự giáo dục và phát huy tính độc lập, sáng tạo cho người học

- Tăng cường những điều kíện cho sự phát triển giáo dục như: sự lãnh

đạo và quản lí của Nhà nước, ngân sách, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục

Từ những điều vừa trình bày, chúng ta có thể nói rằng, đổi mới giáo dục

ở nước ta có ý nghĩa chiến lược rất quan trọng trong bối cảnh đất nước đang

tiến vào thế kỉ XXI

II CáC CHức NĂNG Xã HộI CủA GIáO DụC

Như trên đã nêu, giáo dục là một hiện tượng xã hội và chỉ xuất hiện, tồn tại và phát triển trong xã hội loài người Vì vậy, đối với xã hội, nó phải thực hiện tất các chức năng nhất định:

- Chức năng kinh tế - sản xuất;

Trang 13

Muốn có một nguồn nhân lực như vậy, không phải chỉ tái sản xuất ra con người, nghĩa là không phải chỉ sinh ra những con người, nuôi nấng con người sao cho sinh trưởng ít nhất là bình thường, mà điều quan trọng hơn nhiều là cần phải tạo điều kiện và cơ hội cho họ phát triển được nhiều mặt của nhân cách con người công dân, người lao động có năng lực, thích ứng với những tiến bộ của xã hội nói chung, của sự nghiệp phát triển kinh tế, sản xuất ngày càng hiện đại nói riêng

Muốn có những người như vậy, xã hội phải dựa vào giáo dục, mà chỉ có giáo dục mới có thể đáp ứng được yêu cầu đó

Thật vậy, với hệ thống hoàn chỉnh các ngành học (mầm non, phổ thông, chuyên nghiệp và dạy nghề, cao đẳng, đại học và sau đại học cũng như giáo dục thường xuyên), giáo dục tạo ra những cơ hội, những điều kiện cho mọi người, nhất là cho thế hệ trẻ được học và học suốt đời một cách có hệ thống,

có tổ chức, có phương pháp để trở thành những người công dân, những người lao động hữu ích cho xã hội; tham gia tích cực và có hiệu quả vào sự nghiệp phát triển kinh tế - sản xuất của đất nước

2 Chức năng chính trị - xã hội

Như chúng ta đã biết, mỗi hình thái kinh tế - xã hội cụ thể, thậm chí ngay trong một xã hội cụ thể ở những giai đoạn phát triển khác nhau lại đòi hỏi những mẫu khác nhau của người công dân, người lao động nhằm đáp ứng những mục đích, yêu cầu chính trị - xã hội nhất định

Giáo dục phải đáp ứng “đơn đặt hàng” đó Một khi “đơn đặt hàng” này thay đổi thì giáo dục phải thay đổi về mục đích, hệ thống các ngành học, bậc

Trang 14

học, mục tiêu, nội dung, phương pháp hình thức tổ chức giáo dục, chính sách giáo dục để có thể đủ khả năng và điều kiện thực hiện tốt nhất “đơn đặt hàng” mới này Muốn vậy, kinh nghiệm cho thấy, một mặt giáo dục phải có tính nhạy bén, tính năng động, mặt khác xã hội phải hỗ trợ tích cực và có hiệu quả cho nó

Do có tác động to lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách con người, nên giáo dục lại tác động đến cấu trúc xã hội và mối quan hệ giữa các

bộ phận hợp thành xã hội Ví dụ giáo dục trong chế độ phong kiến góp phần không nhỏ vào việc xây dựng và duy trì sự bất bình đẳng giữa nam và nữ (nam được đi học, thi cử, làm quan; nữ thì ngược lại; không được đi học ở nhà làm công việc nội trợ ), sự bất bình đẳng giữa lao động trí óc và lao

động chân tay (lao động trí óc được coi trọng, còn lao động chân tay thì bị coi thường ) Còn trong xã hội ta, nhờ giáo dục cho mọi người, giáo dục thường xuyên, giáo dục phổ cập , trình độ dân trí ngày một nâng cao, làm cho các tầng lớp xã hội dễ dàng nhích lại gần nhau

3 Chức năng tư tưởng - văn hoá

Trong mỗi xã hội nhất định, một trong những vấn đề cực kì quan trọng

là phải làm cho mọi thành viên nắm được hệ tư tưởng chung và dùng hệ tư tưởng này định hướng cho mọi thái độ hành vi Nhờ vậy, mới đảm bảo được một sự thống nhất hành động trong phạm vi toàn xã hội nhằm cùng nhau hợp lực thực hiện những mục tiêu, mục đích chung đã định, tránh được những tình trạng mâu thuẫn, thậm chí đối lập lẫn nhau, gây lộn xộn trong cuộc sống xã hội

Bên cạnh đó, một yêu cầu được đặt ra là phải xây dựng được trong phạm vi toàn xã hội lối sống, nếp sống có văn hoá, đề phòng, đấu tranh và khắc phục những biểu hiện của lối sống, nếp sống không lành mạnh, thậm chí đồi bại (đối xử với nhau trên cơ sở “tiền trao cháo múc”, nghiện ma tuý, mua bán dâm, video và phim đen )

Không những vậy, trong một xã hội, trên nền tảng nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cần phât hiện và bồi dưỡng một cách có tổ chức, có phương pháp một đội ngũ nhân tài cho đất nước Có thể nói rằng, đội ngũ nhân tài là một lực lượng có tài năng, phát triển ở trình độ cao, có năng lực tham gia các hoạt động sáng tạo trong các lĩnh vực vật chất cũng như tinh thần Qua đó,

họ góp phần rất quan trọng vào việc làm tăng giá trị chất xám của các sản

Trang 15

phẩm xã hội Vì vậy, chúng ta có thể coi lực lượng này đóng một vai trò nòng cốt trong quá trình phát triển đất nước

Để thực hiện được những yêu cầu nói trên, xã hội phải dựa chủ yếu vào giáo dục

Như vậy là, giáo dục phải thực hiện tốt các chức năng xã hội – chức năng kinh tế - sản xuất, chức năng chính trị - xã hội, chức năng tư tưởng - văn hoá - trong mối quan hệ mật thiết với nhau Với các chức năng này, giáo dục có khả năng tác động đến toàn bộ các lĩnh vực hoạt động của xã hội

thông qua những con người được giáo dục

T Makiguchi, nhà giáo dục Nhật Bản trong tác phẩm nổi tiếng của

mình “Giáo dục vì cuộc sống sáng tạo” (NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh,

1994) đã dành một sự đánh giá cao cho giáo dục Ông viết: Cuộc sống của con người là một quá trình sáng tạo giá trị, giáo dục phải hướng con người đi

đến mục tiêu đó Các hoạt động giáo dục nhằm thúc đẩy quá trình sáng tạo giá trị” Và theo hứơng chính quá trình sáng tạo giá trị mà nhân phẩm được hình thành Do vậy, cần “giúp cho con người biết sống, như những con người sáng tạo giá trị”

III ĐốI Tượng Và PHƯƠNG PHáP NGHIÊN CứU

GIáO DụC TIểU HọC

1 Vài nét về sự ra đời của giáo dục học

a) Giáo dục, với tư cách là một hiện tượng xã hội, không những chịu

ảnh hưởng của các lực lượng sản xuất và các quan hệ sản xuất mà còn chịu

ảnh hưởng của các tư tưởng giáo dục được nảy sinh và phát triển trong các thời đại lịch sử

Nếu như giáo dục được xuất hiện cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người thì giáo dục học với tư cách là một khoa học về giáo dục con người lại

được hình thành muộn hơn nhiều Những công trình nghiên cứu cho thấy, giáo dục học được hình thành và phát triển vào thời kì mà giáo dục đóng một vai trò rõ rệt trong cuộc sống xã hội và xã hội có nhu cầu tổng kết những kinh nghiệm giáo dục, đặc biệt là nhu cầu xây dựng những cơ quan chuyên biệt phụ trách việc chuẩn bị một cách có kế hoạch cho thế hệ trẻ đi vào cuộc sống

