1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

TAI LIEU ON TAP NGU VAN 11 HKII

32 576 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 306,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

b Thái độ của người nghe: Rất ngưỡng mộ tài năng thơ văn của tác giả - Thái độ của trời: khen rất nhiệt thành: văn thật tuyệt, văn trần được thế chắc có ít, văn chuốt như saobăng… - Thái

Trang 1

LƯU BIỆT KHI XUẤT DƯƠNG

(Xuất dương lưu biệt)

_Phan Bội Châu_

I – Tiểu dẫn:

1 – Phan Bội Châu

- Phan Bội Châu (1867 – 1940) tên thuở nhỏ là Phan Văn San, biệt hiệu chính là Sào Nam, quê ởhuyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An

- Vào những năm cuối thế kỉ XIX, ông là một trong những nhà nho đầu tiên nuôi ý tưởng đi tìm mộtcon đường cứu nước mới Sau khi đỗ Giải nguyên (1900), ông lập ra Duy tân hội Theo chủ trươngcủa hội, ông lãnh đạo phong trào Đông du và xuất dương sang Nhật Bản (1905)

- Năm 1925, thực dân Pháp bắt cóc ông ở Thượng Hải (Trung Quốc), đưa về nước, định bí mật thủtiêu Nhân dân đấu tranh sôi sục, nhà cầm quyền buộc phải đưa ông ra xử công khai tại Hà Nội PhanBội Châu được trắng án, nhưng bị giam lỏng ở Huế cho đến lúc qua đời

- Không những là nhà yêu nước và cách mạng, Phan Bội Châu còn là nhà văn lớn Tác phẩm chính

của ông : Việt Nam vong quốc sử (1905), Hải ngoại huyết thư (1906), Ngục trung thư (1914)…

- Thơ của Phan Bội Châu thể hiện khả năng tư duy nhạy bén và không ngừng đổi mới, tài năng sángtạo đa dạng, phong phú bằng những vần thơ sục sôi nhiệt huyết của mình

2 – Bài thơ “Lưu biệt khi xuất dương”

Vào những năm đầu thế kỉ XX, đối với các nhà yêu nước Việt Nam, hướng về Nhật Bản cũng

có nghĩa là hướng về một chân trời mới đầy hi vọng và ước mơ Năm 1905, trước lúc lên đường sang

Nhật Bản, ông làm bài thơ Lưu biệt khi xuất dương để từ giã bạn bè, đồng chí.

II – Văn bản:

A LỜI GIỚI THIỆU

Có thể nói Phan Bội Châu là linh hồn của các phong trào vận động cách mạng chống thực dânPháp Cuộc đời Phan Bội Châu hoàn toàn hi sinh cho công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc vànhững thập niên đầu thế kỉ XX Thơ văn ông là vũ khí tuyên truyền, vận động cách mạng sắc bén, lànhững lời tâm huyết chứa chan lòng yêu nước

Có thể thấy những điều nói trên qua bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của ông (dẫn lại bài thơ và

nêu hoàn cảnh ra đời của bài thơ)

B NỘI DUNG CHÍNH

Mở đầu bài thơ, nhân vật trữ tình trực tiếp thể hiện một lí tưởng sống, một khát vọng mang tầm vóc lớn lao :

Làm trai phải lạ ở trên đời

Há để càn khôn tự chuyển dời.

Theo đó, là đấng nam nhi sinh ra ở đời thì phải làm được những việc “lạ”, tức là những việc lớn lao,

phi thường Cụ thể, làm trai phải chủ động xoay chuyển trời đất, không để trời đất tự chuyển vần

Thực ra, từ xa xưa, chí làm trai đã thường được nói đến trong văn học :

- Công danh nam tử còn vương nợ

Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu

(Tỏ lòng – Phạm Ngũ Lão)

- Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông.

(Đi thi tự vịnh – Nguyễn Công Trứ).

Tuy nhiên, quan niệm về chí làm trai của Phan Bội Châu vẫn có được những nét mới mẻ riêng Đặttrong hoàn cảnh ra đời của bài thơ, chí làm trai đó chính là chủ động tiến hành sự nghiệp cứu nước

Đến hai câu thực, ý tưởng của nhân vật trữ tình được triển khai rõ hơn Đó là ý thức trách nhiệm cá nhân trước thời cuộc :

Trong khoảng trăm năm cần có tớ Sau này muôn thuở, há không ai ?

Hai câu thơ bộc lộ ý thức sâu sắc về “cái tôi” cá nhân tích cực : Giữa khoảng trăm năm này cần phải

có ta chứ (cần có tớ), chẳng nhẽ ngàn năm sau (sau này) lại không có ai (để lại tên tuổi) ư ? Cái tôi này

Trang 2

chẳng những khẳng định trách nhiệm đối với hiện tại, tức là đối với vận mệnh hôm nay của đất nước, mà cònkhẳng định nghĩa vụ đối với lịch sử muôn đời Thật là tư thế của con người có chí khí lớn !

Tư thế ấy càng được khẳng định hiên ngang hơn nữa ở hai câu luận Đó là thái độ quyết liệt của “cái tôi” cá nhân trước tình đất nước và những tín điều xưa cũ :

Non sông đã chết, sống thêm nhục Hiền thánh còn đâu, học cũng hoài.

Ở con người này, số phận gắn làm một với số phận đất nước, sống chết cùng non sông, vinh nhụccùng Tổ quốc

Ở đây, nhân vật trữ tình tuy nói về mình nhưng cũng là nói cho cả thế hệ, cả một dân tộc đangchuyển mình theo một lí tưởng cứu nước mới, phù hợp với thời đại mới Hiền thánh đã chết, kinh sử mấtthiêng, nhà thơ dứt khoát hướng thẳng về tương lai, đầy lạc quan tin tưởng

Bài thơ kết thúc bằng hai câu tuyệt đẹp, đầy cảm hứng lãng mạn Đó là khát vọng hành động

và tư thế buổi lên đường của kẻ “làm trai” :

Muốn vượt bể Đông theo cánh gió Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.

Đúng là con đại bang cất cánh bay ra biển khơi, bay vào thời đại Hình ảnh thơ, nếu hiểu đúng như

nguyên tác, còn lãng mạn và hào hùng hơn nữa : “Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi” Con người ở đây như được chắp thêm đôi cánh thiên thần bay lên cùng gió mây Với các hình ảnh : trường phong, Đông hải khứ,

Thiên trùng bạch lãng – nhất tề phi…càng làm nổi rõ khát vọng mãnh liệt và tư thế hiên ngang buổi lên

đường “xuất dương”

C KẾT LUẬN

Bằng giọng thơ tâm huyết có sức lay động mạnh mẽ, “Lưu biệt khi xuất dương” đã khắc hoạ vẻ đẹp

lãng mạn hào hùng của nhà chí sĩ cách mạng những năm đầu thế kỉ XX, với tư tưởng mới mẻ, táo bạo, bầunhiệt huyết sôi trào và khát vọng cháy bỏng trong buổi ra đi tìm đường cứu nước

HẦU TRỜI

_Tản Đà_

I Kiến thức cơ bản

1 Tác giả - tác phẩm

- Tản Đà: (1889-1939), tên thật Nguyễn Khắc Hiếu

- Quê hương: Tỉnh Sơn Tây (Nay thuộc tỉnh Hà Tây)

- Con người:

+ Sinh ra và Lớn lên trong buổi giao thời

+ Là “người của hai thế kỷ” (Hoài Thanh)

+ Học chữ hán từ nhỏ nhưng về sau chuyển sang sáng tác văn chương bằng chữ quốc ngữ…

- Phong cách thơ:

+ Lãng mạn, bay bổng, vừa phóng khoáng, ngông nghênh, vừa cảm thương ưu ái

+ Có thể xem thơ văn ông như một gạch nối giữa hai thời văn học của dân tộc: trung đại và hiện đại

Các tác phẩm

- Thơ: Khối tình con người I, II (1916, 1918)

- Truyện: Giấc mộng con người I, II (1916, 1932)

- Tự truyện: Giấc mộng lớn (1928)

- Thơ và văn xuôi: Còn chơi (1921)

2 Văn bản “Hầu trời”

- Phần 1: Giới thiệu về câu truyện, từ “đêm qua … lạ lùng”

- Phần 2: “chủ tiên … chợ trời” Thi nhân đọc thơ cho Trời và chư tiên nghe.

- Phần 3: “Trời lại phê cho… sương tuyết” thi nhân trò chuyện với trời.

Trang 3

II Nội dung cơ bản

1 Giới thiệu câu chuyện

Gợi khoảnh khắc yên tĩnh, vắng lặng."- Câu chuyện xảy ra vào “đêm qua” (câu 1)

- Câu chuyện kể về một giấc mơ được lên cõi tiên (câu 4)

- Nhân vật trữ tình là tác giả, đang mang tâm trạng “chẳng phải hoảng hốt, không mơ màng”

- Biện pháp nghệ thuật: nhấn mạnh tâm trạng cảm xúc của thi nhân

2 Thi nhân đọc thơ cho trời và chư tiên nghe

a) Thái độ của thi nhân khi đọc thơ và việc thi nhân nói về tác phẩm của mình:

- Thi nhân đọc rất cao hứng, sảng khoái và có phần tự đắc:

“ Đọc hết văn vần sang văn xuôiHết văn thuyết lý lại văn chơi”

- Thi nhân kể tường tận, chi tiết về các tác phẩm của mình:

“Hai quyển khối tình văn lý thuyết Hai khối tình còn là văn chơi Thần tiên, giấc mộng văn tiểu thuyết….”

