động sau một thời gian duy trì nhất định không cần phải có tính tác động nhanh như ở các thiết bị BVRL chống hư hỏng.2.Yêu cầu cơ bản của mạch bảo vệ - Tính chọn lọc: Tác động của bảo v
Trang 1Lời nói đầu
Một hệ thống điện muốn vận hành an toàn và tin cậy thì không thể thiếu các thiết bị bảo vệ
Là một sinh viên chuyên ngành hệ thống điện không thể không nghiên cứu tìm hiểu bộ môn “ Bảo vệ rơle trong hệ thống điện” Môn học đã mang lại cho sinh viên những kiến thức cơ bản nhất của kỹ tuật bảo vệ hệ thống điện bằng rơle, các nguyên tắc tác động, cách thực hiện các bảo vệ thường gặp cũng như các chế độ hư hỏng và làm việc không bình thường điển hình nhất của hệ thống điện và các loại bảo vệ chính đặt cho nó
Đồ án “Bảo vệ rơle” là một bài tập giúp sinh viên hệ thống lại toàn bộ kiến thức được học và tiếp cận với một số loại rơle trong thực tế Những kiến thức này sẽ là nền tảng cho quá trình tiếp cận thực tế sau này
Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của các thấy cô giáo trong bộ môn hệ thống điện trường Đại học Điện Lực, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy
Nguyễn Văn Đạt đã giúp em hoàn thành đồ án này Do thời gian làm bào không
nhiều, kiến thức còn hạn chế nên bài làm của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Vậy em kính mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô cho bài làm của mình hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày 12 tháng 12 năm 2010
Sinh viên thực hiện
Vũ Công Đông
Trang 2A.Phần Lý thuyết.
I.Nhiệm vụ và các yêu cầu của bảo vệ rơle
1.Nhiệm vụ của bảo vệ rơ le:
Khi thiết kế và vận hành bất kỳ một hệ thống điện nào cần phải kể đến khả năng phát sinh hư hỏng và các tình trạng làm việc không bình thường trong hệ thống điện ấy Ngắn mạch là loại sự cố có thể xảy ra và nguy hiểm nhất trong hệ thống điện
Hậu quả của ngắn mạch là:
a) Tụt thấp điện áp ở một phần lớn của hệ thống điện
b) Phá hủy các phần tử bị sự cố bằng tia lửa điện
c) Phá hủy các phần tử có dòng ngắn mạch chạy qua do tác động nhiệt và cơ d) Phá hủy ổn định của hệ thống điện
Ngoài các loại hư hỏng, trong hệ thống điện còn có các tình trạng việc không bình thường Một trong những tình trạng việc không bình thường là quá tải Dòng điện quá tải làm tăng nhiệt độ các phần dẫn điện quá giới hạn cho phép làm cách điện của chúng bị già cỗi hoặc đôi khi bị phá hủy
Để ngăn ngừa sự phát sinh sự cố và sự phát triển của chúng có thể thực hiện các biện pháp để cắt nhanh phần tử bị hư hỏng ra khỏi mạng điện, để loại trừ những tình trạng làm việc không bình thường có khả năng gây nguy hiểm cho thiết bị và
hộ dùng điện
Để đảm bảo sự làm việc liên tục của các phần không hư hỏng trong hệ thống điện cần có những thiết bị ghi nhận sự phát sinh của hư hỏng với thời gian bé nhất, phát hiện ra phần tử bị hư hỏng và cắt phần tử bị hư hỏng ra khỏi hệ thống điện Thiết bị này được thực hiện nhờ những khí cụ tự động có tên gọi là rơle Thiết bị bảo vệ được thực hiện nhờ những rơle được gọi là thiết bị bảo vệ rơle (BVRL)
Như vậy nhiệm vụ chính của thiết bị BVRL là tự động cắt phần tử hư hỏng
ra khỏi hệ thống điện Ngoài ra thiết bị BVRL còn ghi nhận và phát hiện những tình trạng làm việc không bình thường của các phần tử trong hệ thống điện, tùy mức độ mà BVRL có thể tác động đi báo tín hiệu hoặc đi cắt máy cắt Những thiết
bị BVRL phản ứng với tình trạng làm việc không bình thường thường thực hiện tác
Trang 3động sau một thời gian duy trì nhất định (không cần phải có tính tác động nhanh như ở các thiết bị BVRL chống hư hỏng).