Trang 16

b) Thật vậy, từ thời kì cổ đại, những kinh nghiệm giáo dục đã bắt đầu

được tổng kết, song mới ở dạng những tư tưởng giáo dục Có điều đáng chú

ý là những tư tưởng giáo dục này được hình thành với những tư tưởng triết học và được trình bày trong những hệ thống triết học, ví như những hệ thống triết học của Xôcrat (469 - 399 tr CN), Đêmôcrit (460 -370 tr CN), Aristôt (384 - 322 tr CN) các hệ thống triết học này đã đề cập những tư tưởng có liên quan đến những vấn đề giáo dục con người, hình thành nhân cách, xác

định vị thế của họ trong xã hội

Đến thời kì trung cổ thì giáo dục chịu ảnh hưởng rất to lớn của nhà thờ Những tư tưởng giáo dục được phát triển trong khuôn khổ thần học Người ta chủ trương kết hợp và dung hoà ý trí, sự phát triển trí tuệ với niềm tin tôn giáo, niềm tin có trước trí tuệ, định hướng cho trí tuệ và khoa học Chính lối học vẹt bắt nguồn từ đây

Song, thời kì phục hưng, các nhà tư tưởng, các nhà giáo dục tiến bộ đã kịch liệt phê phán, chống lại giáo dục nhà thờ; đòi hỏi phải xây dựng một nền giáo dục nhân văn thoát khỏi thần học Con người không bị đè nén, áp

đặt mà phải được phát triển toàn diện qua con đường giáo dục

Như vậy giáo dục, cũng như con người phải được giải phóng khỏi thần học ở đây chúng ta có thể nói đến T Mor (1478 - 1535), T Campanenlla (1568 - 1639)

Đến đầu thế kỉ thứ XVII, giáo dục học với tư cách là một khoa học lần

đầu tiên mới được tách ra từ triết học F Bêcon (1561 - 1626) - nhà triết học, nhà tự nhiên học người Anh, vào năm 1623 có ý định phân loại các khoa học, trong đó có giáo dục học mà hồi đó được hiểu giản đơn là hướng dẫn

đọc sách, song phải nói rằng, giáo dục học thực sự trở thành một khoa học

độc lập gắn liền với tên tuổi của J A Cômenski - nhà giáo dục Sec vĩ đại

(1592 - 1670) Tác phẩm lớn nhất của ông “Phép giảng dạy vĩ đại” được coi

là cuốn sách khoa học giáo dục đầu tiên Có thể nói rằng, nội dung của nó rất phong phú Trong đó, ông đã trình bày một cách có hệ thống những quan

điểm chặt chẽ về vai trò và ý nghĩa của học vấn rộng rãi cần thiết cho mọi

đứa trẻ về cách tiếp cận “thích ứng với tự nhiên” với nội dung, nguyên tắc,

phương pháp hình thức tổ chức dạy học Nhiều nguyên tắc và hình thức tổ chức dạy học do ông đề xuất cho đến nay vẫn có giá trị của chúng, ví như

nguyên tắc trực quan (“nguyên tắc vàng ngọc”), nguyên tắc hệ thống,

nguyên tắc phát huy tính tích cực nhận thức của học sinh và đặc biệt là hình thức tổ chức trên lớp (hình thức dạy học theo lớp)

Trang 17

Kế theo J A Cômenski, nhiều nhà hoạt động xuất sắc tiếp tục góp phần phát triển giáo dục học

J Locơ - nhà triết học ở Anh (1632 - 1704) trong tác phẩm “Những suy nghĩ về giáo dục”, đã đề cập đến nhiều vấn đề về giáo dục đạo đức, giáo

dục thể chất, kết hợp chặt chẽ dạy học và giáo dục với thực tiễn, tổ chức cuộc sống cũng như phát huy những kinh nghiệm sống mà đứa trẻ đã tích luỹ được

Các nhà giáo dục Pháp như J J Rutxô ( 171 2 - 1778), Đ Điđơrô (1713

- 1784) đã đánh giá cao vai trò của giáo dục và coi nó như là một phương tiện rất quan trọng để không những giúp cho đứa trẻ được phát triển mà còn giúp cho việc cải tạo xã hội nữa

Nhà giáo dục Thuỵ Sỹ J G Pestalôgi ( 1746 – 1827) đã có công lao phát triển những tư tưởng giáo dục lên một giai đoạn mới Ông chủ trương thống nhất giữa dạy học với lao động sản xuất qua đó mà tạo ra cơ hội để giáo dục trẻ; quan tâm đặc biệt đến sự phát triển năng lực của chúng, chuẩn

bị tốt cho chúng vào đời

Nhà giáo dục học - nhà dân chủ Đức F Đistervec (1790 - 1866) tiếp tục phát triển lí luận giáo dục học ở đây có điều đáng chú ý là ông đã nêu lên tính chất tương đối của nguyên tắc thích ứng tự nhiên, ông kêu gọi cần kết hợp nguyên tắc này với nguyên tắc thích ứng văn hoá, có nghĩa là thích ứng với nhu cầu của sự phát triển xã hội Về lí luận dạy học, ông có những đóng góp mới như đề xuất những nguyên tắc dạy học: tính tương đối, tính mềm dẻo, tính mâu thuẫn và rất quan tâm đến sự phát triển tính tích cực nhận thức của học sinh

K D Usinski ( 1824 - 1870) - nhà giáo dục người Nga đã được coi là người đặt nền móng đấu tiên cho giáo dục học nước này - một lĩnh vực tri thức có tính độc lập tương đối phản ánh những yêu cầu của xã hội

ông cho rằng, phải làm sao thực hiện được mối quan hệ mật thiết giữa

lí luận và thực tiễn giáo dục, không được để cho chúng tách rời nhau, thậm chí đối lập nhau

c) Đến giữa thế kỉ XIX, với sự xuất hiện chủ nghĩa Mác – học thuyết mang tính khoa học và tính cách mạng cao đã vạch ra những quy luật khách quan của sự vận động và phát triển xã hội và hình thành nhân cách; đã mở ra

những khả năng thực tế cho sự nghiệp cải tiến xã hội và con người, giáo dục học đ thực sự trở thành một khoa học về giáo dục con người có cơ sở phương pháp luận đúng đắn và vững chắc

Trang 18

ở đây, cần nhấn mạnh rằng, Mác và Ăngghen đã xây dựng được học thuyết về giáo dục với tư cách là một bộ phận hữu cơ của học thuyết chủ nghĩa cộng sản khoa học Mác đã tạo ra một bước ngoặt cơ bản trong lí thuyết giáo dục, đã giải phóng nó khỏi chủ nghĩa siêu hình, khỏi tình trạng tách rời cuộc sống; đã trang bị phương pháp khoa học nhằm giúp chúng ta phát hiện những quy luật của giáo dục như là một hiện tựợng xã hội

d Như vậy là, giáo dục học đã được hình thành và phát triển qua một quá trình lịch sử lâu dài:

- Từ chỗ là một bộ phận của triết học đến chỗ trở thành một khoa học

2 Quá trình giáo dục tổng thể là đối tượng của giáo dục tiểu học

a Khái niệm quá trình giáo dục tổng thể

Giáo dục học với tư cách là khoa học về giáo dục, có đối tượng nghiên

cứu là quá trình giáo dục tổng thể (hoặc quá trình sư phạm tổng thể)

Quá trình giáo dục tổng thể được gọi là một quá trình bao gồm nhiều quá trình giáo dục bộ phận tồn tại và vận động, phát triển trong sự thống nhất với nhau, trong đó, dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục (giáo viên), người được giáo dục (học sinh) tự giác, tích cực, độc lập chiếm lĩnh những giá trị x hội, hình thành và phát triển nhân cách phù hợp với mục

đích giáo dục mà x hội quy định

b Cấu trúc quá trình giáo dục tổng thể

Quá trình giáo dục tổng thể là một hệ thống lớn (vĩ mô) bao gồm những

hệ thống nhỏ (vi mô)

