I. 1. Nước Mĩ từ năm 1945 đến năm 1973 . a. Về kinh tế: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phát triển mạnh mẽ. Trong khoảng 20 năm sau chiến tranh là trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất thế giới. Công nghiệp: sản lượng công nghiệp Mĩ chiếm ½ sản lượng công nghiệp trên toàn thế giới. Nông nghiệp: năm 1949, sản lượng bằng 2 lần sản lượng của các nước Anh, Pháp, CHLB Đức, Italia, Nhật cộng lại. Chiếm 50% tàu bè trên mặt biển và ¾ dự trữ vàng thế giới. Kinh tế Mĩ chiếm gần 40% tổng sản phẩm kinh tế thế giới. Nguyên nhân của sự phát triển: Đất rộng, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhân lực dồi dào, kĩ thuật cao, năng động, sáng tạo. Lợi dụng chiến tranh buôn bán vũ khí. Ứng dụng thành tựu của cách mạng khoa học – kĩ thuật để nâng cao năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm, điều chỉnh hợp lý cơ cấu sản xuất. Các tổ hợp công nghiệp quân sự, các công ty, tập đoàn tư bản Mĩ có sức sản xuất cạnh tranh lớn. Các chính sách, biện pháp điều tiết của nhà nước. b. Về khoa học – kĩ thuật Mĩ là nước khởi đầu cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại và là một trong những nước đi đầu trong nhiều lĩnh vực: Chế tạo công cụ sản xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động). Chế tạo vật liệu mới (polime, vật liệu tổng hợp). Năng lượng mới (năng lượng nguyên tử, nhiệt hạch). Chinh phục vũ trụ (đưa người lên mặt trăng 1969). Đi đầu trong cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp. c. Đối ngoại Tham vọng làm bá chủ thế giới được thể hiện qua chiến lược toàn cầu (được điều chỉnh trong từng thời kỳ) nhằm 3 mục tiêu chủ yếu: Ngăn chặn, tiến tới xóa bỏ Chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc tế, phong trào chống chiến tranh, vì hoà bình dân chủ thế giới. Khống chế chi phối các nước tư bản đồng minh phụ thuộc vào Mĩ. Những biểu hiện tiêu biểu: Khởi xướng cuộc chiến tranh lạnh (31947 – 121989). Gây ra hoặc ủng hộ các cuộc chiến tranh xâm lược tiêu biểu là cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954 – 1975). Tháng 21972, tổng thống Níchxơn thăm Trung Quốc, 1979 quan hệ ngoại giao của Mĩ và Trung Quốc được thiết lập. Đến tháng 51972, Níchxơn thăm Liên Xô nhằm thực hiện mưu đồ hòa hoãn với 2 nước lớn để chống lại phong trào đấu tranh cách mạng của các dân tộc. 2. Nước Mĩ từ năm 1973 đến năm 1991 . a. Kinh tế Khó khăn: khủng hoảng và suy thoái từ 1973 đến 1982 (do tác động của khủng hoảng năng lượng 1973). Năng suất lao động giảm 0.43% năm (từ 1974 – 