1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đề thi và đáp án thi thử đại hoc môn văn 2013

56 1,2K 11
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyên đề luyện thi đại học môn văn
Tác giả Quang Dũng
Trường học 123doc.vn
Chuyên ngành Văn
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 56
Dung lượng 493,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tài liệu ôn thi đai học môn ngữ văn

Trang 1

CHUYÊN ĐỀ LUYỆN THI ĐẠI HỌC

MÔN VĂN

Hà Nội,2011

Trang 2

MỤC LỤC

ĐỀ 1: PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

ĐỀ 2: PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ HIỆN THỰC VÀ NHÂN ĐẠO CỦA TRUYỆN "VỢ CHỒNG A

PHỦ"

ĐỀ 3: PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO CỦA TÁC PHẨM "VỢ NHẶT"

ĐỀ 4 : TƯ TƯỞNG ĐẤT NƯỚC LÀ CỦA NHÂN DÂN QUA ĐOẠN THƠ CUỐI TRONG B ẰI

THƠ "ĐẤT NƯỚC"

ĐỀ 5: VI HÀNH (NGUYỄN ÁI QUỐC)

THAM KHẢO : BÀI VĂN ĐẠT ĐIỂM 10 ĐẠI HỌC 2008

ĐỀ 6 : PHÂN TÍCH TÍNH CHÍNH LUẬN MẪU MỰC CỦA "TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP"

ĐỀ 7: THU ĐIẾU, THU ẨM, THU VỊNH - NGUYỄN KHUYẾN

ĐỀ 8: PHÂN TÍCH ĐOẠN TRÍCH "ĐẤT NƯỚC" CỦA NGUYỄN KHOA ĐIỀM

ĐỀ 9: PHÂN TÍCH TÁC PHẨM "RỪNG XÀ NU" CỦA NGUYỄN TRUNG THÀNH

ĐỀ 10: BÌNH LUẬN VỀ QUAN ĐIỂM NGHỆ THUẬT CỦA NAM CAO

Trang 3

ĐỀ 1: PHÂN TÍCH BÀI THƠ TÂY TIẾN CỦA QUANG DŨNG

(Muốn phân tích hay cần hiểu được hoàn cảnh ra đời của bài thơ Tây Tiến)

Bài làm 1:

Tôi đã được nghe nhiều về bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng nhưng gần đây mới được thưởngthức trọn vẹn cả bài thơ Và tự như một thỏi nam châm bằng chất nhạc kỳ diệu, bằng hòa khícách mạng sôi nổi…Tây Tiến đã cuốn hút tôi một cách khác thường

Ra đời từ những năm đầu kháng chiến chống Pháp, cùng một đề tài người lính với Nhớ củaNguyên Hồng, Đồng chí của Chính Hữu, nhưng Tây Tiến của Quang Dũng vẫn có một gươngmặt riêng thật khó quên, mang đậm hào khí lãng mạn của một thời, gắn với một giai đoạn lịch sửđấu tranh anh dũng của dân tộc

Tây Tiến không có một sáng tạo gì khác thường, đốt xuất mà vẫn là sự tiếp tục của dòng thơ lãngmạn nhưng đã được tác giả thổi vào một hồn thơ rất mới và rất trẻ khác hẳn với những tiếng thơ

bi lụy, não nùng trước đó Tây Tiến nhắc nhở một thời gian khổ và oanh liệt của lịch sử đất nướcnhưng được thể hiện theo cách riêng đặc đắc qua ngòi bút Quang Dũng với tâm trạng cụ thể: nỗinhớ đồng đội trong đoàn quân Tây Tiến Chính niềm thương nhớ máu thịt và niềm tự hào chânthành của Quang Dũng về những người đồng đội của ông là âm hưởng chủ đạo của bài thơ,khiến cho người đọc cảm động sâu xa

Bài thơ mở đầu bằng nỗi nhớ da diết, trải rộng cả không gian và thời gian mênh mông

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi.

Tác giả nhớ về những ngày ở Tây Tiến, nhớ những người đồng đội và nỗi nhớ ấy đã thốt lênthành lời gọi Văn học ta có nhiều câu thơ diễn tả nỗi nhớ…nhưng “nhớ chơi vơi” thì có lẽQuang Dũng là người đầu tiên mạnh dạn sử dụng Nỗi nhớ ấy gợi xa về cả không gian, thời gian

và tầm cao nữ, nỗi nhớ như có dáng hình bềnh bồng, bềnh bồng Quang Dũng viết bài thơ nàykhi mới xa đoàn quân Tây Tiến, xa mà không hẹn ước, không biết ngày gặp lại Cảm giác về thờigian trải dài tạo nên nỗi “nhớ chơi vơi”, bâng khuâng khó tả

Rồi cứ thế, nỗi nhớ đồng đội ấy lan tỏa, thấm đượm nồng nàn trên từng câu thơ, khổ thơ Có lẽnói bài thơ được xây dựng trên cảm hứng thương nhớ triền miên với bao kỷ niệm chống chất, ào

ạt xô tới:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi.

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Sài Khao, Mường Lát, những địa danh rất Tây Bắc cũng góp phần gợi nỗi nhớ chơi vơi Hìnhảnh Tây Bắc được hiện lên trong câu thơ thật mịt mù và cải mệt mỏi của đoàn quân như lẫn vàosương Bên cạnh cái gian khổ lại có một cái rất thơ, dường như huyền thoại:

Trang 4

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Câu thơ rất độc đáo, hoa về chứ không phải hoa nở, đêm hơi chứ không phải là đêm sương Hoahiện ra mờ mờ trong sương, trong màn sương vẫn cảm thấy hoa Câu thơ đẹp, huyền ảo, lunglinh quá! Đọc đến đây, cái “mỏi” của đoàn quân dường như đã tan biến hết Quang Dũng thật tàitình khi viết một câu thơ hầu hết là thanh bằng nhẹ nhàng, lâng lâng, chơi vơi như sương, nhưhoa, như hồn người, khác với:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời.

Những câu thơ giàu chất tạo hình như vẽ lại được cả chặng đường hành quân đầy gian khổ, khókhăn Tác giả không viết súng chạm trời mà là “súng ngửi trời” rất sinh động, nghịch ngợm,thông minh, hóm hỉnh

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Câu thơ ngắt nhịp ở giữa gợi hình ảnh dốc rất cao, rất dài nhưng ngay sau đó lại là một câu thơtoàn vần bằng Xuân Diệu trước đây cũng chỉ viết được hai câu toàn vần bằng mà ông rất tâmđắc:

Sương nương theo trăng ngừng lưng trời

Tương tư nâng lòng lên chơi vơi.

Còn Quang Dũng trong Tây Tiến đã có khá nhiều câu thơ hầu hết là vần bằng, chất tài hoa củaông bộc lộ ở đó

Tây Tiến đặc tả cận cảnh Con người và cảnh vật rừng núi miền Tây Tổ quốc được tác giả thểhiện ở khoảng cách xa xa, hư ảo với kích thước có phần phóng đại khác thường Trong khổ thơthứ nhất này từng mảng hình khối, đường nét, màu sắc chuyển đổi rất nhanh, bất ngờ trong mộtkhung cảnh núi rừng bao la, hùng vĩ như một bức tranh hoành tráng Câu thơ “Mường Lát hoa vềtrong đêm hơi” không thể nói rõ mà chỉ cảm nhận bằng trực giác Nếu “thơ là nơi biểu hiện đầy

đủ nhất, sâu sắc nhất ma lực kỳ ảo của ngôn ngữ” thì câu thơ này cũng đúng như vậy

Thiên nhiên trong Tây Tiến cũng như trong thơ Quang Dũng bao giờ cũng là một nhân vật quantrọng, tràn đầy sinh lực và thấm đượm tình người Hồn thơ tinh tế củ tác giả bắt rất nhạy từ mộtlàn sương chiều mỏng, từ một dáng hoa lau núi phất phơ đơn sơ bất chợt, rồi ông thổi hồn mìnhvào đó và để lại mãi trong ta một nỗi niềm bâng khuâng thương mến và một áng thơ đẹp:

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ.

Trang 5

Khung cảnh thiên nhiên hiện lên ở Tây Tiến thật hoang sơ, kỳ vĩ Trên cái nên thiên nhiên dữ dội

có hình ảnh đoàn quân Tây Tiến thật nhỏ bé nhưng chính sự đối lập tương phản đó càng làm tăngkhí phách anh hùng, kẻ thù cũng như gian khổ không gì khuất phục nổi

Trên đường hành quân đã có những người lính hy sinh Tác giả không ngần ngại nói đến cáichết:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời.

Quang Dũng là một nhà thơ xuất thân tiểu tư sản nên ông miêu tả cái chết cũng rất lãng mạn.Hình ảnh “Gục lên súng mũ bỏ quên đời” vừa gợi thương nhưng cũng rất bình thản Những chiến

sỹ Tây Tiến là những thanh niên Hà Nội chưa quen chuyện gươm súng gian khổ và họ đã ngãxuống sau những dãi dầu sương gió Hình như tác giả không muốn người đọc chìm sâu trongcảm giác xót thương nên ngay sau đó là hình ảnh hào hùng của thiên nhiên:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người.

Biết bao nhiêu điều đe dọa sinh mạng người lính Câu thơ nói về những hiểm nguy ấy với giọngđiệu ngang tàng, coi thường, xóa đi sự bi lụy của cảm xúc ở câu trên “Cọp trêu người” – có mộtcái gì đó rất nghịch ngợm, rất lính

Trong trường ca Từ đêm mười chín của Khương Hữu Dụng cũng có những câu nói về gian truân,nguy hiểm mà người lính phải gánh chịu:

Đây cao vòi vọi dốc ông Mạnh

Đây ầm ầm đổ thác Không Tên

Có suối chân hùm vừa để dấu

Có lùm cây vút tuyệt đường chim.

Nhưng không mạnh mẽ bằng Tây Tiến

Và đằng sau những trắc trở ấy lại là cảnh thanh bình, yên ấm:

Ôi nhớ Tây Tiến cơm nên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Câu thơ gợi cảm giác nồng nàn, no nê, đầy đủ những kỷ niệm đơn sơ, nhỏ bé trong cuộc sốngđời lính thường ngày cũng hóa thành gần gũi, ấm lòng Hương thơm ấy không chỉ là hương “nếpxôi” mà còn là hương từ đôi bàn tay em – cô gái Mai Châu

Quang Dũng nhớ về người lính Tây Tiến gian khổ, hy sinh nhưng không bi lụy, mà vẫn hùng,vẫn thơ Tác giả sử dụng những từ ngữ, hình ảnh, âm thanh mwois mẻ, gợi cảm và có chút lãngmạn

Trang 6

Tác giả chuyển mạch cảm xúc rất tự nhiên, nói những kỷ niệm đẹp trong cuộc sống với cảnh,người, tình quân dân đầm ấm, khó quên:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ.