Người ta coi những hệ thống nhỏ là những quá trình giáo dục bộ phận

tạo nên quá trình giáo dục tổng thể Đó là:

- Quá trình giáo dục trí tuệ (trí dục)

- Quá trình giáo dục đạo đức (đức dục)

- Quá trình giáo dục thẩm mĩ (mĩ dục)

- Quá trình giáo dục thể chất (thể dục)

Trang 19

- Quá trình giáo dục lao động

Những quá trình giáo dục bộ phận này thống nhất với nhau, có mối quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau và có thể thâm nhập vào nhau Tuy nhiên, mỗi quá trình này vẫn có tính độc lập tương đối của nó

Quá trình giáo dục tổng thể cũng như mỗi quá trình giáo dục bộ phận

đều được coi là các hệ thống (hoặc vi mô hoặc vĩ mô như đã nêu trên) Chúng đều có một cấu trúc giống nhau, nghĩa là mỗi quá trình này đều được tạo thành bởi các nhân tố sau đây:

+ Mục đích, nhiệm vụ giáo dục;

+ Nội dung giáo dục;

+ Phương pháp giáo dục;

+ Nhà giáo dục (giáo viên);

+ Người được giáo dục (học sinh);

+ Kết quả giáo dục

* Mục đích, nhiệm vụ giáo dục

Mục đích giáo dục có thể được coi là “đơn đặt hàng” của xã hội đối với

giáo dục về mẫu nhân cách con người được giáo dục, mà giáo dục cần thực

hiện cho bằng được nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội về giáo dục con người lao động trong từng giai đoạn phát triển lịch sử của xã hội

Để thực hiện tốt được mục đích này, giáo dục phải hoàn thành tốt các nhiệm vụ giáo dục: giáo dục trí tuệ, giáo dục đạo đức, giáo dục thẩm mĩ, giáo dục thể chất và giáo dục lao động Những nhiệm vụ này liên quan mật thiết với nhau, hỗ trợ cho nhau và thâm nhập vào nhau Mục đích và nhiệm

vụ giáo dục được coi là nhân tố hàng đầu của quá trình giáo dục tổng thể hoặc bộ phận vì nó định hướng cho sự vận động và phát triển của toàn bộ quá trình giáo dục này cũng như cho sự vận động và phát triển của các nhân

tố khác của nó (quá trình giáo dục tổng thể)

* Nội dung giáo dục

Nội dung giáo dục bao gồm hệ thống những giá trị xã hội cần bồi dưỡng cho người được giáo dục Đó là hệ thống những giá trị nhân văn, đạo

đức, văn hoá, khoa học, công nghệ, nghề nghiệp v.v được lựa chọn trong kho tàng giá trị của nhân loại

Trang 20

Nội dung giáo dục, về cơ bản, được phản ánh trong chương trình và sách giáo khoa Nó tạo nên nội dung hoạt động thống nhất cho nhà giáo dục

và người được giáo dục nhằm đạt được mục đích giáo dục đã định

* Phương pháp và phương tiện giáo dục

Phương pháp và phương tiện giáo dục quy định những cách thức và những phương tiện hoạt động của nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm hoàn thành những nhiệm vụ giáo dục và đạt những mục đích giáo dục

đã định

* Nhà giáo dục

Nhà giáo dục cùng tập thể sư phạm của họ đóng góp vai trò định hướng,

tổ chức, điều khiển, điều chỉnh và đánh giá hoạt dộng nhận thức và tự giáo

dục của người được giáo dục Nói gọn lại, đó là vai trò chủ đạo của nhà giáo dục Nhà giáo dục là tổng thể tổ chức

* Người được giáo dục

Người được giáo dục cùng với tập thể của họ một mặt là đối tượng giáo dục nhận sự tác động có định hướng của nhà giáo dục; một mặt khác, lại là chủ thể nhận thức, chủ thể tự giáo dục Hai vai trò này thống nhất với nhau,

trong đó, vai, trò chủ thể là cơ bản nhất

* Kết quả giáo dục

Kết quả giáo dục là mức độ phát triển nhân cách của con người được giáo dục đạt được sau mỗi quá trình giáo dục nhất định và sau toàn bộ quá trình giáo dục đã được quy định Đồng thời, kết quả này cũng được coi là kết quả sinh động của sự vận động và phát triển của quá trình giáo dục bộ phận

và của quá trình giáo dục tổng thể

- Những nhân tố trên đây có mối quan hệ mật thiết với nhau, tác động qua lại với nhau và thống nhất với' nhau, ví như nhân tố mục đích nhiệm vụ

giáo dục có tác dụng định hướng cho sự vận động và phát triển của các nhân

tố khác; về phần mình, các nhân tố khác lại phục vụ cho việc hoàn thành các nhiệm vụ giáo dục và đạt được mục đích giáo dục đã đề ra

- Những nhân tố trên đây còn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại và thống nhất với môi trường kinh tế - xã hội và môi trường khoa học - công nghệ

Các môi trường một mặt đưa ra những “đơn đặt hàng” về giáo dục, đào tạo những người công dân, những người lao động theo mẫu nhân cách nhất

Trang 21

định cho quá trình giáo dục tổng thể; mặt khác, lại tạo điều kiện cho quá trình này hoàn thành có chất lượng và hiệu quả “đơn đặt hàng” đó

Khi nghiên cứu những mối quan hệ giữa những nhân tố của quá trình giáo dục tổng thể cũng như giữa quá trình giáo dục tồng thể với các môi trường của nó, người ta đã phát hiện được nhiều quy luật, ví dụ như:

+ Sự phụ thuộc của quá trình giáo dục tổng thể vào toàn bộ các nhân tố của các môi trường kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ

+ Sự thống nhất và ảnh hưởng qua lại giữa các mục đích, nội dung, phương pháp giáo dục

c Các phạm trù cơ bản của giáo dục học tiểu học

Giáo dục học tiểu học là một khoa học, không những có đối tượng

nghiên cứu riêng, mà nó còn có một hệ thống khái niệm riêng, trong đó, có

những khái niệm cơ bản nhất, chủ yếu nhất được gọi là các phạm trù

Trong giáo dục tiểu học, người ta thường nói đến các phạm trù cơ bản sau đây: giáo dục, giáo dưỡng và dạy học

Theo nghĩa rộng nhất, giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và

phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của nhà trường, gia đình, xã hội; từ môi

trường tự nhiên, môi trường nhân tạo Ví như, ảnh hưởng của các hoạt động

từ bên ngoài: từ nhà trường, gia đình, xã hội, từ môi trường thiên nhiên, môi

trường nhân tạo Ví như, ảnh hưởng của các hoạt động đa dạng nội khoá, ngoại khoá của nhà trường, ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia

đình, ảnh hưởng của những vở kịch, những cuốn phim, những tin tức trên màn hình, ảnh hưởng của những sách báo, tạp chí, ảnh hưởng của những tấm lòng nhân từ của người khác, ảnh hưởng của những hoạt động tham quan, du lịch những phong cảnh tự nhiên, những công viên, những di tích lịch sử văn hoá v.v

Trang 22

Với nghĩa rộng nhất của sư phạm giáo dục như vậy, chúng ta nhận thấy rằng, để giáo dục nhân cách con người, cần xây dựng được môi trường nhà trường, môi trường xã hội lành mạnh; đồng thời cần duy trì, tôn tạo môi trường tự nhiên và sáng tạo ra môi trường nhân tạo có tính thẩm mĩ cao

* Giáo dục theo nghĩa rộng được hiểu là quá trình và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống của cơ quan chuyên bíệt giáo dục và đào tạo tức là các trường học

Các trường học với những hoạt động đa dạng nội khoá và ngoại khoá, nghĩa là qua các bài học của các môn học ở trên lớp cũng như qua những hoạt động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, tham quan

được tổ chức ngoài giờ lên lớp, tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác dụng chỉ