2.Yêu cầu cơ bản của mạch bảo vệ
- Tính chọn lọc:
Tác động của bảo vệ đảm bảo chỉ cắt phần tử bị hư hỏng ra khỏi hệ thống điện được gọi là tác động chọn lọc Khi có nguồn cung cấp dự trữ cho hộ tiêu thụ, tác động như vậy tạo khả năng cho hộ tiêu thụ tiếp tục được cung cấp điện
Yêu cầu tác động chọn lọc cũng không loại trừ khả năng bảo vệ tác động như
là bảo vệ dự trữ trong trường hợp hỏng hóc bảo vệ hoặc máy cắt của các phần tử lân cận
Cần phân biệt 2 khái niệm chọn lọc:
• Chọn lọc tương đối: theo nguyên tắc tác động của mình, bảo vệ có thể làm việc như là bảo vệ dự trữ khi ngắn mạch phần tử lân cận
• Chọn lọc tuyệt đối: bảo vệ chỉ làm việc trong trường hợp ngắn mạch
ở chính phần tử được bảo vệ
- Tác động nhanh:
Càng cắt nhanh phần tư bị ngắn mạch sẽ càng hạn chế được mức độ phá hoại phần tử đó , càng giảm được thời gian trụt thấp điện áp ở các hộ tiêu thụ và càng
có khả năng giữ được ổn định của hệ thống điện
Để giảm thời gian cắt ngắn mạch cần phải giảm thời gian tác động của thiết bị bảo vệ rơ le Tuy nhiên trong một số trường hợp để thực hiện yêu cầu tác động nhanh thì không thể thỏa mãn yêu cầu chọn lọc Hai yêu cầu này đôi khi mâu thuẫn nhau, vì vậy tùy điều kiện cụ thể cần xem xét kỹ càng hơn về 2 yêu cầu này
- Độ nhạy
Bảo vệ rơle cần phải đủ độ nhạy đối với những hư hỏng và tình trạng làm việc không bình thường có thể xuất hiện ở những phần tử được bảo vệ trong hệ thống điện
Thường độ nhạy được đặc trưng bằng hệ số nhạy Kn Đối với các bảo vệ làm việc theo các đại lượng tăng khi ngắn mạch (ví dụ, theo dòng), hệ số độ nhạy được xác định bằng tỷ số giữa đại lượng tác động tối thiểu (tức dòng ngắn mạch bé nhất) khi ngắn mạch trực tiếp ở cuối vùng bảo vệ và đại lượng đặt (tức dòng khởi động)
Trang 4N n
kd
I K
Mặc khác bảo vệ không được tác động khi ngắn mạch ngoài Nếu bảo vệ có nhiệm vụ dự trữ cho các bảo vệ sau nó thì khi ngắn mạch trong vùng dự trữ bảo vệ này phải khởi động nhưng không được tác động khi bảo vệ chính đặt ở gần chỗ ngắn mạch hơn chưa tác động
Để tăng tính đảm bảo của bảo vệ cần:
• Dùng những rơle chất lượng cao
• Chọn sơ đồ bảo vệ đơn giản nhất (số lượng rơle, tiếp điểm ít)
• Các bộ phận phụ (cực nối, dây dẫn) dùng trong sơ đồ phải chắc chắn, đảm bảo
• Thường xuyên kiểm tra sơ đồ bảo vệ
II.Các nguyên tắc bảo vệ
Nguyên tắc tác động của các bảo vệ được sử dụng:
Thời gian làm việc của bảo vệ có đặc tính thời gian độc lập không phụ thuộc vào trị số dòng ngắn mạch hay vị trí ngắn mạch, còn đối với bảo vệ có đặc tính thời gian phụ thuộc thì thời gian tác động tỉ lệ nghịch với dòng điện chạy qua bảo vệ, dòng ngắn mạch càng lớn thì thời gian tác động càng bé
- Khi làm việc bình thường hoặc khi có ngắn mạch ngoài khi đó I R <I kdRvà bảo
vệ không tác động
- Khi có ngắn mạch bên trong thì dòng điện qua bảo vệ vượt quá 1 giá trị định trước (Ikd, Iđặt) I R >I kdRthì bảo vệ sẽ tác động cắt máy cắt