“Hội đuốc hoa”, “xiêm áo” gợi cái gì về đếm cưới ngày xưa và có vẻ “e ấp” của “nàng” làm chocâu thơ thêm gợi cảm Câu thơ lâng lâng, dìu dặt như tiếng khèn đưa người về một nơi rất xa

Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ.

Câu thơ có tính chất hư ảo, hình ảnh hoa lau gợi nhớ đến bài thơ Lau mùa thu của Chế Lan Viên:

Ngàn lau cười trong nắng

Hồn của mùa thu về

Hồn mùa thu sắp đi

Ngàn lau xao xác trắng.

Quang Dũng không chỉ là một người tài hoa mà còn rất hào hoa khi ông viết:

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Câu thơ: “Có nhớ dáng người trên độc mộc” rất giàu chất tạo hình Nhà thơ yêu đất nước, yêuđến từng dòng suối, dáng người, cánh hoa Nếu không có chất thơ ấy cuộc đời sẽ mất đi nhiều ýnghĩa, có chất thơ ấy gian khổ sẽ trở thành hào hùng

Khổ thứ tư, tác giả trở lại với những gian khổ hy sinh của người lính:

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Đọc những câu thơ này tưởng như ứa nuwocs mắt vì thương cảm Những người lính bị sốt rétrụng hết cả tóc, người “xanh tàu lá” Và những nguwoif lính dũng mãnh ấy, tâm hồn cũng thậtdịu hiền và lãng mạn:

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Nhà thơ dùng từ rất tài hoa “kiều thơm” để chỉ những cô gái đẹp của Hà Nội Giữa chiến trườngmiền Tây vô cùng khốc liệt, nếu người lính không biết mơ mộng, thi vị hóa cuộc sống về mụcđích cao xa hơn thì sẽ gục ngã trong hiện thực đầy khắc nghiệt ấy Chất men lãng mạn, vượt lêntrên hoàn cảnh Do vậy, dù miêu tả rất đậm sự gian khổ, khốc liệt của chiến trường, của ngườilính chinh chiến mà bài thơ không đượm chút sắc bi quan, u ám nào khiến con người run sợ, nảnlòng

Trang 7

Hơn một lần trong bài thơ tác giả nói về cái chết:

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Với lòng yêu nước nồng nàn, cả một thế hệ người con ưu tú của dân tộc đã ra đi bảo vệ Tổ quốc.Không phải họ không biết đến những hy sinh, mất mát nhưng vẫn vui vẻ ra đi, không tính toánhơn thiệt mặc dù mắt vẫn nhìn thấy những nấm “mồ viễn xứ” nằm “rải rác biên cương” Lýtưởng cách mạng và tuổi trẻ đã truyền cho các chàng trai Tây Tiến chất ngang tàng anh hùng và

cả chất men say lãng mạn đáng yêu nữa, ngay cả khi đối mặt với cái chết cũng phảng phất nétnghệ sỹ tài tử, anh hùng hảo hán thời xưa, coi cái chết “nhẹ tựa lông hồng”, “chiến trường đichẳng tiếc đời xanh” Cái chết của người lính là cái chết bi tráng chứ không bi lụy, mềm yếu Đã

có một thời nguwoif ta tránh nói về cái chết, về những mất mát Nhưng có chiến thắng nào màkhông trả giá bằng máu và nước mắt Và “không có gì cao cả hơn một nỗi đau buồn lớn (An-phrêt-đơ Muyt-xê)

Nét đặc sắc của Tây Tiến là nói về chiến tranh mà không có một chữ đánh và có ba lần miêu tảcái chết, nhưng Quang Dũng nói một cách rất giản dị: “bỏ quên đời”, “về đất”, “hồn về” để bìnhthường hóa cái chết Chúng ta có nhiều bài thơ nói về cái chết của người lính như Nấm mồ vàcây trầm của Nguyễn Đức Mậu:

Cái chết bay ra từ nòng súng quân thù

Nhận cái chết cho đồng đội sống

Ngực chắn lỗ châu mai, Hùng đứng thẳng

Đồng đội xông lên nhìn thấy Hùng cười.

…Hùng nằm trong nôi của đất rộng còn nhiều nữa nhưng chưa bài nào sánh nổi Tây Tiến QuangDũng chỉ bằng vài dòng thơ đã khắc họa thật sâu và xúc động về cái chết vừa bi thiết vừa hùngtráng, mà xiết bao cao cả của người chiến sỹ Để tiễn đưa người lính vô danh ra đi tác giả khôngcần một lời ngợi ca, cũng không cần một giọt nước mắt xót thương Ông chỉ để cho trời đấtchứng giám và thu nhận thể xác linh hồn người lính vào lòng Nhưng những người lính ấy không

hề chết, mà còn sống mãi trong lòng chúng ta:

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Những người lính hiểu rằng cuộc chiến đấu còn dài có thể họ sẽ ngã xuống vì Tổ quốc “đi khônghẹn ước” Con đường trở về không biết đến bao giờ nhưng người lính không buồn nản Điều đóbiểu hiện chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng Họ ra đi mang theo cả nỗi nhớcủa người ở lại

Bốn mươi ba năm đã trôi qua, kể từ ngày Tây Tiến ra đời Vượt qua sức cản phá của thời gian,

Trang 8

Tây Tiến vẫn còn sức quyến rũ chúng ta hôm nay, gợi nhớ về “những năm tháng không quên”trong lịch sử dân tộc Có thể nói Tây Tiến là “một tượng đài bất tử” về người lính vô danh màQuang Dũng đã dựng lên bằng cả tâm hồn mình để tưởng niệm một thế hệ thanh niên đã hănghái, anh dũng ra đi mà nhiều người trong số họ không về nữa Tây Tiến in đậm một phong cáchthơ Quang Dũng, tài hoa, độc đáo.

(Bài của Vũ Thị Thu Hương – Học sinh trường THPT Công Nghiệp A – Hà Tây)

BÀI LÀM 2:

“Có một bài ca không bao giờ quên…”

Có một bài ca như thế Cũng có những năm tháng không bao giờ quên, không phai mờ trong ký

ức của nhiều thế hệ đã qua, hôm nay và mai sau Đó chính là những ngày tháng kháng chiếnchống Pháp, khi toàn dân tộc bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ với tất cả sức lực, niềm say

mê Chúng ta vừa qua nạn đói, vừa giành được độc lập thì thực dân Pháp trở lại xâm lược Dấu

ấn của nạn đói năm 45 vẫn còn, rất đậm, trong mỗi người Việt Nam Tự do hay trở về cuộc đờicũ? Đấy là câu hỏi day dứt bao người Theo tiếng gọi của tự do, những người nông dân, côngnhân, học sinh, những người mẹ, người chị tham gia kháng chiến, tạo nên hào khí dân tộc củamột thời đại

Trong những năm tháng đáng nhớ ấy, văn học dù chưa dám nói là đã ghi lại trọn vẹn bộ mặt đấtnước, nhưng cũng đã ghi lại được hào khí của một thời với hình ảnh bao người mà hình ảnhtrung tâm là người chiến sỹ cụ Hồ Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng cũng ra đời trong hoàncảnh chung đó

Bài thơ sáng tác tại Phù Lưu Chanh năm 1948 khi Quang Dũng đã chuyển đơn vị Nhưng nhữngngày tháng sống và chiến đấu ở đoàn quân Tây Tiến là những kỷ niệm khó quên nên nỗi nhớ TâyTiến da diết, cồn cào trong lòng tác giả Toàn bài thơ là một nỗi nhớ Tác giả nhớ về cuộc sốnggian khổ, nhớ về kỷ niệm những đêm liên hoan, về cái âm u hoang dã của rừng núi và in đậmnhất là nỗi nhớ của người lính Tây Tiến

Ra đi kháng chiến khi còn là thanh niên, học sinh Hà Nội Quang Dũng cũng như đồng đội tácgiả trở thành người lính Kỷ niệm làm người lính Tây Tiến đã xa mà lại gần, để khi trở lại, tác

Trang 9

giả phải bật lên:

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Câu thơ kết thúc bằng dấu chấm than cùng với âm hưởng của vần ơi, tạo nên xúc cảm lớn Hànhảnh đó là tiếng nói của Quang Dũng vang vọng dến đoàn quân Tây Tiến? Không! Đó là tiếnglong của tác giả “Xa rồi Tây Tiến ơi” nhưng tấm lòng thì vẫn thiết tha lắm! Âm hưởng câu thơ

có sức vọng làm cho tiếng lòng của Quang Dũng như xoáy sâu vào tâm hồn người đọc Ngườiđọc rung theo những xúc cảm do câu đầu mang lại để đến với nỗi nhớ Tây Tiến:

Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi

Nỗi nhớ mới lạ lùng làm sao? “Nhớ chơi vơi!” Hình như trong ca dao ta cũng bắt gặp:

Ra về nhớ bạn chơi vơi

Nỗi nhớ “chơi vơi” là nỗi nhớ không định hình, khó nắm bắt đã diễn tả bằng lời Nỗi nhớ ấy bao

la, bát ngát lại có chiều sâu Nói muốn tràn ra khỏi không gian để xoáy vào lòng người Mộtngười ngoài cuộc hẳn không thể có nỗi nhớ ấy Chỉ có Quang Dũng với nỗi lòng của mình mới

có nỗi nhớ ấy mà thôi Với tấm lòng tha thiết thì hẳn nỗi “nhớ chơi vơi” là điều hoàn toàn có lý.Cũng sử dụng vần “ơi!” câu thơ có sức lan tỏa rộng Vần “ơi” lan ra theo nỗi nhớ “chơi vơi” củatác giả

Thông thương thường khi nhớ về một điều gì, người ta thường nhớ đến những kỷ niệm đẹp để lạidấu ấn không quên Quang Dũng nhớ đầu tiên là nhớ về rừng núi

Nhớ về rừng núi…

Rừng núi là nơi xưa kia tác giả cùng đồng đội đã cùng sống, cùng chiến đấu Rừng núi in đậmbao nỗi khổ, bao niềm vui nối buồn của người chiến sỹ Hơn ai hết, tác giả là người trong cuộc,tác giả nhớ về rừng núi, những khó khăn gian khổ mà mình đã từng nếm trải:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi.

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mấy súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi.

Mặc dù cuộc sống gian khổ không phải điều nhà thơ chú trọng phác họa nhưng trước mắt ta vẫn

Trang 10

hiện ra cái khắc nghiệt của rừng núi Nhà thơ Tố Hữu đã từng có những câu thơ:

Năm mươi sáu ngày đêm khoét núi, ngủ hầm

Mưa dầm cơm vắt

Máu trộn bùn non

Gan không núng, chí không mòn.