đạo của giáo viên, của nhà giáo dục

Với nghĩa rộng như vậy, giáo dục bao hàm nội dung rộng, thể hiện một phức hợp các mặt giáo dục: trí dục, đức dục, mĩ dục, thể dục, giáo dục lao

động do nhà trường phụ trách trước xã hội

* Giáo dục theo nghĩa tương đối hẹp

Theo nghĩa tương đối hẹp, giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người giáo dục dưới quan hệ của những tác động sư

phạm của nhà trường, chỉ liên quan đến các mặt giáo dục: đức dục, mĩ dục, thể dục, giáo dục lao động

* Giáo dục theo nghĩa hẹp

Giáo dục theo nghĩa hẹp được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức

năng và kĩ xảo có hệ thống của người học

+ Theo nghĩa thứ hai, giáo dưỡng lại là kết quả của quá trình đó

Vì vậy, có thể nói rằng, giáo dưỡng vừa là quá trình, vừa là kết quả nắm vững tri thức, kĩ năng, kĩ xảo có hệ thống ở người học

Trang 23

* ở đây có mấy nghĩa đáng chú ý:

Nếu theo nghĩa thứ hai thì thuật ngữ giáo dưỡng đồng nghĩa với thuật ngữ học vấn

Học vấn được hiểu là kết quả của việc nắm vững hệ thống những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng được thể hiện ở người học Như vậy có nghĩa

là những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, những vốn kinh nghiệm của người học thực sự biến chúng thành vốn kinh nghiệm của bản thân và có thể vận dụng chúng có hiệu quả vào cuộc sống

Học vấn, theo nghĩa này, được phân chia thành nhiều trình độ: trình độ học vấn tiểu học, trình độ học vấn trung học cơ sở, trình độ học vấn trung học chuyên ban, trình độ học vấn cao đẳng, trình độ học vấn đại học, trình

độ học vấn sau đại học

Hai là, nếu theo nghĩa thứ nhất, thì thuật ngữ giáo dưỡng có thể được hiểu là quá trình trau đồi học vấn Quá trình này có thể được tiến hành trong nhà trường dưới sự chỉ đạo của giáo viên và cũng có thể được tiến hành ngoài nhà trường dưới hình thức tự học

- Dạy học

+ Dạyhọc là một quá trình, dưới tác dụng chủ đạo của giáo viên, người học tự giác, tích cực, độc lập: nắm vững những tri thức và những kĩ năng, kĩ xảo tương ứng, phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, đặc biệt là năng lực tư duy, đồng thời hình thành được những phẩm chất hoạt động trí tuệ (tính định hướng, bề rộng, bề sâu, tính độc lập, tính mềm dẻo, tính linh họat, tính nhất quán, tính phê phán, tính khái quát v.v ); trên cơ sở đó hình thành và phát triển thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức của người công dân, người lao động

+ Với nghĩa này, dạy học được coi là con đường cơ bản nhất để tiến hành giáo dục và giáo dưỡng (trau dồi học vấn; sang chương lII chúng ta sẽ

trở lại vấn đề này)

3 Giáo dục học tiểu học trong hệ thống các khoa học giáo dục

a) Vài nét chung về hệ thống các khoa học giáo dục

Giáo dục học thực ra bao gồm nhiều ngành khoa học cụ thể về giáo dục Những khoa học này được gọi là những khoa học giáo dục Chúng hợp thành một hệ thống rất phong phú trên cơ sở có sự phân hoá dưới ảnh hưởng của nhu cầu thực tiễn giáo dục

Trang 24

Giáo dục học đại cương nghiên cứu những vấn đề chung nhất của giáo dục học

Từ giáo dục học đại cương, người ta xây dựng giáo dục học theo ngành học, bậc học và lứa tuổi:

+ Giáo dục mầm non có giáo dục học nhà trẻ và giáo dục học mẫu giáo + Giáo dục học nhà trường phổ thông có giáo dục học tiểu học và giáo dục học trung học

+ Giáo dục học thường xuyên

+ Giáo dục học chuyên nghiệp, dạy nghề

+ Giáo dục học đại học (bao gồm cả cao đẳng)

- Từ giáo dục học đại cương và tham khảo giáo dục học cho người học, người ta xây dựng giáo dục học phục vụ cho các loại nghề như:

+ Giáo dục học quân sự;

+ Giáo dục học văn hoá;

+ Giáo dục học y học;

+ Giáo dục học thể dục - thể thao;

+ Giáo dục học cải tạo phạm nhân v.v

Từ giáo dục học đại cương, có bộ phận được tách ra thành một khoa học

độc lập, như là lí luận dạy học, lí luận giáo dục và lí luận quản lí giáo dục ở dạng đại cương

Các khoa học này lại tiếp tục phân hoá, ví như từ lí luận dạy học đại cương lại cho ra đời: Lí luận dạy học cho các ngành học, bậc học, như lí luận dạy học mẫu giáo, lí luận dạy học tiểu học, lí luận dạy học trung học, lí luận dạy học đại học v.v

+ Lí luận dạy học môn học hay bộ môn (dùng cho đại học), ví như lí luận dạy học toán, lí luận dạy học tâm lí học v.v

Bên cạnh đó, người ta còn xây dựng lịch sử giáo dục học chuyên nghiên cứu lịch sử bản thân giáo dục học

- Ngoài ra, cũng cần nói đến giáo dục học chuyên biệt có liên quan đến giáo dục trẻ có tật (câm, điếc, mù) và trẻ thiểu năng trí tuệ

b Giáo dục học tiểu học trong hệ thống các khoa học giáo dục

Từ hệ thống các khoa học giáo dục nói trên, chúng ta nhận thấy mấy

điều sau đây:

Trang 25

Một là, giáo dục học tiểu học là một khoa học giáo dục độc lập nằm

trong hệ thống khoa học nói chung; cụ thể là nằm trong hệ thống các khoa học giáo dục về ngành học, bậc học; hay nói cụ thể hơn nữa, nằm trong hệ thống giáo dục nhà trường phổ thông cùng với giáo dục học trung học

- Hai là, giáo dục học tiểu học được tách ra từ giáo dục học phổ thông

trên cơ sở tính đến đặc điểm của bậc tiểu học - bậc học đầu tiên của ngành giáo dục phổ thông với những học sinh được tạo nguồn từ mẫu giáo; đồng thời là bậc học chuẩn bị cho các em học lên hoặc tham gia cuộc sống xã hội sau khi tốt nghiệp

- Ba là, giáo dục học tiểu học, trong quá trình phát triển, do nhu cầu của

thực tiễn giáo dục, lại phân hoá theo chiều sâu, đó là:

• Lí luận dạy học tiểu học

• Lí luận giáo dục tiểu học

• Lí luận quản lí trường tiểu học

- Bốn là, lí luận dạy học tiểu học lại được người ta vận dụng để xây

dựng những khoa học giáo dục có liên quan đến quá trình dạy học các môn học, ví như:

• Lí luận dạy học toán;

• Lí luận dạy học tự nhiên - xã hội;

• Lí luận dạy học văn;

• Lí luận dạy học đạo đức v.v

Như vậy là, giáo dục học tiểu học với tư cách là một khoa học độc lập nằm trong hệ thống nhất giáo dục theo ngành học, bậc học và lứa tuổi, cụ thể hơn nữa, nó nằm trong hệ thống giáo dục học nhà trường phổ thông

Hiện nay, trên cơ sở những kinh nghiệm đã tích luỹ được và do nhu cầu của thực tiễn giáo dục tiểu học, giáo dục học tiểu học đang phát triển theo hai hướng cơ bản: đó là phát triển theo chiều sâu và hướng phân hoá trong sự thống nhất với nhau

4 Giáo dục học tiểu học với các khoa học có liên quan

Giáo dục học tiểu học, với tư cách là một khoa học, có mối quan hệ với nhiều khoa học khác:

a Triết học giúp cho việc xây dựng cơ sở phương pháp luận của giáo dục học tiểu học, soi sáng bản chất, nguồn gốc sâu xa của sự vận động và