1 Bảo vệ quá dòng điện.
Bảo vệ quá dòng điện là loại bảo vệ tác động khi có dòng điện đi qua phần
tử được bảo vệ vượt quá một giá trị trước
Theo phương pháp đảm bảo tính chọn lọc bảo vệ quá dòng điện được chia làm 2 loại :
1.1 Bảo vệ dòng điện cực đại
Trang 5Bảo vệ dòng điện cực đại là loại bảo vệ tác động khi có dòng điện đi qua phần
tử được bảo vệ vượt quá giới hạn dòng điện làm việc định mức ( Imax)
ksd : Hệ số sơ đồ, phụ thuộc vào sơ đồ đấu dây BI với rơle
ktv : Hệ số trở về phụ thuộc vào loại rơle
ni : Tỷ số biến đổi của BI
Chọn thời gian làm việc : Được đảm bảo bằng cách chọn thời gian làm việc của 2 bảo vệ kề nhau được chọn lờn hơn một lượng Δt = 0,3 – 0,5s Trong đó bảo vệ đặt gần nguồn có thời gian làm việc lớn hơn
1.2 Bảo vệ dòng điện cắt nhanh
Trang 6Bảo vệ dòng điện cắt nhanh là loại bảo vệ đảm bảo tính chọn lọc bằng cách chọn dòng điện khởi động của bảo vệ lớn hơn trị số dòng điện mở máy lớn nhất đi qua chỗ đặt bảo vệ khi hư hỏng ở đầu phần tử tiếp theo.
Dòng điện khởi động của bảo vệ quá dòng cắt nhanh:
Ikd = kat.Inngmax
Trong đó :
kat = 1,2 – 1,3
Inngmax : dòng điện MM lớn nhất khi có nm ở phần tử tiếp theo
Thời gian làm việc của bảo vệ : t ≈ 0s ( t ≤ 0,1 )
Nhược điểm của bảo vệ cắt nhanh : không bảo vệ được toàn bộ đối tượng cần bảo vệ Vùng tác động của bảo vệ cắt nhanh thay đổi thao dạng ngắn mạch và chế
độ làm việc của hệ thống
2 So lệch dòng điện.
Nguyên tắc tác động : Bảo vệ so lệch dòng điện là loại bảo vệ làm việc dựa trên nguyên tắc so sánh trực tiếp biên độ dòng điện ở 2 đầu phần tử được bảo vệ Nếu
sự sai lệch giữa 2 dòng điện vượt quá trị số cho trước thì bảo vệ sẽ tác động
Vùng tác động của bảo vệ so lệch của dòng điện được giới hạn bằng vị trí đặt của
2 tổ máy biến dòng điện ở 2 đẩu ra cuối phần tử được bảo vệ, từ đó nhận tín hiệu dòng điện để so sánh
Xét sự làm việc :
+ Khi bình thường và ngắn mạch ngoài vùng bảo vệ ( N1 )
.
Trang 8• Đặc tính góc pha của dòng điện
Bảo vệ so sánh góc pha làm việc dựa trên nguyên tắc so sánh pha của 2 dòng điện ở 2 đầu phần tử được bảo vệ
kd ≥ ± ÷
4 Bảo vệ quá dòng điện có định hướng công suất
Nguyên tắc tác động của bảo vệ : Bảo vệ qua dòng điện có định hướng công suất
là bảo vệ theo trị số dòng điện qua cho đặt bảo vệ và góc lệch pha giữa dòng điện
đó với điện áp trên thanh góp của trạm được bảo vệ, bảo vệ sẽ tác động khi dòng điện vượt quá trị số định trước và góc pha phù hợp với trường hợp ngắn mạch trên đường dây được bảo vệ
Trang 11dòng điện có hướng không bảo vệ được mạng vòng có số nguồn cung cấp lớn hơn hoặc bằng 2 hoắc mạng vòng có 1 nguồn cung cấp nhưng không có đường chéo qua nguồn.