Tố Hữu mô tả thẳng cảnh sống người lính Quang Dũng không làm thế Quang Dũng chỉ mô tảcái hoang vu, hoang dã của một vùng rừng núi nhưng qua cảnh đó ai cũng hiểu rằng đời lính lànhư thế đó Họ sống giữa thiên nhiên như vậy đó Với những địa danh xa lạ “Sài Khao”, “MườngLát”, “Pha Luông” rừng núi như càng trở nên xa ngái, hoang vu hơn Hơn thế, cần phải nhớ rằngđoàn quân Tây Tiến hầu như toàn là những chàng trai trẻ Hà Nội theo tiếng gọi kháng chiến ra

đi, nhiều người còn là học sinh nên cảnh rừng núi càng xa lạ, đáng sợ hơn Quang Dũng là ngườitrong cuộc sống hiểu tâm lý ấy rất rõ

Nỗi nhớ rừng núi bắt đầu bằng những cuộc hành quân:

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Những cuộc hành quân đi qua và những cuộc hành quân mới lại tiếp nối trong cuộc đời ngườilính của Quang Dũng Nhưng có lẽ cái mỏi mệt của những cuộc hành quân lần đầu sẽ không baogiờ đi qua cùng năm tháng cũng như rừng sương “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi” sẽ in mãidấu ấn, câu thơ chùng xuống, đều đều gợi lên sự mỏi mệt, bải hoải làm ta tưởng chừng như đoànquân Tây Tiến sắp ngã, sắp chìm đi trong sương Nhưng không, âm điệu bài thơ lại vút lên bởimột câu vần bằng:

Mường Lát hoa về trong đêm hơi.

Câu thơ ấy đã xóa đi cái mệt mỏi của đoàn quân Tây Tiến, để đoàn quân tiếp bước Những khókhăn lại cứ rải trên đường người lính đi qua:

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống.

Câu thơ với “khúc khuỷu” làm nên cảm giác hình như con đường đi khó khăn quá! “Dốc thămthẳm” lại làm cho những khó khăn như nhiều hơn, dài ra theo tính chất “thăm thẳm” của con dốc

và trên những đường dốc ấy “Súng ngửi trời” Chỉ riêng “heo hút cồn mây” đã gợi lên mộtkhông khí vắng vẻ, hoang sơ của rừng núi, súng ngửi trời cộng thêm vào cái vẻ đơn độc của

Trang 11

người lính giữa đèo cao.

Những khó khăn gian khổ nhiều là thế nhưng lại nhẹ đi bởi câu thơ vần bằng tiếp sau:

Nhà ai Pha luông mưa xa khơi.

Cứ như thế, những câu thơ vần bằng xen giữa những câu thơ vần trắc, âm hưởng đoạn thơ trởnên trùng điệp hơn, âm điệu ấy cứ theo suốt bài thơ, cùng với cách dùng từ cổ kính của QuangDũng góp phần tạo nên nét lãng mạn mà hào hùng cho bài thơ

Cả khổ thơ đầu là những khó khăn của vùng rừng núi, của thiên nhiên hoang sơ Đứng trước bứctranh dữ dội ấy, ai cũng thầm nghĩ: vậy người lính sống như thế nào nhỉ?

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm mường Hịc cọp trêu người.

Quang Dũng tả rất thực những khó khăn của cuộc kháng chiến mà đoàn quân Tây Tiến đã gặpnhưng không làm bài thơ trở nên bi thảm, lòng người bi quan mà chỉ để ngợi ca người lính Tácgiả lại tiếp tục đưa ta đến với người lính bằng ngòi bút rất thực ấy Trước gian khổ, trên đườnghành quân, nhiều người đã nằm lại mảnh đất xa lạ để không bao giờ tỉnh dậy:

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Nhưng anh hùng làm sao, những con người ngã xuống ấy! Người lính không chịu nỗi khổ hysinh nhưng cũng tìm được cho mình một tư thế chết của người chiến sỹ:

Gục lên súng mũ bỏ quên đời.

“Bỏ quên đời” chỉ là cách nói nhằm giảm nhẹ sự mất mát, tang thương khi người lính lìa trần.Nhưng hình ảnh sử dụng rất đắc là hình ảnh “gục lên súng mũ” Ta chợt nhớ đến dáng đứng củaanh giải phóng quân về sau:

Anh ngã xuống trong khi đang đứng bắn

Máu anh tuôn theo lửa đạn cầu vồng.

Dáng đứng của anh giải phóng quân mãi mãi đi vào lòng người dân trong kháng chiến chống Mỹthì dáng ngã xuống gục xuống của anh lính cụ Hồ hẳn sẽ không phai mờ trong tâm hồn củaQuang Dũng, của đoàn quân Tây Tiến và của những người tham gia kháng chiến “Gục lên s úng

Trang 12

mũ” cũng là cách nói nhẹ và cũng là cách nói của những người thanh niên trí thức lúc bấy giờ.Người lính ra đi nhưng đồng đội anh lại tiếp bước.

Những khó khăn lại đến:

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm mường Hịch cọp trêu người.

Hình như ai đó đã nói về cách sử dụng từ “Mường Hịch” của Quang Dũng Địa danh đọc lên cócảm giác như tiếng chân cọp đi trong đêm Rừng núi trở nên rờn rợn, nguyên vẻ hoang sơ của nó

Ở nơi xa xôi con người lần đầu đặt chân, thiên nhiên là chủ thì khó khăn cũng như tăng lên gấpbội Nhưng nét lạc quan, vui vẻ của người lính vẫn chẳng thể mất dọc cuộc hành trình:

Ôi nhớ Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.

Quang Dũng lại nhớ về những kỷ niệm của những đêm liên hoan Nhịp điệu câu thơ như có gìnáo nức, rộn rã:

Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

Kìa em xiêm áo tự bao giờ

Khèn lên man điệu nàng e ấp

Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ

Nguwoif đi Châu Mộc chiều sương ấy

Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

Có nhớ dáng người trên độc mộc

Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa.

Cái dữ dội, hoang dã của thiên nhiên trong hai khổ thơ đầu như biến mất đi sau những kỷ niệmvui của đoàn quân Tây Tiến Nét nghịch ngợm vui tươi của những chàng trai thanh niên Hà Nộixúng xính giả làm con gái cùng tiếng nhạc và vẻ e ấp giả vờ, câu thơ với hai chữ “kìa em” vừamang vẻ ngạc nhiên vừa mang nụ cười thoải mái của người chiến sỹ Những kỷ niệm vui đó hẳn

sẽ không quên trong lòng người cũng như vẫn còn nguyên vẹn trong lòng Quang Dũng vậy.Cùng với sự vui tươi, người lính Tây Tiến còn sống với bản lĩnh lãng mạn, với tâm hồn giàu chấtthơ, giàu cảm xúc của mình Một dáng người trên độc mộc vào một buổi chiều sương, một khómhoa đong đưa trên dòng nước lũ…tất cả đi vào nhẹ nhàng cho cả đoạn thơ

Quang Dũng xa Tây Tiến nhưng khoảng thời gian ấy chưa lâu nên kỉ niệm Tây Tiến vẫn cònnguyên vẹn Nỗi nhớ “chơi vơi” trải khắp bài thơ nhưng đọng nhất vẫn là nỗi nhớ về người línhTây Tiến Có lẽ người lính Tây Tiến, hình ảnh của họ đã ăn sâu tận trong máu thịt của tác giả:

Trang 13

Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Câu thơ đầu hoàn toàn tả thực về người lính kháng chiến, nổi tiếng bởi tên gọi “Vệ trọc” Giữarừng núi hoang sơ, nạn sốt rét là nạn mà người lính thường mắc phải sốt rét đến nỗi trọc cả đầuchỉ còn một vài sợi tóc lưa thưa, đến nỗi da xanh xao “màu lá”

Bệnh sốt rét ác nghiệt như Chính Hữu đã từng mô tả:

Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi.

Sốt rét là bệnh tiêu biểu thường gặp ở người lính, khi Quang Dũng nói về điều này, tác giả muốnnói cho ta biết, người lính Tây Tiến sống như thế đấy! Họ sống và chiến đấu với cả gian khổ, cảbệnh tật nữa Giữa bao nhiêu khó khăn người lính vẫn:

Quân xanh màu lá dữ oai hùm.

Nét dữ tợn của người chiến sỹ Tây Tiến ở đây không làm nhạt tí nào hình ảnh người lính TâyTiến trong ta Bệnh tật, yếu đau tưởng chừng làm người chiến sỹ yếu đuối nhưng ta bất ngờ vìdáng vẻ “dữ oai hùm” làm mất đi sự yếu đuối của “đoàn quân không mọc tóc” và của “quânxanh màu lá” giúp cho câu thơ trên tiếp tục:

Mắt trừng gửi mộng qua biên giới

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm.

Đây chính là hai câu thơ tập trung nhất vẽ nên bức tranh người lính Tây Tiến và cũng là hai câuthơ hay nhất trong cả bài thơ Người lính Tây Tiến sống với hình ảnh quê hương Hà Nội, chiếnđấu với tương lai trước mặt Hai câu thơ vừa mang nét lãng mạn của người chiến sỹ vừa có néthào hùng Mắt người lính “trừng” nhưng không hề mang nét dữ tợn, đấy chỉ là quyết tâm của họ

Họ quyết tâm chiến đấu cho Tổ quốc, đất nước, điều này là điều tâm niệm của mỗi người Nhưngngười lính không đánh mất đi nét đẹp tâm hồn: sự mộng mơ Hai câu thơ trên có thời đã bị đem

ra chỉ trích cùng với bài thơ đó là buồn rớt, bi quan, là tiểu tư sản Đành rằng câu thơ có thoángnét buồn cũng như bài thơ có thoảng những nét buồn: nhưng buồn ở đây đâu có làm mất đi quyếttâm của người lính Tây Tiến Quyết tâm đánh giặc và lãng mạn phải kết hợp hài hòa mới có thểtạo nên vẻ đẹp tâm hồn người chiến sỹ một cách sâu sắc (Đây là điểm mà đã có một thời vì hoàncảnh lịch sử, vì một lý do nào đó người ta đã quên đi hay cố tình quên đi) Người lính Tây Tiếnchiến đấu cho ai? Mục đích của họ hướng tới là gì nếu không phải quê hương mà cụ thể là HàNội Người lính mơ về Hà Nội, về người thiếu nữ Hà Nội thì chính những mộng mơ ấy đã tiếpthêm sức mạnh cho người chiến sỹ sống và chiến đấu Hai câu thơ chính vì thế lãng mạn mà rất

Trang 14

hào hùng!

Người lính Tây Tiến gặp bao nhiêu gian khổ Dọc con đường hành quân bao người đã ngã xuống

vì gian khổ, vì khắc nghiệt của rừng núi, vì đau ốm, bệnh tật và họ ngã xuống vì chiến đấu

Rải rác biên cương mồ viễn xứ.