1981). Hệ thống tài chính tiền tệ, tín dụng rối loạn. Phục hồi: Từ 1983, kinh tế Mĩ phục hồi trở lại. Nhưng tỉ trọng kinh tế Mĩ giảm nhiều so với trước (tuy vẫn đứng đầu thế giới về sức mạnh kinh tế, tài chính). b. Đối ngoại Sau thất bại ở Việt Nam phải ký hiệp định Pari 1973 và rút quân về nước, Mĩ vẫn tiếp tục chiến lược toàn cầu. Với học thuyết Rigân, Mĩ tăng cường chạy đua vũ trang. Từ giữa những năm 80, xu hướng đối thoại và hòa hoãn ngày càng chiếm ưu thế. Trong bối cảnh đó tháng 121989 Mĩ và Liên Xô chính thức tuyên bố chấm dứt chiến tranh lạnh. 3. Nước Mĩ từ năm 1991 đến năm 2000 . a. Kinh tế Trong thập kỷ 90, tuy có những đợt suy thoái ngắn, nhưng kinh tế Mĩ vẫn đứng đầu thế giới. Năm 2000, GDP 9765 tỷ USD, GDP đầu người bình quân: 34.600USD; Tạo ra 25% giá trị sản phẩm toàn thế giới; Có vai trí chi phối trong các tổ chức như WTO, WB, IMF,… b. Khoa học – kĩ thuật Vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, Mĩ chiếm 13 số lượng bản quyền phát minh sáng chế trên toàn thế giới. c. Đối ngoại Thập kỷ 90, chính quyền B.Clinton theo đuổi 3 mục tiêu cơ bản của chiến lược “Cam kết và mở rộng” Bảo đảm an ninh của Mĩ và lực lượng quân sự sẵn sàng chiến đấu Tăng cường khôi phục và phát triển tính năng động và sức mạnh của kinh tế Mĩ Sử dụng khẩu hiệu “Thúc đẩy dân chủ” để can thiệp vô công việc nội bộ của nước khác Sau chiến tranh lạnh (1989) trật tự 2 cực Ianta tan rã (1991), Mĩ tìm cách vươn lên chi phối, lãnh đạo thế giới. Mĩ muốn lập một trật tự thế giới “đơn cực”. Tuy nhiên thế giới không chấp nhận một trật tự do Mĩ đơn phương sắp đặt. Vụ khủng bố 1192001 cho thấy nước Mĩ cũng rất dễ bị tổn thương và chủ nghĩa khủng bố sẽ là một trong những yếu tố dẫn đến sự thay đổi quan trọng trong chính sách đối ngoại của Mĩ khi bước vào thế kỷ XXI. Mĩ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 1171995. NHẬT BẢN II. 1. Nhật Bản từ năm 1945 đến năm 1952 . Hậu quả của chiến tranh 3 triệu người chết và mất tích 405 đô thị, 80% tư bản, 34% máy móc công nghiệp bị phá hủy. 13 triệu người thất nghiệp, thảm họa đói rét đe dọa. Bị quân đội Mĩ chiếm đóng (1945 – 1952) Chính phủ Nhật vẫn được phép tồn tại. Kinh tế SCAP thực hiện 3 cải cách lớn. Thủ tiêu chế độ tập trung kinh tế (giải tán các Đaibatxu) Cải cách ruộng đất (địa chủ chỉ được giữ lại không quá 3 hecta, số còn lại được bán cho nông dân) Dân chủ hóa lao động (qua việc thực hiện luật lao động). Đến 1950 – 1951 Nhật đã khôi phục kinh tế (do nổ lực của bản thân và viện trợ của Mĩ).
Trang 1MĨ – NHẬT
NƯỚC MĨ
I.