Trang 26

phát triển của quá trình giáo dục tổng thể cũng như các quá trình giáo dục

bộ phận ở tiểu học

b Xã hội học giúp cho việc soi sáng ảnh hưởng của môi trường xã hội

đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh tiểu học, vai trò của xã hội đối với việc giáo dục các em

c Tâm lí học giúp cho việc xây dựng cơ sở tâm lí học cho quá trình giáo dục nhân cách của học sinh tiểu học

d Sinh lí học thần kinh cấp cao nói riêng cũng như giải phẫu sinh lí người nói chung giúp cho việc xây dựng cơ sở giải phẫu - sinh lí của các hiện tượng tâm lí, của các hoạt động giáo dục và dạy học ở tiểu học

đ Đạo đức học và mĩ học giúp cho việc giải quyết những vấn đề giáo dục đạo đức và giáo dục thẩm mĩ cho học sinh tiểu học (như xây dựng cơ sở phương pháp luận, nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục đạo

điều khiển và sự thực hiện điều khiển thông qua các kênh thuận nghịch

h Toán học giúp cho việc xử lí những số liệu thu được trong quá trình nghiên cứu giáo dục học tiểu học

5 Các phương pháp nghiên cứu giáo dục học tiểu học

Để nghiên cứu giáo dục học tiểu học, người ta thường sử dụng các phương pháp sau đây:

a Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát sư phạm

+ Quan sát sư phạm là phương pháp sử dụng có mục đích, có kế hoạch các giác quan (có khi dùng cả những phương tiện kĩ thuật như máy ảnh, máy quay phim v.v ) để ghi nhận, thu thập những biểu hiện của các hiện tượng, qụá trình giáo dục, nhằm khai thác những thông tin cần thiết phục vụ cho việc đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp tương ứng hoặc kiểm chứng cho lí thuyết, cho giả thuyết khoa học

+ Người ta phân biệt nhiều cách thức quan sát:

Trang 27

Quan sát khía cạnh và quan sát toàn diện;

Quan sát lâu dài và quan sát trong một thời gian nhất định; Quan sát tự nhiên và quan sát bố trí;

Quan sát thăm dò và quan sát đi sâu;

Quan sát phát hiện và quan sát kiểm nghiệm

+ Để quan sát có hiệu quả, cần tuân theo những yêu cầu cơ bản như sau:

Đảm bảo tính tự nhiên của các hiện tượng, quá trình giáo dục được quan sát;

Đảm bảo tính rõ ràng của quan sát;

Đảm bảo sự hiểu biết cần thiết về lí luận và thực tiễn có liên quan đến những hiện tượng, quá trình sẽ quan sát;

Đảm bảo tính phong phú, đa dạng, tính chính xác, tính cụ thể, tính mục

đích của những tài liệu trong quá trình quan sát những hiện tượng, quá trình giáo dục

- Phương pháp điều tra giáo dục

+ Điều tra giáo dục được hiểu là phương pháp sử dụng một hệ thống câu hỏi đã được xây dựng theo mục đích nhất định, đặt ra cho nhiều người ở nhiều vùng khác nhau, vào những thời gian khác nhau, thuộc nhiều thành phần xã hội khác nhau để có thể thu được hàng loạt ý kiến trong một thời gian tương đối ngắn, phục vụ cho việc phát hiện được thực trạng giáo dục và những nguyên nhân của việc đề xuất những giải pháp và những điều kiện có tính giả định làm cho thực trạng ngày càng phát triển tốt đẹp

+ Điều tra giáo dục thường được tiến hành bằng anket, bằng trò chuyện

và bằng trắc nghiệm:

* Điều tra bằng anket

Anket là phiếu trưng cầu ý kiến, trong đó, có in sẵn những câu hỏi được sắp xếp theo mục đích nhất định

Điều tra bằng anket là phương pháp sử dụng anket để trưng cầu ý kiến nhiều người trong một khoảng thời gian ngắn, dưới hình thức viết

Người ta phân biệt 3 loại anket sau dây:

Anket đóng là anket, trong đó, chỉ có những câu hỏi có kèm theo những

phương án trả lời tương ứng Người được trưng cầu ý kiến đánh dấu “X” vào một (hoặc những) phương án trả lời phù hợp với sự hiểu biết và suy nghĩ của mình theo yêu cầu của người hỏi

Trang 28

Anket mở là anket, trong đó, chỉ có những câu hỏi không kèm theo

những phương án trả lời Người được trưng cầu ý kiến tự ghi câu trả lời của mình theo yêu cầu của người hỏi

Anket hỗn hợp là anket bao gồm một hỗn hợp các loại câu hỏi theo hai

loại trên

Trong thực tiễn, phương pháp điều tra bằng anket được điều tra thăm

dò, điều tra đi sâu và điều tra bổ sung

Để điều tra bằng anket có kết quả tốt, cần chú ý những điều sau đây: Một là, phải xác định rõ ràng mục đích và những đối tượng điều tra Hai là, phải xây dựng được nội dung anket với hệ thống câu hỏi và những phương án trả lời (nếu cần) sao cho rõ ràng, chính xác, đảm bảo cho mọi người hiều dễ dàng và hiểu như nhau; sao cho các câu hỏi có thể kiểm tra lẫn nhau

Ba là, phải hướng dẫn trả lời rõ ràng

Bốn là, phải xử lí những thông tin cho chính xác, khách quan

* Điều tra bằng trò chuyện

Điều tra bằng trò chuyện là phương pháp thu lượm những thông tin về các hiện tượng, quá trình giáo dục qua trao đổi ý kỉến trực tiếp với những người được nghiên cứu

Muốn trò chuyện thành công, cần chú ý:

Thiết kế hệ thống các câu hỏi cơ bản phù hơp với mục đích trò chuyện

đã định, tuỳ theo nội dung cụ thể, cần xây dựng những câu hỏi trực tiếp (tức

là đi thẳng vào vấn đề hay khía cạnh vấn đề muốn tìm hiểu) và những câu hỏi gián tiếp hay đường vòng (tức là đi đường vòng, qua đó có thể khai thác

một cách tế nhị những thông tin cần thiết)

Tạo một không khí nói chuyện thân mật, cởi mở, tự nhiên, gần gũi, thiện chí với đối tượng trò chuyện; kích thích họ trao đổi ý kiến một cách tự nhiên, thoải mái

Quan sát thực tế từng hành vi cử chỉ thái độ của từng đối tượng trò chuyện; đồng thời, phải nhạy bén với những hành vi, cử chỉ, thái độ và nội dung trò chuyện của họ để có cách ứng xử thích hợp, kip thời mà vẫn đảm bảo được không khí trò chuyện thân mật, tự nhiên

* Điều tra bằng trắc nghiệm

Trang 29

Trắc nghiệm trong nghiên cứu giáo dục học là phương pháp đo lường khách quan những biểu hiện và mức độ phát triển nhân cách nói chung, trình

độ nhận thức nói riêng của người học (người được giáo dục) thông qua những mẫu câu hỏi bằng ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ (tranh ảnh )

Hiện nay, người ta thường sử dụng các loại trắc nghiệm sau đây:

Trắc nghiệm điều khuyết,

Trắc nghiệm đúng - sai,

Trắc nghiệm nhiều lựa chọn,

Trắc nghiệm điền thế,

Trắc nghiệm đối chiết cặp đôi v.v :

Để tiến hành trắc nghiệm tốt, cần chú ý những điều sau đây:

Một là, những câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu thống nhất, đơn giản, được diễn đạt đúng ngữ pháp với số lượng càng nhiều càng tốt

Hai là, lời chỉ dẫn trên bản trắc nghiệm phải rõ ràng, gọn gàng, đơn giản

Ba là, các hình vẽ (nếu có) phải rõ ràng, chính xác

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục

Tổng kết kinh nghiệm là cách thức phát hiện, phân tích đánh giá , khái quát hoá về hệ thống hoá những kinh nghiệm giáo dục Nhờ đó làm phong phú thêm lí luận đã có hoặc xây dựng lí luận mới, giúp cho giáo dục không ngừng được phát triển