Câu thơ đọc lên mà sao thảm quá Bao người nằm lại nơi xa lạ không người qua lại, chẳng baogiờ trở về Từ “rải rác” làm ta cảm giác người lính Tây Tiến ngã xuống, ngã xuống nhiều trongcuộc chiến đấu, làm ta cảm giác thấm thía cái lạnh khi những người phải từ giã cuộc đời Từ

“viễn xứ” tạo nên sự xa xôi, lạnh lẽo của rừng núi, gợi lên sự cô đơn của những người nằm lại.Câu thơ trầm xuống, xoáy vào lòng ta một nỗi buồn không thể thốt lên lời, ta tưởng chừng nhưcâu thơ sau không thể cất lên nổi, nhưng ngược lại:

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Câu thơ nhẹ nhàng như không hề mang chút gì bi thảm của những nấm mồ viễn xứ Câu thơtrước tạo nên cái “bi” câu thơ sau tạo nên nét “tráng” Cái không khí bi quan biến mất, chỉ cònlại nét ngang tang, chút thanh thản của người lính Tây Tiến “chẳng tiếc đời xanh” là cách nói củangười thanh niên trí thức Hà Nội nhưng cũng mang cả quan niệm về lý tưởng chiến đấu, ngườilính biết rằng họ còn trẻ, họ chiến đấu có thể bị hy sinh Đâu phải họ không tiếc cho tuổi trẻ.Không phải “tuổi trẻ là mùa xuân” đó sao! Nhưng cao hơn tuổi trẻ họ còn có tự do, quê hương.Con người hậu phương gửi gắm cả nỗi lòng của họ Đó là lý tưởng tại sao người lính Tây Tiếnchẳng tiếc đời xanh Họ nằm xuống nhẹ nhàng:

Áo bào thay chiếu anh về đất

Sông Mã gầm lên khúc độc hành.

Cách dùng từ “áo bào” làm câu thơ trở nên cổ kính hơn Anh ra đi mãi mãi nhưng anh ra đi là do

lẽ sống của mình sống mãi nên cái chết của anh nhẹ nhàng như “về đất” ngoài ý nghĩa làm giảm

sự đau thương? Quang Dũng không muốn có bất cứ giọt nước mắt nào rơi trên thi hài người línhTây Tiến Người lính Tây Tiến sống lãng mạn, hào hùng thì chết cũng phải như vậy Đấy chính

là lý do tác giả có ý sử dụng từ cổ kính và nói theo lối nói của người lính Tây Tiến Quang Dũngmuốn nói rằng người lính Tây Tiến chiến đấu là cho quê hương thì sự ra đi của họ cũng nhẹnhàng, thanh thản: họ về với đất Đất như người mẹ giang tay ôm đứa con yêu vào lòng và ngườichiến sỹ ngự trong vòng tay mẹ Như vậy anh hy sinh ở nơi xa nhưng linh hồn anh vẫn về bênđất mẹ Câu thơ vì thế mất đi sự bi thảm vốn có Anh chiến sỹ chết đi, quê hương ôm anh vàolòng, sông núi hát lên tiễn đưa anh:

Trang 15

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.

Bài thơ khép lại nhưng âm điệu vẫn mãi vang vọng trong tâm hồn ta Nhịp điệu trùng điệp, nétlãng mạn hào hùng của bài thơ để lại dấu ấn trong ta Có những tác phẩm đã gặp nhiều lần mà talại quên đi nhưng có những tác phẩm chỉ bắt gặp một lần lại sống mãi Ấy là Tây Tiến!

Hình ảnh người lính Tây Tiến lung linh ngời sang với cả hào khí dân tộc

đề tài Tây Bắc Tác phẩm có một giá trị hiện thực và nhân đạo đáng kể Truyện viết về cuộcsống của người dân lao động vùng núi cao, dưới ách thống trị tàn bạo của bọn thực dân phongkiến miền núi Đặc biệt truyện đã ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng và khả năng đếnvới cách mạng của họ

II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

“Ai ở xa về, có dịp vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gaibên tảng đá trước cửa, cạnh tầu ngựa Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻcủi hay đi cõng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi ”

Trang 16

Vợ chồng A Phủ mở đầu như thế , một sự mở đầu xứng đáng với giọng kể chuyện đẹp như ru Thế giới Tây Bắc đã được mở ra xa xăm kì diệu, trên cả ý nghĩa và nhạc điệu và lời văn Mộtthế giới không phải cổ tích mà như thoảng hương ca dao cổ tích, một thế giới hứa hẹn rất nhiềusức gợi cảm, qua một bức chân dung thiếu phụ buồn

Mị là một người con gái đẹp, một vẻ đẹp mang tính thuần nhất với vẻ đẹp trong văn chương Mị

có nhan sắc, và có khả năng âm nhạc, không có đàn tì bà, không có nguyệt cầm thì cô giỏi sáo vàgiỏi “uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo” Mà tài năng âm nhạc, cũng theotruyền thống thường hé mở một tâm hồn tràn đầy khát khao cuộc sống, khát khao yêu đương Quả thế, Mị đã được yêu, và đã khát khao yêu, trái tim từng đã bao nhiêu lần hồi hộp trước trước

âm thah hò hẹn của người yêu

Nhưng người con gái tài hoa miền sơn cước đó phải chịu một cuộc đời có thể nói là bạc mệnh

Để cứu nạn cho cha, cuối cùng cô đã chịu bán mình, chịu sống cảnh làm người con dâu gạt nợtrong nhà thống lí

Tô Hoài đã không quên diễn tả nỗi cực nhọc về thể xác của người con gái ấy, con người với danhnghĩa là con dâu , nhưng thực chất chính là tôi tớ Thân phận Mị không chỉ là thân trâu ngựa,

“Con trâu con ngựa làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà congái ở cái nhà ngày thì vùi vào việc làm cả ngày lẫn đêm”

Song nhà văn xem ra vẫn thông cảm nhiều hơn với nỗi đau khổ về tinh thần Chính cảm xúc vềnỗi đau thinh thần ấy đã giúp ông sáng tạo ra những ngôn từ, những hình ảnh khó quên : Một cô

Mị mới hồi nào còn rạo rực yêu đương, bây giờ lạng câm , “lùi lũi như con rùa nuôi trong xócửa” Và nhất là hình ảnh căn buồng Mị, kín mít với cái cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay, Mị ngồitrong đó trông ra lúc nào cũng thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng Đó quảthực là một thứ địa ngục trần gian giam hãm thể xác Mị, cách li tâm hồn Mị với cuộc đời, cầm cốtuổi xuân và sức sống của cô Rõ ràng tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến miền núi ở đây đãđược cất lên nhân danh quyền sống Cái chế độ ấy đáng lên án, bởi vì nó làm cạn khô nhựasống, làm tàn lụi đi ngọn lửa của niềm vui sống trong những con người vô cùng đáng sống

Mị đã tùng muốn chết mà không được chết , vì cô vẫn còn đó món nợ của người cha Nhưng dếnlúc có thể chết đi, vì cha Mị không còn nữa thì Mị lại buông trôi , kéo dài mãi sự tồn taịi vật vờ Chính lúc này cô gái còn đáng thương hơn Bởi muốn chết nghĩa là vẫn còn muốn chống lại mộtcuộc sống không ra sống, nghĩa là xét cho cùng, còn thiết sống Còn khi đã không thiết chết ,nghĩa là sự tha thiết với cuộc sống cũng không còn, lúc đó thì lên núi hay đi nương, thái cỏ ngựahay cõng nước… cũng chỉ là cái xác không hồn của Mị mà thôi

Như vậy sức sống của Mị đã vĩnh viễn mất đi ? Không phải thế, bên trong cái hình ảnh con rùa

Trang 17

lầm lũi kia dang còn một con người Khát vọng hnạh phúc có thể bị vùi lấp , bị lãng quyên trongđáy sâu của một tâm hồn đã chai cứng vì đau khổ, nhưng không thể bị tiêu tan Gặp thời cơthuận lợi thì nó lại cháy lên từ lớp tro tàn Và nó, cái khát vọng hạnh phúc đó đã bất chợt cháylên, thật nồng nàn và xót xa trong một đêm xuân đầy ắp tiếng gọi của tình yêu

Có thể nói cuộc nổi loạn lần thứ nhất trong tâm hồn Mị là đoạn văn thử thách thực sự ngòi bútcủa Tô Hoà i Làm sao có thể cắt nghĩa được vì lí do gì mà cô Mị của ngày xưa, cô Mị đầy xuântình xuân sắc lại bỗng dưng thức dậy trong người đàn bà âm thầm, chịu đựng mỏi mòn đúng vào,

và chỉ đúng vào cái đêm tình mùa xuân ấy ? Làm sao con người đã chôn vùi cả tuổi thanh xuântrong gian buồng kín mít chỉ có cái lỗ vuông nhỏ mờ mờ trăng trắng kia suốt từng ấy năm trời,vào đúng đêm ấy lại muốn vùng lên, nảy sinh ý định đi chơi xuân ? Nguyên do là bởi đất trời ?Quả thực bức tranh Hồng Ngài mùa xuân năm ấy có sức làm say đắm lòng người, ngất ngây tâmhồn tuổi trẻ Song gió rét, sắc vàng ửng của cỏ tranh, hay sự biến đổi màu sắc kì ảo của các lòahoa đẹp chưa hẳn đã đủ để làm nên cuộc nổi loạn trong một tâm hồn đã bấy nhiêu năm tê dại vìđau khổ Cần phải có những tác nhân khác nữa, mạnh mẽ hơn, có sức lôi cuốc Mị ra khỏi hiệntại để Mị trở về với chính mình của xa xưa : phơi phới , trẻ trung, yêu đời

lén uống từng bát , “uống ừng ực” rồi say đến lịm người đi Cái say cùng lúc vừa gây sự lãngquên vừa đem về nỗi nhớ Mị lãng quên thực tại (nhìn mọi người nhảy đồng , người hát màkhông nghe, không thấy và cuộc rượu tan lúc nào cũng không hay) nhưng lại nhớ về ngày trước(ngày trước, Mị thổi sáo cũng giỏi …), và quan trọng hơn là Mị vẫn nhớ mình là một con người,vẫn có cái quyền sống của một con người : “Mị vẫn còn trẻ Mị muốn đi chơi Bao nhiêu người

có chồng cũng đi chơi ngày Tết Huống chi Mị và A Sử, không có lòng với nhau mà vẫn phải ởvới nhau”

Nhưng tác nhân có tác dụng nhiều nhất trong việc dìu hồn Mị bềnh bồng về với những khát khaohạnh phúc yêu đương có lẽ vẫn là tiếng sáo bởi tiếng sáo là tiếng gọi của mùa xuân, của tình yêu

và tuổi trẻ Tiếng sáo lúc đầu đã có tình cảm lắm, nhưng còn vọng lại từ xa, mãi từ ngoài đầunúi, và Mị vẫn còn đủ tỉnh táo để để nhẩm theo lời hát ít lâu sau, tai Mị lại vẳng tiếng sáo ,nhưng không còn vẳng từ ngoài đầu núi xa nữa mà là tiếng sáo gọi bạ đầu làng Rồi đến lúctiếng sáo không chỉ là gọi bạn Nó gọi bạn yêu Và nó “lửng lơ bay ngoài đường” , như tình aikhông thể tan, như lòng ai đợi chờ, hờn trách Để rồi cuối cùng tiếng sáo rập rờn trong đầu Mị,

nó đã trở nên tiếng lòng của người thiếu phụ

Tô Hoài đã đặt Mị trong sự tương giao giữa một bên là sức sống tiềm tàng với một bên là cảmthức về thân phận Cho nên trong thời khắc âý, ta mới thấy Mị đầy rẫy những mâu thuẫn Lòngphơi phới nhưng Mị vẫn theo quán tính bước vào buồng , ngồi xuống giường, trông ra cái lỗvuông mờ mờ trăng trắng Và khi lòng ham sống trỗi dậy thì ý nghĩ đầu tiên là được chết ngay