1 Nước Mĩ từ năm 1945 đến năm 1973
a Về kinh tế:
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, phát triển mạnh mẽ Trong khoảng 20 năm sau
chiến tranh là trung tâm kinh tế tài chính lớn nhất thế giới
Công nghiệp: sản lượng công nghiệp Mĩ chiếm ½ sản lượng công nghiệp
trên toàn thế giới
Nông nghiệp: năm 1949, sản lượng bằng 2 lần sản lượng của các nước Anh,
Pháp, CHLB Đức, Italia, Nhật cộng lại
Chiếm 50% tàu bè trên mặt biển và ¾ dự trữ vàng thế giới
Kinh tế Mĩ chiếm gần 40% tổng sản phẩm kinh tế thế giới
Nguyên nhân của sự phát triển:
Đất rộng, tài nguyên thiên nhiên phong phú, nhân lực dồi dào, kĩ thuật cao, năng
động, sáng tạo
Lợi dụng chiến tranh buôn bán vũ khí
Ứng dụng thành tựu của cách mạng khoa học – kĩ thuật để nâng cao năng suất
lao động, hạ giá thành sản phẩm, điều chỉnh hợp lý cơ cấu sản xuất
Các tổ hợp công nghiệp quân sự, các công ty, tập đoàn tư bản Mĩ có sức sản
xuất cạnh tranh lớn
Các chính sách, biện pháp điều tiết của nhà nước
b Về khoa học – kĩ thuật
Mĩ là nước khởi đầu cuộc cách mạng khoa học – kĩ thuật hiện đại và là một trong
những nước đi đầu trong nhiều lĩnh vực:
Chế tạo công cụ sản xuất mới (máy tính điện tử, máy tự động)
Chế tạo vật liệu mới (polime, vật liệu tổng hợp)
Năng lượng mới (năng lượng nguyên tử, nhiệt hạch)
Chinh phục vũ trụ (đưa người lên mặt trăng 1969)
Đi đầu trong cuộc cách mạng xanh trong nông nghiệp
Trang 2c Đối ngoại
Tham vọng làm bá chủ thế giới được thể hiện qua chiến lược toàn cầu (được điều
chỉnh trong từng thời kỳ) nhằm 3 mục tiêu chủ yếu:
Ngăn chặn, tiến tới xóa bỏ Chủ nghĩa xã hội trên thế giới
Đàn áp phong trào giải phóng dân tộc, phong trào công nhân và cộng sản quốc
tế, phong trào chống chiến tranh, vì hoà bình dân chủ thế giới
Khống chế chi phối các nước tư bản đồng minh phụ thuộc vào Mĩ
Những biểu hiện tiêu biểu:
Khởi xướng cuộc chiến tranh lạnh (3/1947 – 12/1989)
Gây ra hoặc ủng hộ các cuộc chiến tranh xâm lược tiêu biểu là cuộc chiến tranh
xâm lược Việt Nam (1954 – 1975)
Tháng 2/1972, tổng thống Ních-xơn thăm Trung Quốc, 1979 quan hệ ngoại giao
của Mĩ và Trung Quốc được thiết lập Đến tháng 5/1972, Ních-xơn thăm Liên Xô
nhằm thực hiện mưu đồ hòa hoãn với 2 nước lớn để chống lại phong trào đấu
tranh cách mạng của các dân tộc
2 Nước Mĩ từ năm 1973 đến năm 1991
a Kinh tế
Khó khăn: khủng hoảng và suy thoái từ 1973 đến 1982 (do tác động của
khủng hoảng năng lượng 1973)
Năng suất lao động giảm 0.43% năm (từ 1974 – 1981)
Hệ thống tài chính tiền tệ, tín dụng rối loạn
Phục hồi: Từ 1983, kinh tế Mĩ phục hồi trở lại Nhưng tỉ trọng kinh tế Mĩ giảm
nhiều so với trước (tuy vẫn đứng đầu thế giới về sức mạnh kinh tế, tài chính)
b Đối ngoại
Sau thất bại ở Việt Nam phải ký hiệp định Pari 1973 và rút quân về nước, Mĩ vẫn
tiếp tục chiến lược toàn cầu
Với học thuyết Ri-gân, Mĩ tăng cường chạy đua vũ trang