- Giọng đọc: đa dạng, hóm hỉnh, ngông nghênh có phần tự đắc

=> Đoạn thơ cho thấy thi nhân rất ý thức về tài năng văn thơ của mình và cũng là người táo bạo, dámđường hoàng bộc lộ “cái tôi” cá thể Ông cũng rất “ngông” khi tìm đến trời để khẳng định tài năng.Đây là niềm khát khao chân thành trong tâm hồn thi sĩ

b) Thái độ của người nghe: Rất ngưỡng mộ tài năng thơ văn của tác giả

- Thái độ của trời: khen rất nhiệt thành: văn thật tuyệt, văn trần được thế chắc có ít, văn chuốt như saobăng…

- Thái độ của chư tiên: xúc động, hâm mộ và tán thưởng…Tâm nở dạ, cơ lè lưỡi…

=> Cả đoạn thơ mang đậm chất lãng mạn và thể hiện tư tưởng thoát li trước cuộc đời

3 Thi nhân trò chuyện với trời

a) Thi nhân kể về hoàn cảnh của mình

- Thi nhân kể họ tên, quê quán:

“ Con tên Khắc Hiếu họ Nguyễn Quê ở Á châu về địa cầu Sông Đà núi Tản nước Việt Nam”

- Trong văn chương việc thể hiện họ tên trong tác phẩm chính là một cách để khẳng định cái tôi cánhân của mình

- Thi nhân kể về cuộc sống: Đó là một cuộc sống nghèo khó, túng thiếu, thân phận nhà văn bị rẻ rúng,coi thường Ở trần gian ông không tìm được tri âm, nên phải lên tận cỏi trời để thỏa nguyện nỗi lòng

“Bẩm trời hoàn cảnh con thực nghèo khó”

“Trần gian thước đất cũng không có”

“Văn chương hạ giới rẻ như bèo”

“Làm mãi quanh năm chẳng đủ tiêu”

Đó cũng chính là hiện thực cuộc sống của người nghệ sĩ trong xã hội lúc bấy giờ, một cuộc sống cơcực không tấc đất cắm dùi, thân phận bị rẻ rúng, làm chẳng đủ ăn

=> Qua đoạn thơ tác giả đã cho người đọc thấy một bức tranh chân thực và cảm động về chính cuộcđời mình và cuộc đời nhiều nhà văn nhà thơ khác

=> Cảm hứng hiện thực bao trùm cả đoạn thơ này

b) Trách nhiệm và khát vọng của thi nhân

Trang 4

- Nhiệm vụ trời giao: Truyền bá thiên lương Nhiệm vụ trên chứng tỏ Tản Đà lãng mạn chứ khônghoàn toàn thoát ly cuộc sống Ông vẫn ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm đối với đời để đem lại cuộcsống ấm no hạnh phúc hơn Đó cũng là một cách tự khẳng định mình trước thời cuộc.

- Thi nhân khát khao được gánh vác việc đời

=> Như vậy có thể nói trong thơ Tản đà cảm hứng lãng mạn và cảm hứng hiện thực đan xen khăngkhít

- Cách kể chuyện hóm hỉnh, có duyên, lôi cuốn người đọc

- Ngôn ngữ thơ chọn lọc, tinh tế, gợi cảm, không cách điệu, ước lệ

- Tác giả vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật chính

- Cảm xúc bộc lộ thoải mái, tự nhiên, phóng túng

- Thể thơ thất ngôn trường thiên khá tự do…

VỘI VÀNG

_Xuân Diệu_

I – Tiểu dẫn:

1 – Nhà thơ Xuân Diệu

- Xuân Diệu (1916 – 1985), tên khai sinh là Ngô Xuân Diệu, quê nội ở Hà Tĩnh, lớn lên ở quê mẹ (BìnhĐịnh – Quy Nhơn) Sau Cách mạng Tháng Tám, ông hăng hái tham gia các hoạt động xã hội với tư cách mộtnhà viết văn chuyên nghiệp : đại biểu Quốc hội khoá I, Uỷ viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam cáckhoá I, II, III ; Viện sĩ thông tấn Viện hàn lâm nghệ thuật Cộng hoà dân chủ Đức

- Năm 1996, Xuân Diệu được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

- Các sáng tác tiêu biểu :

+ Các tập thơ như : Thơ thơ, Gửi hương cho gió… ;

+ Các tập văn xuôi : Phấn thông vàng, Trường ca … ;

+ Các tập tiểu luận phê bình : Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, Công việc làm thơ…

- Về phong cách :

+ Xuân Diệu là nhà thơ “mới nhất trong các nhà thơ mới” (Hoài Thanh) đã đem đến cho thơ ca đương thời

một sức sống mới, một nguồn cảm xúc mới, thể hiện một quan niệm sống mới mẻ cùng với những cách tânnghệ thuật đầy sáng tạo

+ Ông là nhà thơ của tình yêu, của mùa xuân và tuổi trẻ với một giọng thơ sôi nổi, đắm say, yêu đời thắmthiết

+ Từ sau Cách mạng, thơ Xuân Diệu hướng mạnh vào thực tế đời sống và rất giàu tính thời sự

2 – Bài thơ Vội vàng :Vội vàng được in trong tập Thơ thơ (1938), là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất

của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám

II – Văn bản:

A LỜI GIỚI THIỆU

Xuân Diệu nổi tiếng trong làng Thơ mới thời kì 1930 – 1945 Thi sĩ đã đem đến cho thơ ca Việt Nam

một hơi thở mới, luôn trẻ trung, nồng nàn, rạo rực của một trái tim sôi nổi, đa tình Trong cuốn Thi nhân Việt

Nam, Hoài Thanh đã viết : “Thơ Xuân Diệu… là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn non nước lặng lẽ này Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng cuống quýt, muốn tận hưởng cuộc đời ngắn ngủi của mình Khi vui cũng như khi buồn, người đều nồng nàn, tha thiết”.

Bài thơ Vội vàng được rút trong tập Thơ thơ (1938), đây là một trong những bài thơ thể hiện rõ nhất

phong cách nồng nàn, tha thiết của Xuân Diệu

Một trong những nét tiêu biểu đó có thể kể đến là …

B NỘI DUNG CHÍNH

Trang 5

1 – Đoạn thơ 1 (13 dòng đầu) – Tình yêu thiết tha của thi sĩ với thiên đường nơi trần thế

Mở đầu bài thơ (đoạn thơ), Xuân Diệu đã thể hiện khát vọng muốn giữ lại mãi cái thế giới tươi

đẹp muôn màu :

Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi.

Đó là một khát vọng muốn “vĩnh cửu hoá” cái đẹp, để cho thi sĩ tôn thờ, thưởng thức Ước muốn ấy

táo bạo, muốn đoạt quyền của tạo hoá, muốn ngự trị cả thiên nhiên Tất cả đều xuất phát từ tình yêu cuộcsống say mê của hồn thơ nồng nàn, tha thiết

Bằng lối điệp ngữ, điệp cấu trúc câu “Tôi muốn … cho …”, nhà thơ đã diễn tả ý tưởng mạnh mẽ đó

một cách đầy chất thơ

Sở dĩ có khát vọng ngược với quy luật tự nhiên đó, bởi lẽ, dưới con mắt “xanh non biếc rờn”

của thi sĩ, mùa xuân đầy sức hấp dẫn, đầy sức quyến rũ :

Của ong bướm này đây tuần tháng mật

… … Của yến anh này đây khúc tình si…

Bức tranh cuộc sống hiện ra có đủ cả hương vị, màu sắc và cả âm thanh, rất sinh động Đó là những

hình ảnh hết sức “cám dỗ”, tạo vật như căng đầy nhựa sống và hiện ra trong thế có đôi có cặp rất hữu tình : tuần tháng mật của các loài ong bướm, “hoa của đồng nội xanh rì”, “lá của cành tơ”, khúc nhạc tình si mê

của các đôi oanh yến

Điệp ngữ “này đây” được lặp lại bốn lần kết hợp với thủ pháp liệt kê tăng tiến, nhịp thơ gấp gáp…

cho thấy cảnh đẹp như bày sẵn ra trước mắt, rất cụ thể, rõ ràng đồng thời bộc lộ niềm sung sướng đến ngấtngây của thi sĩ trước cảnh sắc ấy

Cũng như trong nhiều bài thơ khác, cảnh vật trong Vội vàng được phát hiện với tất cả niềm háo

hức mê say, tất cả sự ngỡ ngàng Vì tất cả đều trở nên mới lạ trong đôi mắt của thi sĩ đa tình, ham sống :

Và này đây ánh sáng chớp hàng mi Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gõ cửa Tháng giêng ngon ngư một cặp môi gần.

Với thi sĩ đa tài, đa tình này thì nguồn ánh sáng của mỗi buổi bình minh như phát ra từ đôi mắt xinhđẹp của người thiếu nữ, mỗi lần nàng chớp hàng mi

Tuy vậy, trong bài thơ Vội vàng, gây ấn tượng mới mẻ nhất chính là câu :

Tháng giêng ngon như một cặp môi gần

Nhà thơ đã so sánh khái niệm thời gian “tháng giêng”, một hình ảnh vô hình với một hình ảnh cụ thể

“cặp môi” và truyền cho người đọc một cảm giác thật cụ thể “ngon”, “gần” Cách so sánh rất lạ ! Rất độc

đáo ! Rất Xuân Diệu !