đi

Trang 18

Nhưng rồi nỗi ám ảnh và sức sống mãnh liệt của tuổi xuân cứ lớn dần , cho tới khi nó lấn chiếmhẳn trọn bộ tâm hồn và suy nghĩ của Mị, cho tới khi Mị hoàn toàn chìm hẳn vào trong ảo giác :

“Mị muốn đi chơi Mị cũng sắp đi chơi” Phải tới thời điểm đó Mị mới có hành động như một

kẻ mộng du : quấn lại tóc , với thêm cái váy hoa, rồi rút thêm cái áo Tất cả những việc đó , Mị

đã làm như trog một giấc mơ, tuyệt nhiên không nhìn thấy A Sử bước vào, không nghe thấy A

Sử hỏi “

Rồi cái gì đến đã đến A Sử trói Mị vào cột, rồi lẳng lặng khoác thêm vòng bác đi chơi , bỏ mặc

Mị trong trạng thái mộng du đang chìm đắm với những giấc mơ về một thời xuân trẻ, đang bồngbềnh trong cảm giác du xuân Tâm hồn Mị đang còn sống trong thực tại ảo, sợi dây trói của đờithực chưa thể làm kinh động ngay lập tức giấc mơ của kẻ mộng du Cái cảm giác về hiện tại tànkhốc, Mị chỉ cảm thấy khi vùng chân bước theo tiếng sáo mà tay chân đau không cựa được Nhưng nếu cái mơ không đến một lần nữa thì sự tỉnh ra cũng vậy Lại một giai đoạn chập chờnnữa giữa cái mơ và cái tỉnh, giữa tiếng sáo và nỗi đau nhức của dây trói và tiếng con ngựa đạpvách, nhai cỏ , gãi chân Nhưng bây giờ thì theo chiều ngược lại, tỉnh dần ra, đau đớn và tê dạidần đi, để sáng hôm sau lại trở về với vị trí của con rùa nuôi trong câm lặng, mà còn câm lặnghơn trước

Nhưng có lẽ sức sống của Mị bùng lên mạnh mẽ nhất là lúc Mị cởi trói cho A Phủ Cũng như

Mị, A Phủ là nạn nhân của chế độ độc tài phong kiến miền núi Những va chạm mang đầy tính

tự nhiên của lứa tuổi thanh niên trong những đêm tình mùa xuân đã đưa A Phủ trở thành con ởgạt nợ trong nhà thống lí Và bản năng của một người con vốn sống gắn bó với núi rừng, hamthích săn bắn đã đẩy A Phủ tới hiện thực phũ phàng : bị trói đứng Và chính hoàn cảnh bi

thương đó đã đánh thức lòng thương cảm trong con người Mị Nhưng tình thương đó khôngphải tự nhiên bùng phát trong Mị mà là kết quả của một quá trình đấu tranh giằng xé trong thếgiới nội tâm của cô Mấy hôm đầu Mị vô cảm, thờ ơ với hiện thực trước mắt : “A Phủ là cái xácchết đứng đó cũng thế thôi” Câu văn như một minh chứng sự tê dại trong tâm hồn Mị Bướcngoặt bắt đầu từ những dòng nước mắt :“Đêm ấy A Phủ khóc Một dòng nước mắt lấp lánh bòxuống hai lõm má đã xạm đen” Và giọt nước mắt kia là giọt nước cuối cùng làm tràn đầy cốcnước Nó đưa Mị từ cõi quên trở về với cõi nhớ Mị nhớ mình đã từng bị trói, đã từng đau đớn

và bất lực Mị cũng đã khóc, nước mắt chảy xuống cổ, xuống cằm không biết lau đi được APhủ, nói đúng hơn là dòng nước mắt của A Phủ, đã giúp Mị nhớ ra mình, xót thương cho mình

Và đã nhớ lại mình, biết nhận ra mình cũng từng có những đau khổ, mới có thể thấy có ngườinào đó cũng khổ giống mình Từ sự thương mình, Mị dần dần có tình thương với A Phủ, tìnhthương với một con người cùng cảnh ngộ Nhưng nó còn vượt lên giới hạn thương mình : “Mình

là đàn bà … chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi còn người kia việc gì mà phải chết ” Mịcởi trói cho A Phủ để rồi bất ngờ chạy theo A Phủ Lòng ham sống của một con người như đượcthổi bùng lên trong Mị, kết hợp với nỗi sợ hãi, lo lắng cho mình Mị như tìm lại được con người

Trang 19

thật , một con người còn đầy sức sống và khát vọng thay đổi số phận

Nhà văn Tô Hoài đã viết về Mị , A Phủ với tất cả lòng yêu thương, thông cảm, và chỉ có lòngyêu thương thông cảm, Tô Hoài mới phát hiện ra vẻ đẹp tiềm tàng trong tâm hồn những conngười ham sống như Mị , như A Phủ

III KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Vợ chồng A Phủ là bản cáo trạng hùng hồn, đanh thép đối với những thế lực phong kiến , thựcdân tàn bạo áp bức bóc lột, đọa đày người dân nghèo miền núi Đồng thời nó cũng khẳng địnhkhát vọng tự do hạnh phúc , sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của những người lao động Đặc biệt đềcao sự đồng cảm giai cấp, tình hữu ái của những người lao động nghèo khổ Chính điều này đemlại sức sống và sự vững vàng trước thời gian của Vợ chồng A Phủ

ĐỀ 3: PHÂN TÍCH GIÁ TRỊ NHÂN ĐẠO CỦA TÁC PHẨM "VỢ NHẶT"

Văn học Việt Nam sau cách mạng tháng Tám không chỉ giầu tính chiến đấu mà còn giầu tínhnhân đạo Hai tính chất này không tách rời nhau, luôn gắn bó khăng khít và hỗ trợ nhau cùng

bản thảo cũ viết ngay sau cách mạng tháng Tám 1945 Khoảng cách mươi năm ấy đã giúp nhàvăn thể nghiệm sâu sắc tư tưởng của tác phẩm , làm cho nó trở thành một tác phẩm mang nhữnggiá trị nhân đạo hết sức sâu sắc và phong phú

Tràng một người vô tư, vui tính, được trẻ con yêu mến mà nay “đi từng bước mệt mỏi”, “cái đầutrọc nhẵn chúi về đằng trước” Các lều chợ đầy những người đói bồng bế , dắt díu nhau “xanhxám như những bóng ma”… Nạn đói tràn đến đang gieo rắc cái chết và xóa mất sinh khí củaxóm làng Hình như không ai tin mình có thể sống qua nạn đói , và chính cái đói đã làm mất đi

kia làm vợ Người ta thường nói cái đói làm cho con người trở nên mất giá Cô gái theo Tràngchỉ vì một câu nói đùa và bốn bát bánh đúc làm cỗ cưới Nhưng đó không phải là cách nhìn củanhà văn Với cái nhìn nhân đạo, nhà văn nhìn thấy khát vọng sống còn bức thiết của cô gái Ôngcũng thấy niềm khát khao có được vợ của anh cu Tràng Anh cũng liều lĩnh tắc lưỡi : ”Kệ” , cứđón cô ta về đã

Lòng yêu thương, trân trọng của tác giả đối với những người bất hạnh thể hiện ở cảnh dắt díunhau về làng của cả hai người Nhà văn không hề có chút rẻ rúng nào khi miêu tả cuộc về làngcủa họ Trái lại ngòi bút tươi vui, dí dỏm, tinh tế khắc họa mọi cảm nhận hạnh phúc của Tràng Hơn hai mươi lần truyện ngắn nhắc đến nụ cười của Tràng với nhiều sắc thái khác nhau Đi bênthị, anh quên đi cảm giác ê chề , tăm tối của cuộc sống hàng ngày Đó là gì nếu không phải doanh đã thấy ở cô gái một nguồn ấm áp tươi sáng tỏa rạng đời mình Về cô gái cũng vậy, côkhông hề có một chút mặc cảm thân phận “bị nhặt” Bên cạnh dáng vẻ thẹn thùng của nàng dâumới về nhà chồng, cô vẫn chế giễu Tràng “bé lắm đấy”, khi thì phết vào lưng anh và “khoặm

Trang 20

mặt” lại với anh , khi thì mắng là “khỉ gió”… Cô vẫn cảm thấy mình có đủ sức mạnh đối vớiphái mạnh như bất cứ một cô gái bình thường nào khác Họ thực sự hướng về nhau, thích thúnhau như mọi đôi tình nhân khi bắt đầu làm quen

Điều thú vị là tác giả đã để cho hai người dắt díu nhau diễu qua trước mặt dân làng Rõ ràng sựkết hợp của họ đem lại sinh khí cho cái làng đầy tử khí Trẻ con thì gào lên “Chông vợ hài” Người trong xóm thì “những khuôn mặt hốc hác u tối của họ bỗng dưng rạng rỡ hẳn lên Có cái

gì lạ lùng và tươi mát thổi vào cuộc sống đói khát , tăm tối ấy của họ ” Họ không hiểu nổi , họ

thách thức quyết liệt của khát vọng sống và khát vọng hạnh phúc trước mọi ý thức tuyệt vọng và

tê dại vù nạn đói , và không phải không có tác dụng làm cho tâm hồn họ rạng rỡ hơn Nhà vănnhư hoàn toàn khẳng định sự sống và ý chí sống còn của con người , trân trọng và yêu mến hànhđộng liều lĩnh của họ trong đoạn văn này

Nhưng tư tưởng chủ đạo của tác phẩm không chỉ có thế Qua cuộc gặp gỡ với người mẹ và saumột đêm trở thành vợ chồng , nhà văn khẳng định tình yêu cuộc sống sẽ thắng được chết chóc,cuộc sỗng sẽ thay đổi

Bà mẹ trước nạn đói cũng thất vọng và hoài nghi như mọi người “biết rồi chúng nó có nuôi nổinhau qua được cơn đói khát này không”, bà cũng thở dài Nhưng bà là mẹ, bà thấy sự “nhặt vợ”cũng là may, nên bà mừng lòng, bà nuôi hi vọng cho đôi trẻ Bà mẹ nhìn con dâu lòng đầythương xót , không chút coi thường Bà nghĩ đến việc phải có dăm ba mâm cho phải lẽ , chứng

tỏ trong lòng bà không vướng ý nghĩ “nhặt không người đàn bà”cho con mình Đó là tình cảm

niu, khẳng định phẩm giá của họ, những người trong cuộc

Sau một đêm thành vợ chồng tại ngôi nhà nát, sáng hôm sau vẫn trong cơn đói khát , nhưng mộtkhông khí đầy sinh khí đã đến với tất cả mọi người Ngôi nhà sạch sẽ, gọn gàng, ang nước đầy