5 Nguyên lí tổng trở.
Nguyên tắc: Bảo vệ khoảng cách là loại bảo vệ làm việc theo giá trị tổng trở Bảo
vệ làm việc có thời gian và phụ thuộc vào quan hệ của điện áp và dòng điện đưa vào role và góc lệch pha giữa chúng, thời gian này sẽ tự động tăng lên khi tăng khoảng cách từ chỗ hư hỏng đến chỗ đặt bảo vệ
Bảo vệ tác động :
Những yếu tố ảnh hưởng đến bảo vệ khoảng cách :
+ Sai số của BU và BI
+ Điện trở quá độ của chỗ ngắn mạch
+ Hệ số phân bố dòng điện trong nhánh bị sự cố với dòng điện tại chỗ đặt bảo vệ đặc biệt là quá trình dao động điện
Z R <Z kd
Trang 12II Bảo vệ đường dây tải điện
Các loại bảo vệ cho đường dây :
+ Đường dây hạ áp ( U≤ 35kV)
- Qúa dòng điện cắt nhanh, cực đại có thời gian
- Qúa dòng điện có hướng
1 Bảo vệ quá dòng điện
Bảo vệ quá dòng điện cắt nhanh
Hình 1 : Bảo vệ dòng điện cắt nhanh đường dây có 1 nguồn cung cấp
Trang 13Bảo vệ dòng điện cắt nhanh là loại bảo vệ đảm bảo tính chọn lọc, bằng cách chọn dòng điện khởi động của bảo vệ hơn trị số dòng điện ngắn mạch lớn nhất đi qua chổ đặt bảo vệ khi có hư hỏng ở đầu phần tử tiếp theo
Dòng điện khởi động của bảo vệ quá dòng điện cắt nhanh được xác định như sau :
Ingmax : dòng điện ngắn mạch ngoài lớn nhất thường được tính theo (N3) trực tiếp tại N với chế độ làm việc cực đại của hệ thống
Để ngăn chặn bảo vệ cắt nhanh làm việc sai khi có sét đánh vào đường dây ( khi
ấy các sự cố làm việc ) hoặc khi đóng MBA có thể vượt quá trị số đặt của bảo vệ cắt nhanh thông thường ta cho bảo vệ làm việc chậm lại khoảng 50 ÷ 80 ms
Bảo vệ cắt nhanh thứ tự không ( TTK ) thường có độ nhạy cao hơn và vùng bảo
vệ ổn định hơn khi chế độ vận hành của hệ thống thay đổi
Đối với các đường dây có 2 nguồn cung cấp, nếu BVCN đặt ở 2 đầu đường dây không có bộ phận định hướng công suất thì dòng điện khởi động ở cả 2 đầu phải chọn theo dòng điện NMmax xảy ra trên 1 trong 2 thanh góp đầu đường dây
Trong sơ đồ trên, khi HTA có công suất lớn hơ HTB thì dòng khởi động phai chon theo điều kiện (N3) trực tiếp trên đầu đường dây B Nếu chênh lệch công suất giữa 2 đường dây quá lớn, vùng tác động của BVCN phía HTCS bé sẽ rất hạn chế
Để khắc phục nhược điểm này cần đặt bộ phận định hướng công suất ở đầu có nguồn dòng ngắn mạch bé hơn
Tuy nhiên nhược điểm của BVCN cho sơ đồ trên là khi chạm Ikd < Inngmax thì sẽ có
1 vùng bảo vệ nếu xảy ra ngắn mạch thì cả 2 bảo vệ cùng tác động
Trang 142.Bảo vệ quá dòng điện có thời gian
Hình 2 : Phối hợp đặc tuyến thời gian của bảo vệ quá dòng điện trong lưới điện hình tia ( a )
Dòng khởi động của bảo vệ được chọn ở từng cấp theo trị số của dây điện Imax của bảo vệ tại vị trí đặt bảo vệ
Trang 153.Bảo vệ quá dòng có khóa điện thấp.