Sau cái phút giây ngất ngây, sung sướng cùng cảnh sắc thiên nhiên ấy, nhà thơ chợt tỉnh lại

được và tự ý thức được về thời gian :

Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân.

Mùa xuân đẹp làm cho thi sĩ “sung sướng” nhưng rồi ý thức được thời gian (qua đi nhanh) khiến thi sĩ phải “vội vàng”, phải hưởng thụ mùa xuân ngay lúc mùa xuân vừa đến, còn tươi non để sau này khi mùa

xuân đã qua, mùa hạ đến không phải nuối tiếc, ân hận

Tóm lại, đoạn thơ trên đã thể hiện một tình yêu thiết tha của thi sĩ Xuân Diệu với “thiên đường nơi trần thế”, đồng thời đã bộc lộ một phong cách thơ rất mới mẻ và táo bạo

2 – Đoạn thơ 2 (dòng 14 đến 29) – Cảm nhận mới mẻ của Xuân Diệu về thời gian

Đúng như ở đoạn trước thi nhân đã tâm sự : “Tôi sung sướng Nhưng vội vàng một nửa” Dấu chấm

khéo đặt giữa câu thơ này khiến ta hình dung bước chân của chàng trai tơ Xuân Diệu như bất chợt khựng lại

giữa khu vườn ngập tràn xuân sắc Đó là vì, thi sĩ đã nhận ra quy luật : cuộc đời thì ngắn ngủi, trong khi

đó thời gian thì cứ qua đi không trở lại :

Xuân đương tới nghĩa là xuân đương qua

… … Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời.

Trang 6

Thật vậy, trong con mắt của Xuân Diệu, chỉ có thời gian tuyến tính, một kiểu thời gian “một đi không

trở lại” Xuân : tới – qua, non – già, hết Còn Tôi (đời người) : cũng mất, tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại,

chẳng còn tôi mãi Bởi vậy, giữa cái non tơ mơn mởn, ông lại thấy được sự hấp hối, lụi tàn… cho nên ông

đột nhiên thốt lên : “Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời”.

Điểm mới mẻ trong cách thể hiện là nhà thơ đã tạo ra giọng “tranh luận” và nêu lên những “luận lí

của trái tim” bằng một loạt các phụ từ quan hệ “nghĩa là – nếu – nên để bảo vệ quan điểm của mình Hơn

nữa, điệp ngữ “nghĩa là…” không chỉ bộc lộ ý nghĩa giải thích, định nghĩa cho sự thật hiển nhiên không thể

phủ nhận mà còn thể hiện nỗi lo lắng hốt hoảng của thi nhân Những từ ngữ, cách diễn đạt đối lập mạnh mẽ :

non >< già, rộng >< chật, còn >< chẳng còn… đã cho thấy cái hữu hạn của đời người và liền đó là nỗi day

dứt, nuối tiếc của thi nhân

Từ sự nhận thức thời gian trôi chảy và lấy tuổi trẻ, khoảng ngắn ngủi nhất của cuộc đời, để đo

đếm thời gian đã dẫn đến những cảm nhận tinh tế về thời gian của nhà thơ :

Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi

… … Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa.

Như Triết gia nói “Không ai tắm hai lần trên một dòng sông”, thi sĩ cảm thấy thời gian như ngọn gió,

bay nhanh, lướt qua tất cả Lúc tạo vật ở độ căng mọng, sung mãn cũng là lúc nó đối diện với sự ám ảnh của

sự tàn phai, huỷ diệt của ngọn ngọn gió thời gian ấy Cho nên, trong cảm nhận của nhà thơ, thời gian có

“mùi”, có “vị chia phôi” Tất cả đều bất ngờ, hẫng hụt, tiếc nuối, thảng thốt đến độ nhà thơ đã cất lên :

Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa.

Tóm lại, đoạn thơ trên đã thể hiện những cảm nhận mới mẻ và tinh tế của Xuân Diệu về bước đi

của thời gian, của tuổi xuân Tiếc xuân, tiếc thời xuân cũng là tiếc sự sống, tiếc cuộc sống của mình Đây

cũng là một biểu hiện của lòng ham sống, lòng yêu đời của nhà thơ

3 – Đoạn thơ 3 (còn lại) – Lời giục giã sống vội vàng, cuống quýt của thi sĩ

Đoạn thơ cuối này chính là lời giải đáp cho những băn khoăn, những thắc mắc, và trả lời cho câu hỏi :

Sống vội vàng là như thế nào ? Phong cách sống “vội vàng” ở đây cũng chính là “hệ quả” của những cảm

thức về thời gian từ những đoạn thơ trước của nhà thơ

Không thể “buộc gió”, không thể “tắt nắng”, cũng không thể cầm giữ được thời gian nên với nhà thơ,

cách “chiến thắng” bước đi của thời gian là bằng cường độ sống, khát vọng sống mãnh liệt, là phải

chạy đua với thời gian :

Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm…

Với Xuân Diệu, chạy đua với thời gian là để tận hưởng Vì thế ông mới vội vàng giục giã mọi người

hãy tận hưởng hết tất cả những vẻ đẹp của thiên nhiên, trời đất, cỏ cây, hoa lá và nhất là của con người

Và đây, lòng ham sống và phong thái vội vàng ấy của thi nhân đã dâng trào lên thành khát

vọng :

Ta muốn ôm

… …

- Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !

Đó là khát vọng tận hiến và tận hưởng cuộc sống bằng tất cả các hành động, bằng tất cả các giác quan,

sống mãnh liệt như ngọn lửa thổi bùng bùng Nhà thơ muốn ôm, muốn riết, muốn thâu cả đất trời, cỏ cây, hoa lá vào trong tay bé nhỏ của mình Hơn thế nữa, còn “muốn cắn” vào sự sống mơn mởn xanh tươi của

xuân hồng đầy sức sống Qua đó, ta còn thấy nỗi sung sướng và choáng ngợp của thi nhân trước mùa xuân

“mơn mởn” trước “thanh sắc của thời tươi”

Ở đây, từ lối vắt câu (Ta muốn ôm) đến nghệ thuật dùng điệp ngữ (Ta muốn… ; Cho…), từ việc sử

dụng nhiều hình ảnh táo bạo… đều đã góp phần thể hiện đậm nét niềm ham sống đến cuồng nhiệt mê say

của tác giả Đặc biệt, hàng loạt các động từ có ý nghĩa “mạnh” đã có sức lôi kéo độc giả rất mãnh liệt :

“muốn ôm”, “muốn riết”, “muốn thâu”… Rồi hàng loạt các tính từ mạnh : “chếnh choáng, đã đầy, no

nê…” và cuối cùng là động từ “cắn”… đều đã bộc lộ rõ nhất cái khao khát mãnh liệt của nhà thơ muốn được

sống hết mình, yêu hết mình, hưởng thụ hết mình cái ý nghĩa đẹp đẽ của cuộc sống

Có lẽ, trong đoạn thơ này hình ảnh độc đáo nhất là cách nói : “Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi” ! Chưa bao giờ ta thấy “lạ” và Tây đến thế Đây là hình ảnh không những đã tạo nên sự tương xứng

liên kết trong toàn bài thơ mà còn góp phần tạo nên bất ngờ, lột tả hết trạng thái “vội vàng” đến cuống quýt,

vồ vập và cuồng nhiệt

Trang 7

Tóm lại, đoạn thơ trên đã thể hiện Xuân Diệu không chỉ sống hay ham sống, mà ông còn say mê,

cuồng nhiệt, giục giã, vội vàng, gấp gáp để sống.

C KẾT LUẬN

Vội vàng là lời giục giã hãy sống mãnh liệt, sống hết mình, hãy quý trọng từng giây, từng phút của

cuộc đời mình, nhất là những tháng năm tuổi trẻ của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt Tư

tưởng đó được thể hiện qua một hình thức nghệ thuật điêu luyện : sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc

và mạch luận lí, giọng điệu say mê, sôi nổi, những sáng tạo độc đáo về ngôn từ và hình ảnh thơ

TRÀNG GIANG

_Huy Cận_

I – TIỂU DẪN

1 – Nhà thơ Huy Cận

- Huy Cận (1919 – 2005) tên khai sinh là Cù Huy Cận, quê ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh Thuở nhỏ ông

học ở quê, sau đó vào Huế học hết trung học Năm 1939, ông ra Hà Nội học Trường Cao đẳng Canh nông

- Từ năm 1942, ông tích cực tham gia hoạt động trong Mặt trận Việt Minh, rồi tham gia Quốc dân đại hội

Tân trào Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia hoạt động chính quyền cách mạng, giữ nhiều trọng trách

khác nhau : Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Bộ trưởng đặc trách công tác Văn hoá – Nghệ thuật tại Văn phòng Hội

đồng Bộ trưởng,…

- Ông là một trong những tác giả xuất sắc của phong trào Thơ mới Năm 1996, ông được Nhà nước tặng

Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật

- Các tác phẩm chính :

+ Trước Cách mạng : Lửa thiêng (tập thơ, 1937 – 1940), Kinh cầu tự (văn xuôi, 1942)…

+ Sau Cách mạng : các tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng (1958), Đất nở hoa (1960)…

- Thơ Huy Cận hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết lí

2 – Bài thơ Tràng giang: Tràng giang là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Huy Cận.

Theo tác giả, bài thơ này được viết vào mùa thu năm 1939 (in trong tập Lửa thiêng) và cảm xúc được khơi

gợi chủ yếu từ cảnh sông Hồng mênh mang sông nước

3 – Nhan đề và lời đề từ

a) Nhan đề

- Tràng (trường) : dài ; giang : sông Tràng giang (trường giang) : sông dài.