ắp … , người vợ trở nên hiền hậu đúng mực, còn Tràng thì “bỗng dưng hắn thấy thương yêu gắn

bó với cái nhà của hắn lạ lùng … Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người…” Một niềm tin vàotương lai gieo vào lòng mọi người : “Hình như ai nấy đều có ý nghĩ rằng thu xếp cửa nhà choquang quẻ, nề nếp thì cuộc đời họ sẽ khác đi, làm ăn có cơ khấm khá hơn Chưa bao giờ trongnhà này, mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế” Nhưng bữa ăn ngày đói đưa họ trở lại với hiệntại đói khổ, mặc dù trước đó họ luôn nói chuyên tương lai với những khát khao hạnh phúc , để họnhận thức được muốn tồn tại phải hành động và Việt Minh là cánh cửa đưa họ tới ước mơ tươi

Tràng chạy trốn Việt Minh bởi ở Tràng vẫn còn tồn tại hố sâu ngăn cách về nhận thức

truyền thống Cốt truyện thay đổi theo sự vận động của những tâm hồn ham sống và cái tất yếuphải đến là sự vùng lên giải thoát của những thân phận đau khổ Mặc dù hiện tại nhà văn chưanói đến sự giác ngộ cách mạng của gia đình Tràng

Tóm lại tác phẩm là một truyện ngắn chứa chan tình cảm nhân đạo Nó khẳng định sức sốngtiềm tàng trong mỗi con người và khát vọng hạnh phúc không gì có thể vùi lấp nổi Đó là một tưtưởng nhân đạo mới mẻ , đầy tính chiến đấu

Trang 21

ĐỀ 4 : TƯ TƯỞNG ĐẤT NƯỚC LÀ CỦA NHÂN DÂN QUA ĐOẠN THƠ CUỐI TRONG B ẰI

THƠ "ĐẤT NƯỚC"

Gắn bó với vận mệnh dân tộc và đất nước là đặc điểm nổi bật của nền văn học Việt Nam.Từ xưa,

văn học đã song hành cùng dân tộc trên suốt hằnh trình dựng nước và giữ nước.Nhưng có

lẽ,chưa bao giờ cảm hứng yêu nước lại thể hiện một cách phong phú và mãnh liệt như trong vănhọc giai đoạn 1945_1975.nhiêdu thế hệ nhà văn,nhà thơ đã tập trung ngợi ca tình cảm thiêngliêng này:Quang dũng(Tây tiến),Tố hữu(nước non ngàn dặm),nguyễn đình thi(đất nước),lê anhxuân(dáng đứng việt nam) Trong dòng chảy chung ấy,không thể không nhắc tới Nguyễn KhoaĐiềm với đoaajn trích Đất nước.Đoạn thơ đã thể hiện thành công tư tưởng đất nước là của nhândân

"Những người vợ nhớ chồng góp cho đất nước những núi vọng phu

Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn trống mái Gót ngựa thánh gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại Chín mươi chín con voi dựng đất tổ hùng vương"

Xưa nay khi nói về không gian địa lý,đặc biệt là các danh lam thắng cảnh.ng ta thường ngợi ca

sự hào phóng của tự nhiên,sự ưu ái của tạo hoá.Còn ở đây,qua cách miêu tả của Nguyễn khoađiềm ,toàn b ộ không gian địa lý ấy đã trở thành tặng vật của nhân dân cho đất nước

Điệp khúc "góp cho" trở đi trở lại trong những dòng thơ biến mỗi câu thơ thành một lời khẳngđịnh công lao to lớn của nhân dân.NHững ng vợ nhớ chồng không đắp nên những trái núi VọngPhu rải rác trên khắp mọi miền của đất nước bằng đôi bàn tay mình ,nhưng họ đãgosp cho đấtnước những cuộc chia ly,những năm tháng đợi chờ đằg đẵng.Nếu không có tình yêu,nỗi đau vàlòng chung thuỷ của bao nhiêu thế hệ phụ nữ từng đọi chờ,mong mỏi thì núi chit là núi,chỉ là đá

vô tri,vô giác mà thôi.Chính họ đã hoá thân thành những Vọng phu vòi vọi giữa trời.Cũng

thế,nhờ ánh mắt của những cặp vợ chồng yêu nhau thì hai tảng đá ngoài khơi xa mới hoá thànhđôi trống mái tình tứ,hoà thuận và đầm ấm bên nhau

Không chỉ thế,bằng trí tưởng tượng phong phú và tình yêu đát nước ,nhân dân đã tạo nên linh

hồn cho cảnh vật,núi sông Những ao đầm vùng đồng bằng và những ngọn đồi trùng điệp miềntrung du vốn là đặc điểm địa hình của từng miền đất.Vậy mà trong câu thiow của Nguyễn khoađiềm mỗi không gian ấy đều chứa đựng một sức sống riêng

"Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm Người học trò nghèo góp cho đất nước núi bút , non nghiên Con cóc,con gà quê hương góp cho Hạ long thành thắng cảnh Những người dân nào đã góp tên ông Đốc.ông trang,bà Đen,bà Điểm"

Nhà thơ vẫn tiếp tục nối mạch suy tưởng được khơi lên khi cảm nhận về không gian địa lý củađát nước.Đối diện với bất kì địa hình nào ,miền đất nào tác giả cũng thấy sự hiện diện của nhândân.Chính nhân dân đã hình dung những dòng sông như con rôdng hoá thân mang nguồn nướcmát lành,bồi đắp phù sa,nuôi dưỡng sự sống.nhìn núi Bút non nghiêng cũng liên tưởng đến

Trang 22

người học trog nghèo nào đó đã bền gan,vững chí trên con đường rùi mài kinh sử

Cảm hứng ngợi ca vai trò của nhân dân còn đươhc thể hiện qua cách nhìn của nhà thơ về thờigian lịch sử

'Em ơi em Hẫy nhìn rất xa vào bốn nghìn năm đất nước Năm tháng nào cũng người người lớp lớp Con gái,con trai bằng tuổi chúng ta "

Nguyễn khoa điềm đã mang đến một cách nhìn mới mẻ và sâu sắc về lịch sử,Nhà thơ tô đậmhình ảnh của những đám đông người người lớp lớp.Đặc biệt là những người trẻ tuổi.Qua cáchmiêu tả của nhà thơ,bốn nghìn lớp người đông đảo ấy hiện lên vừa bình thường ,vừa cao cả,phithường

"Cần cù làm lụng Khi có giặc người con trai ra trận Người con gái trở về nuôi cái cùng con Giặc đến nhà thì đàn bà cũng đánh"

Chỉ vài dòng thơ ngắn nhừn đã khắc học hình tượng nhân dân trên cái nền của thời gian,lịchsử.Họ là những con người bình dị,hiền hoà tròn cuộc sống "cui cút làm ăn, toan lo nghèo

khó".Nhưng khi có giặc,họ sẵn sàng hiến dâng cuộc đời mình như thể đây là một lẽ tự nhiên.Vàbằng chính cuộc đời mình, họ đã tạo ra lịch sử:

"Họ đã sống và chết Giản dị và bình tâm Không ai nhớ mặt đặt tên Nhưng họ đã làm nên đất nước

Tư tưởng đất nước là của nhân dân được thể hiện ở cả chiều sâu của bản sắc văn hoá

Từ những cảm xúc trên,Nguyễn khó điềm đã thức tỉnh trách nhiệm thiêng liêng của mỗi ngươì

và đặc biệt của thế hệ trẻ với quá khứ ,tương lai.Chất chính luận ấy hoà quyện viớ chất trữ tìnhđằm thắm của cảm xúc đã mang lại sức rung đọng lớn cho đoạn trích

THAM KHẢO : BÀI VĂN ĐẠT ĐIỂM 10 ĐẠI HỌC 2008

Câu 1 (2 điểm): Anh/ chị hãy nêu những nét chính trong quan điểm nghệ thuật của Nam Caotrước Cách mạng tháng Tám

Nam Cao là một nhà văn lớn của nền văn học hiện thực phê phán nói riêng và là một nhà văn lớncủa văn học Việt Nam nói chung Sở dĩ Nam Cao có một vị trí xứng đáng như vậy bởi cả cuộc

Trang 23

đờicầm bút của mình, ông luôn trăn trở để nâng cao "Đôi Mắt" của mình Tấtcả những gì NamCao để lại cho cuộc đời chính là tấm gương của mộtngười "trí thức trung thực vô ngần" luôn tựđấu tranh để vươn tới nhữngcảnh sống và tâm hồn thật đẹp Với những nét tiêu biểu như vậy,Nam Caođã thể hiện qua một hệ thống các quan điểm sáng tác của mình trước cáchmạng thángTám.

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao trước cách mạng tháng Tám được thể hiện qua "TrăngSáng" và "Đời Thừa" Trong "TrăngSáng", nhà văn quan niệm văn chương nghệ thuật phải "vịnhân sinh", nhàvăn phải viết cho hay, cho chân thực những gì có thật giữa cuộc đời,giữa xã hội

mà mình đang sống Ông viết "Chao ôi! Nghệ thuật không làánh trăng lừa dối, không nên là ánhtrăng lừa dối! Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp người lầm than".Đóchính là quan điểm nghệ thuật của Nam Cao Trước cách mạng, Nam Caomang tâm sự u uất,

đó không chỉ là tâm trạng của một người nghệ sĩ "tàicao, phận thấp, chí khí uất" (Tản Đà) mà đócòn là tâm sự của ngườingư ời trí thức giàu tâm huyết nhưng lại bị xã hội đen tối bóp nghẹtsựsống Nhưng Nam Cao không vì bất mãn cá nhân mà ông trở nên khinh bạc.Trái lại ông còn cómột trái tim chan chứa yêu thương đối với người dânnghèo lam lũ Chính vì lẽ đó mà văn

chương của ông luôn cất lên "nhữngtiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than"

Trong "Đời thừa", một tác phẩm tiêu biểu của văn NamCao trước cách mạng, Nam Cao cũng cónhững quan điểm nghệ thuật Khi màta đã chọn văn chương nghệ thuật làm nghiệp của mình thì

ta phải dồnhết tâm huyết cho nó, có như thế mới làm nghệ thuật tốt đư ợc "Đói rétkhông cónghĩa lý gì đối với gã tuổi trẻ say mê lý tưởng Lòng hắn đẹp.Đầu hắn mang một hoài bão lớn.Hắn khinh những lo lắng tủn mủn về vậtchất Hắn chỉ lo vun trồng cho cái tài của hắn ngày mộtthêm nảy nở.Hắn đọc, suy ngẫm, tìm tòi, nhận xét, suy tưởng không biết chán Đốivới hắn lúc