Hình 3 : Bảo vệ quá dòng điện có khóa điện áp thấp
Trong nhiều trường hợp bảo vệ dòng cực đại có thời gian với dòng điện khởi động chọn Ilvmax có thể không đủ độ nhạy vì Ilvmax có giá trị quá lớn trong 1 số biểu thức
Trang 16Khi có thêm bộ phận khóa điện áp thấp, dòng điện khởi động của bộ phận quá dòng điện có thể chọn theo điều kiện làm việc bình thường mà không cần xét đến chế độ quá tải sự cố
4.Bảo vệ quá dòng điện có hướng
Để tăng cường tính cung cấp cho các hộ tiêu thụ người ta thường thiết kế các mạng hình vuông và mạng có 2 đầu cung cấp Đối với loại bảo vệ này bảo vệ quá dòng điện có thời gian làm việc chọn theo nguyên tắc từng cấp không thể đảm bảo cắt ngắn mạch một cách được chọn lọc
( a ) ( b )
Hình 4 : Bảo vệ dòng điện có hướng đường dây 2 mạch song song (a)
Cách chọn thời gian làm việc của bảo vệ ( b )
Với sơ đồ trên, nếu sử dụng bảo vệ quá dòng điện thông thường thời gian làm việc của các bảo vệ được chọn như sau :
Vì vậy thời gian làm việc của các bảo vệ này sẽ được giảm đi còn thời gian t2
và t4 có thể chọn bé tùy ý
Trang 17Cách chọn thời gian làm việc của bảo vệ được thể hiện bằng hình vẽ sau :
Hình 5 : Phối hợp đặc tuyến thời gian của bảo vệ quá dòng điện có hướng trong lưới điện có hai nguồn cung cấp.
Phạm vi ứng dụng : bảo vệ quá dòng điện có hướng được sử dụng trong các mạng kín có một nguồn cung cấp, mạng hở có 2 nguồn cung cấp, còn đối với
Trang 18các mạng phức tạp như mạng kín có 2 nguồn cung cấp trở nên hoặc mạng vòng
có một nguồn cung cấp cho đường chéo không qua nguồn thì không thể dùng bảo vệ này được
5.Bảo vệ quá dòng cắt nhanh có hướng.
( a ) ( b )
Hình 6 : Bảo vệ quá dòng điện cắt nhanh không có hướng ( a ), có hướng ( b )
Trong đó : dòng ngắn mạch ngoài lớn nhất Inngmax = max { InngmaxA ; InngmaxB }
InngmaxA : Dòng ngắn mạch ngoài lớn nhất chạy qua bảo vệ từ phía A ( N1 )
InngmaxB : Dòng điện ngắn mạch ngoài lớn nhất chạy qua bảo vệ từ phía B ( N2 ) Dòng khởi động chọn theo :
Ikd = kat.INngmax và INngmax = max { { InngmaxA ; InngmaxB }
Nếu công suất nhà máy của nguồn 2 đầu dây khác nhau nhiều thì có thể :
LCNA + LCNB < LAB
Có nghĩa là có thể tồn tại một phần đường dây mà khi sảy ra sự cố trên đó bảo
vệ cắt nhanh ở cả 2 đầu dây không làm việc
Trang 19Để mở rộng vùng bảo vệ cắt nhanh trong nhiều trường hợp nguồn CSNM chênh lệch nhau nhiều để có thể đặt thêm bộ phận định hướng công suất ở đầu
có nguồn yếu hơn ( đầu B ) Khi ấy dòng điện khởi động của bảo vệ cắt nhanh ở hai đầu đường dây có thể chọn khác nhau :
Trường hợp chí có một nguồn cung cấp ( chẳng hạn từ đầu 1 ) thì khi có sự cố sảy ra trong vùng bảo vệ, dòng điện sự cố chỉ chạy qua một đầu, khi ấy :
ILV = IH = IT1
Để bảo vệ có thời gian làm việc trong trường hợp này, dòng điện làm việc phải chọn lớn hơn dòng điện hãm, nghĩa là :
Trang 20Iw = k H H− 1.I
Trong đó : kH là hệ số hãm, kH < 1 thường chọn k H− = ÷ 1 0,2 0,5
Giới hạn dưới của hệ số hãm được chọn cho miền có dòng điện ngắn mạch bé
để nâng cao độ nhạy của bảo vệ, còn ở miền có dòng điện ngắn mạch lớn hơn thương chọn cho hệ số hãm cao để ngăn chặn tác động nhầm một cách chắc chắn
Hình 8 : Đặc tính làm việc của bảo vệ so lệch có hãm ( 1) và tương quan giữa dòng điện làm việc I w và dòng điện hãm I H khi ngắn mạch trong cùng bảo vệ và nguồn cung cấp từ phía ( 2 ).