- Tràng giang còn gợi hình ảnh con sông rộng (do âm vang của việc láy vần “ang”) Trường giang chỉ là

“sông dài”.

- Tràng giang là cách diễn đạt mới trong khi Trường giang dễ bị nhầm lẫn với tên một con sông ở Trung

Quốc và trong thơ Đường

b) Lời đề từ “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”

- “Trời rộng”, “sông dài” mang nghĩa khái quát về không gian nghệ thuật của bài thơ Đó là một khung cảnh

sông nước mênh mông, vô biên

- “Bâng khuâng”, “nhớ” khái quát lên tâm trạng buồn, cô đơn bởi sự xa cách, chia li giữa “trời” và “sông”

 Câu đề từ đã khái quát được nội dung tư tưởng của cả bài thơ, vừa thâu tóm cảm xúc chủ đạo vừa gợi ra

nét nhạc chủ âm cho cả bài thơ

II – VĂN BẢN

A LỜI GIỚI THIỆU

Bài thơ Tràng giang (in trong tập thơ Lửa thiêng) là một tuyệt tác của nhà thơ Huy Cận nói riêng và

của phong trào Thơ mới (1932 – 1945) nói chung Đây là một bài thơ với xúc cảm vũ trụ không những chan

chứa một nỗi buồn mênh mông xa vắng mà còn thấm đượm một tình yêu quê hương đất nước lắng sâu Nói

theo Xuân Diệu “Tràng giang là một bài thơ ca hát non sông đất nước do đó dọn đường cho lòng yêu giang

sơn Tổ quốc”.

Có thể thấy rõ những điều nói trên qua (khổ thơ thứ … của Tràng giang) …

B NỘI DUNG CHÍNH

Tràng giang là bài thơ được sông Hồng gợi tứ Trước Cách mạng, nhà thơ thường có thú vui vào

chiều chủ nhật hàng tuần đi lên vùng Chèm, Vẽ để ngoạn cảnh Hồ Tây và sông Hồng Phong cảnh sông

nước đẹp gợi cho nhà thơ nhiều cảm xúc Tuy nhiên bài thơ không chỉ do sông Hồng gợi cảm mà còn mang

Trang 8

cảm xúc chung về những dòng sông khác của quê hương Tràng giang là một bài thơ tình và tình gặp cảnh,

một bài thơ về tâm hồn…

Thuyền và nước vốn là hai khái niệm gần gũi nhưng rồi không phải bao giờ cũng gắn bó Thuyền gợi

lên một cái gì nổi nênh như kiếp người trong cuộc đời cũ Nhất là ở đây, con thuyền lênh đênh thả mái xuôi

dòng và như có một nỗi buồn chia li, xa cách đang đón đợi Từng đợt sóng “gợn” nhẹ cứ kéo dài vô tận làm nỗi buồn của con người càng thấm sâu, da diết khó tả “Buồn điệp điệp” đã diễn tả nỗi buồn lớp lớp, buồn

tầng tầng, buồn không nguôi của nhà thơ

Hai dòng thơ có ý nghĩa sâu xa về bóng dáng con người trong dòng đời Bởi sông là đời , thuyền là người, sóng “ điệp điệp ” là nỗi buồn đeo mang của thân phận kiếp người

Trên dòng sông ấy, bao nhiêu ngả nước là bấy nhiêu ngả sầu và cảnh tượng “một cành khô” lạc

mấy dòng càng nhấn mạnh nỗi lạc loài của kiếp người trong xã hội cũ :

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả ; Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Như trên đã phân tích, thuyền và nước ở đây không hề gặp nhau, gần nhau mà giữa “trăm ngả” cuộc

đời thuyền về một nơi, nước lại đi một ngả Sự lạc lối không cùng hướng này đã gợi lên trong thi nhân mộtnỗi “ sầu ” bơ vơ, cô đơn ngay giữa cuộc đời

Hình ảnh một cành củi khô đơn lẻ trôi bồng bềnh, trên dòng sông mênh mông sóng nước gợi lên nỗibuồn về kiếp người nhỏ bé, vô định Nó là biểu tượng cho tâm trạng của con người, nhất là của giới thanhniên tiểu tư sản thời ấy

Ở khổ thơ đầu, nghệ thuật đối của thơ Đường đã được vận dụng hết sức linh hoạt đã khiến cho

bài thơ một mặt vẫn phát huy được thế mạnh của loại thơ cổ, mặt khác nó làm cho giọng điệu của bài thơuyển chuyển, linh hoạt, tránh được sự khuôn sáo, cứng nhắc dễ thấy đối với một số bài thơ Đường luật hồi

đầu thế kỉ XX Bên cạnh đó, cách dùng từ láy như “điệp điệp”, “song song” cũng gợi âm hưởng cổ kính,

trang trọng Tuy nhiên, Tràng giang vẫn là một bài thơ hiện đại, ở đoạn thơ này có thể thấy ở hình ảnh, thi

liệu và cảm xúc :

Thuyền về nước lại sầu trăm ngả ; Củi một cành khô lạc mấy dòng.

Thơ xưa thường nói đến những hình ảnh cao sang mà giới “tao nhân, mặc khách” thường ưa thích như

trăng hoa, tuyết nguyệt… Đến thời kì thơ mới, những hình ảnh “bình dân” như “củi một cành khô”, “con nai vàng ngơ ngác”, con hổ “gậm một mối căm hờn trong cũi sắt”… như là chỉ dấu về một “cuộc cách mạng trong thơ” (Hoài Thanh).

Tóm lại, khổ thơ đầu là nỗi buồn mênh mang trong lòng thi nhân được gợi lên từ không gian “ tràng

giang ” Cái hay ở khổ thơ là nghệ thuật thường thấy của Đường thi, nhưng cũng rất mới mẻ của phong trào

Thơ mới

2 – Khổ thơ hai

Từ dòng sông, sóng gợn, con thuyền xuôi mái và cành củi khô bập bềnh trôi dạt trên sóng… ở khổ thơ

một, Huy Cận nói đến cảnh tràng giang một buổi chiều mênh mông, vắng vẻ Và, nỗi buồn càng như

thấm sâu vào cảnh vật.

Trước hết, có thể thấy cảnh tràng giang mênh mông, vắng vẻ ở hai câu thơ đầu :

Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu, Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.

Hai câu thơ chứa đựng những nét chấm phá về các bãi cồn trên dòng sông Không gian hầu như vắnglặng, cảnh vật nhuốm vẻ đìu hiu, tàn tạ… Thật không gì vui bằng lúc chợ đông và buồn bằng khi chợ chiềutan tác, không có tiếng người thì cảnh vật hoang vắng và xa lạ Cảnh vật vắng vẻ đã khiến cho thi nhân càngbuồn sầu, cô đơn, khát khao được nghe những tiếng vọng thân thiết của cuộc đời

Các từ láy “lơ thơ” và “đìu hiu” được dùng rất đắt, vừa có giá trị tạo hình, vừa giàu khả năng biểu đạt tâm trạng Theo Huy Cận, từ “đìu hiu” ông học được trong bản dịch Chinh phụ ngâm :

Non kì quạnh quẽ trăng treo Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò.

Trang 9

Trong câu thơ thứ hai, sự xuất hiện của “tiếng làng xa vãn chợ chiều” chỉ làm cảnh buồn hơn, bởi đây

là “âm thanh” vọng lên từ tâm tưởng, từ niềm khao khát của nhà thơ

Tiếp theo là cảnh tràng giang mênh mông, vắng vẻ ở hai câu thơ sau :

Nắng xuống, trời lên sâu chót vót ; Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.

Hai câu thơ mở rộng không gian miêu tả ra nhiều chiều với hình ảnh của trời lên – cao, sông dài – dài,

trời rộng – rộng Theo hướng mở rộng đó của không gian, nỗi sầu của thi nhân như cũng được toả lan ra

đến vô cùng

Hình thức đối của cổ thi được sử dụng khá linh hoạt trong hai câu thơ, tạo nên sự hài hoà về hình ảnh

và nhịp điệu Cùng với việc vẽ ra những chuyển động ngược hướng (nắng xuống, trời lên) ở câu ba, tác giả

đã dùng dấu phẩy ngắt câu thơ thứ tư thành ba phần, biểu thị ba hình ảnh độc lập : sông dài, trời rộng, bến

cô liêu Nhờ lối diễn tả này, tính chất phân li của cuộc đời được tô đậm thêm

Đặc biệt, cách kết hợp từ trong câu ba cũng thật độc đáo Khi viết “sâu chót vót”, tác giả không chỉ

muốn diễn tả độ cao của bầu trời mà còn muốn biểu hiện cảm giác chới với, rợn ngợp của con người khi đốidiện với cái hun hút, thăm thẳm của vũ trụ

Tóm lại, không âm thanh của cuộc sống, không sự vật của con người, không biểu tượng của gia đình,quê hương… không có gì cả ! Một thi nhân mất nước chưa tìm được hướng đi cho mình, lại mẫn cảm trướcthiên nhiên và cuộc đời, làm sao không có nỗi buồn như thế được ?

3 – Khổ thơ ba

Đỉnh điểm của sự cô đơn của thi nhân trong Tràng giang tập trung vào khổ thơ thứ ba này Với

hàng loạt từ phủ định, làm mất hoàn toàn những tín hiệu cuộc sống, con người vì thế trở nên bơ vơ đến đáng thương :

Bèo dạt về đâu hàng nối hàng

… … Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.