Khi tổng kết kinh nghiệm, chúng ta cần chú ý:

Chọn điển hình để khai thác kinh nghiệm

Đảm bảo khai thác kinh nghiệm từ nhiều nguồn khác nhau (con người, văn bản, sản phẩm ); đảm bảo cho chúng có tính chân thực, tính đa dạng và tính phong phú

Biết sàng lọc những kinh nghiệm đã thu được; xử lí chúng một cách khách quan

Rút ra được những bài học kinh nghiệm có tính khái quát và hệ thống Kiểm nghiệm những bài học này trong thực tiễn

- Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Trang 30

Thực nghiệm sư phạm là phương pháp chủ động đến đối tượng nghiên cứu trong điều kiện được khống chế, nhằm gây ra những biến đổi mong muốn ở chúng về mặt định lượng cũng như về mặt định tính

Trong thực tiễn người ta thường sử dụng các loại thực nghiệm sau:

Thực nghiệm thăm dò,

Thực nghiệm tác động,

Thực nghiệm kiểm tra,

Thực nghiệm ứng dụng,

Thực nghiệm triển khai

Để thực nghiệm có hiệu quả, chúng ta cần chú ý:

Một là, xác định giả thuyết khoa học

Hai là, chọn hai nhóm thực nghiệm và đối chứng có số lượng, trình độ

và mọi điều kiện tương đương nhau nhằm khống chế những nhân tố không tham gia thực nghiệm và tách ra được những nhân tố tham gia thực nghiệm

Ba là, tác động đến nhóm thực nghiệm đúng phương pháp; đo đầu vào

và đầu ra sao cho khách quan

Bốn là, xử lí kết quả thực nghiệm chính xác, chân thực cả về mặt.định

lượng lẫn mặt định tính; đối chiếu kết quả thực nghiệm với giả thuyết khoa học và rút ra kết luận

- Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia là phương pháp khai thác và tận dụng “chất xám” của các chuyên gia, nhằm mục đích sau:

Thu thập những thông tin khoa học;

Thu lượm những ý kiến đánh giá về tình hình giáo dục, về những sản phẩm giáo dục, về những sản phẩm khoa học

Thu lượm những ý kiến về những giải pháp giáo dục cho những vấn đề

được đặt ra v.v

Khi thực hiện phương pháp này cần chú ý:

Một là, chọn những chuyên gia có trình độ cao có liên quan đến vấn đề

muốn khai thác, không những vậy, mà còn có tính trung thực khoa học…

Hai là, tổ chức các hội thảo, trong đó, có sự định hướng rõ ràng về mục

đích, yêu cầu, nội dung khoa học để các chuyên gia tập trung trí tuệ cùng

Trang 31

nhau thảo luận, tranh luận cho phù hợp Bên cạnh đó, cũng có thể tổ chức lấy ý kiến các chuyên gia bằng các bản viết

Ba là, thu thập đầy đủ, chính xác, khách quan mọi ý kiến của chuyên

gia trên cơ sở kết hợp việc nghe, việc sử dụng máy ghi âm, máy quay phim, việc ghi tốc kí và khai thác các bản viết của chuyên gia

Bốn là, xử lí một cách khoa học những ý kiến đó và rút ra những điều

bố ích cho vấn đề nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động giáo dục

Đây là phương pháp khai thác, thu lượm thông tin về các đối tượng nghiên cứu (học sinh, sinh viên, giáo viên, cán bộ quản lí giáo dục ) thông qua việc phân tích, đánh giá những sản phẩm hoạt động do họ tạo ra (bài làm, vở ghi chép, sổ điểm, giáo án, báo tường, sản phẩm lao động v.v…) Khi nghiên cứu các sản phẩm này, cần chú ý:

Một là, thu lượm những sản phẩm thuộc nhiều loại hình khác nhau để

có thể khai thác được những thông tin đa dạng

Hai là, tập trung vào những sản phẩm chủ yếu, tiêu biểu

Ba là, phân tích các sán phẩm dưới nhiều khía cạnh, góc độ

Bốn là, rút ra được những kết luận khái quát phục vụ cho mục tiêu

nghiên cứu đã xác định

b Phương pháp nghiên cứu lí luận

Nghiên cứu lí luận thường được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu sách báo và tài liệu lí luận

Phương pháp nghiên cứu sách và tài liệu lí luận trong nghiên cứu giáo dục học được coi là phương pháp khai thác những thông tin khoa học lí luận giáo dục học qua sách và tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu (sách

và tài liệu lí luận các công trình nghiên cứu - luận án, luận văn, khoá luận, bài báo cáo khoa học ) Nhờ đó, chúng ta có thể xây dựng lịch sử vấn đề nghiên cứu, cơ sở lí luận của vấn đề, bổ sung và phương pháp lí luận đã có hoặc xây dựng lí luận mới v.v

Khi nghiên cứu sách và tài liệu lí luận, cần chú ý những điều sau đây:

Một là, lập danh mục những sách và tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu từ các nguồn trong và ngoài nước trên cơ sở lựa chọn, sàng lọc

- Hai là, đọc và ghi chép tư liệu, số liệu bằng những hình thức thích hợp

(lập phiếu ghi chép, lập sơ đồ, biểu đồ, bảng thống kê )

Trang 32

- Ba là, phân tích, đánh giá những tư liệu, số liệu đã thu được sao cho

chính xác, khách quan

- Bốn là, khái quát hoá và hệ thống hoá những điều rút ra được một

cách chặt chẽ dưới dạng tổng quan lịch sử vấn đề nghiên cứu, cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu v.v

Những phương pháp giáo dục học trên đây cần được vận dụng hợp lí với nhau trong quá trình nghiên cứu những vấn đề giáo dục học ở đây có điều

đáng chú ý là, ngoài những phương pháp này, trong quá trình nghiên cứu, chúng ta có thể vận dụng thêm những phương pháp của các khoa học khác (như các phương pháp toán học được sử dụng xử lí số liệu)

cÂU Hỏi, BàI TậP Và HƯớNG DẫN họC TậP

Câu hỏi

1 Tại sao giáo dục là một hiện tượng xã hội?

2 Tại sao giáo dục lại có tính vĩnh hằng?

3 Tính giai cấp của giáo dục được biểu hiện như thế nào? Cho ví dụ minh họa

4 Tính lịch sử của giáo dục được biểu hiện như thế nào? Cho ví dụ

5 Tại sao chúng ta phải đổi mới giáo dục Đổi mới giáo dục theo quan

điểm chỉ đạo như thế nào?

6 Với những quan điểm chỉ đạo đó, giáo dục cần được đổi mới như thế nào? Lấy ví dụ minh họa cho sự đổi mới giáo dục nói chung, giáo dục tiểu học nói riêng

7 Giáo dục phải thực hiện những chức năng gì? Cho ví dụ minh họa

8 Phân biệt giáo dục với giáo dục học Cho ví dụ minh họa

9 Nêu vài nhận xét về sự ra đời của giáo dục học,

10 Thế nào là quá trình giáo dục tổng thể?

11 Quá trình giáo dục tổng thể bao gồm những quá trình giáo dục bộ phận nào? Chúng bao gồm những nhân tố chung nào?

12 Quá trình giáo dục có những quy luật gì? Chúng ta có chú ý gì đối với sự tác động của con người với qưá trình đó?

13 Phân tích những phạm trù cơ bản của giáo dục học

Trang 33

14 Trình bày vị trí của giáo dục học tiểu học trong hệ thống các khoa học giáo dục Từ giáo dục tiểu học có thể phân hoá thành những khoa học giáo dục cụ thể nào?