2.2 Bảo vệ so lệch dùng dây dẫn phụ.
Để thực hiện nguyên lí so lệch, dòng điện ở 2 đầu phần tử được bảo vệ phải được đo và so sánh với nhau Nếu hai phần tử được bảo vệ nằm gần nhau ( như cuộn dây MF, MBA…) có thể nối trực tiếp các tổ máy BI với một bộ role so lệch dùng chung để cắt các máy cắt có liên quan đối với đường dây tác điện cần phải dùng 2 hoặc 3 bộ bảo vệ, mỗi bộ tác động cắt máy cắt ở một đầu đường dây
Các bộ phận bảo vệ này được nối với nhau qua các kênh thông tin : dây dẫn phụ, cáp thông tin, RLC…Đối với các đường dây ngắn có thể sử dụng dây dẫn phụ Sơ đồ bảo vệ so lệch dòng điện dùng dây dẫn phụ có 2 loại : loại dòng điện tuần hoàn và loại cân bằng điện áp
Sơ đồ dòng điện tuần hoàn cân bằng 3 dây dẫn phụ, còn sơ đồ cân bằng điện
áp cần dùng 2 dây Cả 2 sơ đồ thường dùng nguyên lí hãm
Nhược điểm của sơ đồ bảo vệ so lệch dòng điện dùng dây dẫn phụ :
Trang 21Điện áp cảm ứng trong dây dẫn phụ ở chế độ ngắn mạch chạm đất trêm đường dây được bảo vệ có trị số khá lớn gây nguy hiểm cho người và thiết bị thứ cấp Dây dẫn phụ càng dài xác suất sự cố dây dẫn phụ càng cao, khi dây dẫn phụ bị đứt có thể làm bảo vệ tác động nhầm, còn khi dây dẫn phụ chạm nhau bảo vệ có thể không làm việc trong trường hợp trong vùng bảo vệ.
Thành phần một chiều trong dòng sự cố có thể làm cho các biến dòng bị bão hòa nặng
Hình 9 : Bảo vệ so lệch dòng điện làm việc theo nguyên tắc dòng điện tuần hoàn có hãm dùng điện áp
Trang 22Hình 10 : Bảo vệ so lệch dòng điện làm việc theo nguyên tắc cân bằng dòng điện có hãm Dùng dây dẫn phụ.
2.3 Bảo vệ so sánh dòng điện.
Nguyên tắc : dòng điện ở hai đầu đường dây được so sánh với nhau theo từng pha hoặc thông qua một bộ công cụ để so sánh giữa hai tổ hợp pha của dòng điện ở hai đầu đường dây Việc so sánh có thể tiến hành cho hai nửa chu kỳ ( dương, âm ) hoặc chỉ theo nửa chu kỳ
Trang 23Hình 11 : Sơ đồ khối bảo vệ so sánh pha dòng điện từng pha riêng biệt.