Trong không gian buồn, xa vắng, ai cũng muốn tìm đến những dấu vết gần gũi của sự sống, của cuộcđời Nhưng cuộc sống ở đây như đứt đoạn chia lìa, dòng sông mênh mông kia không có dù là một chuyến đò,không có lấy một chiếc cầu để nối kết con người với con người :

Mênh mông không một chuyến đò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật.

Cuộc sống hiện lên với những hình ảnh trơ trọi, quạnh hiu của bờ bãi, của cánh bèo dạt trôi Bóng

dáng con người dường như biến mất trong cái không gian của ngút ngàn hoang vắng : “Bèo dạt về đâu hàng

nối hàng … Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”.

Những câu thơ làm ta nhớ đến tiếng gọi đò da diết trong “Bến Mi Lăng” của một nhà thơ cùng thời :

Tiếng gọi đò, gọi đò như oán trách Gọi đò thôi run rẩy cả ngành trăng

(Yến Lan)

Tóm lại, cả bốn câu thơ đều buồn, mỗi câu mang một nỗi buồn riêng Cảnh vật có đổi thay (so vớinhững khổ thơ trên) nhưng cùng một dáng vẻ, tất cả đều trôi nổi, mông lung, vô định Không có những dấuvết của con người Vì vậy, thi nhân vẫn buồn !

4 – Khổ thơ bốn

Khổ thơ tuy chỉ có bốn dòng nhưng đã khái quát tấm lòng, tình cảm, tư tưởng của nhà thơ cũng nhưbút pháp nghệ thuật của ông

Hai câu thơ đầu trong khổ thơ cuối khắc hoạ lại cảnh tượng rực rỡ, kì vĩ khi mặt trời xuống

thấp, hắt ánh sáng lên các lớp mây cao cuồn cuộn đùn ra như những núi bạc:

Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cánh nhỏ : bóng chiều sa

Tác giả rất thích chữ “đùn”, tả mây như có sức đẩy ở bên trong, cứ trồi ra hết lớp này đến lớp khác Theo tác giả, câu thơ đầu ông học được chữ “đùn” trong bài dịch thơ Đỗ Phủ :

Lưng trời sóng gợn lòng sông thẳm Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

(Thu hứng)

Còn ở câu thơ thứ hai, ba chữ “bóng chiều sa” in lên núi bạc đùn lên, còn dáng chim nghiêng cánh nhỏ tương phản với “lớp lớp”, “núi bạc”, càng trở nên nhỏ nhoi, cô độc.

Trang 10

Hai câu thơ sau của khổ thơ cuối là nỗi khát khao của con người tìm về quê nhà :

Lòng quê dợn dợn vời con nước Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

Lòng quê, có người hiểu là lòng riêng, tấm lòng mộc mạc, nhưng cũng nhiều người hiểu là lòng nhớ

quê hương Thực vậy, “dợn” là hình ảnh mặt nước chuyển động nhỏ, lên xuống rất nhẹ khi bị xao động Ở câu thơ này, lòng nhớ quê hương bỗng “dợn” lên như sóng tâm hồn, khi phóng tầm mắt nhìn xa con nước mênh mông, nhưng không phải chỉ “dợn” lên một lần rồi thôi, mà là “dợn dợn” nghĩa là xao động liên tục.

Lòng nhớ quê hương cứ xao động trong tâm hồn trước cảnh sông nước hoang vắng đìu hiu, trống trải

khiến nhà thơ phải bộc bạch : Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

Âm hưởng thơ Đường triền miên trong khổ thơ cuối, như niềm lưu luyến nhớ quê của Thôi Hiệu

trong bài Hoàng Hạc lâu :

Quê hương khuất bóng hoàng hôn Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

(Tản Đà dịch)

Nhà thơ đời Đường có “khói sóng” trên sông mới gợi niềm thương nhớ quê nhà, còn Huy Cận thì

chẳng cần ngoại cảnh mà vẫn đủ khơi dòng nhớ mong Lúc này, cái buồn đã tương đối thành hình, không chỉcòn là cảm giác sầu mênh mông vời vợi do xúc cảnh sinh tình khi ngắm nước trường giang Vì lúc bấy giờ,nhà thơ buồn hơn Thôi Hiệu

Tóm lại, khổ thơ cuối đã mở ra những tình cảm đẹp của nhà thơ và gây ấn tượng sâu sắc cho ngườiđọc Lời thơ mãi mãi thức tỉnh lòng hướng về quê hương và tình người ấm áp của mỗi chúng ta

C KẾT LUẬN

Tràng giang là một thi phẩm độc đáo của Huy Cận, vừa mang vẻ đẹp cổ điển vừa mang vẻ đẹp của

thơ mới Qua bài thơ, Huy Cận đã bộc lộ nỗi sầu của một cái tôi cô đơn trước thiên nhiên rộng lớn, trong đóthấm đượm tình người, tình đời, lòng yêu nước thầm kín mà thiết tha

- Cha mất sớm, ông sống cùng mẹ ở Quy Nhơn và có hai năm học trung học tại Huế Sau đó ông làm côngchức ở Bình Định rồi vào Sài Gòn làm báo Năm 1936, Hàn Mặc Tử mắc bệnh phong và về Quy Nhơn chữabệnh Ông mất tại trại phong Quy Hoà

- Hàn Mặc Tử làm thơ từ năm 14, 15 tuổi với các bút danh : Phong Trần, Lệ Thanh…; bắt đầu bằng thơ cổđiển Đường luật, sau chuyển sang thơ mới lãng mạn Thơ Hàn Mặc Tử thể hiện một tình yêu đến đau đớnhướng về cuộc đời trần thế

- Tác phẩm tiêu biểu : Gái quê (1936), Thơ Điên (1938), Xuân như ý…

2 – Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ

- Đây thôn Vĩ Dạ (lúc đầu có tên Ở đây thôn Vĩ Dạ) sáng tác năm 1938, in trong tập Thơ Điên (về sau đổi thành Đau thương)

- Theo một số tài liệu, bài thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở Vĩ

Dạ, một thôn nhỏ bên dòng sông Hương nơi xứ Huế thơ mộng và trữ tình

II – VĂN BẢN

A LỜI GIỚI THIỆU

Làm thơ từ tuổi mười bốn, mười lăm và chỉ có mười mấy năm “kết duyên” với Thơ mới, Hàn Mặc Tử

đã để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng người yêu thơ Việt Nam Hồn thơ Hàn Mặc Tử đa dạng phong phú vừa

mang nỗi quặn đau với những hình ảnh thường “vẩn đục”, vừa mang đến những hình ảnh trong trẻo hiền hoà

đến lạ thường

Trang 11

Ta gặp ở “Đây thôn Vĩ Dạ” một tình cảm yêu thương đằm thắm, bâng khuâng và nỗi khao khát hướng đến hơi ấm tình người, hướng đến “ngôi vườn” cuộc đời qua bức tranh thiên nhiên xứ Huế bình yên, thơ

mộng

Một trong những nét độc đáo ấy của Đây thôn Vĩ Dạ có thể là (khổ thơ thứ …) …

B NỘI DUNG CHÍNH

1 – Khổ thơ đầu

Mở đầu đoạn thơ (cũng là mở đầu bài thơ) là một câu hỏi :

Sao anh không về chơi thôn Vĩ ?

Câu hỏi vừa như lời trách móc nhẹ nhàng của người con gái thôn Vĩ (mà tác giả tưởng tượng ra) vừa

là lời tự vấn sao không về Vĩ Dạ của nhà thơ Câu thơ mang giọng điệu của một lời mời gọi tha thiết về thôn

Vĩ, vừa nhẹ nhàng vừa dễ thương như một duyên cớ gợi nhớ những hình ảnh của thôn Vĩ ngày nào trong kí

ức nhà thơ – một thời từng là cậu học trò trường Pe-lơ-ranh xứ Huế với trái tim đa cảm

Hãy về thôn Vĩ, bởi thôn Vĩ là bức tranh thiên nhiên tràn ngập sức sống :

Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Cảnh thôn Vĩ đẹp nhất là vào những buổi bình minh với những ánh nắng hồng đầu tiên trong ngày

“Nắng mới lên” là nắng đầu tiên của một ngày mới mẻ, ấm áp Không phải là “nắng ban mai”, hay “nắng

mai”,… như cách nói thông thường Chữ “mới” tô đậm cái trong trẻo, tinh khiết của những tia nắng đầu tiên

trong ngày Thi nhân như đã theo “nắng mới lên” mà về với Vĩ Dạ.