15 Giáo dục học tiểu học có những mối quan hệ với các khoa học khác như thế nào?

16 Khi nghiên cứu giáo dục học, người ta thường vận dụng những phương pháp nào? Hãy giới thiệu khái quát những phương pháp đó

l7 Tại sao phải vận dụng phối hợp nhiều phương pháp trong quá trình nghiên cứu giáo dục học

4 Viết một báo cáo kinh nghiệm về dạy học hoặc giáo dục đạo đức của bản thân

5 Điều tra 10 - 15 trường hợp các em trong độ tuổi tiểu học không được

đi học hoặc bỏ học tiểu học Tìm nguyên nhân và đề xuất những ý kiến nhằm giúp những em này được đi học tiểu học hoặc học tiếp tục tiểu học

Hướng dẫn học tập

Các tài liệu tham khảo

Trong quá trình tự học, anh (chị) có thể tham khảo những tài liệu sau đây:

Nghị quyết về “Tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục - đào tạo” của Hội

nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN khoá VII

Trang 34

- Nhiệm vụ, mục liêu phát triển và những giải pháp chủ yếu của giáo dục, đào tạo từ nay đến năm 2000 Trích Nghị quyết lần thứ II BCHTU'

Đảng CSVN khoá VIII (Xem: Tạp chí Giáo dục tiểu học số 1-1997)

- Phạm Minh Hạc: Tiếp tục đổi mới giáo dục đào tạo Xem: Giáo dục

con người hôm nay và ngày mai Trường cán bộ quản lí giáo dục và đào tạo

Hà Nội, 1995 tr 102 - 106

- Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Họat Giáo dục học tiểu học Tập I NXB Giáo dục, 1987 (Xem chương thứ nhất)

Hướng dẫn trả lời câu hỏi

Câu 1: Yêu cầu anh (chị) làm sáng tỏ những khía cạnh sau đây:

- Giáo dục là một nhu cầu có tính chất sống còn của xã hội loài người Nếu không có giáo dục thì xã hội không thể tồn tại và phát triển được Vì thế, xã hội phải thực hiện nhiều chức năng giáo dục

- Giáo dục được thực hiện theo cơ chế truyền thụ và tiếp thu giữa các thế hệ trước và sau về những kinh nghiệm xã hội (kinh nghiệm đấu tranh với thiên nhiên, kinh nghiệm đấu tranh xã hội, kinh nghiệm tư duy)

- Giáo dục là một hoạt động tự giác, có ý thức của con người Do đó, nó chỉ tồn tại trong xã hội loài người

Câu 2: Yêu cầu anh (chị) làm sáng tỏ những khía cạnh sau đây:

- Giáo dục là một nhu cầu có tính chất sống còn của xã hội loài người Nếu không có giáo dục thì xã hội không thể tồn tại và phát triển được Vì thế xã hội phải thực hiện nhiều chức năng, trong đó có chức năng giáo dục

- Giáo dục xuất hiện từ khi có sự xuất hiện của loài người trên trái đất này và sẽ tồn tại và phát triển cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người

- Trong quá trình đó, giáo dục phát triển ngày càng ở trình độ cao hơn,

đáp ứng nhu cầu ngày càng phát triển của xã hội

Câu 3: Anh (chị) hãy làm sáng tỏ những khía cạnh sau đây:

Giáo dục là một hiện tượng xã hội:

- Trong xã hội có giai cấp, giáo dục trở thành một công cụ phục vụ đắc lực cho mục đích chính trị của giai cấp nắm chính quyền

Trang 35

- Tính giai cấp được biểu hiện trong mục đích giáo dục, hệ thống giáo dục, mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục, hình thức

tổ chức giáo dục v.v

Lấy ví dụ minh họa: anh (chị) có thể nêu lên mục đích giáo dục, nội dung giáo duc, phương pháp giáo dục v.v qua các xã hội có giai cấp để minh họa

Câu 4: Anh (chị) hãy làm sáng tỏ những khía cạnh sau đây:

Giáo dục là một hiện tượng xã hội Nó có tíhh vĩnh hằng:

+ Biến đổi theo từng hình thái kinh tế - xã hội

+ Biến đổi ngay trong từng hình thái kinh tế - xã hội theo từng giai đoạn phát triển của nó

Lấy ví dụ minh họa: anh (chị) có thể nêu lên sự biến đổi một mặt nào

đó của giáo dục (mục đích giáo dục, hệ thống hình thức, nội dung giáo dục v.v ) phụ thuộc vào cả hai trường hợp biến đổi nói trên của hình thái kinh

tế xã hội

Liên hệ với sự biến đổi của giáo dục ta qua các giai đoạn phát triển của

đất nước

Câu 5: Anh (chị) hãy làm sáng tỏ những khía cạnh sau đây:

- Đất nước ta đang tiến hành sự nghiệp đổi mới toàn diện và sâu sắc Nhân dân ta bắt đầu tiến vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Con người được đặt vào vị trí trung tâm của chiến lược kinh tế - xã hội, xây dựng đất nước

- Giáo dục đóng một vai trò cực kì quan trọng trong việc thực hiện chiến lược con người phục vụ cho sự nghiệp đổi mới Do đó, giáo dục phải

đổi mới

Để đổi mới giáo dục, chúng ta phải quán triệt các quan điểm chỉ đạo (Phân tích từng quan điểm, mối quan hệ giữa chúng, liên hệ thực tế)

Câu 6: Anh (chị) hãy làm sáng tỏ những khía cạnh sau đây:

- Giáo dục phải đổi mới theo các quan điểm chỉ đạo chung (nêu qua)

- Giáo dục phải giải quyết một loạt vấn đề:

Trang 36

+ Phấn đấu từ nay đến khoảng cuối thập kỉ thứ nhất của thế kỉ XXl, xây dựng cho được một hệ thống giáo dục - đào tạo phát triển đi trước một bước

sự phát triển kinh tế? Tại sao? (Một hệ thống giáo dục -đào tạo như vậy sẽ

có những tính chất đặc trưng gì?)

+ Trên cơ sở đó, định hướng cho những hoạt động cụ thể (ở đây anh (chị) nêu ra những hoạt động cụ thể cần tiến hành; liên hệ thực tế cho sáng

tỏ những điều trình bày)

Câu 7: Anh (chị) hãy làm sáng tỏ những khía cạnh sau đây:

- Với tư cách là một hiện tượng xã hội, giáo dục phải thực hiện những chức năng xã hội nhất định; chức năng kinh tế - sản xuất, chức năng chính trị - xã hội, chức năng tư tưởng - văn hoá (nêu qua)

- Phân tích từng chức năng

- Liên hệ thực tế và cho ví dụ minh họa

Câu 8: Anh (chị) hãy làm sáng tỏ những khía cạnh sau đây:

Giáo dục và giáo dục học là hai thuật ngữ khác nhau, không đồng nhất với nhau, nhưng có mối quan hệ mật thiết với nhau

Sự khác nhau giữa giáo dục và giáo dục học:

+ Giáo dục, đúng về mặt thực tiễn là một hiện tượng xã hội; đứng về mặt khoa học, là một phạm trù cơ bản của giáo dục học

+ Giáo dục là một khoa học về giáo dục con người

- Mối quan hệ qua lại giữa giáo dục với giáo dục con người

+ Từ thực tiễn giáo dục, giáo dục học mới được ra đời và phát triển không ngừng Mặt khác, giáo dục học lại góp phần chỉ đạo thực tiễn giáo dục và qua đó, lại có điều kiện tiếp tục phát triển giáo dục ngày càng phong phú

Anh (chị) có thể nêu ví dụ lninh họa

Câu 9: Anh (chị) hãy làm sáng tỏ những khía cạnh sau đây:

Giáo dục học ra đời sau hiện tượng giáo dục

Giáo dục trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài:

Trang 37

+ Từ chỗ là một bộ phận của triết học đến chỗ trở thành một khoa học

độc lập

+ Từ chỗ dựa trên những tư tưởng giáo dục đến chỗ xây dựng được hệ thống lí luận ngày càng phong phú, đa dạng

+ Từ chỗ chưa có đầy đủ cơ sở khoa học đến chỗ thực sự là một khoa học

ở đây anh (chị) dựa vào những sự kiện lịch sử có liên quan để làm sáng

tỏ những khía cạnh nói trên

Câu 10: Anh (chị) hãy trình bày rõ ràng và chính xác khái niệm quá

trình giáo dục tổng thể với tư cách là đối tượng của giáo dục học

Khi trình bày, anh (chị) cần chú ý:

Khái niệm quá trình giáo dục tổng thể và khái niệm quá trình sư phạm tổng thể là đồng nhất với nhau Anh (chị) thử suy nghĩ tại sao?