Nguyên lí làm việc : dòng điện khởi động ở một đầu thông qua máy biến dòng trung gian BIG ( làm nhiệm vụ cách ly mạch bảo vệ và tạo tín hiệu chuẩn cho sơ
đồ bảo vệ ) và bộ lọc hai cơ bảo L1 tạo nên tín hiệu chuẩn hình sin S1 Thông qua bộ chuyển dạng sóng ( từ sin sang hình chữ nhật ) DS sẽ tạo ở các đầu ra các sóng hình chữ nhật SiR S1R được đưa vào đầu vào của bộ so sánh pha SP Mặt khác, S1R được đưa qua bộ lọc biến tần BT và bộ lọc L2 đưa vào bộ phát P
để thông tin về pha φ1 của dòng điện đầu 1 thông qua kênh truyền sang phía đôi diện
Dòng điện ở đầu đôi diện ( đầu 2 ) cũng đi tương tự để đưa tín hiệu S2R đến đầu 1 Các tín hiệu S1R và S2R được so sánh với nhau ở bộ so sánh pha SP Nếu các tín hiệu này trùng pha nhau chẳng hạn trễ TG vào đường dây thì ở đầu ra của bộ so sánh pha SP sẽ xuất hiện tín hiệu S3, tín hiệu này sẽ kết hợp với tín hiệu khởi động gửi tín hiệu đi cắt máy cắt
Trong trường hơp này, nếu bỏ qua dòng điện tải trên đường dây ta thấy, khi có ngắn mạch trong vùng bảo vệ giữa hai tín hiệu đầu vào S1R và S2R có một
khoảng trống ( không có tín hiệu ) Nếu góc lệch pha giữa hai dòng điện ở hai
Trang 24đầu I1; I2 bé hơn 180° - θkd ( với θkd là góc khóa bảo vệ ) ở đầu ra của SP sẽ
xuất hiện tìn hiệu S3
Khi có ngắn mạch ngoài vùng bảo vệ dòng điện ở hai đầu ngược nhau nên hai tín hiệu S1R và S2R lấp kín khoảng trống giữa hai nửa chu kỳ nên đầu ra của bộ
SP sẽ không xuất hiện tín hiệu S3, máy cắt sẽ không được cắt ra
Để tiết kiệm số lượng kênh thông tin sử dụng vào mục đích truyền tín hiệu pha dòng điện, người ta thường tổ hợp các dòng điện pha theo một quy luật nào đó thông qua các BI cộng, thường người ta tổ hợp các TP đối xứng của dòng điện pha
3 Bảo vệ khoảng cách
Role khoảng cách dùng vảo vệ các đường dây truyền tải thường có nhiều vùng tác động, chẳng hạn 3 cùng trước và 1 vùng sau ( theo hướng tác động từ thanh góp vào đường dây tại nơi đặt role khoảng cách )
Các vùng tác động phía trước làm nhiệm vụ dự phòng cho nhau và cho bảo vệ đoạn liền kề
Hì
nh 12 : Phối hợp tổng trở khởi động và đặc tính thời gian giữa 3 vùng tác động
của bảo vệ khoảng cách.
Trang 25a) Sơ đồ lưới điện.
b) Phối hợp đặc tính khởi động và thời gian làm việc giữa các vùng.
Ngược với cách chọn thời gian trong bảo vệ quá dòng điện ngắn mạch càng gần chỗ đặt bảo vệ càng được loại trừ nhanh, độ chênh lệch về thời gian làm việc giữa các vùng bảo vệ liền kề nhau cũng được chọn như bảo vệ quá dòng điện Vùng thứ nhất của bảo vệ với thời gian làm việc I 0
t = bao trùm khoảng 80 ÷ 90 % chiều dài của đường dây được bảo vệ, nghĩa là tổng trở khởi động I
A
Z của vùng thứ nhất của bảo vệ đặt ở đầu A trên đường dây AB được chọn theo biểu thức :
I .
Z =k Z với kat < 1
kat = 0,8 đối với role cơ
kat = 0,95 ; 0,9 đối với các role số
Tổng trở khởi động của vùng thứ II của bảo vệ đấu A cần được phối hợp với vùng thứ II của bảo vệ đoạn tiếp theo ( đầu B ) theo biểu thức :
Trong đó : Z I
B : tổng trở khởi dộng vùng thứ nhất của bảo vệ đặt ở đầu B
kat : được chọn như trên
Tương tự như vậy, có thể tính tổng trở hoạt động của vùng thứ III
4 Bảo vệ so sánh hướng.
Để loại trừ nhanh sự cố người ta xác định hướng công suất ngắn mạch từ hai đầu dây và so sánh với nhau ( qua kênh tín hiệu ) Trong mạng có điện trở trạm đất lớn, dùng thêm bảo vệ so sánh hướng thứ tự không để tăng thêm độ nhạy
o u