Từ giữa những năm 80, xu hướng đối thoại và hòa hoãn ngày càng chiếm ưu
thế Trong bối cảnh đó tháng 12/1989 Mĩ và Liên Xô chính thức tuyên bố chấm
dứt chiến tranh lạnh
3 Nước Mĩ từ năm 1991 đến năm 2000
a Kinh tế
Trong thập kỷ 90, tuy có những đợt suy thoái ngắn, nhưng kinh tế Mĩ vẫn
đứng đầu thế giới
Năm 2000, GDP 9765 tỷ USD, GDP đầu người bình quân: 34.600USD; Tạo ra
25% giá trị sản phẩm toàn thế giới; Có vai trí chi phối trong các tổ chức như
WTO, WB, IMF,…
Trang 3Vẫn tiếp tục phát triển mạnh mẽ, Mĩ chiếm 1/3 số lượng bản quyền phát minh
sáng chế trên toàn thế giới
c Đối ngoại
Thập kỷ 90, chính quyền B.Clinton theo đuổi 3 mục tiêu cơ bản của chiến lược “Cam
kết và mở rộng”
Bảo đảm an ninh của Mĩ và lực lượng quân sự sẵn sàng chiến đấu
Tăng cường khôi phục và phát triển tính năng động và sức mạnh của kinh tế Mĩ
Sử dụng khẩu hiệu “Thúc đẩy dân chủ” để can thiệp vô công việc nội bộ của
nước khác
Sau chiến tranh lạnh (1989) trật tự 2 cực Ianta tan rã (1991), Mĩ tìm cách vươn lên
chi phối, lãnh đạo thế giới
Mĩ muốn lập một trật tự thế giới “đơn cực” Tuy nhiên thế giới không chấp nhận một
trật tự do Mĩ đơn phương sắp đặt
Vụ khủng bố 11/9/2001 cho thấy nước Mĩ cũng rất dễ bị tổn thương và chủ nghĩa
khủng bố sẽ là một trong những yếu tố dẫn đến sự thay đổi quan trọng trong chính
sách đối ngoại của Mĩ khi bước vào thế kỷ XXI
Mĩ bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 11/7/1995
NHẬT BẢN
II.
1 Nhật Bản từ năm 1945 đến năm 1952
Hậu quả của chiến tranh
3 triệu người chết và mất tích
405 đô thị, 80% tư bản, 34% máy móc công nghiệp bị phá hủy
13 triệu người thất nghiệp, thảm họa đói rét đe dọa
Bị quân đội Mĩ chiếm đóng (1945 – 1952)
Chính phủ Nhật vẫn được phép tồn tại
Kinh tế
SCAP thực hiện 3 cải cách lớn
Thủ tiêu chế độ tập trung kinh tế (giải tán các Đaibatxu)
Cải cách ruộng đất (địa chủ chỉ được giữ lại không quá 3 hecta, số còn lại
được bán cho nông dân)
Dân chủ hóa lao động (qua việc thực hiện luật lao động)
Đến 1950 – 1951 Nhật đã khôi phục kinh tế (do nổ lực của bản thân và viện trợ
của Mĩ)
Trang 4Đối ngoại
Liên minh chặt chẽ với Mĩ nhờ đó:
Sớm ký hiệp ước hòa bình San Fanxico (8/9/1951) chấm dứt chế độ chiếm đóng
vào năm 1952
Hiệp ước an ninh Mĩ - Nhật: cùng ngày với hiệp ước San Fanxico)
Nhật đứng dưới “chiếc ô” bảo hộ hạt nhân của Mỹ, cho Mỹ đóng quân, xây dựng
căn cứ trên đất Nhật
2 Nhật Bản từ năm 1952 đến năm 1973
a Kinh tế
Phát triển nhanh (1952 – 1960)
Phát triển thần kỳ (1960 – 1973)
1960 – 1969: tốc độ tăng trưởng hàng năm 10.8%
1970 – 1973: 7.8% (tuy giảm nhưng vẫn cao)
1968: Nhật đứng thứ II sau Mĩ trong thế giới tư bản
Từ đầu những năm 70, một trong ba trung tâm kinh tế - tài chính của thế giới
Giáo dục và khoa học kĩ thuật
Mua bằng phát minh sáng chế: tính đến 1968 Nhật đã mua hết 6 tỉ USD bằng
phát minh nước ngoài
Khoa học kĩ thuật vào công nghệ tập trung vào sản xuất ứng dụng dân dụng