Đặc trưng của thôn Vĩ Dạ là những hàng cau thẳng tắp Cau là cây cao nhất trong vườn nên sớm đón

được những tia nắng đầu tiên của một ngày Vì thế, “nắng hàng cau” là nắng thanh tân, tinh khôi, là nắng

thiếu nữ

Câu thơ “ Vườn ai mướt quá xanh như ngọc ” cất lên như một tiếng reo vui, một lời suýt xoa của thi

nhân trước vẻ đẹp vô ngần của thôn Vĩ Từ “mướt” như ánh lên vẻ mượt mà, óng ả, đầy xuân sắc, một màu xanh mỡ màng, tràn trề nhựa sống của Vĩ Dạ “Xanh như ngọc” là màu xanh lung linh, ngời sáng, long lanh

Ở hai câu thơ này, cả vườn Vĩ được tắm gội bởi sương đêm, đang chìm trong giấc ngủ thì được đánhthức và bừng lên trong ánh nắng hồng ban mai Nắng mai rót vào vườn cứ đầy dần lên, đến khi ngập tràn thì

nó biến cả khu vườn thành một đảo ngọc giữa chốn “nước non thanh tú” của quê hương xứ sở

Đến câu thơ cuối, cảnh thôn Vĩ càng đẹp hơn khi có sự xuất hiện của con người :

Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Lâu nay, “mặt chữ điền” vẫn được hiểu là khuôn mặt đàn ông Tuy nhiên, trong ca dao miền Trung,

“mặt chữ điền” cũng để chỉ khuôn mặt đẹp phúc hậu, khả ái của người phụ nữ : “Mặt má bầu ngó lâu muốn

chửi - Mặt chữ điền tiền rưỡi cũng mua” Gương mặt chữ điền vuông vắn ấy xuất hiện đằng sau vẻ mảnh

mai, thanh tú của “lá trúc” Hình ảnh “Lá trúc che ngang mặt chữ điền” vì thế càng làm tăng thêm vẻ sinh

động của bức tranh thôn Vĩ, bởi ở đây thiên nhiên và con người hài hoà với nhau trong một vẻ đẹp kín đáo,dịu dàng và thơ mộng

Trong thơ, ngoại cảnh cũng là nội tâm Đặt bức tranh thôn Vĩ đẹp trong nỗi niềm của thi nhân hướng

về người con gái Vĩ Dạ mà tác giả đang thầm thương trộm nhớ, ta hình dung được tâm trạng của nhà thơ.

Đó là niềm vui khi nhận được tín hiệu tình cảm của người trong mộng (tất nhiên đây chỉ là cảm nhận của Hàn Mặc Tử), là niềm hi vọng loé sáng về tình yêu, hạnh phúc.

Tóm lại, đọc khổ thơ đầu ta cảm nhận được bức tranh thôn Vĩ đẹp, tươi sáng, trong trẻo, gợi cảm vàđầy sức sống Đồng thời, đó cũng là niềm hi vọng hạnh phúc của thi nhân

2 – Khổ thơ thứ hai

Trong khổ thơ thứ hai, nhà thơ đặc tả cảnh sông nước mây trời xứ Huế, đồng thời bộc lộ một niềmhoài vọng bâng khuâng

Ở hai câu thơ đầu, bức tranh hiện ra là khung cảnh thiên nhiên ban ngày xứ Huế:

Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.

Cảnh ở đây vừa có nét đẹp hoang sơ, dân dã, vừa có nét “ cung đình ” Gió, mây và dòng nước đều

được nhân hoá để trở nên có hồn, sinh động “Gió theo lối gió, mây đường mây” ngắt nhịp 4/3 với hai vế tiểu

đối gợi tả một không gian gió, mây chia lìa, đôi đường, đôi ngả như một nghịch cảnh đầy ám ảnh Lẽ thường

thì “gió thổi mây bay”, phải chăng mặc cảm chia lìa đã chia xa cả những thứ vốn không thể chia tách ?

Nhà thơ còn nhân hoá con sông thành một sinh thể có tâm trạng để giãi bày tâm tư của chính mình

Hương Giang không thể tự buồn mà bởi thi nhân đã “bỏ buồn vào lòng sông” Động thái “lay” tự nó không

Trang 12

vui không buồn, nhưng trong hoàn cảnh này, nó lại gợi lên sự hiu hắt, thưa vắng Nhịp điệu câu thơ chậm rãi

như điệu “slow tình cảm dành riêng cho huế” (Hoàng Phủ Ngọc Tường) càng làm cho nỗi niềm thêm da

diết Hoá ra không phải “ dòng nước buồn thiu ” mà chính “ thi nhân buồn thiu

Ở hai câu thơ sau, dòng Hương Giang về đêm hiện lên ngập tràn ánh trăng :

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay ?

Đây là hai câu thơ tuyệt bút của Tử, kết tinh rực rỡ bút pháp tài hoa, lãng mạn Cả dòng sông như

được dát bạc, ánh lên, lộng lẫy và cũng huyền ảo lung linh Nếu “Thuyền ai” gợi lên bao ngỡ ngàng, bâng khuâng, vừa quen vừa lạ, man mác như điệu hò xứ Huế thì hình tượng “sông trăng” lại như một nét vẽ thơ mộng, chất chứa cái thần thái, “linh hồn” của cảnh sắc thiên nhiên xứ sở Sự kết hợp giữa “thuyền ai” và

“sông trăng” đã tạo nên một hình tượng đẹp thi vị, gợi tả vẻ đẹp lãng mạn, thơ mộng, thân thương của Huế.

“Thuyền”, “bến”, “trăng” là những biểu tượng về người con trai, con gái và hạnh phúc lứa đôi Trăng là nhân chứng cho đôi lứa nguyện thề Khi xưa, trong vườn Thuý ngập đầy ánh trăng, Kim – Kiều đã

giao ước, thề nguyền Trong ca dao, tình duyên của nam nữ cũng được giãi bày, ướm hỏi dưới trăng : “Đêm

trăng thanh anh mới hỏi nàng – Tre non đủ lá đan sàng nên chăng ?”… Thuyền chở trăng là chở tình yêu.

Bến trăng là bến bờ hạnh phúc Liệu con thuyền tình yêu có vượt thời gian để kịp cập bến bờ hạnh phúc haykhông ? Câu hỏi chất chứa bao niềm khắc khoải, sự chờ đợi mỏi mòn tình yêu, hạnh phúc của thi nhân Ẩntrong đó có sự mông lung, hồ nghi, thất vọng

Tóm lại, khổ thơ thứ hai vẽ nên bức tranh xứ Huế ảm đạm, nhuốm màu chia lìa, sự sống mệt mỏi,yếu ớt nhưng cũng huyền ảo, thơ mộng, đồng thời toát lên những dự cảm hạnh phúc chia xa của nhà thơ

3 – Khổ thơ cuối

Hồn thơ say dần, từ chỗ có nhiều hình ảnh thực (khổ 1), đến chỗ mơ hồ (khổ 2), bài thơ kết thúc ở

khổ thứ ba với những hình ảnh, cảm xúc thật sự huyền bí.

Trước hết là ở câu thơ đầu :

Mơ khách đường xa, khách đường xa

“Khách đường xa” là ai ? Sao câu thơ lại lặp lại hình ảnh ấy hai lần ? Và hơn nữa, hình ảnh đầy ấn tượng nhưng vô cùng mơ hồ ấy lại đứng cạnh một từ càng mơ hồ, bí ẩn hơn chính nó – từ “Mơ” : “Mơ

khách đường xa, khách đường xa”.

Có thể “khách đường xa” là người đang sống ở Vĩ Dạ cũng có thể là chính nhà thơ ? Không ai có thể giải thích nổi, và cuối cùng cũng không cần giải thích Chỉ biết rằng, “khách đường xa” được điệp lại gợi lên

khoảng cách xa xôi, sự cách trở Hình ảnh thơ rất ám ảnh người đọc, và nó cũng như ma lực khiến ta cảmthấy câu thơ ấy là hay nhất, không thể thay thế

Những câu thơ sau cũng có vẻ đẹp mơ hồ, huyền ảo nhưng dù sao cũng “hợp lí” hơn :

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

“Áo em” có phải là áo của người con gái xứ Huế, có lẽ là của người ở thôn Vĩ ? “Trắng quá nhìn

không ra” như đưa thi nhân vào sống trong ảo giác, không phải nhìn bằng mắt thường Đến cụm từ “Sương khói mờ nhân ảnh”, câu thơ càng cho thấy rõ hơn rằng cảnh vật và con người chìm dần vào mờ ảo

Điều bí ẩn nữa lại nằm ở câu thơ cuối :

Ai biết tình ai có đậm đà ?

Đó lại là một câu hỏi tu từ, và dẫu không thể trả lời, ta vẫn thấy câu hỏi ấy thống nhất với mạch cảmxúc chung của cả bài thơ : mở đầu và kết thúc đều là câu hỏi Cả bài thơ là một câu hỏi lớn không cần ai giảiđáp Có điều, ở câu hỏi cuối này nó biểu hiện chút hoài nghi với tình yêu của ai kia (người xứ Huế), hoàinghi nên mới hỏi Câu thơ còn cho thấy nỗi niềm thiết tha với tình yêu, với cuộc đời của nhà thơ

Tóm lại, ở khổ thơ cuối hiện thực được cảm nhận, miêu tả trong cái hư ảo, mờ nhoè, càng lúc càngchìm dần vào cõi mộng Thi nhân cảm nhận càng rõ nét khoảng cách xa xôi, cái hư ảo của tình yêu, hạnhphúc

C KẾT LUẬN

Với những hình ảnh biểu hiện nội tâm, bút pháp gợi tả, ngôn ngữ tinh tế, giàu liên tưởng, bài thơ Đây

thôn Vĩ Dạ là bức tranh đẹp về một miền quê đất nước, là tiếng lòng của một con người tha thiết yêu đời, yêu

người

CHIỀU TỐI

(Mộ)

Trang 13

_Hồ Chí Minh_

I – TIỂU DẪN

Tháng 8 – 1942, với danh nghĩa là đại biểu của Việt Nam độc lập đồng minh hội và Phân bộ quốc tếphản xâm lược của Việt Nam, Hồ Chí Minh sang Trung Quốc để tranh thủ sự viện trợ của thế giới Vừa đếnTúc Vinh, tỉnh Quảng Tây, Người bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam vô cớ