ấy, nghề thuật là tất cả, ngoài nghệ thuật không có gì đángquan tâm nữa " Nam Cao còn quanniệm người cầm bút phải có lương tâmvà trách nhiệm đối với bạn đọc, phải viết thận trọng vàsâu sắc: "sựcẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là sự bất lương rồi, còn sự cẩu thảtrong văn chươngthì thật là đê tiện" Với Nam Cao, bản chất của vănchương là đồng nghĩa với sự sáng tạo "vănchương không cần đến nhữngngười thợ khéo tay làm theo một vài kiểu mẫu đưa cho, văn

chương chỉdung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi khơi những nguồn chưaai khơi vàsáng tạo những gì chưa có" Quan điểm của Nam Cao là, mộttác phẩm văn chương đích thựcphải góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạnđọc: Nó phải chứa đựng một cái gì đó vừa lớn lao vừacao cả, vừa đauđớn vừa phấn khởi: "Nó ca ngợi tình thương, lòng bác ái, sự công bình,nó làmngười gần người hơn"

Văn nghiệp của Nam Cao (1915-1951) chủ yếu được thểhiện trước cách mạng tháng Tám Quanđiểm sáng tác thể hiện trong haitruyện "Trăng Sáng" và "Đời Thừa" giúp ta hiểu sâu hơn về NamCao Quađó, ta thấy được những đóng góp về nghệ thuật cũng như tư tưởng của NamCao chovăn học Việt Nam Từ đấy giúp ta hiểu vì sao Nam Cao - một nhàvăn chưa tròn bốn mươi tuổilại để lại cho cuộc đời một sự nghiệp vănchương vĩ đại đến như vậy

Câu 2 (5 điểm): Phân tích tâm trạng và hành động của nhân vật Mị trong đêm cứu A Phủ (Vợchồng A Phủ - Tô Hoài)

Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn "Vợ chồngA Phủ" mà nhà văn Tô Hoài đã giànhnhiều tài năng và tâm huyết để xâydựng Truyện được trích từ tập "truyện Tây Bắc" (1953) của

Trang 24

Tô Hoài.Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng miền Tây Bắc (1952), Tô Hoàiđã có dịpsống, cùng ăn, cùng ở với đồng bào các dân tộc miền núi,chính điều đó đã giúp Tô Hoài tìmđược cảm hứng để viết truyện này TôHoài thành công trong "Vợ chồng A Phủ" không chỉ dovốn sống, tình cảmsống của mình mà còn là do tài năng nghệ thuật cùa một cây bút tài hoa.Trong

"Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài đã sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật,trong đó nổi bật và đáng chú

ý nhất là biện pháp phân tích tâm lý vàhành động của Mị trong từng chặng đường đời Điểmnghệ thuật ấy thật sựphát sáng và thăng hoa trong đoạn văn miêu tả tâm lý và hành động củanhânvật Mị trong đêm mùa đông cứu A Phủ Qua đó ta thấy được giá trịhiện thực và nhân đạo của tácphẩm

Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượngnhất đó chính là hình ảnh của cô gái "dù làmbất cứ việc gì, cô ta cũngcúi mặt, mắt buồn rười rượi" Đó là tâm lý của một con người camchịu,buông xuôi trước số phận, hoàn cảnh sống đen tối đầy bi kịch Sở dĩ Mịcó nét tính cách ấy

là do cuộc sống hôn nhân cưỡng bức giữa Mị và A Sử.Mị không được lấy người mình yêu màphải ăn đời ở kiếp với một người màmình sợ hãi, lạnh lùng Một nguyên nhân nữa chính là do uyquyền, thầnquyền, đồng tiền của nhà thống lý Pá Tra đã biến Mị thành một đứa condâu gạt nợ.Mang tiếng là con dâu của một người giàu có nhất vùng,nhưng thật sự Mị chỉ là một kẻ nô lệkhông hơn không kém Điều đó làmMị đau khổ, Mị khóc ròng rã mấy tháng trời và từng có ýđịnh ăn nắm lángón kết thúc cuộc đời mình Thế nhưng "sống lâu trong cái khổ, Mị quenkhổrồi" Chính vì thế Mị đã buông xuôi trước số phận đen tối của mình,trái tim của Mị dần chai sạn

và mất đi nhịp đập tự nhiên của nó

Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng củamột người yêu đời, yêu cuộc sống, mongmuốn thoát khỏi hoàn cảnh sốngđen tối, đầy bi kịch Điều đó đã được thể hiện trong đêm mùaxuân

Trong đêm mùa xuân ấy, tâm trạng của Mị phát triểntheo những cung bậc tình cảm khác nhau,cung bậc sau cao hơn cung bậctrước Ban đầu, Mị nghe tiếng sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩmthầm bài hátngười đang thổi, rồi Mị uống rượu và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời xa xưa Mị ý thứcđược về bản thân và về cuộc đời rồi Mị muốn đi chơi Nhưngsợi dây thô bạo của A Sử đã tróiđứng Mị vào cột Thế nhưng sợi dây ấychỉ có thể "trói" được thân xác Mị chứ không thể "trói"được tâm hồncủa một cô gái đang hòa nhập với mùa xuân, với cuộc đời Đêm ấy thật làmột đêm

có ý nghĩa với Mị Đó là đêm cô thực sự sống cho riêng mình sauhàng ngàn đêm cô sống vật vờnhư một cái xác không hồn Đó là một đêmcô vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống theo tiếnggọi trái tim mình

Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đờitrâu ngựa Thế nhưng viết về vấn đề này, TôHoài khẳng định: cái khổcái nhục mà Mị gánh chịu như lớp tro tàn phủ khuất che lấp sức

sốngtiềm tàng trong lòng Mị Và chỉ cần có một luồng gió mạnh đủ sức thổiđi lớp tro buồn nguộilạnh ấy thì đốm lửa ấy sẽ bùng cháy và giúp Mịvượt qua cuộc sống đen tối của mình Giá trịnhân đạo của tác phẩm ngờilên ở chỗ đó

Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến Đó chính lànhững đêm mùa đông dài và buồn trên núi rừngTây Bắc đang về Mùa đôngrét buốt như cắt da cắt thịt, vì thế đêm nào Mị cũng ra bên ngoàibếplửa để thổi lửa hơ tay Trong những đêm đó Mị gặp A Phủ đang bị tróiđứng chờ chết giữatrời giá rét Thế nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửahơ tay "Dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng

Trang 25

thế thôi" Tại sao Mị lạilãnh cảm, thờ ơ trước sự việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chếtlàmột việc làm bình thường ở nhà thống lý Pá Tra và ai cũng quen vớiđiều đó nên chẳng ai quantâm đến Hay bởi Mị "sống lâu trong cái khổ,Mị quen khổ rồi" nên Mị lãnh đạm, thờ ơ trước nỗiđau khổ của ngườikhác Một đêm nữa lại đến, lúc đó mọi người trong nhà đã ngủ yên cảrồi, Mịlại thức dậy đến bếp đốt lửa lên để hơ tay Lửa cháy sáng, "Mịlé mắt trông sang, thấy hai mắt APhủ cũng vừa mở, một dòng nước mắtlấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại" Đó là dòngnước mắt củamột kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất gần Chính "dòngnước mắt lấplánh ấy" đã làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong lòng Mị.Lòng Mị chợt bồi hồi trước một người,trùng cảnh ngộ Đêm mùa xuântrước Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc nướcmắt rơixuống miệng, xuống cổ không lau đi được Mị chợt nhận ra người ấy giốngmình về cảnhngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông chonhau Mị nhớ lại những chuyện thậtkhủng khiếp lúc trước kia, “chúng nóbắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cáinhà này” Lýtrí giúp Mị nhận ra “Chúng nó thật độc ác” Việc trói người đến chếtcòn ác hơn cảthú dữ trong rừng Chỉ vì bị hổ ăn mất một con bò mà mộtngười thanh niên khỏe mạnh, siêngnăng, say sưa với cuộc đời đã phảilấy mạng mình thay cho nó Bọn thống trị coi sinh mạng của

A Phủ khôngbằng một con vật Và dẫu ai phạm tội như A Phủ cũng bị xử phạt như thếmà thôi.Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đaukhổ cay đắng cho thân phận củamình: “Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắtta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết chờ ngày rũxương ở đâythôi” Nghĩ về mình, Mị lại nghĩ đến A Phủ “có chừng này, chỉ đêm naythôi làngười kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết Ngườikia việc gì mà phải chết như thế APhủ… Mị phảng phất nghĩ như vậy”.Thật sự, chẳng có lí do gì mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủphải chếtvì cái tội để mất một con bò! Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh APhủ bỏ trốn vàchính Mị sẽ là người chết thay cho A Phủ trên cái cộttưởng tượng đó Thế nhưng, Mị vẫn khôngthấy sợ, sự suy tưởng của Mị làcó cơ sở của nó Cha con Pá Tra đã biến Mị từ một con người yêuđời,yêu cuộc sống, tài hoa chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết với tình yêuthành một con dâu gạt nợ,một kẻ nô lệ đúng nghĩa, chúng đã tàn ác khitrói một người đàn bà ngày trước đến chết thì chẳng

lẽ chúng lại khôngđối xử với Mị như thế ư? Như vậy, chứng kiến “dòng nước mắt lấp lánh”của

A Phủ, tâm trạng của Mị diễn biến phức tạp Mị thông cảm với ngườicùng cảnh ngộ, Mị nhớ đếnchuyện người đàn bà ngày trước, lí trí giúpMị nhận ra bọn lãnh chúa phong kiến thật độc ác, Mịxót xa trước sốphận của mình rồi Mị lại nghĩ đến A Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng đếncái cảnhmình bị trói đứng… Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến vớihành động: dùng dao cắt lúa rútdây mây cởi trói cho A Phủ Đó là mộtviệc làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợpvới nét tâm lícủa Mị trong đêm mùa đông này

Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờmình dám làm một chuyện động trời đếnvậy Mị thì thào lên một tiếng“đi ngay” rồi Mị nghẹn lại A Phủ vùng chạy đi, còn Mị vẫn đứnglặngtrong bóng tối Ta có thể hình dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm mốicủa Mị lúc này.Lòng Mị rối bời với trăm câu hỏi: Vụt chạy theo A Phủhay ở đây chờ chết? Thế là cuối cùng sứcsống tiềm tàng đã thôi thúcMị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ Trời tối lắm nhưng Mị vẫnbăngđi Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lãnh chúaphong kiến đươngthời đã đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu năm qua Mịđuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên Mịnói với A Phủ sau bao nhiêu nămcâm nín: “A Phủ Cho tôi đi! Ở đây thì chết mất” Đó là lời nóikhaokhát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị Câu nói ấy chứa đựng biếtbao tình cảm vàlàm quặn đau trái tim bạn đọc Đó chính là nguyên nhân- hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi dây vôhình ràng buộc cuộc đời củamình Thế là Mị và A Phủ dìu nhau chạy xuống dốc núi Hai người