Trong khái niệm quá trình giáo dục tổng thể, có những ý quan trọng sau:

• Cấu trúc tổng thể của quá trình này;

• Vai trò và quan hệ thống nhất giữa nhà giáo dục và người được giáo dục trong quá trình giáo dục tổng thể;

• Kết quả cuối cùng (đầu ra) của quá trình giáo dục này

Câu 11: Anh (chị) hãy làm sáng tỏ những khía cạnh sau đây:

Quá trình giáo dục tổng thể được cấu tạo bởi nhiều quá trình giáo dục bộ phận trong sự thống nhất với nhau (nêu rõ ràng và chính xác tên các quá trình giáo dục bộ phận này và mối quan hệ giữa chúng; nên lấy ví dụ minh họa); Quá trình giáo dục tổng thể hay từng quá trình giáo dục bộ phận đều có các thành phần cấu trúc giống nhau, nghĩa là bao gồm các nhân tố nhất định Anh (chị) hãy:

+ Nêu khái quát các nhân tố (thành tố);

+ Phân tích từng nhân tố (chú ý vai trò từng nhân tố);

+ Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa chúng; cho ví dụ minh họa + Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố nói trên với các môi trường kinh tế - xã hội và khoa học công nghệ Cho ví dụ minh họa

Trang 38

Sau đây là sơ đồ để anh (chị) tham khảo: biểu đồ 1

Sơ đồ này nhằm vào 4 yêu cầu:

Một là, phản ánh đầy đủ các nhân tố của quá trình giáo dục nói chung: Hai là, phản ánh vị trí và vai trò của từng nhân tố;

Ba là, phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố;

Bốn là phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa các nhân tố của quá trình giáo dục nói chung với các môi trường của nó

Câu 12: Anh (chị) hãy làm sáng tỏ những khía cạnh sau đây:

Nêu tên những quy luật của quá trình giáo dục tổng thể mà anh (chị) biết

- Phân tích từng quy luật: chú ý tới tác động (ảnh hưởng) qua lại giữa những yếu tố được nêu trong từng quy luật “sự thống nhất và ảnh hưởng qua lại lẫn nhau giữa vai trò chủ đạo của nhà giáo dục và vai trò tự giác, tích cực,

độc lập của người được giáo dục”, chúng ta làm sáng tỏ những ý sau đây: + Nhà giáo dục và người được giáo dục là hai nhân tố của quá trình giáo dục tổng thể cũng như của từng quá trình giáo dục bộ phận

+ Vai trò chủ đạo của nhà giáo dục

Mục đích, nhiệm vụ giáo dục

Nhà giáo dục

Người được giáo dục

Nội dung Phương pháp giáo dục phương tiện

Trang 39

+ Vai trò tự giác, tích cực, độc lập của người được giáo dục

+ Vai trò tự giác, tích cực, độc lập của người được giáo dục ảnh hưởng trở lại đối với vai trò của người giáo dục

Câu 13: Anh (chị) hãy làm sáng tỏ những khía cạnh sau đây:

Nêu được tên những phạm trù cơ bản của giáo dục học

- Phân tích từng phạm trù

+ Phạm trù giáo dục Nêu rõ những nghĩa theo phạm vi rộng hẹp khác nhau nghĩa rộng nhất, nghĩa rộng, nghĩa tương đối hẹp, nghĩa hẹp); trong từng trường hợp, nêu ví dụ minh họa

+ Phạm trù giáo dưỡng: Chú ý nêu rõ hai nghĩa phạm trù này và rút ra quan niệm chung về nó, nêu ví dụ minh họa

+ Phạm trù dạy học Nêu rõ quan niệm về phạm trù này; từ đó, nêu lên mối quan hệ giữa nó với 2 phạm trù nói trên

Câu 14: Anh (chị) hãy làm sáng rỏ những khía cạnh sau đây:

- Nêu tổng quát hệ thống các khoa học giáo dục

Từ đó, rút ra những nhận xét về vị trí của giáo dục nói trên

Những nhận xét này không chỉ bó hẹp ở vị trí của giáo dục học tiểu học

mà có thể đề cập tới sự phân hoá của nó nữa

Câu 15: Anh (chị) hãy làm sáng rõ những khía cạnh sau đây:

- Giáo dục học tiểu học với tư cách là một khoa học giáo dục độc lập;

nó có mối quan hệ mật thiết với các khoa học khác (nêu qua)

- Trình bày sự hỗ trợ của các khoa học khác đối với giáo dục học tiểu học; nêu ví dụ minh họa

Câu 16: Anh (chị) hãy làm sáng rõ những khía cạnh sau đây:

- Nêu tên những phương pháp nghiên cứu giáo dục học tiểu học

Giới thiệu từng phương pháp, chú ý nêu lên:

+ Khái niệm của phương pháp

+ Sự phân loại của phương pháp (nếu có)

+ Những yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp

- Cho một ví dụ cụ thể về vận dụng một phương pháp nào đó (tuỳ chọn)

Câu 17: Anh (chị) hãy làm sáng rõ những khía cạnh sau đây:

Trong quá trình nghiên cứu khoa học giáo dục, người ta sử dụng một hệ thống các phương pháp nghiên cứu (nêu khái quát tên các phương pháp)

Trang 40

Trong quá trình đó, cần vận dụng phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu với nhau vì không có một phương pháp nào là vạn năng: ở đây anh (chị) phân tích ưu nhược điểm của từng phương pháp; từ đó rút ra kết luận phải vận dụng nhiều phương pháp phối hợp nhau để chúng hỗ trợ cho nhau

Hướng dẫn làm bài tập

Bài tập 1

Bài 1 yêu cầu anh (chị) như sau:

- Chọn l - 2 hoạt động nào đó của học sinh tiểu học, ví như: hoạt động sinh họat tập thể, hoạt động lao động, hoạt động vui chơi giải trí v.v…

- Lập kế hoạch quan sát hoạt động đã chọn:

+ Ngày: Giờ:

+ Tên hoạt động cần quan sát:

+ Đối tượng học sinh : trường

+ Mục đích, yêu cầu quan sát

+ Nội dung quan sát (những vấn đề muốn làm sáng tỏ)

+ Cách thức quan sát cho phù hợp với mục đích yêu cầu để làm sáng

tỏ nội dung quan sát; ví như quan sát khía cạnh hay quan sát toàn diện; quan sát lâu dài hay quan sát tự nhiên, hay quan sát bố trí; quan sát thăm dò hay quan sát đi sâu; quan sát phát hiện hay quan sát kiểm nghiệm

Bài tập 2:

Bài 2 yêu cầu các anh (chị) như sau:

- Chọn 1 - 2 tiết của l - 2 môn học nào đó ở 1 - 2 lớp tiểu học do giáo viên khác tiến hành

- Lập kế hoạch:

Ngày đăng: 24/08/2016, 23:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ này nhằm vào 4 yêu cầu: - GIAO TRINH GIAO DUC HOC TIEU HOC
Sơ đồ n ày nhằm vào 4 yêu cầu: (Trang 38)
(3) Sơ đồ của kiểu dạy học nêu vấn đề. - GIAO TRINH GIAO DUC HOC TIEU HOC
3 Sơ đồ của kiểu dạy học nêu vấn đề (Trang 220)
Câu 4: Sơ đồ bố trí chỗ ngồi của 5 nhóm học tập ở lớp ghép - GIAO TRINH GIAO DUC HOC TIEU HOC
u 4: Sơ đồ bố trí chỗ ngồi của 5 nhóm học tập ở lớp ghép (Trang 257)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w