Trong suốt 13 tháng tù bị đày ải, Hồ Chí Minh đã sáng tác 134 bài thơ bằng chữ Hán, ghi trong cuốn

sổ tay, đặt tên là Ngục trung nhật kí (Nhật kí trong tù) Tập thơ được dịch ra tiếng Việt và in lần đầu vào

1960

Chiều tối (Mộ) là bài thứ 31 của tập thơ Cảm hứng của bài thơ được gợi lên trên đường chuyển lao

của Hồ Chí Minh từ Tĩnh Tây đến Thiên Bảo vào cuối thu năm 1942

II – VĂN BẢN

A LỜI GIỚI THIỆU

Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại của dân tộc ta, đồng thời là một tác gia lớn Sự nghiệp sáng tác

của Bác đa dạng, nhưng nổi bật nhất là tập thơ trữ tình “Nhật kí trong tù” (Có thể trình bày thêm đôi nét về tập Nhật kí trong tù)

“Mộ” (Chiều tối) là bài thơ rất có giá trị của tập Nhật kí trong tù Nó vừa gợi cảnh gian truân trong

những ngày bị giam cầm vừa toát lên vẻ đẹp tâm hồn của Bác

(Dẫn bài thơ)

B NỘI DUNG CHÍNH

Bài thơ lấy cảm hứng trên đường chuyển lao Đó là lúc trời sắp tối, người tù bị giải đi giữa miền

núi Tấm lòng yêu người, yêu cuộc sống luôn luôn vượt qua những bước gian truân của tác giả toát lên từ

bức tranh Chiều tối này.

Bài thơ mở ra ở hai câu đầu bằng hình ảnh của bức tranh thiên nhiên nơi núi rừng mang đầy tâm trạng Trước tiên là hình ảnh một ngày sắp hết :

Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ.

Sau một ngày kiếm ăn, chim chiều mỏi mệt, tìm khu rừng cây quen thuộc để ngủ qua đêm Chimmỏi về rừng báo hiệu ngày tàn, nhường chỗ cho bóng đêm Nhưng người đi đường đang mỏi mệt, vẫn chưađược dừng bước, không rõ đi đến đâu, cũng không biết bao giờ có được chốn ngủ như những cánh chim kia

Đặt bài thơ trong hoàn cảnh cụ thể của tác giả, ta có thể cảm nhận một nỗi u hoài man mác dâng lêntrong lòng người đi Đó là tình cảnh mất tự do giữa đất khách quê người, cảnh vật gợi vẻ ảm đạm của mộtbuổi chiều tàn

Tiếp theo đó, bầu trời buổi chiều tối còn vương lại một chút ánh sáng nhạt mờ, vừa đủ cho nhà thơnhận ra một chòm mây lẻ loi đang lững lờ trôi :

Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.

Cảnh đẹp như một bức tranh thuỷ mặc nhưng cũng thật buồn, càng khêu gợi nỗi cô đơn của người đitrên đường Hơn nữa, đây còn là một người tù phải cất bước, dù đã mỏi mệt đi suốt một ngày dài

Hai câu thơ tả cảnh nhưng thật gợi tình, như kín đáo giãi bày một tâm trạng, một nỗi niềm Đó là tâmtrạng mệt mỏi, nỗi niềm mất tự do của Người Tuy nhiên, dù hoàn cảnh tù đày, nhưng Người vẫn mở hồn ra,hoà hợp và tương giao với thiên nhiên

Bài thơ kết lại bằng hai câu thơ tả bức tranh cuộc sống miền sơn cước mang hơi ấm cuộc sống :

Cô em xóm núi xay ngô tối, Xay hết, lò than đã rực hồng.

Giữa cảnh núi rừng mênh mông trùng điệp đang chìm dần vào bóng tối, nổi bật một đốm lửa hồngsoi hình bóng của một cô gái đang lao động Cảnh thật bình thường, nhưng ngay lúc đó, người tù chợt nhìnthấy một hình ảnh gây xúc động : cô gái nhỏ xay ngô và ánh lửa hồng của lò than Đó là hình ảnh bình dị vềcuộc sống thường ngày của người lao động nhưng cũng thật đẹp, đáng yêu và ấm lòng

Nhận ra những chi tiết của bức tranh đó, nhà thơ thực sự cảm động và cảm thông với cuộc sống của

người lao động nghèo, vất vả, nhưng ấm cúng và lạc quan Đóng lại bài thơ bằng một từ “hồng” đầy sức

nặng, nhà thơ như muốn ấp ủ ngọn lửa hồng ấy trong trái tim mình, vui sướng vì ngọn lửa của cuộc sốngbình dị luôn sáng ấm

Bài thơ đã kết hợp một cách hài hoà bút pháp cổ điển và bút pháp hiện đại Một bức tranh thiên

nhiên núi rừng và cuộc sống chỉ được ghi loáng thoáng vài nét đơn sơ như trong một bài thơ cổ : một cánh

Trang 14

chim, một chòm mây, một cô gái bên lò than nơi xóm núi Tuy chỉ đơn sơ vài nét nhưng ta cảm nhận đượccái hồn của cảnh vật : tuy buồn mà vẫn ấm áp, đặc biệt lại có niềm vui bình dị

Tóm lại, Trong hoàn cảnh bị đày ải trên đường xa, cô độc, mệt mỏi giữa núi rừng nơi đất khách quêngười vào lúc chiều tối, tác giả nhìn cảnh vật vẫn thấy ấm áp vui tươi, lạc quan qua ánh lửa hồng rực sáng.Điều đó chứng tỏ mọi vui buồn của Bác đều gắn với vui buồn của con người, hầu như không phụ thuộc vàocảnh ngộ riêng mình

C KẾT LUẬN

Bài Chiều tối cho thấy tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, ý chí vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của

nhà thơ chiến sĩ Hồ Chí Minh Bài thơ đậm sắc thái nghệ thuật cổ điển mà hiện đại

- Ngày được đứng vào hàng ngũ những người cùng phấn đấu vì một lí tưởng cao đẹp là bước ngoặtquan trọng trong cuộc đời Tố Hữu Ghi nhận kỉ niệm đáng nhớ ấy với những cảm xúc, suy tư sâu sắc, Tố

Hữu viết Từ ấy Bài thơ nằm trong phần “Máu lửa” của tập Từ ấy (tập thơ gồm ba phần : “Máu lửa”, “Xiềng

xích”, “Giải phóng”).

II – VĂN BẢN

A LỜI GIỚI THIỆU

Tố Hữu là nhà thơ lớn trong thời đại chúng ta Với ông, con đường cách mạng cũng là con đường

thơ Năm 1938, mới 18 tuổi, nhà thơ được vinh dự trở thành người chiến sĩ cộng sản của Đảng Bài thơ “Từ

ấy” trong tập thơ cùng tên, vang lên như một tiếng reo vui thể hiện niềm vui sướng tự hào của một thanh niên

học sinh yêu nước bắt gặp ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin Sau này, trong bài Câu chuyện về thơ, Tố Hữu viết : “Từ ấy” là một tâm hồn trong trẻo của tuổi mười tám, đôi mươi, đi theo lí tưởng cao đẹp, dám sống,

dám đấu tranh”.

(Có thể minh chứng những điều nói trên qua khổ thơ sau : …)

B NỘI DUNG CHÍNH

1 – Khổ thơ một : Diễn tả niềm vui sướng, say mê khi gặp lí tưởng của Đảng

Bài thơ “Từ ấy” gồm ba khổ thơ Mở đầu là khổ thơ diễn tả niềm vui sướng, say mê khi gặp lí

tưởng cách mạng như một nguồn sáng mới làm bừng dậy tâm hồn nhà thơ

Hơn thế, nguồn sáng ấy còn là mặt trời, và là mặt trời khác thường, “mặt trời chân lí” – một sự liên

kết sáng tạo giữa hình ảnh và ngữ nghĩa Câu thơ ca ngợi ánh sáng diệu kì của cách mạng với thái độ thànhkính, ân tình Đó là thứ ánh sáng của tư tưởng cộng sáng – ánh sáng của những công bình xã hội, của chân lí

xã hội Những động từ “bừng” (chỉ ánh sáng phát ra đột ngột), “chói” (ánh sáng có sức xuyên mạnh) càng

nhấn mạnh ánh sáng của lí tưởng đã hoàn toàn xua tan màn sương mù của ý thức tiểu tư sản và mở ra trongtâm hồn nhà thơ một chân trời mới của nhận thức, tư tưởng và tình cảm

Hai câu thơ sau của khổ thơ đầu, bằng bút pháp lãng mạn cùng với những hình ảnh so sánh,

đã diễn tả cụ thể niềm vui sướng vô hạn của nhà thơ trong buổi đầu đến với lí tưởng cộng sản :

Hồn tôi là một vườn hoa lá Rất đậm hương và rộn tiếng chim…

Trang 15

Đó là một thế giới tràn đầy sức sống với hương sắc của các loài hoa, vẻ tươi xanh của cây lá, âmthanh rộn rã của tiếng chim ca hót Đối với khu vườn hoa ấy còn gì đáng quý hơn ánh sáng mặt trời ? Đối vớitâm hồn người thanh niên đang băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời, còn gì đáng quý hơn khi có một lí tưởng caođẹp soi sáng, dẫn dắt ? Tố Hữu sung sướng đón nhận lí tưởng như cỏ cây hoa lá đón ánh sáng mặt trời Và

“từ ấy”, lí tưởng cách mạng cũng đã khơi dậy một sức sống mới, đem lại một cảm hứng sáng tạo mới cho

hồn thơ Tố Hữu

Tóm lại, Qua khổ thơ đầu, nhà thơ đã kể lại một kỉ niệm không quên của đời mình và diễn tả niềmvui sướng, say mê khi bắt gặp lí tưởng Cộng sản Sự kết hợp tài tình giữa bút pháp tự sự và trữ tình, cùngnhững hình ảnh so sánh, ẩn dụ giàu sắc thái biểu cảm… đã giúp cho những vần thơ của Tố Hữu bay bổng,lãng mạn

2 – Khổ thơ hai : Biểu hiện những nhận thức về lẽ sống.