đã rờibỏ Hồng Ngài - một nơi mà những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, còn nỗibuồn đau, tủi nhục

Trang 26

thì chồng chất không sao kể xiết Hai người rời bỏHồng Ngài và đến Phiềng Sa, nhưng nhữngngày phía trước ra sao họ cũngchưa biết đến…

Rõ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàngđóng một vai trò hết sức quan trọng Chính

nó đã giúp Mị vượt lên trênsố phận đen tối của mình Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc

Mị tựcứu lấy bản thân mình Qua đoạn trích trên, Tô Hoài đã ca ngợi nhữngphẩm chất đẹp đẽcủa người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụnự Việt Nam nói chung Tô Hoài đã rấtcảm thông và xót thương cho sốphận hẩm hiu, không lối thoát của Mị Thế nhưng bằng một tráitim nhạycảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đã phát hiện và ngợi ca đốm lửacòn sót lại trongtrái tim Mị Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ởđó Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng

đã khẳng định được chân límuôn đời: ở đâu có áp bức bất công thì ở đó có sự đấu tranh để

chốnglại nó dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị Quả thật, tác phẩmnày giúp ta hiểuđược nhiều điều trong cuộc sống

Với truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” nói riêng và tập“Truyện Tây Bắc” nói chung, ta hiểu vì sao

Tô Hoài lại thành công trongthể loại truyện ngắn đến như vậy Nét phong cách nghệ thuật: màusắcdân tộc đậm đà chất thơ chất trữ tình thấm đượm, ngôn ngữ lời văn giàutính tạo hình đã hội tụ

và phát sáng trong truyện ngắn này Tác phẩm“Truyện Tây Bắc” xứng đáng với giải nhất truyệnngắn - giải thưởng doHội nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954 - 1955 Và “Vợ chồng A

Phủ”thực sự để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng bạn đọc bởi những giá trịnghệ thuật, giá trị hiệnthực và giá trị nhân đạo của nó Truyện ngắnnày quả là một truyện ngắn tiêu biểu cho phongcách Tô Hoài

Đối với riêng em, truyện “Vợ chồng A Phủ” giúp em cảmthông sâu sắc trước nỗi khổ của ngườiphụ nữ trong xã hội phong kiếnmiền núi, từ đó giúp em ngày càng trân trọng khát vọng của họhơn Đâyquả là một tác phẩm văn chương đích thực bởi nó đã góp phần nhân đạohóa tâm hồnbạn đọc như Nam Cao đã quan niệm trong truyện ngắn “Đờithừa”

Phần riêng (3 điểm): Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử:

Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?

Cảm nhận thơ trữ tình xét cho cùng là cảm nhận "cáitình" trong thơ và tâm trạng của nhân vật trữtình trước thiên nhiên,vũ trụ, đất trời Đến với thơ ca lãng mạn Việt Nam, giai đoạn 1932-1945

"ta thoát lên trên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tìnhcùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồngcùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắmsay cùng Xuân Diệu" (Hoài Thanh - Thi nhân ViệtNam) Đúng thế, bạn đọcđương thời và hôm nay yêu thơ của Hàn Mặc Từ bởi chất "điên cuồng"củanó Chính "chất điên" ấy đã làm nên phong cách nghệ thuật độc đáo,riêng biệt, mới mẻ củaHàn Mặc Tử "Chất điên" trong thơ ông chính làsự thay đổi của tâm trạng khó lường trước được.Nét phong cách đặc sắcấy đã hội tụ và phát sáng trong cả bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của nhàthơrất tài hoa và cũng rất đỗi bất hạnh này "Đây thôn Vĩ Dạ" trích từ tậpThơ Điên của Hàn Mặc

Tử Chất điên cuồng ấy thể hiên cụ thể và rõ néttrong khổ thơ:

Trang 27

"Gió theo lối gió mây đường mây

Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay?"

Với lời trách cứ nhẹ nhàng dịu ngọt vừa như một lời mời, Hàn Mặc Tử trở về với thôn Vĩ Dạtrong mộng tưởng:

“Sao anh không về chơi thôn Vĩ

Nhìn nắng hàng cây nắng mới lên

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

Cảnh vật ở thôn Vĩ Dạ - một làng kề sát thành phố Huếbên bờ Hương Giang với những vườn câytrái, hoa lá sum suê hiện lênthật nên thơ, tươi mát làm sao Đó là một hàng cau thẳng tắp đangtắmmình dưới ánh “nắng mới lên” trong lành Chưa hết, rất xa là hình ảnh“nắng hàng cau nắngmới lên” còn rất gần lại là “vườn ai mướt quá xanhnhư ngọc” “Mướt quá” gợi cả cây non tràntrề sức sống xanh tốt Màu“mướt quá” làm cho lòng người như trẻ hơn và vui tươi hơn Lời thơkhencây cối xanh tốt nhưng lại như huyền ảo, lấp lánh mới thấy hết cẻ đẹpcủa “vườn ai” Trongkhông gian ấy hiện lên khuôn “mặt chữ điền” phúchậu, hiền lành vừa quen vừa lạ, vừa gần, vừa

xa, vừa thực vừa ảo bởi“lá trúc che ngang” Câu thơ đẹp vì sự hài hòa giữa cảnh vật và

conngười “Trúc xinh” và “ai xinh” bên nhau làm tôn lên vẻ đẹp của conngười Như vậy tâmtrạng của nhân vật trữ tình ở đoạn thơ này là niềmvui, vui đến say mê như lạc vào cõi tiên, cõimộng khi được trở về vớicảnh và người thôn Vĩ

Thế nhưng cũng cùng không gian là thôn Vĩ Dạ nhưngthời gian có sự biến đổi từ “nắng mới lên”sang chiều tà Tâm trạng của nhân vật trữ tình cũng có sự biến đổi lớn Trong mắt thi nhân, bầutrờihiện lên “Gió theo lối gió mây đường mây” trong cảnh chia li, uất hận.Biện pháp nhân hóacho chúng ta thấy điều đó “Gió theo lối gió” theokhông gian riêng của mình và mây cũng thế.Câu thơ tách thành hai vế đối nhau; mở đầu vế thứ nhất là hình ảnh “gió”, khép lại cũng bằnggió;mở đầu vế thứ hai là “mây”, kết thúc cũng là “mây” Từ đó cho ta thấy“mây” và “gió” nhưnhững kẻ xa lạ, quay lưng đối với nhau Đây thực sựlà một điều nghịch lí bởi lẽ có gió thổi thìmây mới bay theo, thế màlại nói “gió theo lối gió, mây đường mây” Thế nhưng trong vănchươngchấp nhận cách nói phi lí ấy Tại sao tâm trạng của nhân vật trữ tình vốn rất vui sướngkhi về với thôn Vĩ Dạ trong buổi ban mai đột nhiênlại thay đổi đột biến và trở nên buồn nhưvậy? Trong mộng tưởng, HànMặc Tử đã trở về với thôn Vĩ nhưng lòng lại buồn chắc có lẽ bởimốitình đơn phương và những kỉ niệm đẹp với cảnh và người con gái xứ Huếmộng mơ làm nêntâm trạng ấy Quả thật “Người buồn cảnh có vui đâu baogiờ” nên cảnh vật xứ Huế vốn thơmộng, trữ tình lại bị nhà thơ miêu tảvô tình, xa lạ đến như vậy Bầu trời buồn, mặt đất cũngchẳng vui gìhơn khi “Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”

Dòng Hương Giang vốn đẹp, thơ mộng đã bao đời đi vàothơ ca Việt nam thế mà bây giờ lại

“buồn thiu” – một nỗi buồn sâm thẳm,không nói nên lời Mặt nước buồn hay chính là con sónglòng "buồn thiu”của thi nhân đang dâng lên không sao giấu nổi Lòng sông buồn, bãi bờcủa nócòn sầu hơn “Hoa bắp lay” gợi tả những hoa bắp xám khô héo, úatàn đang “lay” rất khẽ tronggió Cảnh vật trong thơ buồn đến thế làcùng Thế nhưng đêm xuống, trăng lên, tâm trạng của

Trang 28

nhân vật trữ tìnhlại thay đổi:

“Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay”

Sông Hương “buồn thiu” lúc chiều dưới ánh trăng đã trở thành “sông trăng” thơ mộng Cắm xàođậu bên trên con sông đó là“thuyền ai đậu bến”, là bức tranh càng trữ tình, lãng mạn Hìnhảnh“thuyền” và “sông trăng” đẹp, hài hòa biết bao Khách đến thôn Vĩ cấttiếng hỏi xa xăm “Cóchở trăng về kịp tối nay?” Liệu “thuyền ai” đó cóchở trăng về kịp nơi bến hẹn, bến đợi haykhông? Câu hỏi tu từ vang lênnhư một nỗi lòng khắc khoải, chờ đợi, ngóng trông được gặpgương mặtsáng như “trăng’ của người thôn Vĩ trong lòng thi nhân Như thế mớibiết nỗi lòng củanhà thơ giành cho cô em gái xứ Huế tha thiết biếtnhường nào Tình cảm ấy quả thật là tình c ảmcủa “Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy Ngàn năm nào dễ mấy ai quên” (Thế Lữ)

Đến đây ta hiểu thêm về lòng “buồn thiu” của nhân vậttrữ tình trong buổi chiều Như vậy diễnbiến tâm lí của thi nhân hếtsức phức tạp, khó lường trước được Chất “điên” của một tâm trạngvuivới cảnh, buồn với cảnh, trông ngóng, chờ đợi vẫn được thể hiện ở khổ thơ kết thúc bài thơnày:

“Mơ khách đường xa khách đường xa

Áo em trắng quá nhìn không ra

Ở đây sương khói mờ nhân ảnh

ca lãng mạn giai đoạn 1932 - 1945 cũng ở đó

Đọc xong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử,nhất là khổ thơ “Gió theo lối gió -… kịptối nay” để lại trong lòngngư ời đọc những tình cảm đẹp Đoạn thơ giúp ta hiểu thêm tâm tư củamộtnhà thơ sắp phải giã từ cuộc đời Lời thơ vì thế trầm buồn, sâu lắng,đầy suy tư

Bạn đọc đương thời yêu thơ của Hàn Mặc Tử bởi thi nhân đã nói hộ họ những tình cảm sâu lắngnhất, thầm kín nhất của mình trong thời đại cái “tôi”, cái bản ngã đang tự đấu tranh để khẳngđịnh.Tình cảm trong thơ Hàn Mặc tử là tình cảm thực, do đó nó sẽ ở mãi trongtrái tim bạn đọc

Ấn tượng về một nhà thơ của đất Quảng Bình đầy nắngvà gió sẽ không bao giờ phai nhạt trongtâm trí người Việt Nam

Ngày đăng: 16/05/2013, 09:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w