Sản phẩm nổi tiếng: tivi, tủ lạnh, máy giặt, …
Công trình tàu chở dầu 1 triệu tấn, đường hầm dưới biển 53 km
Những nhân tố đưa Nhật lên cường quốc kinh tế
Con người được coi là quý nhất, là nhân tố quyết định hàng đầu
Vai trò lãnh đạo quản lí hiệu quả của nhà nước
Các công ty Nhật Bản năng động, có tầm nhìn xa, quản lý tốt về sức
cạnh tranh cao
Ứng dụng thành tựu khoa học – kĩ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng,
hạ giá thành
Chi phí quốc phòng thấp (<1% GDP)
Tận dụng tốt các yếu tố bên ngoài (nguồn viện trợ Mĩ, chiến tranh Triều Tiên,
Chiến tranh Việt Nam )
Trang 5Đất không rộng, tài nguyên khoáng sản nghèo nàn, công nghiệp Nhật phụ thuộc
vào các nguồn nguyên, nhiên liệu từ bên ngoài
Cơ cấu kinh tế Nhật thiếu cân đối:
Quá tập trung vào 3 trung tâm Tokio, Oxaka, Nagoia
Giữa nông và công nghiệp
Cạnh tranh quyết liệt của Mĩ, Tây Âu, các nước công nghiệp mới, Trung Quốc,…
b Đối ngoại
Nền tảng căn bản là liên minh với Mĩ Hiệp ước an ninh Mĩ - Nhật (1951) có giá trị
10 năm, 1960 gia hạn 10 năm, 1970 kéo dài vĩnh viễn
Phong trào đấu tranh chống Hiệp ước an ninh Mĩ - Nhật, chống chiến tranh của Mĩ ở
Việt Nam, và công cuộc đấu tranh theo mùa đòi tăng lương… diễn ra mạnh mẽ
Năm 1956: Nhật bình thường hóa quan hệ với Liên Xô, và cũng 1956 Nhật là thành
viên của Liên hiệp quốc
3 Nhật Bản từ năm 1973 đến năm 1991
a Kinh tế
Từ 1973, phát triển xen kẽ với khủng hoảng hoặc suy thoái ngắn
Từ nửa sau những năm 80: siêu cường tài chính số 1 thế giới
Dự trữ vàng và ngoại tệ của Nhật gấp 3 lần Mĩ, 1.5 lần CHLB Đức
Nhật là chủ nợ lớn nhất thế giới
b Đối ngoại
Chính sách đối ngoại mới (từ nửa sau những năm 70) qua học thuyết Phucuda
(1977) và học thuyết Kaiphu (1991)
Tăng cường quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội với các nước Đông Nam Á
và ASEAN
Nhật thiết lập ngoại giao với Việt Nam 2/9/1973
4 Nhật Bản từ năm 1991 đến năm 2000
a Kinh tế
Từ thập kỷ 90: suy thoái Nhưng vẫn là một trong ba trung tâm kinh tế tài chính
thế giới
Sản xuất của Nhật chiếm 1/10 nền sản xuất thế giới
GDP năm 2000 là 4746 tỷ USD
GDP đầu người l 37408 USD
Trang 6b Khoa học – kĩ thuật
Vẫn phát triển ở trình độ cao
Đã phóng 49 vệ tinh khác nhau (đến 1992)
Hợp tác với Mĩ, Liên Xô ( sau là Liên bang Nga) trong các chương trình vũ trụ
quốc tế
c Văn hóa
Nhật vẫn giữ được những giá trị truyền thống và bản sắc văn hóa kết hợp hài hòa
giữa truyền thống và hiện đại
d Đối ngoại
Duy trì liên minh chặt chẽ với Mĩ
Hiệp ước an ninh Mĩ - Nhật được kéo dài vĩnh viễn (tuyên bố 4/1996)
Mặt khác với học thuyết Miydaoa (1/1993) và học thuyết Hasimoto (1/1997):
Coi trọng quan hệ với Tây Âu
Chú trọng phát triển quan hệ với các nước Đông Nam Á
Mở rộng hoạt động ngoại giao ra toàn cầu
Từ đầu những năm 90 Nhật nổ lực vươn lên thành một cường quốc chính trị để
tương xứng với vị thế siêu cường kinh tế