Tiếp theo mạch cảm xúc của bài thơ, khổ thơ thứ hai biểu hiện những nhận thức của nhà thơ về

lẽ sống

Hai dòng thơ đầu, nhà thơ khẳng định quan niệm mới mẻ về lẽ sống là sự gắn bó hài hoà giữa

“cái tôi” cá nhân với “cái ta” chung của mọi người :

Tôi buộc lòng tôi với mọi người

Để tình trang trải với trăm nơi

Trong quan niệm về lẽ sống, giai cấp tư sản và tiểu tư sản có phần đề cao “cái tôi” cá nhân chủ nghĩa Khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu quan niệm lẽ sống là sự gắn bó hài hoà giữa “cái tôi” cá nhân với “cái

ta” chung của mọi người Với động từ “buộc” – cách nói ẩn dụ, câu thơ thể hiện ý thức tự nguyện sâu sắc và

quyết tâm cao độ của Tố Hữu muốn sống chan hoà với mọi người (“trăm nơi” là một hoán dụ chỉ mọi người sống ở khắp nơi) Từ “trang trải” có thể gợi liên tưởng tâm hồn nhà thơ trải rộng với cuộc đời, tạo khả năng

đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng con người cụ thể

Hai dòng thơ sau của khổ thơ thứ hai bộc lộ tình yêu thương con người bằng tình yêu giai cấp

rõ ràng :

Để hồn tôi với bao hồn khổ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời.

Hai dòng thơ cho thấy tình yêu thương con người của tác giả không phải là thứ tình thương chung

chung mà là tình cảm hữu ái giai cấp Trong câu 3, nhà thơ đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ : “bao

hồn khổ” Trong câu 4, “khối đời” là một ẩn dụ chỉ một khối người đông đảo cùng chung cảnh ngộ trong

cuộc đời Có thể hiểu khi “cái tôi” chan hoà trong “cái ta”, cá nhân hoà mình vào tập thể cùng lí tưởng thì

sức mạnh của mỗi người sẽ được nhân lên gấp bội Ta cũng bắt gặp cách nói này trong thơ Nguyễn KhoaĐiềm sau này :

Khi chúng ta cầm tay mọi người Đất Nước vẹn tròn to lớn…

Tóm lại, Tố Hữu đã đặt mình giữa dòng đời và trong môi trường rộng lớn của quần chúng lao khổ Ởđấy, nhà thơ tìm thấy niềm vui và sức mạnh mới bằng sự giao cảm của trái tim Qua đó, nhà thơ cũng khẳngđịnh mối liên hệ sâu sắc giữa văn học và cuộc sống, mà chủ yếu là cuộc sống của quần chúng nhân dân

3 – Khổ thơ cuối : Sự chuyển biến sâu sắc trong tâm hồn nhà thơ.

Từ sự nhận thức mới về lẽ sống (khổ thơ 2), đến khổ thứ ba nhà thơ thể hiện những chuyển biến sâu sắc trong tâm hồn mình

Trước khi được giác ngộ lí tưởng, Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản Lí tưởng cộng sản không chỉgiúp nhà thơ có được lẽ sống mới mà còn giúp nhà thơ vượt qua tình cảm ích kỉ, hẹp hòi của giai cấp tiểu tư

sản để có được tình hữu ái giai cấp đối với quần chúng lao khổ Hơn thế, đó còn là tình thân yêu ruột thịt

(của Tố Hữu ) với quần chúng “lao khổ” :

Tôi đã là con của vạn nhà

… Không áo cơm, cù bất cù bơ…

Những điệp từ “là” cùng với các từ “con”, “em”, “anh” và số từ ước lệ “vạn” (chỉ số lượng hết sức

đông đảo) khẳng định một tình cảm gia đình thật đầm ấm, thân thiết Nhà thơ đã cảm nhận sâu sắc bản thânmình là một thành viên của đại gia đình quần chúng lao khổ

Tấm lòng đồng cảm, xót thương của nhà thơ còn biểu hiện thật xúc động, chân thành khi nói tới

những “kiếp phôi pha” (những người lao động vất vả, dãi dầu nắng mưa), những em nhỏ “không áo cơm, cù

bất cù bơ” (những em bé lang thang vất vưởng).

Trang 16

Cũng chính vì những người phôi pha, những em nhỏ cù bất cù bơ ấy mà người thanh niên Tố Hữuhăng say hoạt động cách mạng, và họ cũng chính là đối tượng sáng tác chủ yếu của nhà thơ sau này.

Đến đây có thể thấy, về quan điểm nhận thức và sáng tác, bài thơ là một tuyên ngôn cho tập “Từ ấy”

nói riêng và cho toàn bộ tác phẩm của Tố Hữu nói chung…

C KẾT LUẬN

Bài thơ Từ ấy là lời tâm nguyện của người thanh niên yêu nước giác ngộ lí tưởng cộng sản Sự vận

động của tâm trạng nhà thơ được thể hiện sinh động bằng những hình ảnh tươi sáng, các biện pháp tu từ vàngôn ngữ giàu nhạc điệu

Châm biếm, đã kích tình trạng thối nát của bọn quan lại ở TQ thời Tưởng Giới Thạch

3 CÂU ĐẦU: Nêu lên 3 nhân vật có quyền hành và 3 hành động quen thuộc của họ

► CÂU 1: Giam phòng ban trưởng thiên thiên đổ

– Câu thơ cho biết công việc hàng ngày của ban trưởng là đánh bạc Tác giả biết được điều này vì y đánh bạc ngay trong tù, đánh bạc với tù nhân một cách công khai

– Nhà thơ đã sử dụng nghệ thuật đối lập và khai thác mâu thuẫn để trực tiếp đã kích ban trưởng của nhà lao:

+ Ban trưởng là người đứng đầu nhà giam – một nhân vật cỡ lớn trong nhà tù, có trách nhiệm giám sát, góp phần cải tạo tù nhân Trong nhà tù cũng đang giam giữ một số tội nhân can tội đánh bạc.+ Nhưng ban trưởng nhà lao lại chuyên đánh bạc, đánh bạc một cách công khai mỗi ngày

→ Qua đây, câu thơ toát ý nghiac châm biếm, mỉa mai, đã cho ta thấy một sự thật trớ trêu, cười ra nước mắt, không còn gì là công lí Ban trưởng nhà lao đã biến nhà tù thành xòng bạc, biến nơi thực thipháp luật thành nơ thủ tiêu pháp luật

► CÂU 2: Cảnh trưởng thư, thôn giải phạm tiền

– Câu thơ lại cho thấy một sự thật đắng cay trong nhà tù Tác giả đã không hề né tránh mà chỉa thẳng mũi dùi châm biếm đã kích vào đối tượng Trong nguyên tác, HCM đã nói rõ ràng cụ thể, cảnh trưởng tham lam lấy tiền của tội nhân lúc dẫn giải

– Cảnh trưởng là một nhân vật quyền thế giống như Cảnh sát trưởng, là nhân vật chuyên trấn át tội phạm, góp phần cải tạo con người, nhưng lại đi phạm tội & lộ rõ bản chất tham lam, tham nhũng Càng trớ trêu thiny lại đi tham lam nhũng nhiễu phạm nhân & thử hỏi, nếu phạm nhân không có tiền thì sẽ khốn khổ đến dường nào!

► CÂU 3: Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự

– Câu thơ mở ra một ý mới, nói tới một nhân vật có quyền cao hơn ở ngoài phạm vi nhà giam, là người đứng đầu của huyện Lai Tân

– Câu thơ không khỏi làm người đọc băn khoăn:

+ Phải chăng đây là một vị quan tốt, một vị quan mẫu cán biết lo cho nước cho dân Không mắc phảinhững tật xấu, không dính đến những tội lỗi nhu bản trưởng, cảnh trưởng

+ Nhưng đặt câu thơ trong mạch thơ của toàn bài ta phát hiện ý châm biếm mỉa mai hết sức sâu cay.Nếu đây là một vị quan tốt, biết lo cho nước cho dân, làm việc không quản ngày đêm thì TẠI SAOdưới quyền ông lại có những thuộc hạ mắc nhiều nhược điểm xấu xa?! Vậy y chông đèn làm công việcgì? Phải chăng là đê hút thuốc phiện?

► CÂU 4 (câu kết): Lai Tân y cựu thái bình thiên

– Theo logic người đọc chờ đợi ở câu kết một lời mỉa mai châm biếm, tố cáo mạnh mẽ mẽ lên ánquyết liệt tình trạng thối nát của bọn quan lại ở Lai Tân, nhưng HCM lại hạ 1 câu thơ có vẻ hờ hững,dững dưng vô cảm Tuy nhiên câu kết là đòn đánh rất hiểm mà trong văn chương xưa gọi là “tiền vănkhông đoán được hậu văn”

Ngày đăng: 01/08/2016, 13:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w